“Thế giới thuộc về những ai sống có nhiệt huyết, say mê và có khát vọng cháy bỏng”. Ralph Waldo Emerson
Triết Lý, để làm gì ?
Khi ta bế tắc tư tưởng, chân thật công nhận rằng những kiến thức và phương pháp suy luận của ta không cho phép ta sống, tư duy và hành động khớp với khao khát làm người của ta, ngoài vô vàn cách ứng xử khác, ta có thể:
a) Tiếp tục sống, tư duy và hành động như cũ vì, dù sao, ta cũng sống được, không đến nỗi nào
b) Lột áo cũ, khoác áo mới, một tấm áo coi lành lặn đẹp đẽ hơn nhưng cũng hàm hồ không thua gì. Điều ấy luôn luôn khả thi bằng ngôn ngữ.
c) Đi tới cùng bế tắc của chính mình. Nếu không giải quyết được nó, ta ôm nó xuống suối vàng, để lại ở đời chỉ một câu hỏi. Câu hỏi của một con người. Đích thực. Có gì nhục đâu?
Nếu ta tưởng ta đã tìm ra một phần của giải pháp, ít nhất là cho riêng mình, thì cứ viết đi, chẳng cần trích cao nhân nào cả: họ đã là một phần của ta và ta đã phải “vượt” họ để nên mình.
Thế thôi.
(Chungta.com)
Góc nhỏ của Noby Vui Vẻ
“Nước độc lập mà dân chưa tự do thì độc lập cũng không có ý nghĩa”- Hồ Chí Minh.
30 thg 6, 2010
chiều cao và tổng thống MỸ
ở việt nam liệu có thống kê như vậy không nhỉ?
không biết ông Dũng, ông Mạnh cao bằng người thấp nhất bên ấy ko nữa
Từ Fukuzawa Yukichi nhìn về Nguyễn Trường Tộ
| Nguyễn Cảnh Bình |
Những điểm tương đồng
Có thể nói, Fukuzawa Yukichi và Nguyễn Trường Tộ là hai người sinh cùng thời, và cả hai đều học rất giỏi. Điều thú vị nữa là hai người đều sinh ra từ một vùng đất có truyền thống, chứ không không phải ở thủ đô. Hai ông không xuất thân từ gia đình quá giàu có, nhưng cũng không phải ở gia đình quá nghèo.
Hai nước Nhật và Việt Nam ở thời mà các ông sinh sống thì cũng có một vài điểm tương đồng. Thí dụ như hai nước cùng đóng cửa với thế giới, nhưng bắt đầu bị các quốc gia phương Tây nhòm ngó.
Tại Nhật, năm 1853, hạm đội Mỹ xuất hiện gây một cú sốc lớn trên khắp nước Nhật. Anh trai thúc giục Fukuzawa tới Nagasaki học tiếng Hà Lan để nắm vững về súng ống phương Tây. Khi đó, ông mới 23 tuổi. Đến tháng 8-10/1858, Fukuzawa được bổ nhiệm làm người dạy tiếng Hà Lan cho lãnh địa Nakatsu. Tháng 7/1859: Nhật mở cửa ba cảng biển theo các điều khoản của "Hiệp ước hoà bình và hữu nghị", được ký một năm trước đó với Mỹ và một số nước châu Âu.
Ở Việt Nam, năm 1858, Pháp đánh Đà Nẵng. Nguyễn Trường Tộ lúc đó 30 tuổi, Nhà thờ xã Đoài mời ông làm giáo viên dạy chữ Hán. Giám mục Gauthier dạy ông tiếng Pháp và khoa học thường thức phương Tây.
Hai người cùng đi nước ngoài hầu như cùng thời điểm, như vậy cả Nguyễn Trường Tộ và Fukuzawa có điều kiện tiếp xúc Tây học từ sớm, biết tiếng Hà Lan, tiếng Anh, tiếng Pháp. Lại có dịp được ra nước ngoài nên hai ông có điều kiện tiếp xúc trực tiếp với văn minh, với thế giới vật chất và công nghệ của phương Tây, từ đó hình dung trong đầu những hoạt động, những tư tưởng mang tinh thần cải cách.
Đầu năm 1860, trong khuôn khổ các điều khoản của hiệp ước, chính quyền Shogun quyết định phái sứ giả sang Mỹ. Fukuzawa tình nguyện đi theo đoàn sang San Francisco, Mỹ. Từ Mỹ về trong năm đó, ông dịch và xuất bản cuốn sách đầu tay “Kaeitsugo”. Khoảng ba năm đầu sau đó, Fukuzawa chỉ chuyên tâm học hành và viết cuốn sách đầu tiên.
FUKUZAWA YUKICHI
Sinh tại thành phố Osaka, trong một gia đình Samurai cấp thấp. Đến năm 1837, cha ông qua đời đột ngột ở tuổi 44. Cuộc sống khó khăn, ông phải giúp gia đình và cho mãi đến năm 14 tuổi mới được đến trường. Không chỉ dừng lại ở một nhà tư tưởng, Fukuzawa đã bắt tay làm rất nhiều việc, từ mở trường dạy học, lập tờ báo, dịch sách để hướng những đề xuất, ý tưởng, giải pháp của mình vào đông đảo người dân và trí thức Nhật Bản, từ đó tạo nền tảng cho sự phát triển nhanh chóng về nhận thức, hành động và phát triển của người dân cũng như đất nước Nhật Bản.
Trong những năm 1861-1863, ông sang châu Âu theo đoàn đàm phán mở thêm cảng biển và điều chỉnh tỷ giá hối đoái. Ông đến các nước như Pháp, Anh, Hà Lan, Đức, Nga và Bồ Đào Nha. Trong vai trò phiên dịch, Fukuzawa quan sát được rất nhiều điều mới mẻ và các thể chế tổ chức như bệnh viện, kho vũ khí, hầm mỏ, trường học. Dựa vào những điều chứng kiến trong chuyến đi, Fukuzawa xuất bản tập đầu tiên của tác phẩm Thực trạng phương Tây (Seiyo jijo). Tác phẩm này của ông được bán chạy nhất lúc bấy giờ. Đến năm 1866, ông hoãn việc viết tiếp tập hai cuốn Thực trạng phương Tây để giành thời gian dịch cuốn Kinh tế chính trị của J. H. Burton. Trong cuốn sách xuất bản năm 1867, ông thảo luận về “những cột trụ chính yếu” và mạng lưới xã hội vô hình thiết lập nên xã hội văn minh. Sau đó, ông tiến hành dịch các tác phẩm quan trọng của Anh cho người Nhật đọc, học tập và tiếp thu.
(1835-1901)
Còn ở Việt Nam, những năm 1859-1860, Nguyễn Trường Tộ được giám mục Gauthier đưa qua Hương Cảng, Singapore, Thụy Sĩ. Trên đường đi ông có ghé Roma yết kiến Giáo hoàng rồi cuối cùng sang Paris theo học trong gần 2 năm.
Vào năm 1861, khi Đại đồn Kỳ Hoà thất thủ, ông nhận làm phiên dịch cho Pháp với mong muốn góp phần mình cho sự hoà hoãn hai bên. Ông viết thư gửi triều đình trong đó nêu ý kiến là nên hoà với Pháp. Sau đó, ông viết bản điều trần đầu tiên. Đến quãng năm 1862-1863, ông thôi không làm phiên dịch nữa vì thất bại trong việc điều đình. Thời gian này, ông tham gia xây cất tu viện ở Sài Gòn và dồn tâm trí soạn kế hoạch giúp phát triển đất nước. Vào tháng 3/1863, ông gửi triều đình văn bản “Bàn về tình thế lớn trong thiên hạ”. Tiếp đó, ngày 29/3/1863, ông gửi bản Trần tình. Một năm sau đó, ông gửi triều đình văn bản “Kế hoạch duy trì hoà ước mới”, và “Kế hoạch làm cho dân giàu nước mạnh”. Tất cả là những bản điều trần!
Và những khác biệt
Nhưng đáng tiếc thay, nếu so sánh với Fukuzawa, Nguyễn Trường Tộ có nhiều nhược điểm, thiếu sót. Điểm mấu chốt làm nên sự khác biệt giữa công cuộc Duy Tân Minh Trị ở Nhật và thời kỳ trì trệ của Tự Đức ở Việt Nam có lẽ cũng bắt nguồn từ chính sự khác biệt về lối tư duy và hành động của hai nhà trí thức đại diện này.
Năm 1867, Fukuzawa lại sang Mỹ, tới Washington và New York với nhiệm vụ thương lượng mua tàu chiến của chính phủ Mỹ. Nhưng mục đích chính của Fukuzawa là tìm mua sách cho các sinh viên và ông đã mua sách bằng tất cả số tiền mà ông có. Về nước, Fukuzawa mở trường KEIO. Chỉ trong năm đó (1867), số học sinh của trường đã lên đến 100. Thời gian này, ông chủ yếu đọc, viết sách và giảng dạy. Những cuốn sách miêu tả cuộc sống phương Tây của ông rất được người dân Nhật Bản yêu thích, điều đó cho thấy sự quan tâm của người dân đối với thế giới bên ngoài.
Với kinh nghiệm học được từ người phương Tây qua sách vở và những chuyến thị sát, ông đã nhiệt huyết truyền bá những tư tưởng tiến bộ bằng mọi cách có thể. Ông đã tách mình ra khỏi biến động chính trị cuối thời Mạc phủ Edo, thầm lặng dịch và viết sách.
Ngày 4/7/1868, cuộc nội chiến giữa hai phe cải cách và bảo thủ ở Nhật Bản bùng nổ. Fukuzawa đã nói với học sinh, lúc bấy giờ chỉ còn 18 người: “Cho dù có bất kỳ điều gì xảy ra, cho dù cuộc chiến tranh tàn phá đất nước ta như thế nào, chúng ta sẽ không bao giờ từ bỏ kiến thức của phương Tây. Chừng nào ngôi trường này còn đứng vững, Nhật Bản vẫn sẽ là quốc gia văn minh trên thế giới”.
Sau năm 1868, Fukuzawa dành hết thời gian, sức lực cho công việc giảng dạy ở Keio và giúp lập thêm nhiều trường học mới. Ông cũng dịch và viết thêm nhiều sách về phương Tây, viết những sách giáo khoa cơ bản về rất nhiều lĩnh vực như vật lý, địa lý, nghệ thuật quân sự, nghị viện Anh, các mối quan hệ quốc tế. Sau đó, vào năm 1876, Fukuzawa xuất bản cuốn Khuyến học, tác phẩm nổi tiếng nhất. Ông thúc giục người Nhật học đọc, học viết, học những phép toán và bàn tính, cách để sử dụng khối lượng và dụng cụ đo đạc, rồi tiếp đến là học những lĩnh vực khoa học khác như địa lý, vật lý, lịch sử, kinh tế và đạo đức. Lúc này, ông 41 tuổi.
NGUYỄN TRƯỜNG TỘ
Sinh tại Bùi Chu, Hưng Nguyên, Nghệ An. Ông học rất giỏi, ngoài việc học với cha ở nhà, ông còn theo học nhiều thầy đồ nổi tiếng trong vùng. Tuy mất sớm ở tuổi 43 nhưng ông đã đề xuất rất nhiều kế hoạch cải cách táo bạo, nhằm đưa đất nước thoát khỏi cảnh trì trệ, tiến lên trở thành một quốc gia dân giàu nước mạnh. Đáng tiếc, những bản điều trần của ông thời đó đã không được trọng dụng.
Về Nguyễn Trường Tộ, những công việc thì vẫn như vậy. Năm 1865, ông gửi triều đình văn bản “Về việc mua thuyền và đóng thuyền máy”. Vào đầu năm 1866, khi được mời đến Huế, ông tiếp tục gửi văn bản “Kế hoạch khai thác tài nguyên đất nước”. Đến tháng 4/1866: ông thảo thư Tây Soái có châu phê của Vua. Đây vẫn là một bản điều trần và gửi thư cho Vua. Tháng 8/1866, Nguyễn Trường Tộ cùng giám mục Gauthier đến Huế, chuẩn bị đi Pháp, được vua Tự Đức tiếp kiến.
(1828 - 1871)
Từ tháng 9 đến hết năm 1866, ông tiếp tục gửi văn bản và thư tới triều đình, cụ thể như văn bản “về việc học thực dụng” và “Phải tạm thời dựa vào Pháp” và những bức thư về vấn đề khác nhau. Vào năm 1867,ông cùng một số quan chức đáp tàu đi Pháp. Tháng 3 năm đó, ông tới Paris. Rồi đến ngày 15/11/1867, ông soạn văn bản “Tế cấp bát điều”. Tháng 2/1868, về tới Huế, ông được vua Tự Đức tặng thưởng. Tháng 3 năm sau đó, Nguyễn Trường Tộ viết: “Tổ chức gấp việc khai mỏ”.Trong các tháng 3-5/1868, ông viết nhiều văn bản thúc giục triều đình cử người đi Pháp học
Tiếp tục như vậy, suốt năm 1871, Nguyễn Trường Tộ viết rất nhiều văn bản đề xuất việc thông thương với Pháp như “Chỉnh đốn quân đội và quốc phòng”, “Canh tân và mở rộng quan hệ ngoại giao”, “Về chính sách nông nghiệp”; “nên mở cửa chứ không nên khép kín”. Rất tiếc, ngày 24/11/1871, Nguyễn Trường Tộ mất ở quê, hưởng thọ 41 tuổi. Nguyễn Trường Tộ mất sớm nhưng tôi tin rằng, dù ông còn sống, ông sẽ vẫn không làm gì khác hơn ngoài việc viết tấu trình.
Nguyễn Trường Tộ đã liên tiếp gửi lên triều đình Huế 30 bản điều trần đề xuất canh tân, xây dựng đất nước giàu mạnh và gần sáu chục bản điều trần khác đề cập đủ mọi lĩnh vực.
Tôi không nghĩ rằng ở thời đại Nguyễn Trường Tộ, việc mở trường có quá nhiều khó khăn. Việc dịch sách, ngược lại thì rất khó vì lúc đó hầu như chúng ta chỉ sử dụng tiếng Hán và phụ thuộc nhiều vào sách dịch của người Trung Quốc. Tại Trung Quốc, mãi đến những năm 1903, Lương Khải Siêu và Khang Hữu Vi mới ồ ạt triển khai dịch sách của phương Tây cho người Trung Quốc, điều này cho thấy Nguyễn Trường Tộ khó lòng làm được việc này ở Việt Nam thời điểm đó.
Còn Fukuzawa thì vào năm 1875 xuất bản cuốn "Văn minh khái luận" ra đời, nhằm thuyết phục trí thức Nhật Bản chấp nhận quá trình hiện đại hoá. Ngày 1/3/1882, Fukuzawa tự mình xuất bản tờ Jiji-shimpo. Trước đó, Fukuzawa muốn mở một tờ báo nhằm thúc đẩy việc sớm thiết lập Nghị viện nhưng kế hoạch này đã bị gác lại vì sự chia rẽ nội bộ. Năm 1885, Fukuzawa viết bài báo gây rất nhiều tranh cãi Datsu - a - ron [Thoát Á Luận], kêu gọi Nhật Bản hãy học theo phương Tây và nhanh chóng hiện đại hóa…
Đánh giá của hậu thế
Lịch sử biết đến Fukuzawa Yukichi như một nhà cải cách chính trị xã hội, nhà giáo dục tiên phong, nhà tư tưởng tiêu biểu của Nhật Bản từ cuối thời Edo, đầu thời Minh Trị, thời kỳ diễn ra những chuyển biến lớn lao trong lịch sử Nhật Bản. Tư tưởng của ông có ảnh hưởng rất lớn tới phong trào Khai sáng ở Nhật Bản vào cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20, tạo tiền đề cho Nhật Bản trở thành một cường quốc trên thế giới. Lòng biết ơn của người Nhật đối với Fukuzawa được thể hiện qua việc in hình ông trên tờ tiền 10.000 yen, dù ông không phải là một đấng quân vương hay võ tướng lỗi lạc của đất nước Mặt trời mọc.
Fukuzawa để lại ngôi trường Keio mà ngày nay là Đại học Keio (hiện trường Keio hệ chính thức có khoảng 28.000 sinh viên và 5.000 nghiên cứu sinh). Ông cũng để lại hàng chục cuốn sách dịch và nhiều sách do ông viết. Ông được coi là người khởi xướng cho việc dịch sách ở Nhật Bản, mang lại tác động to lớn cho xã hội Nhật Bản.
Còn đối với Nguyễn Trường Tộ, theo nhiều học giả và công chúng, các bản điều trần của ông nếu được áp dụng là một sách lược lớn biến Việt Nam thành một nước hùng cường, tạo nên chuyển biến quan trọng trong lịch sử giữ nước của dân tộc Việt Nam.
Học giả Lê Thước phê bình công nghiệp bình sinh của ông: "Nguyễn Trường Tộ là nhà khoa học, nhà chính trị và cũng là nhà tân học nước ta xưa. Tư tưởng và kiến thức của tiên sinh hơn người đồng thời muôn nghìn".
Tên của ông được đặt cho nhiều trường học và đường phố tại Việt Nam, nhưng chưa có đồng tiền nào mang hình ông mặc dầu ông cũng được coi là nhà tư tưởng tiến bộ, có tinh thần cách tân. Nguyễn Trường Tộ thường được trí thức Việt Nam coi là hình mẫu thất bại trong mong ước hiện đại hóa Việt Nam vào thế kỷ 19. Nhiều người cũng coi ông như bài học để chỉ ra sai trái của triều đình mà quên đi những sai lầm của chính ông.
Tư tưởng tiền nhân để lại
Fukuzawa tin rằng giáo dục là cách duy nhất để đạt tới văn minh, bởi bản chất của văn minh là sự phát triển kiến thức và đạo đức nội tại của dân tộc:
"Văn minh có nghĩa là đạt được cả những tiện nghi vật chất lẫn sự nâng cao tinh thần của con người. Nhưng cái tạo ra những tiện nghi vật chất và nâng cao tinh thần của con người là kiến thức và đạo đức, [do đó] bản chất của văn minh chính là quá trình phát triển kiến thức và đạo đức con người."
Fukuzawa là người đưa ra nguyên tắc nổi tiếng: "Độc lập quốc gia thông qua độc lập cá nhân", tức là một xã hội muốn phát triển phải dựa trên những cá nhân có khả năng tư duy độc lập và sáng tạo, chứ không phải dựa vào chính phủ. Ông kêu gọi các sĩ phu Nhật Bản làm việc theo phương châm "coi trọng quốc gia và coi nhẹ chính phủ", tự tin vào sức mạnh cá nhân mà không phụ thuộc vào sức mạnh của người khác.
Tháng 5 năm 1863, Nguyễn Trường Tộ soạn xong ba văn bản để gửi lên Triều đình Huế: bản thứ nhất là Tế cấp luận, bản thứ hai là Giáo môn luận, bản thứ ba là Thiên hạ phân hợp đại thế luận. Trong ba bản đó, bản Tế cấp luận là văn bản quan trọng nhất. Nội dung của bản này đề cập đến việc canh tân và phát triển đất nước. Với Tế cấp luận ông đã khẳng định: "Tế cấp luận thâu tóm trí khôn của thiên hạ 500 năm nay... Bài Tế cấp luận của tôi nếu đem ra thực hành hàng trăm năm cũng chưa hết".
Trong giáo dục, ông phản đối lối học tầm chương trích cú, đóng cửa khư khư giữ lấy cái sự học lỗi thời chỉ cốt có học vị bằng cấp. Ông chủ trương học để thực hành. Ngay cả bản thân, ông không hề đề tên ứng thí một khoa nào, không hề có bằng cấp gì nhưng kiến thức của ông sâu rộng mang tầm bách khoa, uyên thâm trong nhiều lĩnh vực.
Theo ông cần phải đưa vào chương trình giáo dục những tri thức về nông nghiệp, địa lý, thiên văn, công nghệ, luật pháp, nghĩa là những gì xã hội, cuộc sống hiện đại thực sự cần tới trước mắt và lâu đài, chứ không phải dùi mài tứ thư ngũ kinh với những giáo huấn xa vời của Khổng Mạnh. Ông cũng sớm đề xuất soạn Tự điển cho người học, nghiên cứu Hán học, Tây học.
Dường như toàn bộ sự nghiệp, tư tưởng của Nguyễn Trường Tộ chỉ gói gọn trong mấy từ viết điều trần. Không thể đếm được ông đã viết bao nhiêu bản điều trần trong cuộc đời ngắn ngủi của ông, và dù những bản điều trần này được rất nhiều trí thức Việt Nam hiện đại ca ngợi là tư tưởng lớn thì cũng chỉ dừng lại ở mức độ đề xuất, chứ không phải là bắt tay vào làm (thực hiện). Trong khi đó, Fukuzawa đã dịch và viết nhiều sách, mở trường dạy học, lập báo, hợp tác và hướng dẫn các trí thức quốc gia láng giềng. Fukuzawa có gửi điều trần lên Thiên Hoàng nhưng không nhiều và không phải là hành động chính yếu của ông. Có thể khi đó, Minh Trị đã là một nhà vua anh minh nhưng ở Fukuzawa, tư duy là hành động. Điều quan trọng hơn nữa, đó là Fukuzawa hướng những đề xuất, ý tưởng, giải pháp của mình vào đông đảo người dân và trí thức Nhật Bản. Ông truyền tinh thần canh tân của mình cho hàng nghìn sinh viên theo hoc ở Keio, cho hàng triệu người Nhật qua các cuốn sách ông dịch, và qua những bài báo gây nhiều tranh cãi…
Qua bài học thành công và thất bại của Fukuzawa Yukichi và Nguyễn Trường Tộ có thể tìm ra được cách hành xử thích đáng hơn của trí thức Việt Nam trong công cuộc xây dựng và phát triển đất nước.
Thực trạng khai khoáng ở miền Tây Nghệ An:
http://www.vietnamnet.vn/psks/201006/Ky-1-Tan-hoang-Cha-Ha-918741/
yên tịnh bao giờ được yên tĩnh p2 :
http://www.vietnamnet.vn/psks/201006/Ky-2-Yen-Tinh-bao-gio-duoc-yen-tinh-918911/
tan hoang nhũng đỉnh núi triệu đô xứ nghệ p3
http://vietnamnet.vn/psks/201006/Ky-3-Tan-hoang-nhung-dinh-nui-trieu-do-xu-Nghe-919145/
Tái cấu trúc: Đơn đã kê, bệnh nhân có chịu uống thuốc?
- Bàn cờ kinh tế VN bị chia thành rất nhiều mảnh nhỏ. Các mảnh này thường bị chi phối bởi các nhóm độc quyền và đặc quyền - TS Vũ Thành Tự Anh, Giám đốc nghiên cứu Chương trình giảng dạy kinh tế Fulbright lý giải vì sao Việt Nam thiếu các chính sách tốt.
Ông Anh cho biết cho đến nay, chưa thể có sự thống nhất về mô hình tăng trưởng tốt nhất cho Việt Nam vì đây là một vấn đề rất rộng và phức tạp.
Hơn nữa, tái cấu trúc và thay đổi mô hình tăng trưởng mới chỉ được thảo luận từ sau giai đoạn bất ổn kinh tế vĩ mô 2007 - 2008.
TS Vũ Thành Tự Anh (trái): So với Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc trong giai đoạn phát triển tương đương, tăng trưởng của Việt Nam hiện đắt gấp rưỡi, thậm chí gấp đôi về đầu tư. Ảnh: Lê Anh Dũng
Tuy nhiên, giới nghiên cứu đã tiến gần tới sự đồng thuận về những khiếm khuyết nội tại, có tính cố hữu của nền kinh tế Việt Nam. Nếu như trước đây người ta thường tìm cách biện minh cho các điểm yếu đó thì bây giờ chúng đã được chấp nhận như những thực tế phải sửa đổi.
Gồm những điểm yếu nào, thưa ông?
- Điểm yếu cơ bản nhất trong mô hình tăng trưởng của Việt Nam là tăng trưởng chủ yếu nhờ vào việc bán tài nguyên và gia công trình độ thấp, nhờ vào tăng lượng đầu tư và lấy khu vực kinh tế nhà nước vốn kém hiệu quả làm chủ đạo.
Điều này dẫn đến một số hệ quả như đã thấy trong giai đoạn bất ổn vĩ mô và suy giảm kinh tế gần đây.
Thứ nhất là nền kinh tế kém hiệu quả. Số đơn vị đầu tư cần thiết để tạo ra một điểm phần trăm tăng trưởng GDP (tức là hệ số ICOR) của nền kinh tế tăng rất nhanh, từ 3 vào đầu những năm 1990 lên trên 6 mấy năm gần đây.
Như vậy, so với Nhật Bản, Hàn Quốc và ngay cả Trung Quốc trong giai đoạn phát triển tương đương, tăng trưởng của Việt Nam hiện nay đắt gấp rưỡi, thậm chí gấp đôi về đầu tư.
Thứ hai là nguy cơ thường trực về bất ổn vĩ mô. Mô hình tăng trưởng hiện nay chạy theo chiều rộng (chủ yếu dựa vào tăng vốn) mà không theo chiều sâu (không cải thiện được năng suất).
Hệ quả là để tăng trưởng, nền kinh tế Việt Nam cần rất nhiều đầu tư, khiến tín dụng tăng theo. Nhưng do nền kinh tế kém hiệu quả nên kết cục tất yếu là lạm phát cao, thâm hụt ngân sách và thâm hụt cán cân vãng lai lớn.
Thứ ba là một số nhóm đặc quyền đặc lợi cản trở cải cách. Những cải cách quan trọng và thành công nhất của Việt Nam kể từ Đổi mới chủ yếu liên quan tới khu vực nông nghiệp và dân doanh mà chưa đụng chạm nhiều tới những khu vực được hưởng đặc quyền đặc lợi, nhất là những DNNN lớn.
Những DN này được hưởng vị thế độc quyền trên thị trường nội địa, được ưu tiên tiếp cận các nguồn tài nguyên khan hiếm như đất đai và tín dụng nhờ vào vai trò chủ đạo (có tính mặc nhiên) của chúng trong các ngành kinh tế trọng yếu.
Khi không chịu áp lực cạnh tranh từ thị trường và giám sát chặt chẽ từ nhà nước, các DN này đầu tư ào ạt và dàn trải để mở rộng “đế chế” của mình mà không quan tâm đến hiệu quả vì họ biết rằng nếu có thua lỗ chăng nữa thì nhà nước sẽ cứu.
Không những thế, để bảo vệ quyền lợi của mình, các DN này có thể còn cản trở nhiều cải cách hướng đến một nền kinh tế thị trường cạnh tranh bình đẳng và hiệu quả hơn. Khu vực dân doanh vì thế cũng không thể phát triển dù rất năng động và đầy tiềm năng.
Bàn cờ kinh tế bị chia cắt
Theo ông, cuộc hội thảo do Ủy ban Kinh tế Quốc hội và Trường ĐH Kinh tế Quốc dân tổ chức mới đây có đưa ra được giải pháp khắc phục điểm yếu cơ bản này không?
- Đã có một số ý kiến rất đích đáng được nêu tại hội thảo.
Nguyên Phó Thủ tướng Vũ Khoan cho rằng “thay đổi cần bắt đầu từ cái đầu”, tức là nếu nhận thức và tư duy mà không thay đổi thì không thể cải cách được.
Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Doan cũng đồng tình và nói thêm rằng đổi mới tư duy cần xuất phát từ cấp lãnh đạo cao nhất của đất nước. GS Võ Đại Lược khẳng định nếu vẫn giữ khu vực nhà nước làm chủ đạo thì không thể tái cấu trúc nền kinh tế.
GS Nguyễn Quang Thái cho rằng đổi mới thể chế là điều kiện tiên quyết để có thể đưa nền kinh tế Việt Nam tiến lên. Còn TS Nguyễn Đình Cung, người chủ trì đề án tái cấu trúc nền kinh tế, nói tái cấu trúc không thuần túy là vấn đề kinh tế mà thực chất là một vấn đề kinh tế - chính trị.
Thế còn quan điểm của ông?
- Một nguyên lý cơ bản của kinh tế học là hành vi của con người bị chi phối bởi các động cơ và khuyến khích, mà những động cơ và khuyến khích này lại được quy định bởi hệ thống thế chế.
Thể chế ở đây được hiểu một cách rộng rãi bao gồm những quy tắc thành văn (hiến pháp, luật, quy định v.v...), những quy tắc không thành văn (văn hóa, phong tục, tập quán v.v...), và những cơ chế cưỡng chế thi hành các quy tắc này.
Một hệ thống thể chế tốt sẽ giúp thu hút người hiền tài vào khu vực công và góp phần tăng hiệu quả, hiệu lực cho những chiến lược, chính sách của nhà nước, mà đây chính là điều chúng ra đang thiếu.
Hãy hình dung nền kinh tế Việt Nam như một bàn cờ. Chia theo cột dọc là 22 bộ và cơ quan ngang bộ. Chia theo hàng ngang là 63 tỉnh thành. Chia theo đường chéo là mười mấy tập đoàn kinh tế nhà nước, vì các tập đoàn hoạt động đa ngành ở nhiều địa phương khác nhau. Bàn cờ kinh tế đã bị chia cắt thành rất nhiều mảnh nhỏ.
Sẽ không có gì đáng lo ngại nếu mỗi mảnh nhỏ đều được điều tiết và bảo đảm có sự cạnh tranh lành mạnh. Vấn đề ở nước ta là các mảnh nhỏ này thường bị chi phối bởi các nhóm độc quyền và đặc quyền. Mỗi mảnh nhỏ này là một “nền kinh tế” và những người có quyền lợi sẽ cố hết sức để bảo vệ nó như bảo vệ thành trì của mình.
Điều này đã, đang và sẽ tiếp tục phá hỏng hoàn toàn chiến lược và quy hoạch tổng thể, dù chiến lược và quy hoạch này đúng đắn đến đâu đi chăng nữa.
Tỉnh nào cũng muốn có sân bay, cảng biển, các KCN và khu kinh tế mở đua nhau mọc lên bất chấp hiệu quả kinh tế. Đất rừng bị cho thuê rẻ vô tội vạ. Các nhà máy thủy điện mọc lên như nấm ở miền Trung và Tây Nguyên. Các tập đoàn đua nhau mở ngân hàng, lập công ty chứng khoán.
Không chỉ bị giới hạn về không gian, tầm nhìn chính sách còn bị giới hạn về thời gian do “tư duy nhiệm kỳ”. Thực chất, “tầm nhìn” của mỗi nhiệm kỳ không phải là 5 năm mà chỉ còn 3 năm vì năm đầu tiên và năm cuối cùng người ta không làm được bao nhiêu.
Khi tầm nhìn chính sách bị giới hạn cả về không gian và thời gian, không những thế, khi các “nền kinh tế nhỏ” phải cạnh tranh với nhau để bảo vệ đặc quyền đặc lợi của mình thì chúng sẽ phá vỡ hoàn toàn các chính sách tổng thể. Đây thực sự là vấn đề lớn, là lý do chính tại sao chúng ta thiếu chính sách tốt.
Cải cách tập đoàn: Bài học từ Trung Quốc
Giải quyết những khuyết tật này như thế nào?
- Đây là câu hỏi lớn, không thể trả lời thỏa đáng trong phạm vi một bài phỏng vấn. Tôi nghĩ cần xuất phát từ một sự đồng thuận cơ bản, đó là nền kinh tế của chúng ta vẫn còn lạc hậu và đang kém hiệu quả, vì vậy cần tiếp tục cải cách mạnh mẽ hơn.
Đề án tái cấu trúc nền kinh tế do CIEM - Bộ KH&ĐT thực hiện là bước đi cần thiết và đúng hướng.
Để tái cơ cấu thì phải nhận dạng được những “méo mó” quan trọng nhất của nền kinh tế, mà đầu tiên là tình trạng phân bổ và sử dụng nguồn lực kém hiệu quả của các tập đoàn, tổng công ty và các siêu dự án đầu tư công. Khắc phục được tình trạng “méo mó” này sẽ là tiền đề quan trọng để giải quyết các trục trặc có tính cơ cấu khác.
Về phương diện cải cách các tập đoàn kinh tế nhà nước, kinh nghiệm của Trung Quốc có thể hữu ích cho Việt Nam.
Từ sau khủng hoảng tài chính khu vực 1997 - 1998, các nhà lãnh đạo của Trung Quốc đã hiểu ra rằng sự tồn tại của những DNNN có sức mạnh kinh tế và thế lực chính trị nhưng lại không bị điều tiết tất yếu sẽ dẫn tới sự bành trướng, độc quyền và lũng đoạn.
Vì vậy, để cải cách các tập đoàn này, phải thay đổi cơ chế giám sát và buộc chúng phải cạnh tranh. Trung Quốc đã thực hiện khá tốt điều này theo ba cách.
Thứ nhất là ép các tập đoàn phải niêm yết trên thị trường chứng khoán quốc tế Hồng Kông, London... Do vậy buộc chúng phải minh bạch về tài chính theo các thông lệ và chuẩn mực quốc tế. Đồng thời, các DNNN phải cạnh tranh quyết liệt với nhau và với các DN nước ngoài trên cả thị trường nội địa và quốc tế.
Thứ hai, khi buộc phải niêm yết và có tính cạnh tranh thì các DN này sẽ phải thuê các chuyên gia quản trị được đào tạo ở nước ngoài.
Các chuyên gia này sẽ mang tới nhiều thay đổi quan trọng về tư duy, quản trị, giúp kết nối DN Trung Quốc vào chuỗi cung ứng toàn cầu.
Với khát vọng bá chủ thế giới và vì lợi ích chung của dân tộc, các nhà lãnh đạo Trung Quốc đã chấp nhận “thuê ngoài thể chế”, miễn là điều này mang tới sự cải thiện hiệu quả.
Điều thứ ba, cũng rất quan trọng, khi đã có một số hình mẫu thành công thì cả hệ thống dần dần điều chỉnh theo, không phải để chống lại cái mới mà để thu nạp, nhân rộng nó.
Kinh nghiệm của Trung Quốc cho thấy thực ra việc “kê đơn” đúng không quá khó, điều thực sự khó là làm thế nào để bệnh nhân chịu uống thuốc, mà điều này lại phụ thuộc vào ý chí của cả hệ thống chính trị, đặc biệt là những nhà lãnh đạo cao nhất của đất nước.
Bước đầu tiên trong quá trình cải cách các tập đoàn nhà nước mà Việt Nam có thể thực hiện là công bố báo cáo tài chính của các tập đoàn theo chuẩn mực quốc tế.
Khi được ưu tiên sử dụng các nguồn lực khan hiếm của đất nước và nhận tiền đầu tư từ ngân sách nhà nước, chính xác hơn là từ tiền đóng thuế của người dân, các tập đoàn này phải chịu trách nhiệm giải trình trước công chúng.
Đồng thời, họ phải tự chứng minh mình xứng đáng với vai trò chủ đạo, thực sự là “quả đấm thép” bằng cách tự đứng vững trên đôi chân của chính mình, cạnh tranh thành công trên cả thị trường nội địa và quốc tế.
-
Lê Nhung
"Nông dân phải thấy cắt điện là chuyện cực chẳng đã"
-
Vừa gặp ông Nguyễn Đình Lộc - Giám đốc Điện lực Thái Bình - sau sự cố dân đòi điện ở Quỳnh Phụ, ông nói luôn: "Công việc dạo này rất bận rộn lại ức chế vì những sự cố vừa qua nhưng chúng tôi vẫn làm việc với báo chí, không trốn tránh”.
| Ông Lộc (áo trắng, đeo kính) đang nghe dân Quỳnh Phụ thắc mắc về việc công bằng chia điện. |
Người dân Quỳnh Phụ băn khoăn việc bán điện cho các khu công nghiệp được giá cao hơn nên đã cắt điện của dân đem bán?
(Cười). Tôi đâu dám bán điện như thế nọ thế kia đâu. Nhà máy cán thép Shengli (Khu công nghiệp Cầu Nghìn) dùng điện thuộc điện lưới quốc gia, chúng tôi không có lợi ích gì hết.
Điện hằng ngày của một đất nước cũng như một nhà chia dầu thắp đốt. Nếu như thiếu thì dầu để ngồi chơi, dầu để nấu cơm, dầu để học hành, 3 cái ấy anh chọn cái nào? Nếu chọn để học hành rất hữu ích, để ngồi chơi thì phải tắt rồi. Về việc điện dân sinh nông dân đòi hỏi là đúng, nhưng họ cũng phải thấy là cực chẳng đã.
Cái khó hiện nay đó là chủ trương phục vụ công nghiệp xuất khẩu, ở Thái Bình chủ yếu dệt may, chính con em nông dân cũng làm việc ở đây nhiều. Theo chủ trương ưu tiên công nghiệp xuất khẩu trong nền kinh tế khủng hoảng.
Người dân phản ánh chủ trương của chính phủ cắt điện không quá 6 - 8 h/ngày, khi tôi hỏi văn bản đó đâu thì không ai có.
Ban ngày không còn điện. Vì ban ngày các hoạt động công nghiệp hoạt động hết công suất. Phương thức cắt thời gian qua cố gắng có điện ban đêm để tái sản xuất hoặc ngủ đêm. Chính vì vậy hoạt động sản xuất của nông thôn chuyển về đêm.
Phải cắt thì mới khống chế được sản lượng để phân bổ. Việc phân bổ điện đều có sổ sách bên phòng điều độ.
Hôm qua tôi có nhận được tin nhắn: "Xin chào giám đốc, thay mặt nhân dân xã Quỳnh Hội, xin chân thành cảm ơn đồng chí anh em công ty đã hoàn thành đóng điện phục vụ nhân dân. Tôi xin chân thành cảm ơn".
Chiều ngày 22/6, ông có nói “Thắng lợi lớn nhất ngày hôm nay đó là phía Tổng EVN về trực tiếp thấy được bức xúc của người dân"?
Đúng. Tôi có nói chuyện phía trên Tổng EVN và báo cáo tình hình là khu vực đó rất nhạy cảm.
Có ý kiến người dân yêu cầu ngành điện phải có thông báo lịch cắt cụ thể và có văn bản, chữ ký đến từng hộ dân. Chuyện này trong hoạt động quy trình ngành điện, chỉ có thông báo cho những khách hàng lớn, còn lại thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng.
Chia điện trong thời tiết nóng và chia cho nhiều “cái đầu nóng”, ông phải làm như thế nào?
Người dân luôn đặt câu hỏi việc cắt điện 16 - 18 h/ngày là đúng hay sai. Tôi có thể trả lời là bảo đúng thì đúng, mà bảo sai thì theo nghĩa nào đó thì nó sai. Ví dụ nhu cầu cuộc sống dân sinh mà chúng tôi chưa phục vụ được, đây là sai sót của ngành điện chưa đảm bảo cuộc sống người dân.
Mà bảo sai thì chúng tôi chưa làm gì sai. Đó là điện ít thì phải chia. Mà chia phải ưu tiên công nghiệp, mà công nghiệp của tỉnh là xuất khẩu mà Bộ Công Thương có văn bản. Muốn cắt điện thì phải xin ý kiến UBND tỉnh. Nhưng đối tượng ưu tiên cũng phải tính đến. Chúng tôi rất có ý thức.
Ông có vẻ gầy đi?
Sáng sớm đi làm ăn cơm muối vừng, cá kho. Vì bệnh nên đâu dám ăn nhiều, uống nhiều. Hết giờ làm việc nhưng nhiều khi vẫn còn việc phải ở lại đến 9h. Khi 19 tuổi tôi tham gia kháng chiến bên Lào, giờ về chia điện cho dân.
xem thêm
Người nuôi cá tự... bơi
| |
Trước đó, ngày 21.6, Sở TN-MT báo cáo với UBND tỉnh Đồng Nai, nguyên nhân cá chết là do ô nhiễm từ những cơn mưa đầu mùa, cộng với nước thải từ KCN Biên Hòa 1 và nước thải sinh hoạt làm hàm lượng oxy hòa tan trong nước bị giảm mạnh. Ngoài việc đề xuất UBND tỉnh chỉ đạo Phòng Cảnh sát môi trường kiểm tra các đơn vị đóng trên khu vực, Sở TN-MT không xác định được thủ phạm gây ra ô nhiễm nguồn nước làm chết hơn 80 tấn cá.
Trong khi đó, người dân đã gửi mẫu nước lấy được từ Nhà máy giấy Tân Mai đem đi xét nghiệm. Ông Nguyễn Đức Cần, đại diện Chi hội 5 cá bè (P.Thống Nhất), nói rằng sau nhiều đợt cá chết, ông cùng với một số hộ dân quyết đi tìm chứng cứ. Vào khuya ngày 24.6, nhóm của ông phát hiện dòng nước sủi bọt, bốc mùi hôi thối… nên cùng nhau gọi điện cho Phó chủ tịch Hội Nông dân phường đến chứng kiến. Sau đó cả nhóm lần theo dấu vết nguồn nước thải độc hại và phát hiện nó xuất phát từ họng xả của Nhà máy giấy Tân Mai.
Nhờ sự giúp đỡ của một sinh viên Đại học Nông Lâm đang thực tập ở đây, những "điều tra viên nghiệp dư" nói trên đã quay phim, chụp ảnh và lấy mẫu nước đem về bảo quản rồi gửi đi xét nghiệm. Nhiều nơi từ chối nhưng sáng qua may mắn được một đơn vị ở TP.HCM nhận xét nghiệm và hẹn đến tuần sau sẽ thông báo kết quả. Ông Cần quả quyết: "Nếu có kết quả xét nghiệm nguyên nhân do Nhà máy giấy Tân Mai gây ra chết cá, chúng tôi sẽ đòi bồi thường đến cùng".
Thật khó hình dung khi mà quản lý nhà nước về môi trường đã có sẵn một bộ máy chuyên nghiệp, khép kín từ địa phương đến trung ương nhưng khi "đụng chuyện" người dân phải tự… bơi như vậy.
Hoàng Tuấn
theo thanhnienonline
sẽ có một vụ nữa tương tựu như vedan, tungkuang
29 thg 6, 2010
Việt Nam không thể có tam quyền phân lập khi còn chế độ độc đảng
Khái niệm tam quyền phân lập, tức là hành pháp, lập pháp và tư pháp phải độc lập với nhau là nền tảng của một thể chế cộng hòa. Trong điều kiện hiện nay của Việt Nam, với Đảng Cộng sản nắm độc quyền lãnh đạo, tam quyền phân lập không thể trở thành hiện thực.
Vào đầu tháng 6 vừa qua, Ủy ban Thường vụ Quốc hội Việt Nam đã đề nghị sửa đổi Hiến pháp 1992 kể từ năm tới. Trong các cuộc thảo luận ở Quốc hội trong kỳ họp hiện đang diễn ra, đa số các đại biểu tỏ ý tán đồng đề nghị nói trên. Việc sửa đổi Hiến pháp suy cho cùng chính là nhằm bảo đảm thật sự tam quyền phân lập, tức là hành pháp, lập pháp và tư pháp phải độc lập với nhau, như bất cứ một thể chế cộng hòa nào. Thế nhưng, trong điều kiện hiện nay của Việt Nam, với Đảng Cộng sản nắm độc quyền lãnh đạo, tam quyền phân lập không thể trở thành hiện thực.
Vấn đề sửa đổi Hiến pháp 1992 đã được đưa ra từ nhiều năm nay và đang trở nên ngày càng cấp thiết bởi vì có rất nhiều luật cần phải được thông qua, nhưng cứ vấp phải rào cản Hiến pháp, chẳng hạn như các luật liên quan đến tổ chức bộ máy Nhà nước, luật về bầu cử Quốc hội, bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân.
Theo chủ nhiệm Uỷ ban Pháp luật Nguyễn Văn Thuận, phải sửa đổi Hiến pháp trước tháng 5 năm 2011, tức là thời điểm bầu cử nhiệm kỳ mới. Trong khuôn khổ sửa đổi Hiến pháp này, Ủy ban Thường vụ Quốc hội Việt Nam dự trù cải cách tư pháp, lấy tòa án làm trọng tâm, tổ chức tòa án theo thẩm quyền xét xử, không phụ thuộc vào đơn vị hành chính; nghiên cứu chuyển viện kiểm sát thành viện công tố, v. v ....
Nhưng theo Chủ nhiệm Uỷ ban Pháp luật Nguyễn Văn Thuận, việc sửa đổi Hiến pháp 1992 sẽ được thực hiện sau khi có chủ trương của Ban chấp hành Trung ương Đảng. Chi tiết này nhắc cho chúng ta thấy rằng, ở Việt Nam, tuy Quốc hội được định nghĩa là cơ quan quyền lực cao nhất của nhân dân, nhưng trên Quốc hội còn có Đảng. Trong một thể chế độc đảng như vậy, không thể có tam quyền phân lập, tức là ngành tư pháp sẽ không bao giờ được độc lập, nếu không sửa đổi Hiến pháp hiện hành, trong đó có điều khoản về vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Đây chính là điều mà tiến sĩ luật Cù Huy Hà Vũ ( người đã dám kiện thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng vì đã ra quyết định khai thác bauxite Tây Nguyên ) nhấn mạnh trong bài phỏng vấn với RFI Việt ngữ, được thực hiện vào tuần trước:
« Nền Cộng hòa, được đặc trưng bởi tam quyền phân lập, hành pháp, lập pháp và tư pháp độc lập với nhau, lẽ ra phải được vận dụng và người dân phải được quyền sử dụng ba quyền đó để được phục vụ. Nhưng trên thực tế, ở Việt Nam, hành pháp là cha, là mẹ của tư pháp. Ví dụ như ngành tòa án, mà người ta coi là đại diện cho công lý và người dân có quyền đưa ra tòa người gây thiệt hại cho mình, nhưng trên thực tế, tòa không hoàn thành một chút nào nhiệm vụ của mình trong các vụ kiện cùa dân đối với cơ quan hành chính.
Tại sao ? Thứ nhất là chế độ độc đảng đã xóa hết ranh giới, cái độc lập giữa hành pháp, lập pháp và tư pháp, bởi vì tất cả cơ quan nào càng cao, từ thẩm phán trở lên đều do đảng viên nắm. Cho nên khi định xử chính quyền, thì chính quyền lại có cấp bậc đảng cao hơn hoặc họ gây sức ép lên ngành tòa án, cho nên tòa án không xử được chính quyền.
Như chính phủ của thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng cũng vậy, trên nguyên tắc, tòa án phải xử được thủ tướng, đúng sai chưa biết. Theo đơn của Cù Huy Hà Vũ ngày 11/6, tòa cứ theo đó mà trát thủ tướng ra tòa. Thế nhưng, tòa án đã không làm nổi điều đó, không thụ lý đơn của tôi, mà cũng không trả lại đơn của tôi, tức là lúng túng như gà mắc tóc. Là bởi vì sao ? Là bởi vì về cấp bậc thì thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng là ủy viên Bộ Chính trị, còn anh Trương Hòa Bình là Chánh án Tòa án Tối cao, nghe có vẻ to lắm, nhưng thật ra chì là ủy viên trung ương. Trong hệ thống quyền lực của Đảng, Bộ Chinh trị đè bẹp ủy viên trung ương, là cha là mẹ của ủy viên trung ương, thế thì làm sao con có thể xử được bố. Đấy là mâu thuẩn lớn nhất : quyền lực do Đảng nắm.
Thứ hai, trong tổ chức cụ thể, các thẩm phán, từ cấp huyện cho đến cấp tỉnh đều được phải được Hội đồng nhân dân bổ nhiệm hàng năm. Một thẩm phán nào đó lôi chính quyền ra xử. Tôi chưa nói là đúng hay sai, nhưng là xử theo đơn kiện của dân, thì vị thẩm phán đó sẽ bị trả thù ngay lập tức. Chủ tịch Hội đồng Nhân dân thường là do bí thư huyện ủy, tỉnh ủy, thành uỷ kiêm luôn, thành ra họ sẽ bảo rằng : Đấy, nhân vật này xử cái vụ dân kiện chính quyền tức là đồng lõa với dân để chống lại chính quyền. Mục tiêu của họ là các nhóm lợi ích trong Đảng, chứ không phải cho dân. Tôi chưa nói đến sự tham nhũng có thể làm tha hóa đến cao độ. Tôi có thể nói là 100 phần trăm, 1000 phần trăm thẩm phán ở Việt Nam là tham nhũng, thối nát. Có thể trên 1000 người, may ra có vài người còn lương tri, không làm những chuyện đó.
Cho nên với tư cách người làm công tác pháp luật, đã bảo vệ dân trong rất nhiều vụ kiện chính quyền, tôi đã nhận thức rằng, một thể chế mà chỉ có một Đảng Cộng sản Việt Nam tồn tại và hơn thế nữa, nắm quyền lãnh đạo vĩnh cửu, cái gọi là tam quyền phân lập đó không bao giờ có. »
Khi đề cập đến việc sửa đổi Hiến pháp Việt Nam, người ta thường so sánh với bản Hiến pháp 1946, được ban hành sau khi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời. Đây là một bản Hiến pháp đã được thiết kế theo tư tưởng pháp quyền, như nhận định của tiến sĩ Nguyễn Sĩ Dũng trong một bài viết được đăng trên tờ Pháp luật Thành phố Hồ Chí Minh năm 2005 và được VietnamNet đăng lại cách đây vài ngày. Trong bài viết « Hiến pháp 1946 với tư tưởng pháp quyền », ông Nguyễn Sĩ Dũng cho rằng, « để lạm quyền không xảy ra thì Hiến pháp đã được đặt cao hơn Nhà nước. » Theo tác giả bài viết, về mặt lý thuyết thì điều này có thể đạt được bằng hai cách hoặc là Hiến pháp do Quốc hội thông qua, hoặc Hiến pháp do toàn dân thông qua. Nhưng hiện nay, rõ ràng là Quốc hội, cũng như nhân dân chẳng có quyền quyết định gì về đạo luật cơ bản đó cả.
Thành ra, theo ông Cù Huy Hà Vũ, vấn đề mấu chốt hiện nay của Việt Nam đó là độc đảng. Ông đề nghị tổ chức trưng cầu dân ý về vấn đề này với sự giám sát của Liên hiệp quốc:
« Quốc hội hiện nay với cơ cấu là đảng viên chiếm 90% trở lên và bộ máy cao nhất của Đảng Cộng sản là Bộ Chính trị. Thế thì, một khi Bộ Chính trị đã không cho cải cách tư pháp, hay nói cách khác, không cho sửa đổi cái gì có lợi cho dân, có hại cho mình, thì làm thế nào mà các đảng viên có thể tự tiện đặt ra vấn đề sửa đổi Hiến pháp được ?
Vậy thì không cải thiện được chăng ? Không. Tôi nghĩ rằng có thể cải thiện được, vì thứ nhất, trong Hiến pháp có một quy định rất quan trọng đó là trưng cầu dân ý. Cái đầu tiên của mọi cái đầu tiên là độc quyền lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Đảng CS Việt Nam có xứng đáng để lãnh đạo hay không, Đảng CS Việt Nam có tốt hay không ? Muốn biết rõ ràng thì phải hỏi ý kiến dân thông qua trưng cầu dân ý.
Tuy nhiên, như các cuộc bầu cử đã diễn ra và bản thân tôi cũng từng ra tự ứng cử đại biểu Quốc hội, tôi đã được thực tế cho thấy rằng cái Đảng Cộng sản này, bằng mọi biện pháp, đè bẹp mọi ứng cử viên không phải là ứng cử viên ngoài đảng do họ lựa chọn. Vậy thì tiến hành trưng cầu dân ý, nếu vẫn do Đảng tổ chức, kết quả cũng sẽ không khác gì bầu cử Quốc hội do Đảng CS tổ chức và kiểm soát.
Cho nên, tôi mong rằng , tổ chức trưng cầu dân ý phải có sự kiểm soát khách quan và trong trường hợp này, tôi đề nghị sự trợ giúp của Liên hiệp quốc và kết quả chỉ cần 50% số phiếu hợp lệ, cộng thêm một phiếu nữa, khẳng định rằng Đảng CS Việt Nam xứng đáng tiếp tục giữ vai trò lãnh đạo. Tôi cũng nói ngay rằng ban lãnh đạo Đảng CS Việt Nam không việc gì phải sợ cả. Liên hiệp quốc là gì ? Là một tổ chức mà Việt Nam đã tham gia, tức là đã đặt trọn niềm tin vào tổ chức đó, thì không có lý do gì nghi ngờ, thậm chí hoảng sợ về vai trò của Liên hiệp quốc trong một cuộc trưng cầu dân ý tương lai ở Việt Nam.
Tóm lại, tôi cho rằng bước đi đầu tiên của cải cách tư pháp ( cải cách một cách cơ bản, chứ không phải nhỏ nhỏ, mang tính chất kéo dài thời gian, « câu giờ », để cho ban lãnh đạo Đảng Cộng sản tồn tại càng lâu càng tốt ), cần phải đến lúc này đây, đứng trước hiểm hoạ xâm lăng của Trung Quốc, đứng trước những nguy cơ như thế, người dân Việt Nam và bản thân tôi, Cù Huy Hà Vũ, quyết định có thái độ dứt khoát, quyết liệt, mạnh mẽ, yêu cầu ban lãnh đạo Việt Nam phải thay đổi, thực hiện sớm nhất có thể tiến trình dân chủ, bằng cách trong năm sau tiến hành trưng cầu dân ý về vai trò lãnh đạo của Đảng CS Việt Nam, được quy định tại điều 4.
Nếu trong cuộc trưng cầu dân ý, có sự giám sát của Liên hiệp quốc, mà Đảng Cộng sản Việt Nam được 50%+1 lá phiếu ủng hộ mình thì tôi cho rằng không một thế lực nào, từ trong nước ra ngoài nước có thể chê bai hoặc phá hoại nỗ lực. Trong trường hợp đó, tôi là người, tuy có thể có quan điểm khác biệt với Đảng CS Việt Nam, sẽ kêu gọi mọi người ủng hộ Đảng Cộng sản Việt Nam, đã được đa số công dân Việt Nam trong nước bỏ phiếu tín nhiệm."
Nhưng chắc chắn là ban lãnh đạo Đảng Cộng sản Việt Nam sẽ không bao giờ tổ chức một cuộc trưng cầu dân ý như thế và Đại hội Đảng, mà theo dự kiến sẽ diễn ra vào đầu năm tới, cũng sẽ chẳng mang lại thay đổi gì đáng kể về mặt thể chế. Có điều, cùng với đà hội nhập thế giới, hệ thống luật pháp Việt Nam ngày càng bộc lộ những mâu thuẩn, những đòi hỏi cải cách, mà nếu không sửa đổi Hiến pháp thì đến một lúc nào đó, Việt Nam sẽ ở vào thế vi phạm các cam kết quốc tế và sự vận hành của quốc gia sẽ gặp bế tắc, hay ít ra là không còn hiệu quả nữa.
nguồn : http://www.viet.rfi.fr/viet-nam/20100614-viet-nam-khong-the-co-tam-quyen-phan-lap-khi-con-che-do-doc-dang
đăng ký môn học
| ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHXH & NV | Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| KẾT QUẢ ĐĂNG KÝ HỌC HỌC KỲ 1 - NĂM HỌC 2010-2011 |
| Họ và tên: | Hồ Xuân Kiên | Ngày sinh: | 23/07/1989 | Mã sinh viên: | 08031405 |
| Chương trình đào tạo: | Chính trị học | Khóa: | QH-2008-X | Đối tượng ưu tiên: | Không |
| STT | Mã môn học | Môn học | Số TC | Hệ số học phí | Mã lớp môn học | Thứ | Tiết | Giảng đường |
| 1 | POL3001 | Hệ thống chính trị Việt Nam | 4 | 1 | POL3001 | T5 | 1 - 4 | AB401 |
| 2 | POL3003 | Chính sách kinh tế và xã hội của Việt Nam | 3 | 1 | POL3003 | T3 | 3 - 5 | AB401 |
| 3 | POL3005 | Chính sách đối ngoại của Việt Nam | 3 | 1 | POL3005 | T2 | 1 - 3 | AB401 |
| 4 | POL3006 | Tư tưởng chính trị Việt Nam | 2 | 1 | POL3006 | T3 | 1 - 2 | AB401 |
| 5 | SH0000 | Sinh hoạt lớp | 0 | 0 | SH0000 12 | T2 | 4 - 5 | AB401 |
| 6 | PES1002 04 | Giáo dục thể chất - Bóng rổ | 1 | 1 | PES1002 04 13 | T4 | 6 - 7 | SVĐ 1 |
| 7 | POL2051 | Lịch sử các học thuyết chính trị | 4 | 1 | POL2051 | T4 | 1 - 4 | AB401 |
| 8 | FLH 1139 | Tiếng Anh chuyên ngành Chính trị học 2 | 4 | 1 | FLH 1139 2 | T3, T5 | 6 - 9, 6 - 9 | M103, M103 |
| Tổng | 21 | 7 |
| Mức học phí: 64000 đ/ tín chỉ |
| Tổng học phí: 1344000 đ |
| Được miễn giảm: 0 đ |
| Tổng số học phí phải nộp: 1344000 đ |
| SINH VIÊN | Hà Nội, ngày tháng năm 2008 | |||
| (Ký và ghi rõ họ tên) | XÁC NHẬN CỦA PHÒNG ĐÀO TẠO | |||
| Đinh Quang Hùng |
28 thg 6, 2010
Sao lại là cổng chào?
Kỹ sư Vi Toàn Nghĩa
Nghe tin Hà Nội sắp làm cổng chào – với 50 tỷ đồng. Nghĩ thêm buồn mặc dù số tiền này là xã hội hóa chứ không phải tiền ngân sách. 50 tỷ, số tiền cũng không phải là lớn lắm. Nhưng nhìn vào tổng thể tình hình xã hội hiện nay thì có gì đấy RẤT KHÔNG ỔN. Có thể là rất cảm ơn các tập đoàn, doanh nghiệp đã hảo tâm với dân tộc về số kinh phí này, nhưng có thể sẽ không cảm ơn nếu số tiền này dùng để xây cổng chào. Ta hãy nhìn xem:
5 cái cổng chào nguy nga ấy có thể sẽ ấn tượng – nó sẽ có giá trị quảng bá cho một vài thương hiệu nào đó – sẽ ghi dấu ấn cho một vài vị lãnh đạo nào đó nhiều hơn là làm đẹp hay tăng thêm giá trị cho ngày lễ 1000 năm THĂNG LONG -HÀ NỘI.
Ta hãy thử nghĩ:
- Số tiền này có thể giúp Dân trí làm chiếc cầu tình nghĩa qua sông PÔ CÔ (một việc làm tuyệt vời của Dân trí).
- Số tiền này có thể giúp kỹ thuật cho diêm dân ta làm ra muối sạch để khỏi phải nhập muối nước ngoài – hãy đọc báo lề phải: nước mắt của họ đã mặn hơn hạt muối họ làm ra.
- Số tiền này có thể làm được con đường vào thôn PÁC CỦNG.
- Số tiền này có thể mua được nhiều thuyền tôn chống lụt cho Hà Nội năm nay.
- Số tiền này có thể thêm được tí ti vào quỹ lương các thầy cô giáo…
- Số tiền này có thể thêm vào quỹ mổ tim cho các em nhỏ đang chờ đợi từng giờ giũa cái sống và cái chết.
- Số tiền này có thể giúp cho người nghèo ốm đau được giảm giá thuốc (họ đang phải mua đắt gấp 40 lần giá thế giới – báo lề phải).
- Số tiền này có thể…
- Số tiền này có thể…
VẬY THÌ TẠI SAO LẠI LÀ CỔNG CHÀO?
Là những người lãnh đạo, mong các bác hãy hiểu được ý nghĩa, lý do từng đồng tiền (mặc dù cùng tính là USD, đồng, nhân dân tệ…). Phải biết đắn đo – đừng nghĩ cứ có tiền là tiêu – nhân đây hãy nhớ lại những đồng tiền “VÊ ĐAN ” đã làm từ thiện.
Chúng ta cảm ơn các tập đoàn, doanh nghiệp có tấm lòng đối với dân tộc – không bao giờ quên. Nhưng phải luôn là trong sáng và vô tư. Ở cơ chế thị trường các đồng tiền quy đổi chưa hẳn đã giống nhau.
VTN
HT Mạng Bauxite Việt Nam biên tập
Phụ lục:
Xây dựng 5 cổng chào lớn vào trung tâm Hà Nội
Chiều 22/6, tại cuộc họp triển khai thực hiện xây dựng 5 cổng chào ở 5 cửa ngõ đi vào trung tâm Thủ đô Hà Nội, Phó Chủ tịch Thường trực Ủy ban Nhân dân thành phố Hà Nội Phí Thái Bình đã chỉ định 5 doanh nghiệp được tham gia xây dựng 5 cổng chào.
Phương án thiết kế cổng chào số 2 trên đường cao tốc Thăng Long - Nội Bài.
Phương án thiết kế cổng chào số 2 trên đường cao tốc Thăng Long - Nội Bài.
Trên cơ sở đề nghị của các doanh nghiệp, Ủy ban Nhân dân thành phố Hà Nội đã chỉ định thầu với 5 doanh nghiệp gồm Công ty Cổ phần Vincom làm cổng chào số 1 trên đường 1A; Tổng Công ty Đầu tư và Phát triển nhà Hà Nội (HANDICO) làm cổng số 2 trên đường cao tốc Bắc Thăng Long-Nội Bài; Vinaconex làm cổng chào số 3 trên đường Láng-Hòa Lạc; Tổng Công ty Đầu tư phát triển hạ tầng đô thị UDIC làm cổng chào số 4 trên đường 5 Hà Nội-Hải Phòng; Công ty Cổ phần Him Lam làm cổng số 5 trên đường cao tốc Hà Nội-Lạng Sơn.
Trong đó Công ty Cổ phần Him Lam và Công ty Cổ phần Vincom đề nghị xây dựng 2 cổng chào kỷ niệm 1.000 năm Thăng Long-Hà Nội tặng thành phố Hà Nội; 3 doanh nghiệp còn lại dự định ủng hộ ít nhất 50% kinh phí xây dựng 3 cổng chào được tham gia. Tổng kinh phí xây dựng 5 cổng chào theo dự tính khoảng 50 tỷ đồng.
Ông Phí Thái Bình đề nghị các sở, ban, ngành và các quận, huyện có liên quan tạo điều kiện thuận lợi nhất về thủ tục, giúp các doanh nghiệp xúc tiến thực hiện 5 cổng chào nói trên bảo đảm tiến độ. Đồng thời, các doanh nghiệp chủ động liên hệ với các cơ quan, địa phương liên quan để triển khai, phấn đấu đến ngày 5/7 có thể báo cáo thành phố tiến độ công việc.
Liên quan đến công tác giải phóng mặt bằng, ông Phí Thái Bình yêu cầu các huyện Sóc Sơn, Phú Xuyên, Gia Lâm, Hoài Đức hoàn thành công tác này trước ngày 30/6.
Cũng tại cuộc họp, Văn phòng Ban chỉ đạo 1.000 năm Thăng Long-Hà Nội đã trình bày bản thiết kế ý tưởng 5 cổng chào.
Theo đó, cổng chào số 1 có hình tượng 10 cánh chim Lạc Việt vươn lên trời cao, đặt tại xã Đại Xuyên, huyện Phú Xuyên trên diện tích khoảng 5.000m2 đất.
Cũng trên diện tích khoảng 5.000m2, cổng chào số 2 trên địa bàn xã Thanh Xuân, huyện Sóc Sơn có hình tang trống đồng cách điệu. Cổng số 3 tiếp giáp sông Đáy thuộc huyện Hoài Đức có hình tượng trống đồng vươn lên từ đất và nước, với quy mô khoảng 4.000m2.
Cổng số 4 trên diện tích khoảng 1.200m2 thuộc xã Dương Xá, huyện Gia Lâm có hình tượng cọc trụ diệt giặc trên sông Bạch Đằng, lại vừa như cánh buồm vươn ra biển. Cổng số 5 trên diện tích khoảng 2.800m2 thuộc xã Ninh Hiệp, huyện Gia Lâm có hình tượng 8 rồng chầu tượng trưng cho 8 vị vua triều Lý.
Theo Thanh Bình
TTXVN/Vietnam+
Trẻ em đi học, bà mẹ đi chợ 15 cây số đi, 15 cây số về?
Kính gửi GS Huệ Chi và quý đồng sự tại trang mạng Bauxite Việt Nam,
Đồng kính gửi nhà giáo Hà Văn Thịnh,
Nhân đọc bài “Vĩ thanh và vĩ cuồng” do nhà giáo Hà Văn Thịnh viết, tôi càng thấy “chất xám” của một số đại biểu Quốc hội có “vấn đề”.
Đã có lần cách đây trên 10 năm, tôi đi tàu cao tốc liên quốc gia tại Châu Âu, và nhẩm tính. Cứ mỗi giây đồng hồ, tàu đi được một khoảng cách bằng chiều dài giữa 2 cột điện, cho là 50 m. Như vậy vận tốc của tàu là 180 Km/giờ.
Trở lại chuyện tàu cao tốc, cứ cho là khoảng cách tối thiểu giữa hai trạm là 5 phút, tức 15Km, để bảo đảm hiệu năng của tàu. Như vậy, trẻ em đi học, bà mẹ đi chợ hàng ngày tối thiểu là 15 Km đi và 15 Km về. Tôi chưa hình dung được trên thế giới có những thành phố nào mà trẻ em và bà mẹ phải đi học, đi chợ xa như thế.
Quả là IQ của các vị đại biểu này thiệt là cao. Tôi thật tình không dám so sánh IQ với các ông.
Qua những sự việc vừa xảy ra trong vòng hơn một năm trở lại, tôi có câu chuyện sau đây muốn chia sẻ cùng quý vị độc giả:
Hai định nghĩa của một chữ hạnh phúc
Hai gia đình cùng thôn, mỗi gia đình cùng có đứa con đang tuổi trưởng thành.
Ở gia đình đầu thôn, cha mẹ luôn mong mỏi con mình thành đạt. Họ dồn tâm huyết để khuyên con chọn cái đúng cái hay. Khi con họ được vào trường tốt, thương hiệu uy tín nhận, là cha mẹ, họ hạnh phúc lắm.
Ở gia đình cuối thôn, cha mẹ luôn mong mỏi con mình đừng làm bậy. Bao nhiêu tâm huyết họ dồn vào để thuyết phục rằng con đang lầm đường, việc con làm là hành động vĩ cuồng. Khi con họ quyết định không làm chuyện xằng bậy, là cha mẹ, họ cũng hạnh phúc lắm.
Là con, chắc hẳn ai cũng muốn được đầu thai vào gia đình đầu thôn. Là cha mẹ, nếu lỡ sinh phải “nghịch tử”, chắc hẳn ai cũng buồn phiền, nhưng phải có biện pháp đối với đứa con hư hỏng. Bởi vì, hạnh phúc thực sự là nguồn vui tràn dâng, chứ không phải là nỗi lo vơi dần.
Lê Minh Thịnh
Thư thứ hai:
Cần một làn sóng dư luận cảnh giác với “bẫy thu nhập trung bình”
Kính gửi: GS Nguyễn Huệ Chi và mạng Bauxite Việt Nam
Tôi được biết, hôm thứ Tư, ngày 23/6/2010 vừa qua, Hội thảo “Mô hình tăng trưởng kinh tế Việt Nam” được UB Kinh tế Quốc hội phối hợp với Trường ĐH Kinh tế Hà Nội tổ chức. Tại Hội thảo này, nhiều chuyên gia trong và ngoài nước đã cảnh báo là Việt Nam sẽ rất khó thoát khỏi cái gọi là “bẫy thu nhập trung bình” nếu Việt Nam không nhanh chóng có những thay đổi then chốt, đột phá trong cơ chế điều hành quốc gia, và trong quá trình hoạch định chính sách. Các chuyên gia đã nêu lên rất nhiều vấn đề bất cập hiện đang tồn tại trong cơ chế điều hành quốc gia, và trong quá trình hoạch định chính sách của chúng ta. Những vấn đề bất cập này chính là nguyên nhân làm cho Việt Nam khó thoát khỏi “bẫy thu nhập trung bình”.
Thưa Giáo sư, đây là một vấn đề rất lớn, thậm chí là rất hệ trọng đối với mọi người dân Việt Nam chúng ta. Nếu trong thời gian tới, Việt Nam chúng ta không thoát khỏi “bẫy thu nhập trung bình”, thì mãi mãi Việt Nam sẽ chỉ là một nước nghèo, dân tộc Việt chúng ta mãi mãi là một dân tộc nghèo; mà đã nghèo thì thường là hèn. Dân tộc ta cần cù, chịu thương chịu khó, có phần thông minh và ham học (tuy còn đầy khiếm khuyết, đầy thói xấu), song, lẽ nào lại phải chịu số phận nghèo hèn mãi như vậy?
Nguy cơ để Việt Nam rơi vào “bẫy thu nhập trung bình” là rất lớn. Thực tế đã chứng minh điều này: Ở châu Á, đến nay chỉ có 4 nước là Nhật Bản, Đài Loan, Hàn Quốc, Singapore vựợt qua được “bẫy thu nhập trung bình” để trở thành những nước phát triển, có nền kinh tế hùng mạnh, có thu nhập bình quân trên đầu người cao nhất châu Á – là những nước dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh thật sự. Còn phần lớn các nước khác sau khi đạt mức thu nhập trung bình đều bị cái anh “bẫy thu nhập trung bình” chết tiệt này tóm chặt, như Phillipin, Malaysia, Indonesia, Thái Lan,…
Thưa Giáo sư, điều tôi lo ngại nhất là các nhà lãnh đạo quốc gia của chúng ta không nhìn thấy được nguy cơ này, hoặc họ nhìn thấy nhưng lại vì những lý do nào đó mà không chịu thay đổi cơ chế điều hành quốc gia, quá trình hoạch định chính sách quốc gia.
Một cơ chế điều hành quốc gia, một quá trình hoạch định chính sách quốc gia thông minh, khôn ngoan, hữu hiệu và tối ưu là một cơ chế điều hành quốc gia, một quá trình hoạch định chính sách quốc gia tập hợp và phát huy được trí tuệ, tâm huyết và các nguồn lực của mọi người Việt Nam chúng ta hiện đang sống cả trong và ngoài nước, tập hợp và phát huy được mọi tiềm năng của đất nước.
Thưa Giáo sư, tôi nghĩ là Giáo sư cũng đã và đang trăn trở về vấn đề này. Giáo sư thử suy tính xem, mạng Bauxite Việt Nam bằng cách nào để dấy lên một làn sóng công luận về vấn đề bức thiết trên đây, như đã làm với Dự án đường sắt cao tốc vừa rồi? Khi có một làn sóng công luận mạnh mẽ thì các nhà lãnh đạo quốc gia không thể không để ý, không thể không suy nghĩ.
Kính chào Giáo sư.
Hà Nội, ngày 25/6/2010
PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG TRONG LĨNH VỰC KINH TẾ Ở VIỆT NAM VÀ NHỮNG TÁC ĐỘNG CHÍNH TRỊ - XÃ HỘI
PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG TRONG LĨNH VỰC KINH TẾ Ở VIỆT
NAM VÀ NHỮNG TÁC ĐỘNG CHÍNH TRỊ - XÃ HỘI
TS. Trần Anh Phương
Báo điện tử ĐCS Việt Nam
Nhằm góp phần nghiên cứu, đánh giá thực trạng phát triển bền vững trong lĩnh vực
kinh tế ở Việt Nam và những tác động chính trị - xã hội cơ bản nhất, báo cáo này sẽ đề cập
đến 4 vấn đề:
- Phát triển bền vững là yêu cầu cấp bách và xu thế tất yếu của toàn cầu; Việt Nam
trong tiến trình hội nhập, phát triển đã và đang tích cực hưởng ứng xu thế này.
- Một số thành tựu nổi bật về phát triển bền vững trong lĩnh vực kinh tế của Việt
Nam trong hơn 20 năm đổi mới vừa qua. Đó là:
Kinh tế đã liên tục tăng trưởng với tốc độ khá cao và tương đối ổn định.
Tăng trưởng kinh tế đã dựa trên sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH,
HĐH, từng bước hội nhập vào sự phân công của nền kinh tế khu vực và thế giới.
- Một số tác động chính trị - xã hội cơ bản từ thành tựu phát triển bền vững trong
lĩnh vực kinh tế của Việt Nam. Đó là:
Nâng cao trình độ và chất lượng sống của các tầng lớp dân cư.
Giải quyết việc làm gắn liền với tiến bộ và công bằng xã hội.
Tạo tiền đề vật chất vững chắc cho chính trị - xã hội tiếp tục ổn định, quốc phòng -
an ninh được không ngừng củng cố, quan hệ quốc tế nói chung và đặc biệt là quan hệ kinh
tế quốc tế nói riêng ngày càng phát triển mạnh về cả chiều rộng lẫn chiều sâu.
- Nền kinh tế Việt Nam vẫn còn một số biểu hiện chưa bền vững nhưng chúng ta có
thể vượt qua và vũng tin vào tương lai nếu có các giải pháp phát triển đúng đắn, năng động.
1. Phát triển bền vững là yêu cầu cấp bách và xu thế tất yếu của toàn cầu. Việt
Nam trong tiến trình hội nhập, phát triển đã và đang tích cực hưởng ứng xu thế này.
1.1. Phát triển bền vững là yêu cầu cấp bách và xu thế tất yếu của toàn cầu
2
Khái niệm "phát triển bền vững" xuất hiện trong phong trào bảo vệ môi trường từ những
năm đầu của thập niên 70 của thế kỷ 20. Năm 1987, trong Báo cáo "Tương lai chung của chúng
ta" của Hội đồng Thế giới về Môi trường và Phát triển (WCED) của Liên Hợp Quốc (LHQ),
"phát triển bền vững" được định nghĩa "là sự phát triển đáp ứng được những yêu cầu của hiện
tại, nhưng không gây trở ngại cho việc đáp ứng nhu cầu của các thế hệ mai sau".
Hội nghị Thượng đỉnh Trái đất về Môi trường và phát triển tổ chức ở Rio de Janeiro
(Braxin) năm 1992 và Hội nghị Thượng đỉnh Thế giới về Phát triển bền vững tổ chức ở
Johannesburg (Cộng hoà Nam Phi) năm 2002 đã xác định "phát triển bền vững" là quá trình
phát triển có sự kết hợp chặt chẽ, hợp lý và hài hoà giữa 3 mặt của sự phát triển, gồm: Phát
triển kinh tế; Phát triển xã hội; và Bảo vệ môi trường. Tiêu chí cơ bản để đánh giá sự phát
triển bền vững là sự tăng trưởng kinh tế ổn định; thực hiện tốt tiến bộ và công bằng xã hội;
khai thác hợp lý, sử dụng tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ và nâng cao được chất
lượng môi trường sống.
Phát triển bền vững là nhu cầu cấp bách và xu thế tất yếu trong tiến trình phát triển
của xã hội loài người, vì vậy đã được các quốc gia trên thế giới đồng thuận xây dựng thành
Chương trình nghị sự cho từng thời kỳ phát triển của lịch sử. Tại Hội nghị Thượng đỉnh Trái
đất về Môi trường và phát triển được tổ chức năm 1992 ở Rio de Janeiro (Braxin), 179 nước
tham gia Hội nghị đã thông qua Tuyên bố Rio de Janeiro về môi trường và phát triển bao
gồm 27 nguyên tắc cơ bản và Chương trình nghị sự 21 (Agenda 21) về các giải pháp phát
triển bền vững chung cho toàn thế giới trong thế kỷ 21. Hội nghị khuyến nghị từng nước căn
cứ vào điều kiện và đặc điểm cụ thể để xây dựng Chương trình nghị sự 21 ở cấp quốc gia,
cấp ngành và địa phương. Mười năm sau, tại Hội nghị Thượng đỉnh Thế giới về Phát triển
bền vững tổ chức năm 2002 ở Johannesburg (Cộng hoà Nam Phi), 166 nước tham gia Hội
nghị đã thông qua Bản Tuyên bố Johannesburg và Bản Kế hoạch thực hiện về phát triển bền
vững. Hội nghị đã khẳng định lại các nguyên tắc đã đề ra trước đây và tiếp tục cam kết thực
hiện đầy đủ Chương trình nghị sự 21 về phát triển bền vững.
Từ sau Hội nghị Thượng đỉnh Trái đất về Môi trường và phát triển được tổ chức tại
Rio de Janeiro (Braxin) năm 1992 đến nay đã có 113 nước trên thế giới xây dựng và thực
hiện Chương trình nghị sự 21 về phát triển bền vững cấp quốc gia và 6.416 Chương trình
nghị sự 21 cấp địa phương, đồng thời tại các nước này đều đã thành lập các cơ quan độc lập
để triển khai thực hiện chương trình này. Các nước trong khu vực như Trung Quốc, Việt
Nam Thái Lan, Singapore, Malaysia...đều đã xây dựng và thực hiện Chương trình nghị sự
21 về phát triển bền vững.
1.2. Việt Nam trong tiến trình hội nhập, phát triển đã và đang tích cực hưởng ứng xu
thế này
Đảng và Nhà nước ta từ nhiều năm qua đã luôn nhận thức sâu sắc về tầm quan trọng
của sự phát triển bền vững không chỉ riêng với Việt Nam mà còn có liên đới trách nhiệm
với sự phát triển bền vững chung của toàn cầu. Chính phủ ta đã cử nhiều đoàn cấp cao tham
gia các Hội nghị nói trên và cam kết thực hiện phát triển bền vững; đã ban hành và tích cực
3
thực hiện "Kế hoạch quốc gia về Môi trường và Phát triển bền vững giai đoạn 1991 - 2000"
(Quyết định số 187 - CT ngày 12 tháng 6 năm 1991), tạo tiền đề cho quá trình phát triển bền
vững ở Việt Nam. Quan điểm phát triển bền vững đã được khẳng định trong Chỉ thị số 36 -
CT/TW ngày 25 tháng 6 năm 1998 của Bộ Chính trị về tăng cường công tác bảo vệ môi
trường trong thời kỳ CNH, HĐH đất nước, trong đó nhấn mạnh: "Bảo vệ môi trường là một
nội dung cơ bản không thể tách rời trong đường lối, chủ trương và kế hoạch phát triển kinh
tế - xã hội của tất cả các cấp, các ngành, là cơ sở quan trọng bảo đảm phát triển bền vững,
thực hiện thắng lợi sự nghiệp CNH, HĐH". Quan điểm phát triển bền vững đã được tái
khẳng định trong các văn kiện của Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX (2001) của Đảng
Cộng sản Việt Nam và trong Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2001 - 2010 là: "Phát
triển nhanh, hiệu quả và bền vững, tăng trưởng kinh tế đi đôi với thực hiện tiến bộ, công
bằng xã hội và bảo vệ môi trường" và "Phát triển kinh tế - xã hội gắn chặt với bảo vệ và cải
thiện môi trường, bảo đảm sự hài hoà giữa môi trường nhân tạo với môi trường thiên nhiên,
giữ gìn đa dạng sinh học". Gần đây, Đại hội X (2006) của Đảng cũng đã rút ra 5 bài học
kinh nghiệm lớn từ thực tiễn phát triển hơn 20 năm đổi mới vừa qua và đó cũng là tư tưỏng
chỉ đạo về phát triển kinh tế - xã hội nước ta giai đoạn 5 năm 2006 - 2010 và kể cả nhiều
năm tiếp theo. Trong đó, bài học đầu tiên đã được Đảng ta đặc biệt nhấn mạnh là “Bài học
về phát triển nhanh và bền vững”. Phát triển bền vững rõ ràng đã và đang trở thành đường
lối, quan điểm của Đảng và định hướng chính sách phát triển của Nhà nước. Để thực hiện
mục tiêu phát triển bền vững, những năm vừa qua đã có nhiều chỉ thị, nghị quyết khác của
Đảng, nhiều văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nước đã được ban hành và triển khai thực
hiện; nhiều chương trình, đề tài nghiên cứu về lĩnh vực này đã được tiến hành và thu được
những kết quả bước đầu. Nhờ đó, nhiều nội dung cơ bản về phát triển bền vững đã đi vào
cuộc sống và dần dần trở thành xu thế tất yếu trong sự phát triển của đất nước.
Phạm vi báo cáo này dưới đây sẽ chỉ phản ánh thực trạng đó ở một số khía cạnh nổi
bật nhất trong lĩnh vực kinh tế và kèm theo là những tác động chính trị - xã hội cơ bản nhất.
2. Một số thành tựu phát triển bền vững nổi bật đã đạt được ở Việt Nam trong
lĩnh vực kinh tế
2.1. Nền kinh tế Việt Nam đã nhiều năm liên tục tăng trưởng với tốc độ khá cao và
tương đối ổn định
Nếu như như tốc độ tăng trưởng kinh tế (GDP) bình quân hàng năm của nước ta trong
giai đoạn 1986 - 1990 là 5 năm đầu tiên của công cuộc đổi mới còn đạt được ở mức thấp
4,4% do nền kinh tế nước ta vừa bước ra khỏi cuộc khủng hoảng đã kéo dài suốt cả thời kỳ 10
năm trước khi đổi mới, 1975 - 1986, thì liên tục từ năm 1991 cho đến năm 2007 chúng ta đều
duy trì được sự tăng trưởng GDP liên tục với tốc độ khá cao và tương đối ổn định. Cụ thể là:
năm 1990 (5,09%); 1991 (5,81%); 1992 (8,7%); 1993 (8,08%); 1994 (8,83%); 1995 (9,54%);
1996 (9,34%); 1997 (8,15%); 1998 (5,76%); 1999 (4,77%); 2000 (6,79%); 2001 (6,89%);
2002 (7,08%); 2003 (7,34%); 2004 (7,79%); 2005 (8,44%); 2006 (8,17%) và năm 2007 vừa
qua đã là 8,48%, mức cao nhất kể từ năm 1997 đến nay (xem bảng 1).
4
Bảng 1 - Tốc độ tăng trưởng kinh tế (GDP) năm từ 1997 - 2007 (%)
Năm 1997 1998 1999 2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007
GDP 8,15 5,76 4,77 6,79 6,89 7,08 7,34 7,79 8,44 8,17 8,48
NLTS 4,33 3,53 5,53 4,63 2,89 4,17 3,62 4,36 4,02 3,3 3,0
CNXD 12,62 8,33 7,68 10,07 10,39 9,48 10,48 10,22 10,69 10,37 10,4
DV 7,14 5,08 2,25 5,32 6,10 6,54 6,45 7,26 8,48 8,29 8,5
Nguồn: Tổng cục Thống kê, Niên giám Thống kê năm 2007.
(Chú thích: NLTS: Viết tắt của nông nghiệp, lâm nghiệp, thuỷ sản - gọi chung là
nông nghiệp;CNXD: Viết tắt của công nghiệp, xây dựng - gọi chung là công nghiệp; DV:
Viết tắt của dịch vụ.)
Theo dõi động thái tiến triển trên đây của tốc độ tăng trưởng kinh tế nước ta đã phản
ánh một thực trạng khả quan, về cơ bản năm sau đều tăng hơn năm trước và sự tăng đó đã
diễn ra liên tục từ năm 1986 cho đến năm 2007 vừa qua (loại trừ hai năm 1998 và 1999 đã có
sự suy giảm tương đối, nguyên nhân chính là nằm trong bối cảnh chung của khu vực Đông Á
khi đó đang chịu ảnh hưởng tiêu cực của cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ 1997 - 1998).
Riêng từ đầu năm 2008 đến nay, trong bối cảnh khó khăn, thách thức chung của suy giảm
kinh tế toàn cầu, kinh tế Việt Nam cũng đã có lâm vào tình trạng lạm phát, dẫn đến suy giảm
tăng trưởng kinh tế như đã thấy. Về tình hình này, phần cuối báo cáo sẽ đề cập cụ thể hơn.
Điều cần thấy là cũng vì sự liên tục tăng trưởng GDP với tốc độ khá cao và tương đối
ổn định trên đây đã khiến cho nền kinh tế Việt Nam đã trở thành nền kinh tế đứng thứ hai
khu vực Đông Á và kể cả trên thế giới (chỉ sau Trung Quốc) về thành tựu tốc độ tăng trưởng
GDP trong suốt hơn hai thập niên vừa qua. Đáng lưu ý là tổng sản phẩm trong nước (GDP) -
chỉ số kinh tế cơ bản nhất của nước ta đã đạt tới 1.114 tỷ đồng (tăng hơn 71 tỷ đồng so với
năm 2006, khiến cho GDP bình quân đầu người năm 2007 đã đạt tới 13,4 triệu đồng, tương
đương 835 USD nhưng tính theo sức mua tương đương thì đã đạt khoảng hơn 3000 USD,
gấp hai lần năm 2001 và bằng 92% so với ngưỡng của các nước có thu nhập trung bình, tín
hiệu tốt cho các bước phát triển tiếp theo.
Cùng với thành tựu phát triển đã đạt được ở một số chỉ tiêu kinh tế - xã hội khác nữa
(mục 3 báo cáo này sẽ đề cập đến), với thành tựu nổi bật về tăng trưởng kinh tế trên đây đã
đưa Việt Nam tiến đến một vị thế khác hẳn trong “con mắt” của thế giới. Việt Nam đã trở
thành “ hiện tượng kinh tế thần kỳ” thứ hai thế giới (sau Trung Quốc) ở đầu thế kỷ XXI
trong dư luận ca ngợi của thế giới cũng là từ thành tựu nổi bật này.
Với thành tựu tăng trưởng kinh tế nhanh trên đây đã có tác động tích cực là đưa nước
ta ra khỏi khủng hoảng kinh tế đã kéo dài suốt nhiều năm trước năm 1990, tăng cường cơ sở
vật chất, tạo tiền đề cần thiết cho các giai đoạn phát triển tiếp theo, mà trước hết là giai đoạn
hiện nay 2006 - 2010.
5
2.2. Tăng trưởng kinh tế đã dựa trên sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH,
HĐH, từng bước hội nhập vào sự phân công của nền kinh tế khu vực và thế giới
- Cơ cấu nền kinh tế đã chuyển dịch theo hướng CNH, HĐH, đó là tỷ trọng trong
GDP của ngành nông - lâm - thuỷ sản đã giảm nhanh từ 38,1% năm 1990 xuống 27,2% năm
1995, 24,5% năm 2000, năm 2005 xuống 20,9%, và đến năm 2008 ước còn 20,6%; Tỷ trọng
công nghiệp và xây dựng trong GDP đã tăng nhanh, năm 1990 là 22,7%, năm 1995 đã tăng
lên 28,8%, năm 2000 là 36,7%, năm 2005 là 41% và đến năm 2008 ước tính sẽ tăng đến
41,6%; Tỷ trọng dịch vụ trong GDP chưa biến động nhiều, năm 1990 là 38,6%, năm 1995 là
44,0%, năm 2000 là 38,8%, năm 2005 là 38,1%, năm 2008 ước tính sẽ là khoảng 38,7%.
- Cơ cấu nền kinh tế đã chuyển dịch tích cực theo hướng mở cửa, hội nhập vào kinh
tế toàn cầu, thể hiện ở tỷ lệ XK/GDP ngày càng tăng nghĩa là hệ số mở cửa ngày càng lớn,
từ 34,7% năm 1992 lên 47% năm 2001 và đến năm 2005 là trên 50%. Tổng KNXK 5 năm
2001 - 2005 đã đạt 111 tỷ USD, tăng bình quân 17,5%/năm (kế hoạch 16%/năm), khiến cho
năm 2005 bình quân KNXK/người đã đạt 390 USD/năm, gấp đôi năm 2000. Năm 2006,
KNXK tiếp tục đạt mức cao 40 tỷ USD, tăng 24% so với năm 2005. Năm 2007, KNXK vẫn
tiếp tục tăng trưởng khá cao, đạt gần 50 tỷ USD, tăng 21,5% so với năm 2006, đưa tỷ lệ
XK/GDP lên đến khoảng 68%. Nhiều sản phẩm của Việt Nam như gạo, cao su, may mặc,
giày dép, hải sản... đã có sức cạnh tranh cao trên thị trường thế giới. Các hoạt động kinh tế
đối ngoại khác như đầu tư trực tiếp từ nước ngoài (FDI), và viện trợ phát triển chính thức
(ODA) cũng đều tăng trưởng khả quan, đặc biệt là vốn FDI đã có bước phát triển tích cực,
tăng mạnh từ năm 2004 đến nay. Năm 2001: vốn FDI vào Việt Nam là 3,2 tỷ USD; tiếp
theo, năm 2002: 3,0 tỷ USD; 2003: 3,2 tỷ USD; 2004: 4,5 tỷ USD; 2005: 6,8 tỷ USD; 2006:
10,2 tỷ USD; và năm 2007 vừa qua đã là năm thứ hai nước ta đã liên tục nhận được các
nguồn vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài (FDI) đạt con số kỷ lục, 20,3 tỷ USD, tăng gấp đôi
so với năm 2006, bằng tổng mức thu hút FDI của cả giai đoạn 5 năm 2001 - 2005, chiếm 1/4
tổng vốn FDI vào Việt Nam trong suốt 20 năm vừa qua.
Hoạt động đầu tư của Việt Nam ra nước ngoài cũng đã bước đầu triển khai tuy còn
rất khiêm tốn. Đó là các doanh nghiệp Việt Nam cũng đã có một số dự án đầu tư ra nước
ngoài như khai thác dầu ở Angiêri, Singapore, trồng cao su ở Lào...
3. Một số tác động chính trị - xã hội cơ bản từ thành tựu phát triển bền vững
trong lĩnh vực kinh tế
Từ những thành tựu phát triển kinh tế nổi bật nêu trên đã là tiền đề, nền tảng vật chất
đưa lại những thành tựu phát triển bền vững trong nhiều lĩnh vực khác, trước hết là trong
các lĩnh vực chính trị - xã hội, thể hiện ở một số kết quả cơ bản sau đây.
3.1. Chỉ số phát triển con người Việt Nam ngày càng tăng hơn
Việc đánh giá trình độ và chất lượng dân sinh của các quốc gia, lãnh thổ có thể được
căn cứ vào nhiều tiêu chí khác nhau, song thông thường có tính phổ biến ngày nay người ta
vẫn dùng chỉ số phát triển con người HDI (Human - Development Index) là một thước đo
6
tổng hợp về nhiều khía cạnh trình độ và chất lượng dân sinh. Chỉ số HDI đo mức tiến bộ
trung bình của một nước về phát triển con người, được đánh giá dựa theo mức tiến bộ trung
bình cộng của các tiêu chí cơ bản về trình độ phát triển con người: Thu nhập GDP tính theo
đầu người; tuổi thọ bình quân: tỉ lệ người lớn biết chữ, giáo dục tiểu học và trung học.
Báo cáo phát triển con người năm 2007/2008 của LHQ cho thấy, Việt Nam hiện có
chỉ số HDI ở hạng trung bình, với chỉ số là 0,733. So với năm trước, Việt Nam đã tăng 4 bậc
từ vị trí 109 lên vị trí 105 trong tổng số 177 nước.
Chỉ số HDI của Việt Nam đã liên tục tăng trong những năm gần đây: Từ 0,671 điểm
(năm 2000) đã tăng lên 0,688 điểm (2003); 0,704 điểm (2005); 0,733 (2007) và có khả năng
đạt tới 0,750 điểm vào năm 2010 như mục tiêu Chiến lược Dân số đã đề ra. Đáng lưu là, từ
năm 1995 đến nay (2007), xếp hạng HDI của Việt Nam trong khu vực đã được nâng lên từ
thứ bậc 7 lên thứ bậc 6; ở Châu Á từ thứ bậc 32 lên thứ bậc 28 và trên thế giới từ thứ bậc
122 lên thứ bậc 105 so vớí 177 nước trên thế giới.
Diễn giải cụ thể hơn về động thái nội hàm chỉ số HDI của Việt Nam đã cho thấy như sau:
- Thu nhập GDP bình quân/người của cả nước đã tăng từ 5,7 triệu đồng năm 2000
lên trên 10 triệu đồng năm 2005, tương đương 640 USD (tăng 12,1%/năm và 1,75 lần sau 5
năm). Năm 2007 vừa qua đã đạt 835 USD. Năm 2008 này theo Báo cáo Chính phủ tại kỳ
họp thứ tư, Quốc hội khoá XII hiện vẫn đang trong thời gian tiến hành, đã cho thấy,
GDP/người của nước ta ước tính có thể đạt tới trên 1000 USD, vượt qua được ngưỡng nước
nghèo theo quy định đã nêu trên của UNDP.
- Tuổi thọ bình quân của người Việt Nam đã tăng từ 60 tuổi năm 1980 lên 65,2 tuổi
năm 1995, lên 70 tuổi năm 2003, lên 71,5 tuổi năm 2005, và hiện nay (2008) là 73,1 tuổi,
vào mức khá cao trong tương quan so sánh với nhiều nước khác, góp phần lớn nâng chỉ số
phát triển con người (HDI) của Việt Nam cao khoảng 30 bậc so với bảng xếp hạng GDP.
- Năm 2000, cả nước đã đạt chuẩn quốc gia về xóa nạn mù chữ và phổ cập giáo dục
tiểu học, đến năm 2008, có 42/64 tỉnh, thành phố đạt chuẩn quốc gia về phổ cập giáo dục
trung học cơ sở. Tỷ lệ người lớn biết chữ đạt 94%, trong khi đó trung bình của thế giới là
79%, các nước thu nhập thấp là 61%, các nước thu nhập trung bình là 90%, các nước châu
Á - Thái Bình Dương là 90%. Đến hết năm 2005, số học sinh đi học bậc tiểu học đạt 97,5%,
số học sinh trung học chuyên nghiệp tăng 15,1%/năm, dạy nghề dài hạn tăng 12%/năm, sinh
viên đại học và cao đẳng tăng 8,4%/năm. Tính đến tháng 8/2008, cả nước có 369 trường đại
học, cao đẳng, trong đó có 160 trường đại học và 209 trường cao đẳng.
Theo Báo cáo phát triển năm 2008 của LHQ, Việt Nam chỉ xếp thứ 122 trong số 177
quốc gia về thu nhập bình quân đầu người. Tuy nhiên, so với nhiều nước có thu nhập thấp
khác, thậm chí so với cả một số nước có thu nhập cao hơn thì Việt Nam lại đi đầu về các chỉ
số tuổi thọ, tỉ lệ biết chữ ở người lớn. Xếp hạng tương ứng của Việt Nam ở hai chỉ số này là
56/177 và 57/177. Chính vì thế mà đã khiến cho HDI của Việt Nam đạt tới mức trung bình
7
trong so sánh với nhiều nước khác chỉ ở mức thấp, mặc dù GDP/người của Việt Nam còn
thấp hơn nhiều và vẫn là nước nghèo.
Trong khi đó, nhìn vào tổng số người đang được đi học trong độ tuổi đi học tiểu học,
trung học và đại học, Việt Nam hiện xếp thứ 121/177 nước, với 63,9% người trẻ được tiếp
cận với giáo dục.
Nguyên nhân cơ bản của tình hình trên là do tăng trưởng kinh tế của Việt Nam đã đạt
tới mức khá cao trong liên tục nhiều năm, đã là cơ sở cho phát triển kinh tế - xã hội của Việt
Nam cũng tăng nhanh theo. Phát triển kinh tế - xã hội sẽ tạo điều kiện tăng thu nhập cho
người dân và tăng đầu tư cho giáo dục là hai giải pháp cơ bản làm thay đổi đáng kể chỉ số
HDI. Chỉ riêng việc cải thiện tỉ lệ nhập học của trẻ em và nâng cao dân trí cho người dân sẽ
giúp Việt Nam tăng nhanh chỉ số phát triển con người của mình. Điều này hoàn toàn đúng
với thực tiễn phát triển của Việt Nam những năm đổi mới vừa qua và vẫn đang là một trong
những định hướng chỉ đạo cơ bản của Đảng và Nhà nước ta.
3.2. Tăng trưởng và phát triển kinh tế đi đôi với giải quyết việc làm, gắn liền thực
hiện tiến bộ và công bằng xã hội
Giữa tăng trưởng kinh tế và giải quyết việc làm cho người lao động luôn có mối quan
hệ biện chứng hữu cơ và là một trong những mục tiêu quan trọng của phát triển kinh tế - xã
hội nước ta trong những năm đổi mới vừa qua, hiện nay và nhiều năm tới. Nhờ tăng trưởng
và phát triển kinh tế, Nhà nước ta cùng với sự tham gia của nhân dân đã có điều kiện chi
hàng nghìn tỷ đồng vào việc giải quyết việc làm cho người lao động.
Kết quả là: Giai đoạn 1991 - 2000, bình quân hàng năm đã giải quyết cho khoảng 1 -
1,2 triệu người lao động có việc làm; giai đoạn 2001 - 2005, con số này đã tăng lên 1,4 - 1,5
triệu; trong các năm 2006 - 2007, đạt bình quân khoảng trên 1,6 triệu. Tỷ lệ qua đào tạo từ
dưới 20%/năm năm 1990 đã tăng lên khoảng 30% năm 2005, và vào khoảng 30 - 33% trong
các năm 2006 và 2007
Thực hiện chỉ đạo của Đảng từ quan điểm cơ bản: “tăng trưởng và phát triển kinh tế
phải gắn liền với tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước và trong suốt quá trình
phát triển” đã được Đại hội VIII (1996) đề ra, cho đến nay ở nước ta đã có hàng loạt các
chương trình mục tiêu quốc gia nhằm giải quyết những vấn đề xã hội bức xúc như dạy nghề,
tạo việc làm, xuất khẩu lao động, xoá mù, phổ cập tiểu học, xoá đói giảm nghèo (Chương
trình 133), hỗ trợ các xã đặc biệt khó khăn (Chương trình 135), chính sách đối xử với người
có công... Hàng loạt văn bản luật và dưới luật đã được thể chế hoá để giải quyết các vấn đề
xã hội liên quan về lợi ích của người lao động và các tầng lớp dân cư toàn xã hội thuộc
nhiều lĩnh vực khác nhau như: Luật Lao động, Luật Giáo dục, Luật Phòng chống ma tuý...,
Pháp lệnh nghĩa vụ công ích, Pháp lệnh về các lĩnh vực y tế, giáo dục, thể thao, cải tiến tiền
lương, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, xoá đói giảm nghèo... Nhờ vậy mà chúng ta đã đạt
được nhiều thành tựu quan trọng trong việc kết hợp tăng trưởng và phát triển kinh tế với
thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội.
8
Trước hết là đời sống nhân dân đã được cải thiện rõ rệt, thể hiện ở thu nhập GDP
bình quân đầu người nước ta đã không ngừng tăng lên, từ 220 USD những năm đầu thập
niên 90 của thế kỷ XX, đã tăng lên 400 USD năm 2000, 483 USD năm 2003, 640 USD năm
2005, và đến năm 2007 vừa qua đã đạt tới 835 USD. Đáng lưu ý, theo Báo cáo của Chính
phủ tại Kỳ họp thứ tư, Quốc hội khoá XII (tháng 10 - 11/2008) nước ta có thể sẽ đạt tới bình
quân GDP/người năm 2008 này từ 1050 - 1100 USD. Nếu chỉ căn cứ vào số liệu đó, Việt
Nam đã vượt qua được ngưỡng nước nghèo (theo chuẩn định của Ngân hàng Thế giới (WB)
là từ 950USD/ người/năm trở lên)
Đặc biệt, công tác xoá đói giảm nghèo của Việt Nam đã đạt kết quả rất khả quan, được
cộng đồng quốc tế đánh giá cao. Là một trong những quốc gia có kết quả giảm tỷ lệ đói nghèo
tốt nhất. đến cuối năm 2005, tỷ lệ hộ nghèo theo chuẩn cũ còn 7% (kế hoạch là 10%; năm
2001 là 17,5%). Theo Báo cáo của Chính phủ do Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng trình bày tại
kỳ họp thứ hai, Quốc hội khoá XII (Nhân dân, 23/10/2007), đến cuối năm 2007 đã có gần 4
triệu hộ nghèo và 1,7 triệu người có hoàn có hoàn cảnh khó khăn được tiếp cận với nguồn vốn
thuộc 10 chương trình tín dụng ưu đãi của Nhà nước, góp phần giảm tỷ lệ hộ nghèo từ 18%
năm 2006 xuống còn 14,7% (theo chuẩn mới) năm 2007. Theo đánh giá của LHQ, Việt Nam
đã hoàn thành Mục tiêu Thiên niên kỷ xoá đói nghèo đến năm 2015 trước 10 năm.
Công tác cứu trợ xã hội đối với người già neo đơn, trẻ mồ côi, người tàn tật, trẻ lang
thang, các cá nhân và gia đình gặp phải thiên tai, tai nạn đột xuất... cũng nhờ vào các thành
tựu tăng trưởng trong kinh tế mà ngày càng có điều kiện vật chất thực hiện chu đáo hơn.
Điều đáng quan tâm khác là cùng với việc Nhà nước ta đã cho xây dựng được Quỹ
trợ cấp thường xuyên và trợ cấp đột xuất có nguồn kinh phí từ ngân sách nhà nước ngày
càng lớn hơn, những năm qua toàn xã hội ta đã dấy lên một lối sống nhân văn rất đậm nghĩa
tình được đông đảo nhân dân và các tổ chức cơ quan, đoàn thể xã hội cùng nhiệt tình tham
gia các hoạt động từ thiện để cứu trợ những người khó khăn, hoạn nạn. Đó là việc thành lập
các quỹ như Quỹ “Vì người nghèo” Quỹ “Tình nghĩa” để hỗ trợ các gia đình liệt sĩ, thương
binh, Quỹ “Hỗ trợ người tàn tật”, “Hỗ trợ trẻ em lang thang”…
Chỉ tính riêng trong 8 năm qua, 2000 - 2008, Quỹ “Vì người nghèo” đã quyên góp
được trên 2.400 tỷ đồng của các nhà hảo tâm, những tấm lòng bác ái. Từ nguồn quỹ này
cùng với sự hỗ trợ của các ngành, các cấp từ trung ương đến địa phương, đã xây dựng và
sửa chữa được 814. 760 căn nhà cho người nghèo trên cả nước. 18 tỉnh, thành phố, 289 quân
huyện, thị xã và 5.591 phường , xã đã hoàn thành xoá nhà dột nát cho các hộ nghèo. Truyền
thống “lá lành đùm lá rách” tiếp tục được phát huy với hàng loạt nghĩa cử cao quý, xúc
động mà có thể minh hoạ gần đây là các hoạt động từ thiện, cứu trợ của nhân dân cả nước,
kể cả kiều bào ta ở nước ngoài… đối với các nạn nhân và gia đình nạn nhân của vụ sập hai
nhịp cầu Cần Thơ, thiên tai bão lũ ở miền Trung ... và mới đây, tháng 8/2008, là lũ lụt ở Lào
Cai, Yên Bái..., tháng 10 - 11/2008, là lũ lụt ở Hà Nội, Vĩnh Phúc, Ninh Bình…và nhiều
tỉnh khác ở miền Trung, miền Nam.
9
3.3. Tăng trưởng và phát triển kinh tế là tiền đề vật chất vững chắc cho chính trị - xã
hội tiếp tục ổn định, quốc phòng - an ninh được không ngừng củng cố, quan hệ quốc tế nói
chung và đặc biệt là quan hệ kinh tế quốc tế nói riêng ngày càng phát triển mạnh về cả
chiều rộng lẫn chiều sâu
Nhờ có các thành tựu tăng trưởng và phát triển kinh tế, đời sống nhân dân ngày càng
được nâng cao hơn về mọi mặt, niềm tin vào công cuộc đổi mới, hội nhập và phát triển đất
nước do Đảng đề ra, Nhà nước mà trực tiếp chỉ đạo là Chính phủ do đó càng được củng cố
vững bền hơn. Cùng với Chương trình quốc gia về cải cách hành chính theo hai giai đoạn
đang vẫn diễn ra đã góp phần làm cho Bộ máy Nhà nước pháp quyền XHCN của nước ta
cũng vì thế ngày càng được củng cố, hoàn thiện hơn về cả 3 lĩnh vực lập pháp, hành pháp và
tư pháp. Trên nền tảng đó, sức mạnh khối đại đoàn kết dân tộc càng được phát huy mạnh
mẽ. Đồng thời các tổ chức chính trị xã hội, nghề nghiệp, tôn giáo bằng nhiều hình thức đa
dạng và phong phú càng có thêm điều kiện thuận lợi để góp phần tích cực vào công cuộc
phát triển đất nước.
Có được những kết quả, thành tựu phát triển như vậy, như đã đề cập là do tác động
trực tiếp của tăng trưởng và phát triển kinh tế nước ta những năm vừa qua. Tuy nhiên về
nguồn gốc của tất cả hiện thực sinh động đó suy đến cùng là do đường lối đổi mới đúng đắn,
sáng tạo của Đảng mà để có được như vậy, trước hết là do Đảng ta là một Đảng mạnh vì đã
luôn luôn chú ý thực hiện tốt công tác xây dựng Đảng qua các kỳ đại hội từ nhiều năm qua.
Trong bối cảnh mới của nước ta và thế giới hiện nay, trước nhiều khó khăn, thách thức lớn
đang đặt ra, việc tổ chức cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí
Minh” đã và đang diễn ra sôi động trong toàn Đảng, toàn quân, toàn dân rõ ràng là rất cần
thiết và đã có tác dụng rất tích cực đến sự phát triển bền vững của nước ta trong tất cả các
lĩnh vực khác nhau.
Đồng thời với sự ổn định chính trị - xã hội đất nước, nhờ có tăng truởng và phát triển
kinh tế, những năm qua tiềm lực quốc phòng - an ninh của nước ta đã không ngừng được
củng cố, tăng cường thêm và do đó đã luôn giữ vững được độc lập chủ quyền, toàn vẹn lãnh
thổ, an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội, bảo vệ được các thành quả của công cuộc đổi
mới, phát triển đất nước.
Nhờ vào những kết quả, thành tựu phát triển kinh tế cùng với sự ổn định chính trị - xã
hội và an ninh của đất nước như đã đề cập ở những nét khái quát nhất trên đây đã khiến cho
Việt Nam ngày càng có uy tín cao hơn trên trường quốc tế. Các quan hệ đối ngoại nói chung
và kinh tế đối ngoại nói riêng vì thế ngày càng có thêm điều kiện phát triển mạnh về cả chiều
rộng lẫn chiều sâu. Trong đó, có những sự kiện nổi bật nhất của hai năm gần đây là: năm
2006, Việt Nam đã tổ chức thành công Hội nghị APEC - 14, gia nhập Tổ chức Thương mại
Thế giới (WTO)... và ngày 16/10/2007, Việt Nam đã trở thành Uỷ viên không thường trực
của Hội đồng Bảo an của LHQ nhiệm kỳ 2008 - 2009 với số phiếu tín nhiệm cao.
Tác động tương hỗ tích cực trở lại của các hoạt động đối ngoại và kinh tế đối ngoại
trên đây là đã góp phần giữ vững môi trường hoà bình, nâng cao uy tín của Việt Nam trong
10
khu vực và trên thế giới, tạo điều kiện cho phát triển kinh tế - xã hội đất nước ta ngày càng
bền vững hơn.
4. Nền kinh tế Việt Nam còn nhiều bất ổn nhưng chúng ta có thê vượt qua nếu
có các giải pháp phát triển đúng đắn, năng động.
4.1. Những biểu hiện còn bất ổn của nền kinh tế Việt Nam
Các kết quả, thành tựu phát triển kinh tế khả quan như đã nêu trên đây đã là tiền đề
vật chất trực tiếp cho nước ta tiếp tục giữ được các cân đối vĩ mô của nền kinh tế như thu
chi ngân sách, vốn tích luỹ, cán cân thanh toán quốc tế..., tạo điều kiện cho bảo đảm ổn định
và phát triển kinh tế - xã hội theo hướng bền vững, trong đó có một nhiệm vụ và cũng là
mục tiêu phấn đấu hàng đầu hiện nay, đó là tăng trưởng kinh tế phải đi đôi với tiến bộ và
công bằng xã hội, mà xoá đói giảm nghèo đã và đang còn là một trong những nhiệm vụ
trọng tâm và cấp bách hiện nay.
Chính vì dựa vào nền tảng những kết quả, thành tựu phá triển khả quan trên đây và
nhìn về xu hướng phát triển tới được căn cứ vào thực trạng về tiềm năng có thể phấn đấu
bằng việc phát huy cao độ các nguồn nội lực từ trong nước kết hợp với tranh thủ thu hút các
nguồn ngoại lực của nước ngoài nên tại kỳ họp thứ hai của Quốc hội khoá XII (tháng
10/2007), ngay từ phiên khai mạc, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã đề xuất một quyết tâm
cao là chúng ta sẽ phấn đấu để ngay trong năm 2008 này kinh tế Việt Nam sẽ đạt tốc độ tăng
trưởng GDP từ 8,5 - 9% so với năm 2006, đạt tổng GDP khoảng 83 tỷ USD, đưa bình quân
GDP/người đạt 960 USD, vượt ngưỡng 950 USD/người/năm, ngưỡng đã được WB coi là
nước đang phát triển có thu nhập thấp. Như thế, cũng có nghĩa nếu đạt được mục tiêu phấn
đấu này sẽ đưa nước ta thoát ra khỏi tình trạng là nước nghèo ngay trong năm nay - năm
2008. Mục tiêu phấn đấu này được Quốc hội bàn thảo rất kỹ, thống nhất thông qua và đã
quyết định đưa vào kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2008.
Nhìn nhận về mục tiêu phấn đấu đã đề ra trên đây của Quốc hội, ngay từ cuối năm
2007 đã có khá nhiều ý kiến bàn thảo về vấn đề này. Tác giả khi đó cũng đã có một bài viết
nhỏ đăng trên Báo điện tử ĐCS Việt Nam ngày 31/12/2007 với tiêu đề: “Kinh tế Việt Nam
năm 2007 tiếp tục khởi sắc nhưng vẫn còn nhiều khó khăn, thách thức lớn”. Bài viết đó đã
đưa ra một số ý kiến mong được bàn góp thêm ở khía cạnh là: Cần có sự đánh giá đúng mức
về những “kỳ tích” đã đạt được và “thực lực” của nước ta hiện nay. Xin được nhắc lại ở
những nét khái quát nhất sau đây:
Đúng là có thể coi những kết quả, thành tựu phát triển kinh tế - xã hội mà nước ta đã
đạt được trong hơn hai mươi năm đổi mới vừa qua là “kỳ tích”. Sau hơn hai mươi năm đổi
mới, nền kinh tế nước ta trước đó nhiều thập niên vốn đã bị tàn phá nặng nề sau chiến tranh,
có xuất phát điểm về trình độ phát triển quá thấp, quá lạc hậu so với trình độ phát triển chung
của khu vực và thế giới, đã thế lại rất trì trệ so với tư duy, ý thức hệ phát triển của thời đại, chỉ
quanh quẩn với ý thức chủ quan của sự phát triển một nền kinh tế tự chủ theo kiểu kế hoạch
hoá tập trung quan liêu, bao cấp, khép kín lấy tinh thần tự lực cánh sinh một cách máy móc,
duy ý chí là chính... thế nhưng, đến nay nhìn lại chúng ta đã có nhiều đổi mới cơ bản, đã và
11
đang phấn đấu để tạo ra được một số “bước ngoặt kỳ tích”. Cụ thể hơn, các “bước ngoặt kỳ
tích” đó là: sau hơn 20 năm đổi mới, kể từ sau Đại hội VI (năm 1986) đến nay, chúng ta đã
lần lượt vượt qua từng “cửa ải’ của quá khứ lạc hậu, điều mà nếu như với lối suy nghĩ, hành
động kiểu cũ trước đây thì chưa bao giờ có thể nghĩ rằng ta lại sớm có thể đạt đến như vậy.
Cửa ải thứ nhất ta đã vượt qua là cho đến năm 1995, kết thúc nhiệm kỳ Đại hội VII (1991 -
1995), chúng ta đã vượt qua cuộc khủng hoảng kinh tế với lạm phát kéo dài trên hai con số
liên tục nhiều năm từ suốt những năm 1970 - 1980. Tiếp theo, cửa ải thứ hai ta cũng đã và
đang phấn đấu để mong vượt qua, đó là thoát nhanh ra khỏi tình trạng nước nghèo, kém phát
triển. Trong mục tiêu phấn đấu đã được đề ra từ Đại hội IX (năm 2001) là đến năm 2010 sẽ
thực thi thành công nhiệm vụ này, vì thế việc quyết tâm phấn đấu trong năm nay - năm 2008,
hoàn thành mục tiêu phấn đấu này nếu trở thành hiện thực là chúng ta đã về đích trước hai
năm so với kế hoạch đề ra. Còn một cửa ải thứ ba và cũng là cửa ải cuối cùng nhìn ra phía
trước xa hơn, đó là phấn đấu về cơ bản trở thành nước công nghiệp vào năm 2020. Đương
nhiên, chúng ta đều hiểu cửa ải thứ ba nếu vượt qua được là sẽ có thể hoá “rồng” như kinh
nghiệm của các “con rồng Đông Á” đã có từ những năm 70 - 80 của thế kỷ trướ c. Chính vì
thế việc làm thế nào để thoát nhanh ra khỏi tình trạng nước nghèo vào năm 2008 này sẽ có
một ý nghĩa rất quan trọng là không chỉ đưa nước ta bứt lên một vị thế mới, trở thành nước
đang phát triển thực sự mà còn tạo ra tiền đề vật chất thuận lợi cho việc phấn đấu “hoá rồng”
vào năm 2020, thậm chí có thể rút ngắn thời gian trước năm 2020.
Vấn đề cơ bản nhất đang đặt ra là khả năng thực thi quyết tâm thoát nghèo “thực sự”
của chúng ta ngay trong năm 2008 này có hiện thực không? Đã có nhiều ý kiến của các
chính khách, các nhà hoạch định chính sách kinh tế - xã hội và quản lý vĩ mô, các nhà khoa
học... cho rằng nếu cứ đà phát triển khả quan như năm 2007 vừa qua thì điều đó là đang
trong tầm tay của chúng ta. Tuy nhiên, theo thiển ý của tôi ngay từ đầu năm 2008 này đã
cho rằng, để tránh mọi suy nghĩ và hoạt động chủ quan duy ý chí dẫn đến khiên cưỡng,
nóng vội... chúng ta cần chủ động lưu ý trước những diễn biến khách quan khó lường như
thiên tai, dịch bệnh, giá cả thị trường thế giới... để từ đó có quyết định và hành động đúng,
hiệu quả cao. Và thực tế đã diễn ra như thế nào đối với kinh tế nước ta từ đầu năm 2008 đến
nay, mọi người đều đã quá rõ. Cho đến thời điểm viết báo cáo này, tháng 10 - 11/2008, theo
tôi, trong năm 2008 này ta chưa thể “thực sự” vượt qua được tình trạng nước nghèo, cho dù
nếu xét về lượng tuyệt đối nếu cứ đà này có thể ta sẽ đạt bình quân GDP/người ngay trong
năm nay là trên 1000 USD như Báo cáo của Chính phủ tại kỳ họp thứ tư, Quốc hội khoá XII
đã dự báo. Sở dĩ vậy vì: nếu nhìn ở bình diện chung xã hội thì công tác xoá đói giảm nghèo
của nước ta năm nay vẫn có những hạn chế, bất cập lớn mà chủ yếu là do các nguyên nhân
khách quan bất khả kháng đã đưa lại mà chúng ta chưa thể vượt qua. Đó là đời sống nhân
dân, nhất là người có thu nhập thấp, người nghèo và đồng bào ở vùng sâu, vùng xa, vùng bị
thiên tai còn nhiều khó khăn. Lạm phát cao và thiên tai, dịch bệnh đã làm giảm thu nhập
thực tế của nhân dân, nhất là của các hộ nghèo. Đặc biệt, tỷ lệ tái nghèo tăng; vẫn còn nhiều
huyện có tỷ lệ hộ nghèo cao. Chỉ tiêu giảm nghèo đạt thấp hơn kế hoạch (13,1%/11 - 12%).
Vì những khó khăn đó nên trong lĩnh vực giáo dục - đào tạo cũng đang có nguy cơ tái mù ở
những địa phương đó.
12
Không chỉ thế, nghiêm túc nhìn nhận trong so sánh tương quan với các nền kinh tế
khác trong khu vực và toàn cầu thì rõ ràng nỗi lo tụt hậu xa hơn về trình độ phát triển kinh
tế vẫn đang còn là nguy cơ rất lớn. Dưới đây là một số dẫn giải về nguy cơ này.
Thứ nhất, quy mô của nền kinh tế nước ta còn nhỏ, thu nhập bình quân đầu người
còn thấp; năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của toàn nền kinh tế cũng như
từng ngành, từng sản phẩm còn chưa cao. Không chỉ so với nhiều nước trên thế giới mà
ngay cả so với nhiều nước trong cùng khu vực Đông Á và kể Đông Nam Á, chúng ta đều
thua xa họ về cả quy mô kinh tế và thu nhập bình quân đầu người. Theo số liệu báo cáo của
WB, năm 2006: các con số tương ứng GDP và GDP/người của Thái Lan là 193,7 tỷ USD và
2.990 USD; của Malaysia là 141,4 tỷ USD và 5.490 USD; Indonesia là 315 tỷ USD và
1.420 tỷ USD; Philippines là 120,2 tỷ USD và 1.420 tỷ USD... Trong khi đó, Việt Nam năm
2007 vừa qua cho dù GDP/người đã tăng vượt bậc so với năm 2000 (400 USD) nhưng cũng
mới chỉ đạt tới khoảng 835 USD. Tăng trưởng cao liên tục nhiều năm nhưng do xuất phát
điểm quá thấp nên thu nhập bình quân đầu người của ta đến nay vẫn còn là quá thấp, hiện
đứng thứ 7 khu vực Đông Nam Á, thứ 35 Châu Á và 137 trên thế giới; và nếu xét tương
quan chung thì Việt Nam vẫn nằm trong nhóm 53 nước có thu nhập thấp, bình quân dưới
905 USD/người/năm (tính đến năm 2007). Theo các chuyên gia kinh tế, nếu vẫn duy trì
được tốc độ tăng trưởng như những năm vừa qua và hiện nay, để phấn đấu thu nhập bình
quân đầu người của Việt Nam bằng mức hiện tại của một số nước sau đây thì số năm thực
hiện phải là: Indonesia (5 năm); Philippines (8 năm); Thái Lan (20 năm); Malaysia (24
năm); và Singapore (40 năm). Đương nhiên, xin hiểu là cách tính đó được giả định trong
trường hợp các nước này “tạm thời đứng yên”, còn trên thực tế ta biết là không thể có như
vậy, có nghĩa là cũng chưa thể xác định được bao nhiêu năm nữa ta mới đuổi kịp họ. Điều
đó cũng có nghĩa, tụt hậu xa hơn về trình độ phát triển kinh tế vẫn còn là hiện thực và là
nguy cơ lớn đối với nước ta.
Thứ hai, một tiêu chí cơ bản khác được coi là thước đo so sánh khá toàn diện về trình
độ phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia, lãnh thổ, đó là chỉ số phát triển con người
(HDI). Mặc dù chúng ta đã đạt cả 3 mặt: tăng nhanh, liên tục, và thứ bậc tăng vọt, nhưng
đến nay chỉ số đó vẫn còn ở mức thấp của thế giới và Việt Nam xét riêng về chỉ số HDI vẫn
bị xếp vào nhóm các nước đang phát triển có thu nhập thấp.
Thứ ba, về môi trường đầu tư của nước ta tuy đã được cải thiện rõ rệt và tiến bộ hơn
nhiều so với trước năm 2000 nhưng theo báo cáo của WB, thứ hạng về tiêu chí này còn thấp
hơn nhiều so với một số nước trong khu vực. Cụ thể, nếu Singapore luôn xếp thứ nhất, Thái
Lan hiện xếp thứ 15, Malaysia thứ 24... thì hiện tại Việt Nam đang xếp thứ 91 trong tổng số
178 nước và lãnh thổ.
Ngoài ra, còn có thể kể thêm không ít hạn chế, bất cập từ đó đã tạo ra những khó
khăn, thách thức không nhỏ cho sự phát triển của nước ta hiện nay không chỉ trong lĩnh vực
kinh tế mà cả các lĩnh vực khác, làm ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống xã hội của các tầng
lớp nhân dân lao động. Chỉ tính từ năm 2007, nhất là từ đầu năm 2008 đến nay, nền kinh tế -
xã hội nước ta đã gặp phải khá nhiều vấn đề nan giải nổi cộm như nhập siêu quá cao, chỉ số
13
giá tiêu dùng và lạm phát tăng quá mạnh, tiến độ thực hiện và giải ngân vốn đầu tư phát
triển của Nhà nước còn chậm, công tác quản lý xây dựng các công trình còn nhiều yếu kém
gây lãng phí, mất an toàn lao động còn nhiều. Các cơ sở hạ tầng về giao thông, điện , nước...
đã trở nên quá tải, bất cập trước yêu cầu phát triển thực tiễn. Thế mạnh nhiều năm trước đây
của ta vẫn là dồi dào lao động, giá nhân công rẻ giờ đã không còn, mà ngược lại chính thế
mạnh đó lại đã và đang chuyển thành thế yếu vì trước yêu cầu mới của CNH,HĐH, của hội
nhập khu vực và quốc tế thì đa phần trong số đó do là lao động giản đơn, trình độ thấp nên
đã bị xung vào đội quân thất nghiệp, trong khi tình trạng quá thiếu lao động trình độ cao của
nước ta lại đã và đang là vấn đề nan giải nổi cộm làm kìm hãm quá trình chuyển dịch cơ cấu
kinh tế theo hướng tích cực ở nước ta. Thêm vào những khó khăn, thách thức lớn đó, còn
phải kể đến tình trạng tham nhũng, lãng phí, thủ tục hành chính rườm rà, tai nạn giao thông,
thiên tai, dịch bệnh, ô nhiễm môi trường và nhiều tiêu cực, tệ nạn xã hội khác vẫn còn là căn
bệnh nhức nhối chưa thể chữa khỏi mặc dù chúng ta cũng đã cố gắng chữa...
Chính vì những khó khăn, thách thức lớn đó, nhằm phù hợp với tình hình mới, tại kỳ
họp thứ ba, Quốc hội khoá XII (tháng 5/2008), Chính phủ đã phải đề nghị Quốc hội điều
chỉnh giảm kế hoạch phấn đấu tăng trưởng kinh tế năm 2008 này ở mức thấp hơn, chỉ còn
7% so với lúc đầu đề ra là trên 9% và còn thấp hơn so với mức 8,48% đã đạt được năm
2007. Trên cơ sở đó, Chính phủ cũng đã đề ra 8 nhóm giải pháp kiềm chế lạm phán, thực
hiện an sinh xã hội và quyết tâm hoàn thành kế hoạch năm 2008 này sau khi đã thống nhất
điều chỉnh lại các chỉ tiêu kinh tế - xã hội phấn đấu cụ thể tương xứng với chỉ tiêu tăng
trưởng kinh tế 7%. Tuy năm 2008 đến thời điểm tác giả hoàn thành báo cáo này (tháng 10 -
11) chỉ còn hơn một tháng nữa là kết thúc và kinh tế - xã hội nước ta và mặc dù trong vài
tháng gần đây đã có thêm nhiều điểm sáng như Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ
tám (khoá X), vừa chỉ rõ, song hiện tại vẫn còn rất nhiều khó khăn, thách thức không chỉ vì
những hạn chế, bất cập trong nước đã nêu trên mà còn vì cả áp lực nặng nề của cuộc khủng
hoảng tài chính toàn cầu đã và đang tác động trực tiếp đến kinh tế nước ta ngày càng rõ hơn.
Vì thế, cần phải tiếp tục nỗ lực phấn đấu nhiều hơn nữa chúng ta mới có thể hoàn thành các
nhiệm vụ kinh tế - xã hội năm 2008 đã được Quốc hội, Nhà nước, Chính phủ đề ra.
3. Vững tin vào tương lai
Cho dù còn rất nhiều khó khăn, thách thức lớn đặt ra trên đường phát triển, song rõ
ràng là với những kết quả, thành tựư phát triển khả quan mà chúng ta đã đạt được trong hơn
20 năm đổi mới đã qua mà trực tiếp gần đây nhất là những kết quả đã đạt được của sự nỗ
lực vượt khó của cả nước ta trong 10 tháng đầu năm nay (2008) đã càng tạo cho chúng ta
một niềm tin lớn vào tương lai là phải vượt qua và chắc chắn sẽ vượt qua những khó khăn,
thách thức lớn đó.
Vượt khó đi lên, nền kinh tế nước ta trong 10 tháng đầu năm 2008 vẫn duy trì được
mức tăng trưởng khá (6,52%) trong điều kiện lạm phát cao. Theo nhận định của Chính phủ
tại kỳ họp thứ tư, Quốc hội khoá XII (tháng 10 - 11/2008), cứ đà này, nếu không có gì trở
14
ngại lớn đột xuất, “Tăng trưởng GDP cả năm ước đạt khoảng 6,5 - 7%1; trong đó, nông
nghiệp tăng 3,5 - 3,9%; công nghiệp và xây dựng tăng 7,3 - 7,5%, dịch vụ tăng 7,2 - 7,8%;
GDP bình quân đầu người đạt trên 1.000 USD2. Mặc dù gặp nhiều khó khăn do thiên tai,
dịch bệnh, giá đầu vào tăng cao nhưng nông nghiệp vẫn đạt được những kết quả nổi trội: giá
trị sản xuất ước tăng 5,1% (năm 2007 tăng 4,6%); sản lượng lúa tăng khoảng 2,6 triệu tấn,
là mức tăng cao nhất từ trước đến nay3, thủy sản tăng gần 9,0%. Giá trị sản xuất công
nghiệp ước tăng 16,2% (năm 2007 tăng 17,1%). Nhiều ngành dịch vụ phát triển khá, tổng
mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tăng 31% (năm 2007 tăng 22,7%).
Xuất khẩu năm 2008 tăng cao. Kim ngạch xuất khẩu chín tháng đạt 48,6 tỷ USD tăng
39% so với cùng kỳ năm 2007 (cùng kỳ tăng 19,4%); ước cả năm đạt trên 65 tỷ USD, tăng
33,9% là mức tăng cao nhất trong mười năm qua (năm 2007 tăng 21,9%). Xuất khẩu tăng
ngoài yếu tố tăng giá, còn do lượng hàng tăng (khoảng 30%) và thị trường xuất khẩu được
mở rộng. Ðây là yếu tố cơ bản làm giảm nhập siêu, góp phần quan trọng vào tăng trưởng
kinh tế, thể hiện năng lực nội sinh của các ngành sản xuất và sự năng động của các doanh
nghiệp trong điều kiện nước ta hội nhập ngày càng sâu rộng vào kinh tế thế giới…
Ðầu tư trực tiếp nước ngoài ước cả năm có số vốn đăng ký trên 60 tỷ USD, gấp
khoảng ba lần so với năm 2007, vốn thực hiện khoảng 10 - 11 tỷ USD4. Vốn ODA cam kết
nhiều hơn5, đến hết tháng 9 các nhà tài trợ đã ký hiệp định cung cấp trên 1,8 tỷ USD; đã giải
ngân trên 1,4 tỷ USD, đạt 74,5% kế hoạch năm. Ðây là kết quả của việc môi trường đầu tư
tiếp tục được cải thiện, thể hiện niềm tin của các nhà đầu tư, các nhà tài trợ vào triển vọng
phát triển của đất nước ta; đồng thời khẳng định chủ trương đúng đắn của Ðảng và Nhà
nước là: kiềm chế lạm phát nhưng vẫn duy trì tăng trưởng hợp lý và gây dựng tiền đề cho sự
phát triển cao, bền vững trong những năm sau…”
(Trích Báo cáo của Chính phủ do Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng trình bày tại Kỳ họp
thứ tư, Quốc hội khoá XII; Báo Nhân dân, thứ Sáu, 17/10/2008).
Những kết quả vượt khó đi lên đó tuy mới là bước đầu của “cuộc chiến đẩy lùi lạm
phát” song đã tạo cho chúng ta một niềm tin lớn vào tương lai phát triển của đất nước. Niềm
tin đó không hề là chủ quan duy ý chí mà hoàn toàn được dựa trên nền tảng hiện thực khách
quan khoa học và cách mạng mà mỗi người Việt Nam đều nhận thức sâu sắc được, chí ít là
ở những điều kiện thuận lợi cơ bản nhất mà chúng ta đã và đang có sau đây sẽ là động lực
tạo ra thời cơ, vận hội mới cho tiến trình hội nhập, phát triển của nước ta.
1 Tăng trưởng kinh tế quý I là 7,38%; quý II là 5,85%; quý III là 6,55%. 9 tháng là 6,52%.
2 Xấp xỉ đạt mục tiêu kế hoạch 5 năm 2006 - 2010 là 1.050 - 1.100 USD/người
3 Các năm khác tăng cao là: năm 1989 sau khi có Khoán 10, sản lượng lúa tăng 1,996 triệu tấn so với năm 1988; năm
1999 và năm 2002 đều có mức tăng khoảng 2,3 triệu tấn.
4 Trong 9 tháng, số vốn đăng ký hơn 57 tỷ USD, gấp gần 5 lần so với cùng kỳ năm 2007, vốn thực hiện trên 8 tỷ USD,
tăng 37% so với cùng kỳ.
5 Vốn ODA cam kết năm 2006 là 3,75 tỷ USD; năm 2007 là 4,45 tỷ USD; năm 2008 là 5,426 tỷ USD.
15
Trước hết là về phương diện chính trị đối nội, với những kết quả, thành tựu phát triển
kinh tế - xã hội đã đạt được trên đây là minh chứng sinh động để chúng ta hoàn toàn có thể
tin tưởng và quyết tâm thực hiện tốt hơn nữa công cuộc đổi mới đất nước do Đảng ta khởi
xướng và lãnh đạo đã được tôi luyện, thử nghiệm thực tiễn hơn 20 năm qua. Bằng con
đường đó, Việt Nam hoàn toàn có thể kỳ vọng là sẽ phấn đấu trở thành một nước công
nghiệp phát triển trong tương lai đã được Đảng ta xác định là đến năm 2020, hoặc có thể
sớm hơn mà nền tảng của nó là kinh tế thị trường theo định hướng XHCN.
Thứ hai, về chính trị đối ngoại, hơn bao giờ hết so với nhiều năm trước đây, công
cuộc đổi mới và phát triển của nước ta hiện đã và đang ngày càng được sự ủng hộ của rất
nhiều quốc gia và lãnh thổ ở khu vực và trên toàn thế giới thông qua các hoạt động hợp tác
phát triển toàn diện không chỉ trong các lĩnh vực kinh tế mà cả chính trị, văn hoá, xã hội...
Riêng trong các lĩnh vực kinh tế, từ thương mại, đầu tư, viện trợ phát triển chính thức
(ODA) cho đến các hoạt động hợp tác phát triển về các lĩnh vực dịch vụ như du lịch, tài
chính, ngân hàng... đều “trăm hoa đua nở”, hứa hẹn nhiều “mùa gặt hái” bội thu đang đến
với Việt Nam nếu như chúng ta có quyết tâm cao, giải pháp đúng, tranh thủ được tối đa các
yếu tố nội lực kết hợp có hiệu quả cao với các yếu tố ngoại lực...
Tóm lại, đối với mỗi người Việt Nam yêu nước xin hãy tự nhủ với lòng mình là cho
dù còn phải trải qua nhiều khó khăn, thách thức lớn song với quyết tâm cao, đoàn kết một
lòng vững tin vào công cuộc đổi mới, hội nhập để phát triển theo đường lối của Đại hội X
của Đảng Cộng sản Việt Nam đã đề ra và sự lãnh đạo, chỉ đạo của Quốc hội, Nhà nước và
Chính phủ, chắc chắn chúng ta sẽ thực hiện thành công những mục tiêu phát triển như đã
định, trong đó mục tiêu hàng đầu là kiềm chế lạm phát, bảo đảm an sinh xã hội, thực hiện
thắng lợi các chỉ tiêu phát triển kinh tế - xã hội đã đề ra trong kế hoạch năm 2008, từ đó tạo
tiền đề cho sự phát triển bền vững của những năm tiếp theo mà trước mắt là đến năm 2010
chúng ta sẽ thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ, mục tiêu phát triển của kế hoạch kinh tế - xã
hội 5 năm 2006 - 2010 đã được Đại hội Đảng lần thứ X đề ra.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Văn kiện Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ IX (2001) và lần thứ X (2006), NXB
Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2001 và 2006.
2. Các văn kiện nghị quyết Trung ương ( khoá IX, X) có liên quan từ năm 2001 đến nay.
3. Các báo cáo của Quốc hội và Chính phủ về những vấn đề liên quan đã công bố trên báo
Nhân dân và các phương tiện thông tin đại chúng khác từ năm 2006 đến nay.
4. Một số báo điện tử và trang web: Báo điện tử ĐCS Việt Nam, Nhân dân điện tử, Tạp chí
Cộng sản điện tử, Thời báo Kinh tế Việt Nam điện tử, Đầu tư nước ngoài, Bộ Công thương,
Bộ Tài nguyên và Môi trường...
16
5. Một số bài báo liên quan của Trần Anh Phương và các tác giả khác đã đăng trên các tạp
chí khoa học và báo chuyên ngành từ nhiều năm qua đến nay: Nghiên cứu Kinh tế; Những
vấn đề Kinh tế và Chính trị thế giới, Kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương; Tạp chí Cộng sản;
Thời báo Kinh tế Việt Nam...
Chia sẻ: