Triết Lý, để làm gì ?

Khi ta bế tắc tư tưởng, chân thật công nhận rằng những kiến thức và phương pháp suy luận của ta không cho phép ta sống, tư duy và hành động khớp với khao khát làm người của ta, ngoài vô vàn cách ứng xử khác, ta có thể:

a) Tiếp tục sống, tư duy và hành động như cũ vì, dù sao, ta cũng sống được, không đến nỗi nào

b) Lột áo cũ, khoác áo mới, một tấm áo coi lành lặn đẹp đẽ hơn nhưng cũng hàm hồ không thua gì. Điều ấy luôn luôn khả thi bằng ngôn ngữ.

c) Đi tới cùng bế tắc của chính mình. Nếu không giải quyết được nó, ta ôm nó xuống suối vàng, để lại ở đời chỉ một câu hỏi. Câu hỏi của một con người. Đích thực. Có gì nhục đâu?

Nếu ta tưởng ta đã tìm ra một phần của giải pháp, ít nhất là cho riêng mình, thì cứ viết đi, chẳng cần trích cao nhân nào cả: họ đã là một phần của ta và ta đã phải “vượt” họ để nên mình.

Thế thôi.

(Chungta.com)

Góc nhỏ của Noby Vui Vẻ

Lục lọi, tìm tòi, đọc, cóp nhặt, chia sẻ, ... OK hay không tùy bạn ! ! !

“Nước độc lập mà dân chưa tự do thì độc lập cũng không có ý nghĩa”- Hồ Chí Minh.

17 thg 9, 2011

KARL MARX - NHÀ TIÊN TRI GIẬN DỮ Phần V


3.Marx đóng góp cho kinh tế học hiện đại những gì? Khi mỉa mai tính thiết thực của một lý thuyết nào đó của đồng nghiệp, nhà kinh tế học Joan Robinson thường nói: “Hãy tưởng tượng một con chó chạy qua cánh đồng đuổi bắt một con cáo. Con chó đi theo mùi của con cáo. Lý thuyết của đồng nghiệp tôi là con bọ chét trên lưng con chó đó.”
Đối với hầu hết các nhà kinh tế chính thống ở Mỹ và Anh, các lý thuyết kinh tế của Marx là những con bọ chét đó. Trong phạm vi lý thuyết kinh tế chính thống, sự thách thức của Marx chỉ là thùng rỗng kêu to. Paul Samuelson mô tả học thuyết giá trị lao động là sự ngụy biện siêu hình hay sự ngụy biện định nghĩa.
Trong cuộc Đại Suy thoái, George Bernard Shaw đã cố thuyết phục John Maynard Keynes về những ưu điểm của Marx. Keynes đã phủ định lại:
Cảm nghĩ của tôi về cuốn Tư Bản cũng giống như cảm nghĩ của tôi về kinh Koran. Tôi biết rằng nó quan trọng về mặt lịch sử. Và tôi biết có nhiều người, mặc dù không phải là dốt nát nhưng lại coi nó là Hòn đá tảng của mọi Thời đại và chứa nhiều nguồn cảm hứng. Tuy nhiên khi tôi xem kỹ nó, tôi cảm thấy không thể giải thích được là tại sao nó lại có được những tác động như vậy. Cách bút chiến khoa học lỗi thời và tồi tàn của nó dường như hoàn toàn không phù hợp với mục đích này. Nhưng như tôi đã nói, tôi chỉ cảm thấy nó giống hệt với kinh Koran thôi. Làm thế nào mà hai cuốn sách này lại có thể đem cảnh nước sôi lửa bỏng đến một nửa thế giới? Tôi không thể hiểu nổi. Rõ ràng có nhược điểm gì đó trong sự hiểu biết của tôi. Ngài có tin vào cuốn Tư Bản cũng như kinh Koran không? Hay chỉ có cuốn Tư Bản thôi? Cho dù có bất cứ giá trị nào về xã hội học gần đây của cuốn Tư Bản, tôi dám chắc rằng giá trị kinh tế đương thời của nó (ngoài một vài điểm lóe sáng nhưng không liên tục và không có tính xây dựng ra) là bằng không. Ngài hứa sẽ đọc lại nó một lần nữa chứ, nếu tôi cũng làm vậy?
Shaw đọc lại. Keynes đọc lại. Keynes có nhìn thấy ánh sáng hay Thánh địa Mecca không? Ông không thấy gì:
ʺTôi ưa thích Engels hơn cả. Tôi có thể thấy rằng họ đã tạo ra một phương pháp tiến hành nào đó và một lối viết rất rẻ tiền. Còn những người kế tục họ đã duy trì lòng trung thành đối với họ. Nhưng nếu ngài bảo tôi rằng họ đã phát hiện ra một đầu mối của một bí ẩn kinh tế nào đó, thì tôi xin đầu hàng ʺ.35
Kể từ khi Keynes thiên tài như vậy đầu hàng thì hầu hết các nhà kinh tế học hiện đại đã từ bỏ các cuộc luận chiến và ngừng nghiên cứu Marx. Theo Frank Hahn, một nhà phê bình xuất sắc chủ nghĩa tư bản tự do kinh tế thì: “Hầu hết những người Marxist chưa bao giờ đọc Marx cả. Thế nên, bạn không thể trách họ.”
Tuy vậy, Marx vẫn còn núp đằng sau những lập luận của hàng nghìn nhà kinh tế học cấp tiến xuất bản Tạp chí Kinh tế Chính trị cấp tiến. Họ có một tiếng nói mạnh mẽ ở Đại học MassachusettsAmherst. Từ nguyên của từ “cấp tiến” (radical) là từ “radic” tức là gốc rễ, giống với (radish) củ cải vậy. Y như Marx, các nhà kinh tế học cấp tiến tin rằng cái gốc của lý thuyết kinh tế học hiện đại bị mục nát trong sự phân tích của nó về chủ nghĩa tư bản. Dù sao những người cấp tiến không muốn chịu trách nhiệm cho tất cả những câu mà Marx thốt ra hoặc mọi lời tiên đoán mà ông ta công bố.
Một vài người cấp tiến vẫn còn ôm lấy học thuyết giá trị lao động của Marx. Tuy nhiên, tất cả bọn họ đều nhấn mạnh đến vấn đề kiểm soát trong chủ nghĩa tư bản. Các ông chủ tìm mọi cách “chia để trị”, và duy trì sự kiểm soát ở nơi làm việc và trong phòng bỏ phiếu. Nhà Marxist người Ba Lan Michal Kalecki đã lập luận rằng hồi những năm 1940, chính phủ cố ý tạo ra những đợt lạm phát và suy thoái để bóp chết cầu của công nhân. Nhà cấp tiến hiện đại Stephen Marglin thì cho rằng các doanh nghiệp thường hoan nghênh những cuộc suy thoái. Nếu Marglin đúng thì đang có rất nhiều người hoạt động theo “ý thức sai lầm” của Marx. Chúng ta hãy xem xét bài viết của Marglin về cuộc bầu cử tổng thống năm 1980: Ronald Reagan hứa hẹn tỉ lệ lạm phát thấp hơn mà không có suy thoái. Thật là ngốc nghếch, ông ta nghĩ rằng các ông chủ không thích suy thoái. Nhưng các ông chủ lại bầu cho Reagan. Tại sao vậy? Họ biết là ông ta sẽ thất bại và vô tình gây ra suy thoái. Đúng là ông ta đã thất bại và theo như luận thuyết của Marglin thì các ông chủ rất vui sướng khi nhìn thấy giá cổ phiếu của họ giảm xuống.36
Các nhà cấp tiến hiện đại tiến hành nhiều cuộc chiến – chống lại những mô hình của những nhà kinh tế đồng nghiệp của họ, chống lại chính phủ, chống lại các nhà tư bản, và đôi khi chống lại chính ký ức của thày họ, Karl Marx. Cho đến nay người ta khó lòng mà đếm được những lần chiến thắng của họ.
4.Marx đóng góp gì cho chính trị học hiện đại? Tiếng than khóc to nhất trong bất kỳ một cuộc tranh luận nào về chủ nghĩa cộng sản ngày nay đều xuất phát từ những người Marxist, những người chỉ trích gắt gao nền chính trị Liên Xô cũ và những nước đồng minh của nó. Họ hét to lên rằng đây không phải là chủ nghĩa cộng sản của Marx. Tất nhiên là họ đúng. Ngay từ đầu, Marx chỉ giới hạn chủ nghĩa cộng sản ở những nước đã được công nghiệp hóa (mặc dù trong những năm cuối đời, ông cẩn thận xem xét một cuộc cách mạng có thể xảy ra ở nước Nga). Stalin có một nhiệm vụ khó khăn là tăng tốc, đưa nước Nga nông nghiệp tiến vào kỷ nguyên công nghiệp. Dựa vào điểm (1) và (9) trong bản kế hoạch của tác phẩm Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản, Stalin đã buộc nông dân phải gia nhập các nông trang tập thể và nhà nước. Vào mùa đông những năm 1932-1933, ông cố tình gây ra nạn đói làm chết hàng triệu người để bẻ gãy sự kháng cự của họ, đặc biệt là ở Ukraina.37
Trước Stalin, Lenin đã gặp phải những rắc rối chính trị tương tự khi định hình lại tư duy của người Nga. Trong thời kỳ ông cầm quyền, nền chuyên chính vô sản là nền chuyên chính của Đảng – một chế độ độc tài sẽ không nhanh chóng tự tiêu vong được.
Đến cuối thập niên 1980, Mikhail Gorbachev cố gắng cứu chữa một nền kinh tế bị xơ cứng. Như những người bảo vệ nó thường nói, nền kinh tế của họ bị quặt què trong suốt 70 năm xấu trời. Vào thời điểm đó Gorbachev dường như đã sẵn sàng vứt bỏ Marx và chấp nhận một vài cơ chế thị trường tự do, kể cả việc cho thuê dài hạn đất đai nông trang và các phân xưởng sản xuất nhằm kiếm lợi nhuận và tạo ra những hợp tác xã tư nhân. Mặc dù vậy, Gorbachev lại không thể duy trì được tình thế khi những lực lượng thị trường làm bỏng những bày tay cộng sản đã quen nắm chặt nền kinh tế. Có thể nói rằng chiếc máy fax đóng một vai trò to lớn trong việc kết thúc Chiến tranh Lạnh giống như một công nghệ quân sự, bằng cách cho phép các tổ chức dân chủ có thể truyền bá những thông điệp của mình. Tổng thống Nga Boris Yeltsin đã vật lộn để thúc đẩy nền kinh tế Nga tiến lên, nhưng lại bị cản trở bởi tham nhũng, thế lực mafia mới nổi lên và dân số già cỗi cảm thấy có quá ít lợi thế cho họ trong một nền kinh tế mới. Đối với những người hưu trí, chủ nghĩa cộng sản đảm bảo cho họ một số tiền – một số tiền không đáng kể nhưng ít nhất là một khẩu phần chắc chắn. Chủ nghĩa tư bản chẳng bảo đảm cho họ cái gì ngoài sự hỗn loạn. Trái lại, những người Nga trẻ tuổi đã chớp lấy cơ hội xây dựng nên những doanh nghiệp mới để đi lại tự do và cố gắng bắt tay vào kinh doanh. Đây là một sự phân hóa xã hội nguy hiểm gần như không thể hàn gắn được. Một sự phân ly còn sâu sắc hơn cả sự bất hòa giữa “nhà tư bản và công nhân” mà Marx và Lenin đã lợi dụng. Tháng Bảy năm 1998, Yeltsin tham gia nghi lễ an táng dành cho Nga hoàng Nicholas và gia đình ông ta ở St. Petersburg; những người mà hài cốt của họ đã bị thiêu đốt và để mặc trong quên lãng hàng thập kỷ. Yeltsin lên án hành động giết Nga hoàng một cách man rợ của những người Leninist, hy vọng tìm ra một vấn đề mà những người già và trẻ có thể đồng ý với nhau.
Người Trung Quốc tôn thờ Marx sau cuộc cách mạng năm 1949 của họ. Ngay sau đó họ trở thành người đa thần giáo bằng cách đặt Mao Trạch Đông lên cùng bàn thờ. Nhưng đến cuối những năm 1970, dưới thời Đặng Tiểu Bình, người Trung Quốc bắt đầu nhanh chóng chuyển hướng sang tự do kinh doanh trong nhiều khu vực kinh tế. Điều này thực sự là sự quở trách Marx và chửi rủa Mao. Đặng, người đã bị Mao tống vào tù hồi Cách mạng Văn hóa đẫm máu trong những năm 1960, là một người thực dụng. Ông phát biểu rằng “mèo trắng hay mèo đen không thành vấn đề miễn là bắt được chuột”.38 Ông cho phép các chủ hiệu được giữ lại lợi nhuận và nông dân được tự do bán lương thực của mình. Họ gọi xu hướng này là gì? Họ đã chuyển chữ thuật ngữ “thị trường tự do”. Hàng triệu người Trung Quốc tưởng rằng “thị trường tự do” là một thuật ngữ gốc Trung Quốc. Tuy nhiên, sau khoảng mười năm tự do hóa, những lực lượng bảo thủ khẳng định lại vị thế của họ vào năm 1987 (mặc dù họ không chấm dứt việc kinh doanh của nhà hàng Gà Rán Kentucky – KFC nằm ở phía đối diện của lăng Mao Trạch Đông). Mặc dù vậy, sự thụt lùi chỉ là tạm thời. Sau khi Đặng chết, thủ tướng mới Chu Dung Cơ và chủ tịch Giang Trạch Dân cam kết thúc đẩy hơn nữa kinh tế tư nhân và cắt giảm phạm vi hoạt động của các công ty đại chúng. Năm 1998, Giang thậm chí còn nắm cả quân đội. Những ngón tay của ông ta có thể sờ đến tất cả các khu vực kinh doanh từ khách sạn, các nhà máy sản xuất tủ lạnh, đến các quầy bar karaoke. Các doanh nhân Trung Quốc đã len lỏi vào nền kinh tế thế giới. Hầu hết đồ chơi tại các cửa hàng đồ chơi Toys “R” Us ở địa phương nơi bạn ở đều được chế tạo tại Trung Quốc. Trong khi đó, ngày càng nhiều người Trung Quốc gội đầu bằng dầu gội đầu Procter & Gamble hơn bất kỳ nhãn hiệu nào! Điều kỳ quặc trong sự thành công của Chu và Giang là trong khi thúc đẩy hơn nữa tự do kinh doanh, họ vẫn duy trì quyền lực của Đảng Cộng sản để dọa dẫm. Mặc dù vẫn còn một số hồ nghi nhưng đó không còn là Đảng Cộng sản của cha ông họ nữa.
Liên Xô và Trung Quốc là những quốc gia cuối cùng trong số các quốc gia cộng sản lớn nhất tuyên bố trung thành với chủ nghĩa Marx. Khi Bức Màn Sắt tan chảy dọc theo đường biên giới của Ba Lan, Đông Đức, Tiệp Khắc, Hungary và Rumani, ngày càng có nhiều công nhân giành được tự do để đoàn kết; chống lại những tư tưởng của Marx.
Cho tới nay, không còn một nước nào tuân theo chủ nghĩa Marx đúng như trong mường tượng của những người ngưỡng mộ ông ta nữa. Ngay cả khu định cư của Israel dường như cũng đang chuyển đổi từ những dự án xã hội chủ nghĩa thành những dự án tư bản chủ nghĩa. Có lẽ sẽ không còn nước nào thực hiện giấc mơ của Marx nữa. Giấc mơ hứa hẹn hơn cả thế giới thực tại, một thế giới đầy rẫy sự khan hiếm, sự ích kỷ và xấu xa. Đó là một giấc mơ giống kiểu một thiên đàng đã bị mất, phù hợp hơn đối với những thiên thần hơn là với những người vô sản. Thật không may, lòng mong mỏi khát khao trở nên mạnh mẽ tới mức những người tốt đã bị mê hoặc. Họ ủng hộ những chế độ đồi bại chuyên giảng đạo, nhưng lại không thực hiện giáo lý của chủ nghĩa Marx. George Bernard Shaw đã bắt tay Stalin và quan sát sự đàn áp của chế độ Xô viết trong một thời gian dài trước khi ông tỉnh ngộ.
Đối với nhân loại ngày nay, Marx nhắc nhở chúng ta rằng thay đổi về kinh tế có thể gây ra đau đớn, rằng quyền lực có thể chuyển thành sự áp bức và bộ phận dân cư tầng lớp dưới phải được bảo vệ khỏi sự bóc lột. Những chế độ cộng sản đã cho thấy những cảnh báo trên là hoàn toàn chính xác. Những người ngưỡng mộ Marx tán dương Marx thời trẻ và Marx ít khoa học hơn. Không phải là một nhà kinh tế lý thuyết có sức thuyết phục hay một nhà lãnh đạo chính trị uy tín, Marx trở thành một tiếng nói hiện thời cho sự công bằng xã hội mang tính nhân văn. Ông trở nên giống như Tom Joad trong tác phẩm Chùm nho uất hận của John Steinbeck:
Bao giờ con cũng có mặt trong bóng tối, khắp nơi. Khắp nơi nào mẹ nhìn. Khắp nơi nào mà có một cuộc đánh lộn để con người đói khát có thể giành giật nhau miếng ăn, nơi đó sẽ có con. Khắp nơi nào có một tên cảnh sát đang đánh đập một con người, sẽ có con.… nơi nào có tiếng kêu thét của những người đang nổi giận vì họ đói khát, con sẽ ở đấy … Và khi nào những người cùng cảnh với chúng ta đang ngồi trước bàn ăn có đủ những thứ họ trồng trọt và gặt hái khi nào họ ăn ở trong những ngôi nhà mà họ xây dựng ở đây, sẽ có con. Mẹ hiểu không, mẹ? 39
Đặt sự lạm dụng và tàn bạo dưới cái tên của Marx, đây có lẽ là chỗ tốt nhất dành cho ông ta.
————————————–
Ghi chú
1. David McLellan, Karl Marx: His Life and Thought (New York: Harper & Row, 1973), tr.4. Xem Karl Marx, “On the Jewish Question”, trong The Marx-Engels Reader (New York: W. W. Norton, 1978) do Robert C. Tucker biên soạn, tr.26-52; Gertrude Himmelfarb, “The Real Marx”, trong Commentary (tháng Tư năm 1985), tr.37-43 và “Letters” (tháng Tám năm 1985).
2. McLellan, tr.6-7.
3. Sđd, tr.33.
4. Robert Payne, Karl Marx (New York: Simon and Schuster, 1968), tr.77.
5. McLellan, tr.53.
6. Saul K. Padover, Karl Marx: An Intimate Biography (New York: McGraw-Hill, 1978), tr. 179.
7. McLellan, tr.99.
8. Karl Marx và Friedrich Engels, Collected Works (New York: International Publishers, 1982), tập 38, tr.115.
9. Karl Marx, “Introduction to A Critique of Hegel’s Philosophy of Right”, trong K. Marx, The Early Texts, D. McLellan biên soạn (Oxford: Oxford University Press, 1971), tr.116.
10. Karl Marx, The German Ideology, do Tucker biên soạn, tr.155-56.
11. Karl Marx, A Contribution to the Critique of Political Economy, N. I. Stone dịch (Chicago: Charles Kerr, 1904), Lời tựa.
12. Karl Marx, The Eighteenth Brumaire of Louis Bonaparte, do Tucker biên soạn, tr.595.
13. Karl Marx và Friedrich Engels, The Communist Manifesto, Samuel Beer biên soạn. (Arlington Heights: Harlan Davidson, 1955), tr.9.
14. Marx, A Contribution to the Critique of Political Economy, lời tựa.
15. Karl Marx, Capital, tập 1 (Chicago: Charles Kerr, 1906), tr.13.
16. Marx và Engels, The Communist Manifesto, tr.13-14.
17. Sđd.
18. McLellan, tr.98.
19. Sandover, tr.291-293.
20. Payne, tr.295.
21. McLellan, tr.264, 357.
22. Sđd, tr.284.
23. Karl Marx, Capital, tập 1, tr.649, 652.
24. Sđd, tr.687.
25. Sđd, tr.836.
26. Sđd, tr.837.
27. Marx và Engels, The Communist Manifesto, tr.46.
28. Marx, Capital, tập 1, tr.21.
29. Marx và Engels, The Communist Manifesto, tr.31-32.
30. Marx, Capital, tập 1, tr.637.
31. Payne, tr.143.
32. Marx và Engels, The Communist Manifesto, tr.22; Thomas Sowell, Marxism: Philosophy and Economics (New York: William Morrow, 1985), tr.138.
33. Vấn đề nghèo khổ tương đối là rất khó đánh giá. Thứ nhất, bởi vì có một khoảng cách về thu nhập giữa người giàu và người nghèo, thậm chí ngay cả khi người nghèo kiếm được thu nhập với tốc độ nhanh hơn, thì chênh lệch tuyệt đối về đồng đô la vẫn có thể tăng lên. Hãy so sánh một người là A khởi đầu với 10.000 đô la và kiếm thêm được 10% mỗi năm với người B khởi nghiệp với 100.000 đô la và chỉ kiếm được thêm 5% mỗi năm. Trong khoảng bảy năm, A kiếm được khoảng 20.000 đô la, trong B kiếm được hơn 140.000 đô la. Thứ hai, ở nước Mỹ, trải qua mỗi thế hệ lại có sự dao động lên xuống đáng kể. Một nghiên cứu quan trọng cho thấy rằng khoảng một phần ba số con cái có cha mẹ là những người giàu có trong nước nhận được thu nhập dưới mức trung bình của quốc gia. Hơn thế nữa, khoảng một phần ba số con cái có cha mẹ là những người nghèo nhất lại vươn lên và vượt mức trung bình của quốc gia. Xem Christopher Jencks và cộng sự, Inequality: A Reassessment of the Effect of Family and Schooling in America (New York: Basic Books, 1972), tr.209-216. Để tham khảo cách tiếp cận quốc tế đối với sự dao động, hãy xem W. W. Rostow, Why the Poor Get Richer and the Rich Slow Down (Austin: University of Texas Press, 1980). Chúng ta có thể tự tin mà nói rằng trong phần lớn thế kỷ XX, tất cả mọi tầng lớp xã hội ở Mỹ đều đạt được sự tiến bộ tuyệt đối. Mặc dù vậy, trong thời kỳ lạm phát đình đốn từ năm 1974 đến năm 1982, tất cả các tầng lớp xã hội đều bị suy giảm thu nhập. Người nghèo đặc biệt phải chịu đựng cả những gánh nặng kinh tế lẫn tâm lý khi số các hộ gia đình mà phụ nữ làm chủ hộ tăng vọt lên khoảng 40%. Trong thời kỳ giữa và cuối thập kỷ 1980, nước Mỹ lại đạt được và vượt mức bình ổn của năm 1973.
34. John Rawls, A Theory of Justice (Cambridge: Harvard University Press, 1971).
35. John Maynard Keynes, The Collected Writings of John Maynard Keynes, tập 28 (London and New York: Macmillan/St. Martin’s Press, 1973), tr.38, 42.
36. Xem Stephen A. Marglin, “Radical Macroeconomics” (Cambridge: Harvard Institute of Economics Research, 1982), Discussion Paper số 902, tr.1-26.
37. Xem Robert Conquest, The Harvest of Sorrow (New York: Oxford University Press, 1987).
38. David S. G. Goodman, Deng Xiaoping and the Chinese Revolution: A Political Biography (London: Routledge, 1994), tr.3.
39. John Steinbeck, The Grapes of Wrath (New York: Penguin Books, 1986), tr.537.

KARL MARX - NHÀ TIÊN TRI GIẬN DỮ Phần IV


Đánh giá Marx
Làm thế nào mà chúng ta có thể phê phán một cách toàn diện những phân tích thiên tài của Marx? Nhiệm vụ này thật là đáng sợ. Trong suốt thế kỷ qua, giới trí thức đã viết hàng triệu trang giấy để ngợi ca, lăng mạ và ba hoa, bốc phét về Marx. Một dàn ý đơn giản để đánh giá Marx là như thế này: (1) Chủ nghĩa duy vật lịch sử của Marx bẻ cong khái niệm lao động thặng dư như thế nào? (2) Những điều tiên đoán về sự bần cùng hóa, nạn thất nghiệp và sự sụp đổ của chủ nghĩa tư bản có chính xác không? (3) Ông đóng góp cho kinh tế học hiện đại những gì? (4) Ông đóng góp gì cho chính trị học hiện đại?
1.Chủ nghĩa duy vật lịch sử của Marx bẻ cong khái niệm lao động thặng dư như thế nào:Trong tác phẩm Những người khốn khổ của Victor Hugo, Jean Valjean thường xuyên phải đối diện với kẻ báo oán: Thanh tra Javert. Và cuộc đời cứ luôn kéo Javert về đối diện với Valjean. Tính biện chứng văn chương tạo ra một cuộc tranh đấu kịch tính cho mỗi bên. Nếu không có nhân vật kia, cuộc đời sẽ trở nên quá đơn giản đối với họ.
Vấn đề trong chủ nghĩa lịch sử của Marx là ở chỗ nhà biện chứng bậc thầy này lại bỏ qua sự biện chứng kịch tính nhất: giữa những nguyên nhân ý thức và những nguyên nhân vật chất. Về cơ bản, Marx miêu tả những yếu tố vật chất là nguyên nhân cho mọi sự thay đổi. Chúng thiết lập và thay đổi ý thức hay thượng tầng kiến trúc của xã hội một cách định kỳ. Mặc dù thừa nhận mối quan hệ này nhưng Marx lại luôn coi thường những tác động của ý thức. Và sai lầm này lan sang hủy hoại lý thuyết kinh tế của ông.
Khái niệm về lao động thặng dư là cơ sở cho toàn bộ học thuyết Marx về chủ nghĩa tư bản. Hãy nhớ lại phép tam đoạn luận đơn giản. Tại sao lao động phải bị bóc lột? Bởi vì Marx nắm chặt lấy “học thuyết giá trị lao động” để giải thích việc nhà tư bản thu được lợi nhuận. Theo Marx, “không một nguyên tử” giá trị nào bắt nguồn từ nhà tư bản.30 Không chút đắn đo, Marx cho rằng cô thợ may Jasmine hay người thợ rèn đang đập thình thịch vào cái đe mới tạo ra giá trị.
Marx đã quên mất điều gì? Ông không để ý tới khả năng sáng tạo và tài kinh doanh. Để tạo ra của cải đòi hỏi phải có những thứ hơn cả nguyên liệu hữu hình. Việc chế tạo ra các đầu máy video (VCR) không cần những loại vật liệu thô mới hay những phương thức bóc lột lao động tàn nhẫn hơn. Ngành công nghiệp video đòi hỏi hai điều: phát minh và bản lĩnh kinh doanh – sẵn sàng chấp nhận rủi ro trong đầu tư. Tại sao người Nga sống dưới chế độ cộng sản lại phải xin những chiếc quần bò vải bông chéo do người Mỹ làm ra? Không phải vì Liên Xô thiếu bông hay thiếu công nhân để sản xuất quần áo chất lượng cao, mà bởi vì họ thiếu năng lực sáng tạo, động cơ làm việc và kỷ luật. Chính những cái vô hình này phân biệt những công ty và quốc gia thành công với số còn lại.
Chủ nghĩa duy vật của Marx không may lại làm ông phớt lờ tất cả các loại vốn, như vốn nhân lực tức là tri thức, tài khéo léo hay kỹ năng quản lý đều rất quan trọng đối với lợi nhuận. Làm thế nào mà học thuyết giá trị lao động có thể giải thích được những giây phút lóe sáng hay sự sáng suốt như ví dụ dưới đây?
Vài năm trước, khi một người bước qua một khu rừng, một bông gai nhỏ bắt chặt lên chiếc tất len của anh ta. Tài khoản ngân hàng của anh ta giờ đây đầy ắp tiền. Anh ta phát minh ra khóa dán Velcro. Liệu tất cả lợi nhuận của anh ta có được là do đánh cắp của công nhân?
Trong chương sau, chúng ta sẽ thấy Alfred Marshall tấn công Marx vì đã bỏ qua giá trị của việc chấp nhận rủi ro và “chờ đợi” đối với xã hội. Bằng cách đầu tư, nhà tư bản từ bỏ sự thỏa mãn tức thời của việc mua hàng hóa. Những khoản kiếm được nhờ đầu tư trả cho sự chờ đợi và trì hoãn thỏa mãn của anh ta. Nếu mọi người đều tiêu thụ tất cả mọi thứ bây giờ, xã hội sẽ chẳng tạo ra được cái gì mới. Do vậy, lợi nhuận đóng một vai trò cốt yếu và hoàn toàn hợp lý. (Thật tình cờ, cuộc “cách mạng” của những người theo phái cận biên mà Marshall là người đi đầu, chứng minh rằng giá trị bắt nguồn từ cầu, cũng như từ sản xuất hay cung. Vào thời điểm tập II của Tư Bản xuất bản sau khi tác giả đã chết, những người theo phái cận biên đã tấn công dữ dội cách tiếp cận trọng cung của Marx và những nhà kinh điển)
Bằng việc thừa nhận học thuyết giá trị lao động, Marx coi thường quá nhiều yếu tố động và yếu tố ý thức. Ricardo không mắc phải sai lầm này, bởi vì ông nhìn nhận học thuyết giá trị lao động chỉ là một công cụ tính toán tiệm cận thôi, chứ không phải là nguyên nhân quyết định giá trị. Khi Marx cố chứng minh lý thuyết bằng toán học, ông rơi vào một đống bông gai. Thật ngạc nhiên là ông lại không khám phá ra khóa dán Velcro hồi thế kỷ XIX.
2.Những điều tiên đoán về sự bần cùng hóa, nạn thất nghiệp và sự sụp đổ của chủ nghĩa tư bản có chính xác không? Marx không có ý định đưa ra lời tiên đoán. Ông nhằm vào sự tiên đoán khoa học, dự báo tiến trình lịch sử dựa trên những khuynh hướng có thể nhận biết được. Nhưng khi lịch sử đi chệch khỏi những dự báo của ông, thì những hậu duệ của ông sau khi ông chết đã tạo ra một thứ giả-tôn giáo từ những công trình của ông. Thật vậy, những “quy luật” của ông tuân theo lịch sử. Sau khi mô hình hóa những quy luật, những học trò của ông có thể công bố tính chính xác của những điều tiên đoán. Mặc dù có xuất phát điểm là khoa học vô thần, chủ nghĩa Marx trong thế kỷ XX lại giống như một cửa sổ kính màu cho ánh sáng Mặt trời đi qua nó một cách chọn lọc và hiếm khi thừa nhận sai lầm. Một khi những quy luật trở thành kinh sách tôn giáo, thì những nỗ lực nhằm kiểm chứng tính khoa học của chủ nghĩa Marx đều thất bại.
Marx sống đủ lâu để trông thấy một vài người ủng hộ mình tung hô và tán tụng những quy luật của ông, dựng lên những bục giảng đạo và ban phát bánh thánh. Nhà chủ trương học thuyết vô chính phủ Proudhon đã cảnh báo Marx đừng có tạo ra một cuốn giáo lý vấn đáp:
Vì sự nghiệp của Chúa, sau khi chúng ta bãi bỏ tất cả chủ nghĩa giáo điều suy diễn, chúng ta hãy chấm dứt tiêm nhiễm một loại giáo điều khác vào đầu dân chúng vì bất kỳ lý do gì đi nữa… Chúng ta hãy luận chiến với nhau một cách lịch sự và chân thành … Vì chúng là người đi đầu của phong trào, chúng ta hãy đừng biến mình trở thành lãnh tụ của sự tin tưởng mù quáng mới, chúng ta đừng thể hiện như là tông đồ của một tôn giáo mới ngay cả khi tôn giáo này là tôn giáo của logic, tôn giáo của lý trí.31
Ngay cả khi chúng ta không thể bác bỏ được những dự đoán của Marx, chúng ta vẫn có thể quan sát một số phát triển trong các nền kinh tế tư bản chủ nghĩa kể từ thời đại của ông. Thứ nhất, mức sống của công nhân đã được nâng lên rất đáng kể trong suốt 100 năm qua. Tỉ lệ người sở hữu nhà và ôtô tăng lên cực kỳ nhanh. Theo định nghĩa về sự nghèo đói hiện nay, giai cấp tư sản mới nổi ở thời của Marx đã bị nghèo đi và bị “bần cùng hóa” theo thuật ngữ của Marx. Và nếu chiểu theo định nghĩa ở thời của Marx, thì giai cấp công nhân ngày nay là giàu có một cách phô trương. Không ai có thể bác bỏ sự tăng lên trong mức sống “tuyệt đối” của người công nhân.
Tuy tác phẩm Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản đã cảnh báo trước những người công nhân rằng “người công nhân hiện đại… đã không vươn lên được cùng sự tiến bộ của công nghiệp mà còn luôn luôn rơi xuống thấp hơn, dưới cả những điều kiện sinh sống của chính giai cấp họ. Người lao động trở thành một người nghèo khổ”. Nhưng Marx sớm nhận ra rằng ví tiền của công nhân đã trở nên dày hơn. Ông thậm chí cũng phải thừa nhận rằng mười năm sau khi Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản ra đời, tiền lương của công nhân đã tăng lên 40%.32
Vì lý do này nên Marx đã sửa đổi những định nghĩa và cảnh báo rằng công nhân sẽ trở nên ngày càng nghèo hơn so với nhà tư bản. Cảnh khải huyền của người lao động cứ mờ nhạt dần đi: Người giàu sẽ giàu hơn và người nghèo cũng trở nên giàu hơn. Nhưng người giàu sẽ giàu nhanh hơn.33
Marx ép định nghĩa mới vào cuốn Tư Bản bằng cách tuyên bố rằng “sự tồn tại” là một thuật ngữ tương đối, tùy thuộc vào lối sống đương thời. Có lẽ là trong thế kỷ XX, sự sinh tồn tối thiểu cần có máy truyền hình màu vì những người “nô lệ ăn lương” trung bình trong lĩnh vực chế tạo đều có thể mua được. Bằng cách lùi vào lập luận mang tính chất tương đối như vậy, Marx từ bỏ sự giận dữ và cảm giác tuyệt vọng về cảnh ngộ của người công nhân. Chừng nào mà người nghèo vẫn trở nên giàu có hơn, thì viễn cảnh đó thậm chí còn vượt qua được phép kiểm định công bằng xã hội của nhà triết học John Rawls (cho phép người giàu kiếm được chỉ khi nào người nghèo cũng có lợi).34
Cho nên những người Marxist hiện đại nhấn mạnh đến tâm lý khổ sở và sự lạc lõng. Họ có lẽ đúng; những người công nhân vẫn thường cảm thấy buồn chán và phẫn nộ. Nhưng Marx không nói với chúng ta về cách thức mà chủ nghĩa xã hội làm cho việc nhặt rác trở nên thú vị. Nếu những người lao động hạnh phúc làm việc tốt hơn thì ít nhất dưới chủ nghĩa tư bản, những người chủ cũng có động cơ thuyết phục để làm hài lòng nhân viên của mình.
Hơn nữa, làm thế nào để chúng ta có thể định nghĩa được hạnh phúc của những người lao động? Nếu tiền lương chỉ là tương đối, tại sao đó không phải là hạnh phúc? Liệu chúng ta có phải đưa ra câu hỏi tuyệt đối: Những người công nhân hiện tại có hạnh phúc hơn những người công nhân 100 năm trước không? Hay chúng ta phải đặt ra câu hỏi tương đối: Mức độ gia tăng hạnh phúc của họ có nhanh hơn mức gia tăng hạnh phúc của các nhà tư bản không? Hãy xem xét điều này: Người giàu trở nên hạnh phúc hơn, và người nghèo cũng trở nên hạnh phúc hơn. Nhưng người giàu trở nên hạnh phúc hơn nhanh hơn. Một khi chúng ta bắt đầu diễn giải sự hạnh phúc sao cho chúng ta có thể kiểm định được “tính khoa học” của chủ nghĩa Marx, thì đó là một ngày đáng buồn cho những người Marxist cũng như những người không phải là Marxist.
Marx cũng tiên đoán sự sụp đổ của chủ nghĩa tư bản, một hệ thống tự tạo ra những “người đào mồ chôn” chính mình. Nhưng chủ nghĩa tư bản lại có vẻ chưa chết. Nạn thất nghiệp có cao hơn một chút so với hồi đầu những năm 1900. Nhưng nếu chúng ta xét đến tỷ lệ phần trăm dân số lao động và đặc biệt sự gia nhập của phụ nữ vào lực lượng lao động thì tỷ lệ có việc làm lại cao hơn.
Hơn thế nữa, chủ nghĩa tư bản thường sản sinh ra tầng lớp trung lưu gián tiếp sở hữu một số phương tiện sản xuất thông qua thị trường chứng khoán. Trong những năm cuối của thập niên 1980, hàng triệu người Anh thuộc tầng lớp trung lưu dưới mua cổ phiếu của những công ty được “cổ phần hóa” như British Telecom, British Steel và British Airways. Hầu hết các quỹ hưu trí nghiệp đoàn ở Mỹ đều đầu tư nhiều vào cổ phiếu các tập đoàn.
Một số người bảo vệ Marx chỉ ra sự gia tăng vai trò của chính phủ trong các quốc gia tư bản chủ nghĩa như là vị cứu tinh bất ngờ của chủ nghĩa tư bản. Các khoản chi tiêu phúc lợi xã hội bảo vệ các nhà tư bản khỏi suy thoái sâu hơn và cách mạng. Những người bảo vệ Marx có lẽ đúng. Nhưng hãy nhớ rằng, Marx tiên đoán rằng hệ thống chính trị và thượng tầng kiến trúc sẽ giữ bất động, chống lại sự thay đổi. Sự cứng nhắc sẽ phá hủy nó. Nếu xét về quá khứ, thượng tầng kiến trúc đã nhượng bộ để cứu chủ nghĩa tư bản, thì Marx tiếp tục sai thêm một lần nữa.
Cuối cùng, những người Marxist giải thích sự thành công ngạc nhiên của chủ nghĩa tư bản bằng cách viện dẫn những quốc gia bên ngoài. Họ nói rằng các nhà tư bản bắt đầu bóc lột những những công nhân nước ngoài ở những nước kém phát triển hơn và những người công nhân bị bóc lột ở nước ngoài này đã chống đỡ cho nền kinh tế trong nước. Một lần nữa, ngay cả khi lập luận này có giá trị, thì nó cũng đưa chúng ta chệch xa khỏi sự phân tích của Marx về sự hủy hoại biện chứng nằm trong lòng chủ nghĩa tư bản.
Nói tóm lại, Marx đã nghĩ ra một hệ thống khoa học trong tác phẩm Tư Bản. Ông tự tin tiên đoán quỹ đạo của chủ nghĩa tư bản. Với lối diễn giải phóng khoáng và láu cá, có lẽ thỉnh thoảng ông mới đúng. Nhưng có một điều chắc chắn là Marx rất khinh thường những người mộ đạo đầy cảm tính. Ông sẽ giận dữ bác bỏ những nỗ lực giành chiến thắng trong lập luận bằng lòng khoan dung của trí tuệ.
(còn tiếp)

KARL MARX - NHÀ TIÊN TRI GIẬN DỮ Phần III


Với tình cảnh gia đình như vậy, không ngạc nhiên gì khi biết rằng trong suốt những năm 1850 và 1851, Marx ở trong Bảo tàng Anh quốc nhiều hơn là ở nhà. Ông đọc hầu hết tất cả những gì liên quan đến kinh tế học. Ông bỏ ra hàng tháng trời để ghi chép những đoạn trích dài của khoảng 80 tác giả. Engels thúc giục ông làm nhanh hơn nhưng Marx chậm rãi một cách khó hiểu và quá câu nệ các tiểu tiết. Marx cũng gặp khó khăn khi tìm kiếm một nhà xuất bản chấp nhận xuất bản cuốn Tư Bản theo nguyên mẫu của ông. Engels quở trách nhà cộng sản ương ngạnh: “Thể hiện một chút đầu óc kinh doanh xem nào.”22
Mãi đến năm 1867, Marx mới hoàn thành việc nghiên cứu, viết lách, biên tập của mình và bình phục sau vài lần ốm đau. Tập I cuối cùng cũng ra đời. Ba tập tiếp theo được xuất bản sau khi tác giả qua đời.
Để miêu tả cuốn Tư Bản, ta có thể chọn một trang bất kỳ trong cuốn Từ điển Đồng nghĩa và Dị nghĩa của Roget và đọc thật to bất kỳ tính từ nào. Cuốn sách đó có tất cả 2500 trang bao gồm toàn bộ trích dẫn từ hơn 1500 tác phẩm khác. Một vài trang thực sự là những kiệt tác văn chương. Một số trang toát ra logic sáng sủa. Và một số trang lại mang nặng tính chuyên môn, tầm thường và chán ngắt làm người ta nhớ đến lời phê phán kịch liệt của Truman Capote dành cho nhà văn Jack Kerouac: “Đây không phải là viết mà chỉ là đánh máy thôi.”
Chúng ta hãy nghiên cứu tác phẩm Tư Bản theo ba bước. Thứ nhất, chúng ta sẽ khám phá điều cốt lõi của chủ nghĩa tư bản, tư tưởng của Marx về sự bóc lột lao động. Thứ hai, chúng ta sẽ xem xét những quy luật vận động của chủ nghĩa tư bản, những quy luật tất yếu sẽ dẫn đến sự sụp đổ của nó. Thứ ba, chúng ta sẽ xem xét những thiệt hại tâm lý của chủ nghĩa tư bản.
Marx không chọn con đường dễ đi. Ông không chỉ thẳng vào những doanh nghiệp lũng đoạn thị trường mà tuyên bố rằng kỷ nguyên của những doanh nhân mạo hiểm và sự cạnh tranh hoàn hảo kiểu Smith đã hết thời rồi. Hãy nhớ rằng ông là một người theo phái Hegel trẻ; ông muốn cho thế giới thấy rằng ngay cả những mô thức lý tưởng của chủ nghĩa tư bản nhất định phải tự sụp đổ. Ông bắt đầu với những công cụ kinh điển.
Giống như Smith và đặc biệt là Ricardo, Marx “chứng minh” rằng giá trị của một sản phẩm được quyết định bởi lượng lao động cần thiết để sản xuất ra nó. Máy móc chỉ là lao động quá khứ được tích lũy lại dưới dạng sắt thép. Một bộ dàn nghe stereo tiêu tốn hết mười giờ lao động thì nó có giá trị gấp đôi so với giá trị của một cái khác chỉ mất có năm giờ lao động.
Nếu điều đó là đúng, thì không thể có lợi nhuận trừ khi công nhân bị bóc lột lao động. Chúng ta có tam đoạn luận như dưới đây:
Giá trị của một sản phẩm (giá cả của nó) được quyết định bởi lượng lao động.
Những người công nhân nhận được đầy đủ giá trị của cái mà họ đóng góp vào để sản xuất ra sản phẩm đó.
Do đó, giá trị của một sản phẩm bằng với lượng giá trị mà người công nhân nhận được.
Nhưng giá bán của sản phẩm lại không chỉ chia cho công nhân. Người chủ giữ một phần là lợi nhuận. Hãy quên đi bàn tay vô hình. Bàn tay hữu hình và thô bạo của nhà tư bản mới thực sự hoạt động. Lợi nhuận từ đâu mà ra? Tiền đề thứ 2 chắc chắn là sai. Công nhân không thể nhận được đầy đủ giá trị mà họ đóng góp vào sản phẩm. Họ phải bị bóc lột. (Những người phê phán Marx tất nhiên lập luận rằng tiền đề thứ 1 không đúng)
Nhà tư bản lừa công nhân như thế nào? Thay vì trả cho họ một khoản bằng với giá trị được cộng thêm vào việc kinh doanh của nhà tư bản, nhà tư bản chỉ trả sao cho họtồn tại, tiền lương chỉ đủ để họ sống và làm việc. Nhà tư bản mua sức lao động y như một thứ hàng hóa. Sau đó anh ta bắt nó phải làm việc X giờ mỗi ngày.
Chúng ta hãy sử dụng những thuật ngữ của Marx. Marx miêu tả việc nhà tư bản cung cấp các công xưởng và thiết bị được gọi là tư bản bất biến. Họ cũng trả công cho lao động. Công này được gọi là tư bản khả biến. Khi tiến hành sản xuất, nhà tư bản chắc chắn phải đảm bảo rằng giá trị cuối cùng của sản phẩm phải cao hơn tổng tư bản bất biến và khả biến. Giá trị tăng thêm (lợi nhuận) có được khi họ trả cho công nhân ít hơn giá trị mà công nhân sản xuất ra. Nói cách khác, giá trị của người công nhân thêm vào giá trị sản phẩm vượt quá tư bản khả biến mà họ được trả. Marx gọi đây là sự ăn cướp giá trị thặng dư của người lao động.
Ví dụ, Jasmine là một thợ may làm việc cho chương trình sân khấu Radio City Music Hall. Khán giả thường không thích những bộ trang phục rách nát. Vì thế công việc may vá của cô làm tăng thêm giá trị của một buổi biểu diễn khoảng 10 đô la. Nhưng cô chỉ được trả 6 đô la thôi. Các ông chủ bóp nặn 4 đô la thặng dư của Jasmine cho mỗi buổi biểu diễn hằng ngày. Tỷ lệ giữa giá trị thặng dư đối với tiền lương (4/6) là tỷ suất giá trị thặng dư.
Tại sao Jasmine lại không đòi 10 đô la cho công sức của mình? Chủ nghĩa tư bản dẫn đến thất nghiệp và một đội quân dự bị sẵn sàng thế chỗ của Jasmine nếu cô đòi lương cao hơn. Cô không sở hữu máy may, trang phục hay sân khấu. Các ông chủ mới là người sở hữu. Bằng cách kiểm soát những phương tiện sản xuất, họ thống trị thị trường lao động.
Các ông chủ đặt ra mức lương 6 đô la cho Jasmine như thế nào? Các ông chủ chỉ cần trả lương cho những người công nhân đủ để họ sống. Jasmine nhận 6 đô la bởi vì 6 đô la sẽ giúp cô sống được. Cô ta nhận được một đồng lương đủ sống. Nếu cô ta kiếm được 1 đô la cho mỗi giờ làm việc thì sáu giờ làm việc sẽ giúp cô đủ sống. Nhưng các ông chủ không để cô làm việc đúng sáu giờ. Họ buộc cô phải làm việc nhiều hơn trong một ngày, vá chữa nhiều bộ trang phục rách hơn. Chẳng hạn họ kéo 6 đô la tiền lương của cô ra hơn mười giờ làm việc. Kết quả là: Cô ta làm việc sáu giờ cho chính mình và thêm bốn giờ cho ông chủ. Khoản thặng dư bốn giờ đi ngay vào túi ông chủ. Họ chẳng cần phải đụng đến một cái đê nào cả.
Tại sao người công nhân chỉ được trả lương đủ sống? Chúng ta đã nói rằng giá trị của một hàng hóa được quyết định bởi lượng lao động kết tinh vào hàng hóa đó. Nguồn cung lao động cũng là một loại hàng hóa. Do vậy, giá cả của lao động là khoản tiền cần thiết để sản xuất và duy trì sự tồn tại của một con người.
Nói chung, các ông chủ không trả đủ cho công nhân để mua cái mà họ sản xuất ra. Những người công nhân vật lộn chỉ để có được một phần thôi. Trong ví dụ của chúng ta, Jasmine không thể mua nổi một chiếc vé 10 đô la cho buổi biểu diễn mặc dù chính cô đóng góp 10 đô la giá trị vào đó. Có lẽ các ông chủ sẽ để cho cô mua một chiếc vé 5 đô la nếu cô hứa chỉ xem các diễn viên từ phần thắt lưng họ trở lên.
Nếu lợi nhuận có được nhờ bóc lột lao động, chúng ta có thể xác định tỷ suất lợi nhuận bằng tỷ lệ phần thặng dư trên tổng tư bản bất biến và khả biến (s/[v + c]). Nhà tư bản có thể tăng lợi nhuận nếu ông ta ép buộc những người làm thuê cho mình làm việc nhiều hơn trong một ngày. Hoặc ông ta có thể tăng được lợi nhuận bằng cách bóc lột thêm lao động của phụ nữ và trẻ em. Trong thời đại mà Marx viết, giờ làm kéo dài ra và ngày càng có nhiều lao động nữ và trẻ em đã gia nhập vào lực lượng lao động công nghiệp.
Đến đây chúng ta hiểu lợi nhuận có được nhờ bóc lột như thế nào. Nhưng tại sao lại không thể duy trì được điều này? Những quy luật nào của chủ nghĩa tư bản rốt cuộc sẽ giải thoát người công nhân khỏi sự tuyệt vọng và buộc các nhà tư bản phải quỳ gối? Marx không chỉ tuyên bố rằng một cuộc cách mạng xã hội sẽ nổ ra. Ông mô tả một cách cẩn thận những mâu thuẫn kinh tế của chủ nghĩa tư bản. Chúng ta sẽ khảo sát năm “quy luật” hoặc “khuynh hướng” dẫn tới sự tự sụp đổ từ bên trong của nền kinh tế tư bản chủ nghĩa. Chẳng những không hoan nghênh chủ nghĩa tư bản, bàn tay vô hình rút cục lại phá tan nó.
1.Tỷ suất lợi nhuận giảm xuống và sự tích lũy tư bản. Cũng như Adam Smith, Marx nhận thấy nhà tư bản đương đầu với sự cạnh tranh. Nếu một công ty mở rộng quy mô sản xuất của mình, nó có thể sản xuất hiệu quả hơn. Công ty nào có khả năng đổi mới sẽ ép buộc các đối thủ cạnh tranh của nó phải phát triển hơn. Các công ty thuê mướn nhiều công nhân hơn. Nhưng điều đó lại làm tăng tiền lương lên vượt mức đủ sống. Các ông chủ làm gì? Họ sẽ thay thế lao động bằng máy móc. Nếu họ không làm điều đó, lợi nhuận của họ sẽ giảm xuống. Bởi vì trả cao hơn sẽ tạm thời chấm dứt sự bóc lột của họ đối với công nhân. Sự cạnh tranh bắt buộc họ phải thay thế như vậy.
Nhưng ở đây các ông chủ khôn ngoan hơn và họ bị rơi vào thế tiến thoái lưỡng nan. Các khoản thặng dư chỉ có thể bóp nặn được từ con người. Những nhà tư bản bán máy móc có thể đòi trả giá đúng và đủ cho các sản phẩm của họ. (Nếu một thiết bị in tráng phim tốc độ cao tăng doanh thu cho công ty vì nó có thể in tráng nhiều ảnh hơn trong một giờ thì nhà sản xuất thiết bị đó có thể tính một mức giá mới cho công ty làm ảnh) Hãy nhìn lại công thức về tỷ suất lợi nhuận s/[c + v] của Marx. Bằng cách cộng thêm máy móc [c], các nhà tư bản làm giảm lợi nhuận của mình. Mặt khác của tình thế khó xử này là nếu họ chống lại việc đưa thêm máy móc vào sử dụng, không ai sẽ mua những sản phẩm không cạnh tranh của họ:
Ngoài ra, sự phát triển của nền sản xuất tư bản chủ nghĩa làm cho sự tăng thêm không ngừng của số tư bản bỏ vào một xí nghiệp công nghiệp trở thành một sự tất yếu, và cạnh tranh làm cho những quy luật bên trong của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa trở thành những quy luật bên ngoài có tính chất cưỡng chế đối với mỗi một nhà tư bản cá biệt. Cạnh tranh buộc nhà tư bản không ngừng mở rộng tư bản để giữ được tư bản, và hắn chỉ có thể mở rộng tư bản của mình bằng cách tích lũy ngày càng nhiều hơn mà thôi…
Hãy tích lũy đi, hãy tích lũy đi! Đó chính là Moses và các nhà tiên tri … Cho nên, hãy để dành đi, hãy để dành đi, nghĩa là hãy biến một phần thật nhiều giá trị thặng dư hay sản phẩm thặng dư trở lại thành tư bản! 23
Một kết cục tương tự xảy ra nếu một nhà tư bản nâng cấp một cái máy. Người chủ nào tạo ra được một chiếc máy may tốt hơn có thể đưa ra giá thấp hơn cho sản phẩm của mình. Bởi vì các ông chủ phải ganh đua với nhau nên các đối thủ cạnh tranh phải dành dụm những khoảng thặng dư moi được từ lao động và đầu tư vào máy may mới.
“Lòng tham không đáy” của nhà tư bản buộc họ phải bị hủy diệt. Để tránh thua lỗ, các ông chủ cố gắng bóc lột lao động thậm tệ hơn nữa. Bằng cách nào? Họ sẽ tăng tốc độ làm việc. Và họ sẽ kéo dài ngày lao động hơn nữa. Tất nhiên, những chiến thuật này chỉ kéo dài hơn sự chịu đựng của người lao động một cách nguy hiểm.
2.Sự tập trung cao độ quyền lực kinh tế. Khi các nhà tư bản buộc phải mở rộng và phát triển thì cuộc chiến sẽ diễn ra ngày càng ác liệt. Những công ty lớn nhất, những công ty có giá thành sản xuất rẻ hơn sẽ chiến thắng. Cuộc chiến đẫm máu “bao giờ cũng chấm dứt bằng sự phá sản của nhiều nhà tư bản nhỏ, tư bản của họ một phần lọt vào tay những kẻ chiến thắng, một phần bị tiêu vong”.24 Những kẻ sống sót sẽ nhanh chóng hạ gục kẻ bại trận.
3.Khủng hoảng và suy thoái sâu sắc. “Những lời nhảm nhí con nít … rác rưởi … vô lý bịp bợm.” Marx dùng những từ này để mô tả lập luận của Say về tính ổn định của chủ nghĩa tư bản. Khi các nhà tư bản sử dụng máy móc thay thế cho lao động, nạn thất nghiệp tăng lên. Ai mua hàng hóa khi các ông chủ mở rộng sản xuất? Không ai cả. Hàng hóa không bán được. Nạn phá sản tăng vọt. Sự hoảng loạn xuất hiện khắp mọi nơi. Các nhà tài phiệt bán tống bán tháo những cổ phần họ nắm giữ. Đầu tư tụt xuống. Các nhà đầu tư nhảy lầu. Dĩ nhiên, chu kỳ sẽ bắt đầu một chu trình mới sau khi giá cả tụt xuống. Những kẻ sống sót sẽ lại thu gom những doanh nghiệp phá sản và thuê mướn lại những người công nhân tuyệt vọng. Các khoản thặng dư và lợi nhuận xuất hiện trở lại. Nhưng chỉ để suy thoái nhanh hơn và sâu hơn nữa ở lần kế tiếp.
4.Đội quân dự bị công nghiệp. Nhờ sử dụng máy móc thay thế lao động và suy thoái, các nhà tư bản càng ngày càng ném nhiều người hơn ra đường. “Đội quân” này không mang tính chiến đấu hơn Đội quân Cứu tế lúc ban đầu. Chừng nào mà đội quân này còn bình tĩnh thì nó vẫn còn là một nguồn lao động giá rẻ. Sự thừa thãi công nhân giúp các nhà tư bản kiểm soát được tình hình lúc ban đầu.
5.Bần cùng hóa giai cấp vô sản. “Con số những tên trùm tư bản tiếm đoạt và nắm độc quyền tất cả những cái lợi của quá trình chuyển hóa đó ngày càng giảm đi không ngừng … thì nạn nghèo khổ, áp bức, nô dịch, thoái hóa, bóc lột càng tăng thêm”25. Ngày làm việc dài hơn và ít kỳ nghỉ hơn chỉ đem lại sự bần cùng hơn cho những người lao động bị chà đạp. Những tác phẩm trước đó của Marx lập luận rằng mức sống tuyệt đối của họ tụt xuống. Nhưng trong cuốn Tư Bản, được viết khi ông vấp phải những bằng chứng cho thấy mức sống tuyệt đối của công nhân tăng hơn trước thì ông rút lại, thừa nhận rằng những người công nhân chỉ có một phần nhỏ hơn của sự thịnh vượng so với trước.
Cuối cùng, sau nạn thất nghiệp, sa sút lợi nhuận, sự tuyệt vọng vô nhân đạo và sự bần cùng, giai cấp vô sản sẽ nhìn thấy ánh sáng ở cuối đường hầm. Cái mặt nạ của thượng tầng kiến trúc sẽ bị lột bỏ. Con quái vật xấu xa mà người ta gọi là chủ nghĩa tư bản sẽ lộ rõ. Quần chúng bị áp bức sẽ vùng lên: “Giờ tận số của chế độ tư hữu tư bản chủ nghĩa đã điểm. Những kẻ đi tước đoạt bị tước đoạt lại.”26
Giai cấp vô sản sẽ giành được nhiều thứ hơn là các công xưởng. Họ giành lại được con người thật của họ. Các nhà tư bản không chỉ cướp đoạt túi tiền của người vô sản. Họ còn cướp đi cả trái tim và khối óc. Đối với Marx, lao động đóng một vai trò quan trọng trong cuộc sống của con người. Con người bị ép buộc phải tạo nên và nâng cao cuộc sống của mình thông qua tự nhiên và các mối quan hệ với người khác. Nhân cách của con người không thể phát triển nếu không làm việc sáng tạo. Dưới chủ nghĩa tư bản, lao động chỉ là một loại hàng hóa mà thôi. Con người bị buộc ép buộc phải chấp nhận những công việc thường lệ và tẻ nhạt. Họ trở thành những công cụ sống. Họ cảm thấy lạc lõng với chính họ, với thế giới và với người khác. Sự lạc lõng trở thành một chủ đề nổi bật của những nhà Marxist và những chỉ trích của những người theo thuyết hiện sinh đối với xã hội hiện đại.
Trong Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản, Marx và Engels hối thúc những người vô sản nắm lấy nền kinh tế và giải phóng chính mình:
Những người cộng sản coi là điều đáng khinh bỉ nếu giấu giếm những quan điểm và ý định của mình. Họ công khai tuyên bố rằng mục đích của họ chỉ có thể đạt được bằng cách dùng bạo lực lật đổ toàn bộ trật tự xã hội hiện hành. Mặc cho các giai cấp thống trị run sợ trước một cuộc Cách mạng cộng sản chủ nghĩa! Trong cuộc cách mạng ấy, những người vô sản chẳng mất gì hết, ngoài những xiềng xích trói buộc họ. Họ sẽ giành được cả thế giới.
Vô sản tất cả các nước, đoàn kết lại! 27
Gần 20 năm sau sự ra đời của cuốn Tư Bản, những người vô sản mới có thể hậu thuẫn cho những khẩu hiệu súc tích của mình bằng những phân tích sắc sảo.
Nhưng điều gì xảy ra sau cách mạng? Có phải tất cả mọi người đều vui vẻ và hưởng thụ trong xã hội mới hình thành? Có phải tất cả mọi người đều ngồi xung quanh đống lửa trại, tay nắm tay và hát “Cum-Ba-Ya”? Một vài nhà Marxist đương thời có lẽ làm cho người ta nghĩ vậy.
Rõ ràng là Marx coi khinh chủ nghĩa xã hội không tưởng và cười khinh bỉ sự đơn giản quê mùa của nó. Ông ta là một người vô cảm. Ông khinh bỉ niềm khát khao mong mỏi sự phân phối thu nhập “công bằng” hay sự tái phân phối tài sản quy mô lớn. Những người công nhân, ngay cả dưới chủ nghĩa xã hội, cũng không được hưởng “đủ giá trị” lao động của mình. Tuy nhiên, khoản thặng dư sẽ tới tay “nhân dân” thông qua những dịch vụ tập thể.
Vậy chủ nghĩa cộng sản thực sự có nghĩa gì? Chúng ta không biết được. Marx đã cố ý né tránh việc để lại “công thức chế biến” cho những “tiệm ăn tương lai”28. Nếu không có công thức cụ thể, chủ nghĩa Marx với tư cách là một hệ thống cai trị trở thành một món xúc xích của chính trị: một cách thức rẻ tiền để biến hội đồng lãnh đạo trở thành công cụ phục vụ cho một nhóm thiểu số.
Marx cho rằng cuối cùng thì nhà nước sẽ “tiêu vong”. Đồng thời nền chuyên chính của giai cấp vô sản sẽ thống trị. Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản bao gồm một kế hoạch mười điểm để thực thi “sự xâm phạm một cách chuyên chế vào quyền sở hữu”:
1. Tước đoạt sở hữu ruộng đất và trao nộp địa tô vào quỹ chi tiêu của nhà nước.
2. Áp dụng thuế lũy tiến cao.
3. Xóa bỏ quyền thừa kế.
4. Tịch thu tài sản của tất cả những kẻ lưu vong và của tất cả những kẻ phiến loạn.
5. Tập trung tín dụng vào tay nhà nước thông qua một ngân hàng quốc gia với tư bản của nhà nước và ngân hàng này sẽ nắm độc quyền hoàn toàn.
6. Tập trung tất cả các phương tiện vận tải vào trong tay nhà nước.
7. Tăng thêm số công xưởng nhà nước và công cụ sản xuất; khai khẩn đất đai để cầy cấy và cải tạo ruộng đất theo một kế hoạch chung.
8. Thực hành nghĩa vụ lao động đối với tất cả mọi người, tổ chức các đạo quân công nghiệp, đặc biệt là cho nông nghiệp.
9. Kết hợp nông nghiệp với công nghiệp, thi hành những biện pháp nhằm dần dần xóa bỏ sự khác biệt giữa thành thị và nông thôn bằng cách phân bố dân cư một cách đồng đều hơn trong cả nước.
10. Giáo dục công cộng và không mất tiền cho tất cả các trẻ em. Xóa bỏ việc sử dụng trẻ em làm trong các công xưởng như hiện nay. Kết hợp giáo dục với sản xuất vật chất, v.v.. 29
Những người Marxist sau này sẽ phải tự suy nghĩ xem làm thế nào để thực hiện được kế hoạch đó. Không quá lạc quan về những phong trào xã hội chủ nghĩa bị vỡ vụn ở châu Âu, Marx đã có lần tuyên bố rằng ông không còn là một nhà Marxist nữa.
Trong Kinh Thánh, Chúa ngăn cho Moses không vào Miền Đất hứa. Nhưng những người Marxist không giống như những người Israel, không có Joshua dẫn đường khi Marx chết vào năm 1883.

Còn tiếp 

KARL MARX - NHÀ TIÊN TRI GIẬN DỮ Phần II


YesMan2008, X-Cafe sưu tầm & hiệu đính
Câu chuyện sau sẽ giúp chúng ta hiểu rõ hơn. Ngày xửa ngày xưa, những tên lính gác nhanh nhẹn đã sốt sắng cảnh báo lãnh chúa rằng sẽ có một cơn lũ. Gã lãnh chúa này chạy ngay đến thánh đường và cầu xin Chúa cứu giúp. Khi mà nước lũ tràn đến những bậc thềm của tòa thánh đường, một nông nô đã chèo một con thuyền nhỏ đến chỗ bậc thềm và đề nghị vị lãnh chúa lên thuyền. “Không, cám ơn. Ta tin vào Chúa, và ta tin vào công lý. Chúa sẽ cứu ta.” Khi nước dâng lên, gã lãnh chúa bước lên bục giảng kinh. Lần này một chiếc xuồng máy chạy vội đến chỗ ông ta. Khi nước vỗ mạnh vào bục giảng kinh, người lái tàu la lên: “Tôi sẽ cứu ngài. Hãy nhảy lên đây!” Lại một lần nữa gã lãnh chúa quý tộc đáp lại: “Đừng lo. Ta tin vào Chúa. Chúa sẽ cứu ta. Ta không cần những cái máy ồn ào.” Cuối cùng, nước đã nhấn chìm thánh đường. Khi lãnh chúa nắm được đỉnh ngọn tháp cao nhất, thân thể ông ta bị sóng đánh tả tơi. Một chiếc trực thăng bay đến trên đầu ông ta. Viên phi công hét lên: “Xin ngài, ông chủ của tôi. Hãy nắm lấy cái thang này.” Gã lãnh chúa lại đáp: “Đừng lo. Ta tin vào Chúa. Chúa sẽ cứu ta.” Một lúc sau, nước dâng lên cao hơn và gã lãnh chúa chìm nghỉm.
Trên thiên đường (suy cho cùng ông ta là một vị lãnh chúa tốt), ông ta gặp được Chúa. “Chúa”, ông nói, “tôi tin Ngài cả đời. Tôi làm theo mọi điều mà thầy tu khuyên bảo tôi. Khi mà những người khác nghi ngờ và quay sang nhờ đến máy móc, tôi tin Ngài sẽ cứu tôi. Nhưng Ngài làm tôi thất vọng.”
“Tên ngốc!” Chúa ngắt lời. “Ngươi nghĩ ai đã đưa thuyền, xuồng máy và trực thăng đến hả!”
Ai không tuân theo dòng chảy của chủ nghĩa duy vật lịch sử, người đó sẽ bị chết chìm dưới dòng chảy đó. Marx mô tả dòng chảy:
Tới một giai đoạn phát triển nào đó của chúng, các lực lượng sản xuất vật chất của xã hội mâu thuẫn với những quan hệ sản xuất hiện có … những quan hệ ấy trở thành những xiềng xích của các lực lượng sản xuất. Khi đó bắt đầu thời đại một cuộc cách mạng xã hội. Cơ sở kinh tế thay đổi thì toàn bộ cái kiến trúc thượng tầng đồ sộ cũng bị đảo lộn ít nhiều nhanh chóng. Khi xét những cuộc đảo lộn ấy, bao giờ cũng cần phân biệt cuộc đảo lộn vật chất – mà người ta có thể xác nhận với một sự chính xác của khoa học tự nhiên – trong những điều kiện kinh tế của sản xuất, với những hình thái pháp lý, chính trị, tôn giáo, nghệ thuật hay triết học, tóm lại, với những hình thái tư tưởng trong đó con người ý thức được cuộc xung đột ấy và đấu tranh để giải quyết cuộc xung đột ấy.14
Bởi vì chủ nghĩa tư bản dựa trên hệ thống phân chia giai cấp nên tất yếu dẫn tới cách mạng và thắng lợi của giai cấp công nhân. Tác phẩm bất hủ của Marx, cuốn Tư Bản đã phác họa “những xu hướng đang tác động và đang được thực hiện với một tất yếu gang thép“.15 Chỉ có một xã hội không giai cấp mới có thể tránh khỏi được các cuộc cách mạng. Và theo quan điểm của Marx, một xã hội không có giai cấp cuối cùng sẽ xuất hiện. Những nhà tư bản thối nát cuối cùng sẽ bị tiêu diệt. Sau nhiều thế kỷ bị chiếm đoạt thành quả của mình, cuối cùng những người công nhân sẽ được tự do.
Nếu chủ nghĩa tư bản “tất yếu” phải sụp đổ để biến thành chủ nghĩa xã hội, thì chắc hẳn chủ nghĩa phong kiến phải sụp đổ để biến thành chủ nghĩa tư bản? Có phải chủ nghĩa tư bản là điểm dừng cần thiết trên con đường tiến tới chủ nghĩa cộng sản? Nếu vậy thì đó không phải là một cuộc tàn sát vô cớ hay một cuộc nổi dậy kém may mắn của nhân loại như nhiều người xã hội chủ nghĩa không tưởng quan niệm. Marx bị cự tuyệt bởi những người lãng mạn phản khoa học, những người mô tả chủ nghĩa tư bản như là một tai nạn tồi tệ do những kẻ xấu xa tạo ra. Thực ra, Marx cũng viết những lời tán dương hùng hồn dành cho các nhà tư bản. Bởi vì theo quan điểm của ông, chủ nghĩa tư bản đã giải phóng con người thoát khỏi những điều kiện tồi tệ hơn. Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản của Marx không dành cho những tay lái buôn ngớ ngẩn có óc hoài cổ:
Nhờ cải tiến mau chóng công cụ sản xuất và làm cho các phương tiện giao thông trở nên vô cùng tiện lợi, giai cấp tư sản lôi cuốn đến cả những dân tộc dã man nhất và trào lưu văn minh. Giá rẻ của những sản phẩm của giai cấp ấy là trọng pháo bắn thủng tất cả những vạn lý trường thành và buộc những người dã man bài ngoại một cách ngoan cường nhất cũng phải hàng phục … Giai cấp tư sản, trong quá trình thống trị giai cấp chưa đầy một thế kỷ, đã tạo ra những lực lượng sản xuất nhiều hơn và đồ sộ hơn lực lượng sản xuất của tất cả các thế hệ trước kia gộp lại.16
Marx đã phê phán giai cấp tư sản nhưng ông lại dành những lời công kích hiểm độc nhất cho những người có tư tưởng xã hội chủ nghĩa nhưng bất đồng quan điểm với ông. Không phải là người có thể tập hợp được những người khác quanh mình. Ngay cả với những người bạn chân thành nhất, ông cũng chỉ giống như một con mãng xà đang cuộn tròn mình lại. Marx có lẽ sẽ rất căm ghét đảng Xanh và mơ những thành viên của nó bị nghẹn vì những Quả Nho ngớ ngẩn của họ. Ông viết rằng chủ nghĩa tư bản “đã cứu một bộ phận đáng kể dân chúng khỏi sự ngu ngốc của cuộc sống thôn quê”.17 Ông sẽ đáp lại những người ủng hộ chủ trương “quay về với thiên nhiên” bằng những cuốn sách lịch sử để họ hiểu cuộc sống thời kỳ tiền công nghiệp khủng khiếp như thế nào. Marx đã đáp lại một cách gay gắt cuốn Triết học của sự khốn cùng của Pierre Proudhon bằng cuốn Sự khốn cùng của Triết học. Những người thông minh không cố gắng xóa bỏ hay “nhớ lại” những giai đoạn lịch sử và gửi chúng trở về công xưởng nhỏ bé của Chúa để sửa chữa.
Chủ nghĩa tư bản là một điều kiện tất yếu cho chủ nghĩa xã hội. Bởi vì chủ nghĩa tư bản sản xuất ra rất nhiều của cải. Nó cho phép một hệ thống ít phải điều hành hơn là chủ nghĩa xã hội có thể kế tục. Các quốc gia tiền tư bản chủ nghĩa không thể hy vọng vào việc làm cách mạng cộng sản chủ nghĩa để lật đổ các lãnh chúa hay Nga Hoàng. Marx không để ý tới nước Nga. Ông cũng không trông chờ chủ nghĩa cộng sản sớm xảy ra ở Đức, bởi vì chỉ có 4% lao động nam giới làm việc trong các công xưởng lúc bấy giờ. Những xiềng xích có lẽ sẽ bị gãy vụn đầu tiên ở Anh và ở Pháp, những thành trì của chủ nghĩa tư bản tiên tiến. Nước Pháp sẽ báo hiệu khi nào nước Đức chín muồi cho chủ nghĩa cộng sản: “Khi tất cả những điều kiện bên trong đã chín muồi, ngày phục sinh của nước Đức sẽ được báo hiệu bằng tiếng gáy của chú gà trống xứ Gô loa.”18
Tư Bản và sự sụp đổ của Chủ nghĩa Tư bản
Marx không chỉ cao ngạo chờ đợi tiếng gáy của chú gà trống. Thay vào đó ông tự cao tự đại thảo ra một công trình phân tích cẩn thận và đầy đủ về chủ nghĩa tư bản là cuốn Tư Bản. Trong thập niên 1850, Marx tự chôn mình trong đống sách giáo khoa kinh tế học ở Bảo tàng Anh quốc ở London. Gia đình ông nhịn đói trong khi ông phân tích sự khổ sở trừu tượng của giai cấp vô sản. Gia đình Marx sống trong một căn hộ nhếch nhác ở một trong những khu nghèo nhất ở London. Một mật thám theo dõi Marx đã mộ tả chân dung sống động hiếm có về sự bần cùng mà gia đình ông phải chịu đựng:
Khi một ai đó bước vào phòng của Marx, mắt họ bị cay xè vì khói than và mùi thuốc lá tới mức lúc đầu người ta phải dò dẫm y như ở trong một cái hang… Mọi thứ đều bẩn thỉu và đầy bụi, ngay cả việc ngồi xuống cũng hết sức nguy hiểm. Chỗ này thì có cái ghế ba chân, chỗ kia thì bọn trẻ chơi đùa và họ chuẩn bị cơm nước trên một cái ghế có vẻ còn nguyên vẹn.
Đối với bản thân Marx, “ông là một người cực kỳ bừa bãi, hay chỉ trích người khác cay độc, một chủ nhà nghèo khổ. Ông sống giống kiểu dân gipsy. Hiếm khi thấy ông tắm, chải chuốt và thay đồ lót. Ông còn thường xuyên say bí tỉ. Ông thường tiêu phí thời gian của ngày một cách vô ích, nhưng nếu ông phải làm việc thì ông làm việc cả ngày đêm không mệt mỏi”. Jenny mặc dù lớn lên trong gia đình quý tộc “nhưng cũng chịu được cảnh nhà cửa bần cùng như thế này”.19
Gia đình Marx mất ba đứa trẻ vì bệnh viêm phổi, viêm phế quản và bệnh lao trong năm năm bất hạnh ở London. Điều khủng khiếp nhất là những người làm dịch vụ tang lễ lại không cho nợ. Jenny trở nên vô cùng phiền muộn. Đã có lần bà phải đi ăn xin 2 bảng để mua quan tài cho đứa con. Mặc dù Marx thường hay thô lỗ với những người xung quanh, nhưng ông vẫn còn chút lòng thương xót với những đứa con của mình. Bản thân ông cũng suy sụp khi chúng qua đời:
Bacon nói rằng những người thực sự quan trọng có rất nhiều mối liên hệ với thiên nhiên và với thế giới. Họ có rất nhiều thứ để quan tâm nên họ dễ dàng vượt qua những mất mát. Tôi không thuộc về những người quan trọng như vậy. Cái chết của những đứa con đã hủy hoại sâu sắc trái tim và khối óc của tôi và tôi cảm thấy sự mất mát chỉ như mới ngày hôm qua thôi.20
Marx cố nhiên quy cảnh ngộ tuyệt vọng của mình cho giai cấp tư sản và hứa là sẽ bắt họ phải trả giá cho những tai họa của gia đình ông và sự ốm đau của chính ông, kể cả những đám mụn đỏ trên mặt ông.
Marx hiếm khi tự trách mình. Lẽ ra ông phải làm như vậy. Marx còn ý thức rất trẻ con về kinh tế gia đình. Có người đã mô tả điều đó giống như việc một đứa trẻ cứ hét to ở đầu con kênh này và chẳng có trách nhiệm gì ở đầu kia. Nếu tính những món quà từ gia đình Jenny và Engels gửi cho và những khoản nhuận bút cho những bài báo trong tờ New York Daily Tribune thì gia đình Marx phải “kiếm” được một khoản tương đương với thu nhập của một gia đình trung lưu cấp thấp. Trong những năm tháng khốn khó nhất của họ, họ chỉ kiếm được một khoản thu nhập gấp ba lần thu nhập của một công nhân không có kỹ năng. Một nhà thơ cấp tiến người Đức cũng bị trục xuất khỏi quê hương, viết rằng một khoản thu nhập tương tự như của Marx lúc nào cũng có thể mua được cho ông “một miếng bò bít tết thơm ngon mang hương vị tha phương”.21
Nhưng thay vì thường xuyên chăm lo gia đình mình, Marx đầu tư tiền vào những tờ báo chính trị và đàn piano, âm nhạc, những bài tập khiêu vũ cho những đứa con của mình! Mặc dù là vợ của một nhà cách mạng nhưng Jenny vẫn cứ in những giấy viết xa xỉ ghi tên mình là “Nữ Nam tước Von Westphanlen”.
Vấn đề trở nên tồi tệ thêm khi Marx làm cho người hầu gái mang thai (cô ta là một món quà từ nhà Von Westphanlen). Một lần nữa Marx chối bỏ trách nhiệm của mình. Ông nói với Jenny rằng Engels là cha đứa bé. Người hầu gái bỏ đi một thời gian, rồi sau đó quay trở về với một đứa trẻ tóc rậm, da hơi ngăm đen. Đứa bé sau này được đem cho người khác làm con nuôi.

Còn tiếp 

KARL MARX - NHÀ TIÊN TRI GIẬN DỮ - Phần I


Thành viên YesMan2008 trên Diễn đàn X-cafe đăng bản dịch Chương 5 cuốn Ý tưởng mới từ các kinh tế gia tiền bối (Hướng tới những tư tưởng kinh tế hiện đại) do thành viên này hiệu đính và dịch lại một số đoạn. Tác giả phân tích,
“1.Chủ nghĩa duy vật lịch sử của Marx bẻ cong khái niệm lao động thặng dư như thế nào: Trong tác phẩm Những người khốn khổ của Victor Hugo, Jean Valjean thường xuyên phải đối diện với kẻ báo oán: Thanh tra Javert. Và cuộc đời cứ luôn kéo Javert về đối diện với Valjean. Tính biện chứng văn chương tạo ra một cuộc tranh đấu kịch tính cho mỗi bên. Nếu không có nhân vật kia, cuộc đời sẽ trở nên quá đơn giản đối với họ.
Vấn đề trong chủ nghĩa lịch sử của Marx là ở chỗ nhà biện chứng bậc thầy này lại bỏ qua sự biện chứng kịch tính nhất: giữa những nguyên nhân ý thức và những nguyên nhân vật chất. Về cơ bản, Marx miêu tả những yếu tố vật chất là nguyên nhân cho mọi sự thay đổi. Chúng thiết lập và thay đổi ý thức hay thượng tầng kiến trúc của xã hội một cách định kỳ. Mặc dù thừa nhận mối quan hệ này nhưng Marx lại luôn coi thường những tác động của ý thức. Và sai lầm này lan sang hủy hoại lý thuyết kinh tế của ông.
Khái niệm về lao động thặng dư là cơ sở cho toàn bộ học thuyết Marx về chủ nghĩa tư bản. Hãy nhớ lại phép tam đoạn luận đơn giản. Tại sao lao động phải bị bóc lột? Bởi vì Marx nắm chặt lấy “học thuyết giá trị lao động” để giải thích việc nhà tư bản thu được lợi nhuận. Theo Marx, “không một nguyên tử” giá trị nào bắt nguồn từ nhà tư bản.30 Không chút đắn đo, Marx cho rằng cô thợ may Jasmine hay người thợ rèn đang đập thình thịch vào cái đe mới tạo ra giá trị.
Marx đã quên mất điều gì? Ông không để ý tới khả năng sáng tạo và tài kinh doanh. Để tạo ra của cải đòi hỏi phải có những thứ hơn cả nguyên liệu hữu hình. Việc chế tạo ra các đầu máy video (VCR) không cần những loại vật liệu thô mới hay những phương thức bóc lột lao động tàn nhẫn hơn. Ngành công nghiệp video đòi hỏi hai điều: phát minh và bản lĩnh kinh doanh – sẵn sàng chấp nhận rủi ro trong đầu tư. Tại sao người Nga sống dưới chế độ cộng sản lại phải xin những chiếc quần bò vải bông chéo do người Mỹ làm ra? Không phải vì Liên Xô thiếu bông hay thiếu công nhân để sản xuất quần áo chất lượng cao, mà bởi vì họ thiếu năng lực sáng tạo, động cơ làm việc và kỷ luật. Chính những cái vô hình này phân biệt những công ty và quốc gia thành công với số còn lại.
Chủ nghĩa duy vật của Marx không may lại làm ông phớt lờ tất cả các loại vốn, như vốn nhân lực tức là tri thức, tài khéo léo hay kỹ năng quản lý đều rất quan trọng đối với lợi nhuận. Làm thế nào mà học thuyết giá trị lao động có thể giải thích được những giây phút lóe sáng hay sự sáng suốt như ví dụ dưới đây?
Vài năm trước, khi một người bước qua một khu rừng, một bông gai nhỏ bắt chặt lên chiếc tất len của anh ta. Tài khoản ngân hàng của anh ta giờ đây đầy ắp tiền. Anh ta phát minh ra khóa dán Velcro. Liệu tất cả lợi nhuận của anh ta có được là do đánh cắp của công nhân?”
“Người Trung Quốc tôn thờ Marx sau cuộc cách mạng năm 1949 của họ. Ngay sau đó họ trở thành người đa thần giáo bằng cách đặt Mao Trạch Đông lên cùng bàn thờ. Nhưng đến cuối những năm 1970, dưới thời Đặng Tiểu Bình, người Trung Quốc bắt đầu nhanh chóng chuyển hướng sang tự do kinh doanh trong nhiều khu vực kinh tế. Điều này thực sự là sự quở trách Marx và chửi rủa Mao. Đặng, người đã bị Mao tống vào tù hồi Cách mạng Văn hóa đẫm máu trong những năm 1960, là một người thực dụng. Ông phát biểu rằng “mèo trắng hay mèo đen không thành vấn đề miễn là bắt được chuột”.38 Ông cho phép các chủ hiệu được giữ lại lợi nhuận và nông dân được tự do bán lương thực của mình. Họ gọi xu hướng này là gì? Họ đã chuyển chữ thuật ngữ “thị trường tự do”. Hàng triệu người Trung Quốc tưởng rằng “thị trường tự do” là một thuật ngữ gốc Trung Quốc. Tuy nhiên, sau khoảng mười năm tự do hóa, những lực lượng bảo thủ khẳng định lại vị thế của họ vào năm 1987 (mặc dù họ không chấm dứt việc kinh doanh của nhà hàng Gà Rán Kentucky – KFC nằm ở phía đối diện của lăng Mao Trạch Đông). Mặc dù vậy, sự thụt lùi chỉ là tạm thời. Sau khi Đặng chết, thủ tướng mới Chu Dung Cơ và chủ tịch Giang Trạch Dân cam kết thúc đẩy hơn nữa kinh tế tư nhân và cắt giảm phạm vi hoạt động của các công ty đại chúng. Năm 1998, Giang thậm chí còn nắm cả quân đội. Những ngón tay của ông ta có thể sờ đến tất cả các khu vực kinh doanh từ khách sạn, các nhà máy sản xuất tủ lạnh, đến các quầy bar karaoke. Các doanh nhân Trung Quốc đã len lỏi vào nền kinh tế thế giới. Hầu hết đồ chơi tại các cửa hàng đồ chơi Toys “R” Us ở địa phương nơi bạn ở đều được chế tạo tại Trung Quốc. Trong khi đó, ngày càng nhiều người Trung Quốc gội đầu bằng dầu gội đầu Procter & Gamble hơn bất kỳ nhãn hiệu nào! Điều kỳ quặc trong sự thành công của Chu và Giang là trong khi thúc đẩy hơn nữa tự do kinh doanh, họ vẫn duy trì quyền lực của Đảng Cộng sản để dọa dẫm. Mặc dù vẫn còn một số hồ nghi nhưng đó không còn là Đảng Cộng sản của cha ông họ nữa.
Liên Xô và Trung Quốc là những quốc gia cuối cùng trong số các quốc gia cộng sản lớn nhất tuyên bố trung thành với chủ nghĩa Marx. Khi Bức Màn Sắt tan chảy dọc theo đường biên giới của Ba Lan, Đông Đức, Tiệp Khắc, Hungary và Rumani, ngày càng có nhiều công nhân giành được tự do để đoàn kết; chống lại những tư tưởng của Marx.Cho tới nay, không còn một nước nào tuân theo chủ nghĩa Marx đúng như trong mường tượng của những người ngưỡng mộ ông ta nữa. Ngay cả khu định cư của Israel dường như cũng đang chuyển đổi từ những dự án xã hội chủ nghĩa thành những dự án tư bản chủ nghĩa. Có lẽ sẽ không còn nước nào thực hiện giấc mơ của Marx nữa. Giấc mơ hứa hẹn hơn cả thế giới thực tại, một thế giới đầy rẫy sự khan hiếm, sự ích kỷ và xấu xa. Đó là một giấc mơ giống kiểu một thiên đàng đã bị mất, phù hợp hơn đối với những thiên thần hơn là với những người vô sản. Thật không may, lòng mong mỏi khát khao trở nên mạnh mẽ tới mức những người tốt đã bị mê hoặc. Họ ủng hộ những chế độ đồi bại chuyên giảng đạo, nhưng lại không thực hiện giáo lý của chủ nghĩa Marx. George Bernard Shaw đã bắt tay Stalin và quan sát sự đàn áp của chế độ Xô viết trong một thời gian dài trước khi ông tỉnh ngộ.
Đối với nhân loại ngày nay, Marx nhắc nhở chúng ta rằng thay đổi về kinh tế có thể gây ra đau đớn, rằng quyền lực có thể chuyển thành sự áp bức và bộ phận dân cư tầng lớp dưới phải được bảo vệ khỏi sự bóc lột. Những chế độ cộng sản đã cho thấy những cảnh báo trên là hoàn toàn chính xác. Những người ngưỡng mộ Marx tán dương Marx thời trẻ và Marx ít khoa học hơn. Không phải là một nhà kinh tế lý thuyết có sức thuyết phục hay một nhà lãnh đạo chính trị uy tín, Marx trở thành một tiếng nói hiện thời cho sự công bằng xã hội mang tính nhân văn. Ông trở nên giống như Tom Joad trong tác phẩm Chùm nho uất hận của John Steinbeck:
Bao giờ con cũng có mặt trong bóng tối, khắp nơi. Khắp nơi nào mẹ nhìn. Khắp nơi nào mà có một cuộc đánh lộn để con người đói khát có thể giành giật nhau miếng ăn, nơi đó sẽ có con. Khắp nơi nào có một tên cảnh sát đang đánh đập một con người, sẽ có con.… nơi nào có tiếng kêu thét của những người đang nổi giận vì họ đói khát, con sẽ ở đấy … Và khi nào những người cùng cảnh với chúng ta đang ngồi trước bàn ăn có đủ những thứ họ trồng trọt và gặt hái khi nào họ ăn ở trong những ngôi nhà mà họ xây dựng ở đây, sẽ có con. Mẹ hiểu không, mẹ? 39
Đặt sự lạm dụng và tàn bạo dưới cái tên của Marx, đây có lẽ là chỗ tốt nhất dành cho ông ta.”

Còn tiếp 

Trung Quốc và Chính sách ngạo mạn


Lang thang trên trang Vnthuquan.net, bỗng nhiên đọc được bài của tác giả Đồng Sa Băng viết về chính sách bành trướng của Trung Quốc thấy khá hay, nên đăng ở đây để tiện tham khảo. Đồng thời, để có cái nhìn khác hơn về sự phát triển và bành trướng của “đồng minh cộng sản” của Việt Nam ta.
Trân trọng giới thiệu!

Trung Quốc và Chính sách ngạo mạn
 Đồng Sa Băng 

Gần đây nhiều nhà bình luận đã tâng bốc quá đáng về khả năng và sức mạnh của Hải Quân Trung Quốc, thậm chí còn tiên đoán rằng trong tương lai gần Trung Quốc sẽ thay thế chỗ đứng cường quốc quân sự của Mỹ. Một nhận thức quá ngây thơ và viển vông! 
Hãy đặt mức độ phát triển kinh tế hàng năm của Trung Quốc - mà nhiều bài báo đã và đang ca tụng - qua một bên và không nói ra ở đây. Mặc dù tỷ lệ phát triển kinh tế Trung Quốc được tường trình là 10%/năm, trong khi tỷ lệ phát triển của Mỹ ở mức dưới 3%/năm nhưng mức tăng trưởng đó chưa chắc chắn vì sự thật ở các nước theo chủ thuyết Cộng sản thường bị bưng bít hay thổi phồng. Một sự kiện không lấy gì làm ngạc nhiên, vì hàng ngàn năm nay Trung Quốc đóng cửa và "yên giấc nghìn thu", nay mới bắt đầu mở mắt và lọt tọt theo chân những nước đã phát triển đến mức tột bực. Những con số đó, nếu có đúng, cũng không có gì lạ. Nhưng cái phải nói là phát triển về khía cạnh nào? Công nghệ nặng hay những món đồ chơi trẻ con rẻ tiền do các công ty ngoại quốc mang vào? Phát triển ở đây là những gì người ta phát minh ra, và làm chủ lấy chứ không phải kiểu đi mua hay phù phiếm mẫu mã của người khác thì sự vươn lên sẽ chết lịm khi những công ty ngoại quốc xách gói ra đi. 
Vậy thì trong kỷ nghệ tàu chiến và sức mạnh Hải Quân, Trung Quốc có gì để đối đầu với Mỹ mà dám ngạo mạn cảnh cáo Mỹ không nên “đùa với lửa”?
Cái mà Trung Quốc hãnh diện và làm cho ra vẻ đình đám là chiếc Hàng Không Mẫu Hạm Varyag mua của Ukraine từ năm 1998, với ý định ban đầu là dùng để làm sòng bạc. Lúc đó Varyag không có gì ngoài cái vỏ tàu, ngay cả máy tàu và chân vịt cũng không có nên phải được kéo đi khi tiếp thu. Varyag được lên sườn vào năm 1985 và hạ thủy năm 1988 dưới thời Liên Xô. Đến nay, tháng 7, 2011, Varyag vẫn chưa đủ khả năng để thực hiện Sea Trial (thử trên biển) đầu tiên.
Ngoài ra lực lượng tàu chiến Trung Quốc tuy có số nhiều nhưng hầu hết được trang bị với loại vũ khí công ước (conventional warfares) cũ kỹ của Nga, Pháp và một số của Do Thái. Những tàu chiến này chủ yếu để bảo vệ vùng duyên hải và nội địa Trung Quốc. 
Một lực lương Hải Quân mạnh không những phải có nhiều về số lượng mà còn phải có chất lượng, về khả năng phát hiện địch ngoài tầm radar và khả năng phối hợp điều hành chiến cuộc trên toàn thế giới với thông tin chính xác.
Ngày nay hải quân Hoa Kỳ đã lớn mạnh và có mặt mọi nơi trên thế giới. Về hỏa tiễn, Hải Quân Hoa Kỳ đã thành công sáng chế (không mua của nước khác hay ăn cấp mẫu mã, kỹ thuật...) các hỏa tiễn như Tomahawk {gồm có: TLAM (Tomahawk Land Attack Missile – Tomahawk chống mục tiêu trên đất), TASM (Tomahawk Anti-Submarine Missile – Tomahawk chống tàu ngầm)}, VLA ASROC (Vertical Launch Anti-Submarine Rocket - Hỏa tiễn chống tàu ngầm được phóng thẳng); Standard Missile; Sea Sparrow; Harpoon; và các loại hỏa tiễn tàu-đến-đất liền, tàu-đến-tàu ngầm, tàu-đến-tàu v.v… Những loại hỏa tiển này đều có thể gắn đầu đạn nguyên tử và được điều khiển bởi bộ nhớ computer để tiêu diệt mục tiêu từ “phía sau đường chân trời”, những mục tiêu ngoài tầm radar. Bên cạnh những vũ khí hiện đại Hải Quân Hoa Kỳ còn có hệ thống Cooperaive Engagement Capability (CEC – Khả Năng Phối Hợp Tác Chiến) tối tân. Hệ thống CEC được thiết kế và kết hợp bở những Digital computers dung để phối hợp thông tin tác chiến từ SPY-1 radar, các sensor dưới tàu ngầm, tàu chiến và các căn cứ trên đất liền qua mạng lưới digital network và vệ tinh khắp nơi trên quả địa cầu. Với khả năng của CEC, Hải Quân Hoa Kỳ có thể kiểm kê vũ khí bất cứ nơi nào (trên tàu, tàu ngầm, đất liền và trên không) và ra lịnh khởi động tấn công các mục tiêu địch từ những “căn cứ” thích hợp. 

Trong khi đó Hải Quân Trung Quốc chỉ mới thành hình. Vũ khí yếu ớt, tàu ngầm và tàu chiến thiếu trang bị với dàn sensors, radars phù hợp với chiến cuộc ngày nay. Trung Quốc có ba hạm đội được đóng ở vùng Đông Bắc, Đông và Đông Nam của Trung Quốc nhằm mục đích bảo vệ lãnh thổ. Bộ chỉ huy thì được tập trung ở Bắc Kinh. Khả năng tấn công các mục tiêu “phía sau đường chân trời” của tàu chiến và tàu ngầm còn nằm trong câu hỏi. 
Cho nên cần phải hỏi lại: “Ai đang đùa với lửa?” mới đúng. 
Thực ra Trung Quốc chỉ dựa vào lực lương Hải Quân đương thời để “dọa và bắt nạt” các nước nhỏ yếu hơn như Việt Nam và Philippines mà thôi. Nhưng thế giới ngày nay không còn như thời “bá quyền thuộc địa” nữa. Mọi quốc gia phải được tôn trọng. 
Riêng Biển Đông chắc chắc sẽ không bao giờ trở thành “cái ao” của Trung Quốc. Với lý do nào Trung Quốc có thể chứng minh cơ sở pháp lý của đường “lưỡi bò” cho Việt Nam, Phi Luật Tân, và thế giới? Mà ngay cả Singapore - một nước có “máu mủ với Trung Quốc” - cũng yêu cầu Trung Quốc đưa bằng chứng thêm ngoài câu nói “cái đó là của tao”. Từ xưa nay Biển Đông (mà Trung Quốc gọi là Biển Nam Trung Hoa) là đường hàng hải quốc tế trong đó có đảo Hoàng Sa và một số đảo thuộc quần đảo Trường Sa thuộc về Việt Nam với đầy đủ chứng cớ từ hàng trăm năm qua và theo ngay cả công ước LHQ vè luật biển năm 1982 mà Trung Quốc đã ký kết. Chính sách hung hãn của Trung Quốc dùng vũ lực đàn áp ngư dân Việt Nam và Phi Luật Tân để cướp giựt tài sản đã giấy lên một làn sóng chống Trung Quốc dữ dội. Cụ thể là 11 cuộc biểu tình của người dân yêu nước đã xảy ra tại Hà Nội trong mùa Hè 2011. Một hiện tượng chưa từng xảy ra dưới chính thể Cộng Sản ở Việt Nam
Tại sao Hoa Kỳ, một nước không có tranh chấp chủ quyền biển đảo ở Biên Đông lại tuyên bố có “lợi ích quốc gia” nơi đây trước mặt Trung Quốc? Đơn giản chỉ vì Biển Đông là mạch sống là đường đi của thế giới tự do, cho nên không những Hoa Kỳ mà còn Úc, Nhật Bản, Đại Hàn, Ấn Độ, Nam Dương, vân vân … các quốc gia có nhu cầu di chuyển hàng hóa trên trục lộ hàng hải bận rộn bậc nhất trên thế giới đã bày tỏ thái độ chống đối trước “yêu sách trẻ con” của Trung Quốc. “Trẻ con” ở chỗ là khi Hoa Kỳ bày tỏ “lợi ích quốc gia ở đây” và tái xác định Hoa Kỳ là đồng minh của Phi Luật Tân thì Trung Quốc lại thụt lùi, và phát ngôn rằng “chủ quyền biển đảo không dính dáng gì đến tự do hàng hải”. Phát ngôn như thế không khác gì nói rằng “Lãnh hải của Trung Quốc mọi quốc gia khác có quyền tự do ra vào.” Phải chăng Trung Quốc lại muốn tái xác minh cái “ngụy quân tử” của người Tàu!!!??? 
Rõ ràng trong những năm gần đây chính sách “bành trướng” qua cơn đói khác nhiên liệu từ châu Á đến Trung Đông đã làm thế giới, nhất là Á Châu và Phi Châu (và ngay cả Hoa Kỳ) đang giấy lên làn sóng bài Hoa.
Vậy thì chính sách hung hãn và ngạo mạn của Trung Quốc tốt nhất là nên thu hồi cái Lưỡi bò… ở Biển Đông lại. 
Đồng Sa Băng 
Tháng 9, 2011 

ĐỪNG ĐÁNH GIÁ NGƯỜI KHÁC BẰNG SUY XÉT CHỦ QUAN CỦA MÌNH



 "Năm thứ tự do" sẵn có trong con người.            
Trong tác phẩm "Khoa học về Đạo đức" của Wayland, một học giả người Mỹ, có đoạn viết về tự do thân thể, tự do tinh thần ở con người. Đại ý là "mỗi con người đều có mỗi cơ thể độc lập, riêng biệt so với người khác. Con người tự mình xử lý mọi hành vi của mình. Con người tự mình điều khiển được con tim, khối óc của mình. Con người tự biết phải làm gì và cố gắng ra sao".            
Tôi tạm tóm lượt thành năm điểm như sau.            
Thứ nhất là mỗi con người có một cơ thể. Các chức năng của thân thể là tiếp xúc, tác động vào thế giới tự nhiên xung quanh. Nhờ đó con người biết hái lượm, săn bắt, trồng trọt, thoả mãn nhu cầu của cơ thể. Như gieo hạt, trồng lúa, hái bông dệt vải.
Thứ hai là con người có trí tuệ. Vì thế, con người biết phân biệt rach ròi sự vật, biết tính toán sao cho không lầm lẫn trong phương pháp sản xuất. Trồng lúa phải bón phân ra sao, dệt vải phải công phu, thành thạo kỹ thuật máy dệt thế nào, tất cả đều do sự hoạt động của trí não mà có.            
Thứ ba là con người có ham muốn, có tham vọng. Sự ham muốn thúc đẩy cơ thể hoạt động. Và con người có cảm giác hạnh phúc khi đạt được tham vọng. Con người ai cũng muốn ăn ngon mặc đẹp. Và để ăn ngon, mặc đẹp, con người phải lao động, phải làm việc. Lòng ham muốn, sự tham vọng thúc đẩy con người hoạt động. Và chính lao động mới đem lại hạnh phúc, an nhàn cho con người.
Thứ tư là từ lúc sinh ra, con người ai cũng có thiện tâm. Thiện tâm kiềm chế tham vọng, đưa con người đi đúng hướng, quyết định mức độ ham muốn. Tham vọng giống như cái thùng không đáy. Không kìm hãm được ham muốn, tham vọng ắt sẽ chỉ vì lợi mình mà hại người. Vì thế, lý tính bắt nguồn từ thiện tâm - chính khả năng cân nhắc giữa đạo lý và tham vọng ở con người.            
Thứ năm là con người ai nấy đều có ý chí. Ý chí thúc đẩy lòng quyết tâm trong công việc. Sự nghiệp xã hội không phải ngẫu nhiên mà có. Làm điều thiện hay gây tội ác đều do ý chí của con người quyết định.

TỰ DO SINH SỐNG MIỄN LÀ KHÔNG VƯỢT QUÁ BỔN PHẬN TỰ THÂN

Năm điều trên đây là thuộc tính không thể thiếu ở con người.            
Bản thân mỗi người chỉ độc lập khi phát huy đầy đủ cả năm thuộc tính đó.
Tuy vậy, hễ cứ nói tới "độc lập cá nhân" thì y như rằng bị mọi người xung quanh coi là "kẻ khác người", bị xem như kẻ "không muốn quan hệ với ai". Thực ra, không phải như vậy. Việc giao tiếp phụ thuộc vào cả hai bên. Tôi muốn có bạn và bạn cũng muốn tìm tới tôi. Mối quan hệ đó, dựa theo luật pháp do Trời đã định, là cách sống quan trọng miễn sao không vượt quá bổn phận tự thân.
Vậy, thế nào là "Bổn phận tự thân". Đó là sự tự mình ý thức được khi mình phát huy khả năng của mình thì người ta cũng phát huy khả năng của người ta. Hai bên không gây cản trở cho nhau. Nếu sống trên đời mà giữ trọn bổn phận của mình, chắc chắn sẽ không bao giờ phạm tội lỗi, bị xã hội phê phán. Và người ta gọi đó là Quyền con người.            
Làm được điều này, con người sẽ có toàn quyền tự do hành động, miễn là đừng xâm phạm tới quyền lợi của người khác. Và một khi không có quan hệ trục lợi hay làm tổn hại đến người khác thì không có cớ để bị người khác phê phán. Con người sẽ đi tới nơi muốn đi, dừng lại chốn muốn dừng, thích làm thì làm, không thích thì chơi, muốn thì học, không muốn thì ngủ. Tất cả là quyền tự do cá nhân.

LUẬN THUYẾT VÔ LÝ: PHẬT BÀ QUAN ÂM GIẾT NGƯỜI            

Ngược hẳn với thuyết đã trình bày trên đây, người ta lại đưa ra luận thuyết thế này "con người phải tuân theo và hành động theo sự điều khiển của người trên, bất chấp đúng sai thiện ác. Không được phép đưa ra chính kiến của mình."          
Luận thuyết này có đúng hay không? Nếu là đúng thì chắc chắn nó sẽ phổ biến khắp mọi nơi trong xã hội. Vì nếu thế ở Nhật Bản, Thiên hoàng quyền cao chức trọng hơn Tướng quân Tokugawa, nên Tướng quân muốn đi thì Thiên hoàng cũng có thể bảo đứng lại. Mà đã vậy thì Tướng quân sẽ không thể làm bất cứ việc gì theo ý mình. Mọi việc từ chuyện thức ngủ, ăn uống nhất nhất phải tuân theo và hành động theo sự điều khiển của Thiên hoàng. Đến lượt mình, Tướng quân lại cai trị các Lãnh chúa các vùng theo ý mình. Rồi nông dân cũng không được trái ý Võ sĩ.            
Đừng tưởng rằng cứ theo lập luận trên thì thể chế cai trị có thể áp đặt từ trên xuống là được. Thực ra không hẳn đã vậy. Hãy suy nghĩ kỹ lập luận đó xem sao. "Đã là con người thì phải tuân theo và hành động theo sự điều khiển của người trên".            
Cứ theo đà này thì hết thảy người Nhật chúng ta mất hoàn toàn quyền tự quyết cho bản thân. Như thế cũng giống như "hồn Trương Ba, da hàng thịt". Cơ thể mình trở thành nơi trú ngụ cho phần hồn của kẻ khác. Phật Bà Quan Âm lại trơ thành nơi trú ngụ của kẻ giết người. Không thể như thế được. Cái đó có thể gọi là khai hoá văn minh được sao. Ngay như đứa trẻ lên ba cũng dễ dàng tìm ra được câu giải đáp.            
Trên đất nước ta, từ hàng nghìn năm trước, các nhà Hán học, Nhật học luôn bàn luận ồn ào về tiêu chuẩn, về việc sắp đặt thứ bậc trên dưới, đẳng cấp sang hèn. Xét cho cùng đó là thủ thuật nhằm hợp pháp hoá việc nhập hồn người ta vào thân xác mình. Được thể, kẻ mạnh ra sức chèn ép người yếu thế. Lẽ nào các bậc thánh hiền thấy thế cũng sẽ mãn nguyện?

NHỮNG LỜI DẠY KHÔNG THỂ CHẤP NHẬN TẠI TRƯỜNG "NỮ HỌC"            
Tiếp theo, tôi muốn đưa vấn đề nam nữ ra bàn ở đây.            
Loài người sống ở trên đời có nam, có nữ. Nữ cũng như nam, đều là con người. Trong xã hội phải có cả hai giới, đàn ông và đàn bà. Và giới nào có vai trò của giới đó. Ở họ có điểm khác nhau nào? Đàn ông thường mạnh mẽ, phụ nữ thì yếu đuối. Nam và nữ khác nhau là vậy.            
Trong xã hội hiện nay, kẻ nào dùng sức mạnh để cướp của cải người khác, làm tổn thương danh dự người khác, đều bị khép tội và chịu hình phạt. Vậy mà trong gia đình, người phụ nữ thường xuyên bị ức hiếp, nhưng từ xưa đến nay, hành động này chưa bao giờ bị lên án cả. Vì sao vậy?            
Trong trường "nữ học", người ta ra sức thuyết giảng về "thuyết Tam tòng" đối với phụ nữ. Còn bé theo cha, xuất giá theo chồng, chồng chết theo con. Còn bé thì ai mà chẳng phải theo cha mẹ. Khi đã lập gia đình thì phải theo chồng. Người ta dạy cách "theo chồng" ra sao? Theo như bài dạy trong trường, khi chồng có rượu chè, chơi gái, mắng vợ, chửi con, phóng đãng dâm loạn, người vợ vẫn phải nhịn nhục, phải phục tùng người chồng "đã trót hư đốn", chỉ được nhẹ nhàng tìm lời khuyên giải.            
Cứ theo như chủ ý của các bài giảng này, người chồng có là kẻ lăng nhăng, chơi bời nhưng một khi đã là vợ thì người phụ nữ chỉ còn cách nhắm mắt làm ngơ. Người vợ chỉ có quyền duy nhất dù không muốn là phải cố mà tươi cười với chồng. Còn chồng có nghe theo lời khuyên giải của vợ không là quyền của chồng. Ngoài ra, người phụ nữ cứ phải coi mọi việc xảy ra như duyên phận đã định và hãy mặc cho cuộc đời trôi đi.            
Trong kinh sách Phật giáo, nữ giới bị coi là những cám dỗ nguy hiểm. Nếu đúng như vậy thì từ khi sinh ra, người phụ nữ đã là người mắc tội tày đình rồi. Thêm nữa, trong trường "nữ học" người ta còn răn dạy "thất khứ" tức là nếu người phụ nữ phạm vào một trong bảy điều này thì người chồng ruồng bỏ cũng không được oán trách.
Chẳng phải là những điều răn dạy hoàn toàn thiên vị cho một phía hay sao? Đàn ông mạnh mẽ, đàn bà yếu đuối. Các quy định ấy là theo kiểu mạnh được, yếu thua và hoàn toàn mang tính trọng nam khinh nữ.

ĐỪNG TIN NHỮNG LỜI NÓI BẬY CỦA CHU TỬ

Chú thích: Thuyết Chu Tử: Từ năm 1790 thuyết Chu Tử, đại diện cho Nho học, được coi là triết học chính thống trong xã hội phong kiến Nhật Bản. Để duy trì hữu hiệu xã hội phong kiến về mặt luân lý, chính quyền phong kiến Mạc phủ cấm học những thuyết khác với thuyết Chu Tử.
Trên thế gian này, số lượng đàn ông và đàn bà hầu như ngang nhau. Nếu dựa trên kết quả điều tra ở châu Âu, dường như nam giới nhỉnh hơn một chút, với tỷ lệ cứ 22 đàn ông thì có 20 phụ nữ. Thế mà một người đàn ông lại có tới hai, ba vợ. Rõ ràng trái với đạo Trời. Và như thế thì con người có khác gì với muôn thú?              
Con cái sinh ra cùng bố mẹ, được gọi là anh em. Tất cả cùng chung sống dưới một mái nhà, được gọi là gia đình. Vậy mà cùng cha, khác mẹ, như thế cũng gọi là gia đình được sao. Giả sử có nhà cao cửa rộng đến mấy, tôi cũng không nhìn nhận đó là căn nhà của con người. Nó cũng chỉ như hang ổ của các loài súc vật, không hơn không kém. Chỉ vì để thoả mãn dục vọng trong chốc lát mà để lại hậu hoạ cho hậu thế, những kẻ đó là tội phạm.              
Cũng có người nói thế này: "Có vợ lẽ thì đã làm sao. Chỉ cần biết khéo léo thu xếp". Nếu thế, tôi đặt ra trường hợp ngược lại là một người phụ nữ cũng lấy vài ba ông làm "chồng lẽ". Sự thể sẽ ra sao? Nếu mọi việc đều trôi chảy tốt đẹp thì tôi sẽ ngậm miệng lại ngay.
Lại có người lý sự thế này: "Vì muốn có con đàn cháu đống nên mới có vợ lẽ. Vả lại có phải chúng tôi muốn thế đâu, chẳng qua là làm theo lời dạy của Chu Tử mà thôi". Tôi phải nói thế này, chẳng cần phải nể nang Khổng Tử hay Chu Tử gì sất. Họ đã rao giảng những lời sai trái.              
Lấy vợ lấy chồng, chỉ vì không có con mà bị gọi là "đồ bất hiếu". Thứ lý lẽ gì vậy? Chẳng qua là cách thoái thác, biện minh cho những quan điểm sai trái đáng lên án mà thôi.              
Người có tấm lòng nhân hậu sẽ không bao giờ tin vào cách ăn nói hàm hồ của Chu Tử.              
Xưa nay, chữ "bất hiếu" ám chỉ những đứa con làm khổ cha mẹ. Ông bà nội ngoại đều vui khi có cháu chắt bồng bế. Nhưng có ông bà nào lại gọi con cái mình là "lũ bất hiếu" chỉ vì con chưa sinh được cháu, được chắt không? Có người nào lại mắng con dâu, đánh đập con trai, đoạn tuyệt với con cái chỉ vì chưa có cháu đích tôn không. Không, không bao giờ có chuyện đó. Hãy tự vấn lương tâm mình thì sẽ rõ.

KHÔNG PHẢI MỌI ĐIỀU TRONG "LUẬN NGỮ" ĐỀU ĐÚNG              

Con người, ai mà chẳng có hiếu với cha mẹ. Với người già cả, dù là người dưng, ai cũng đều phải lễ phép, huống chi là đối với cha mẹ đẻ, không ai lại không có tình nghĩa. Tình cảm đó không vụ lợi, không vì danh dự. Mà nó là tình cảm rất đỗi tự nhiên, xuất phát từ quan hệ cha mẹ con cái.              
Từ xa xưa, trong dân gian đã có vô vàn truyền thuyết giảng giải về chữ Hiếu, nhất là "Truyện Nhị thập tứ hiếu". Tuy nhiên, có thể nói chín phần mười các ví dụ nhằm rao giảng "thế nào là hiếu thảo" trong đó đều kể về các hành vi hết sức phi lý, ngớ ngẩn, những việc làm vượt quá khả năng của con người.              
Nào là chỉ vì thấy mẹ muốn được ăn món cá chép, người con không quản giá buốt trong ngày đông giá rét, cởi trần nằm đợi trên lớp băng tuyết chờ cho đến khi tan băng để bắt cá. Thử hỏi loại "người trần" bình thường như chúng ta, ai có thể làm được như vậy.              
Nào là trong đêm hè oi bức, thương cha mẹ nghèo,  lúc ngủ không có lấy tấm màn giăng muỗi, người con bèn cởi bỏ quần áo, ở trần truồng rồi lấy rượu đổ khắp lên người để muỗi nghe mùi bâu tới đốt mình, tránh cho cha mẹ bị đốt. Thật vô lý, nếu có tiền để mua hàng lít rượu sao không lấy tiền đó mua mùng màn.
Chưa hết, lại còn chuyện này nữa. Nhà nọ có nhiều miệng ăn, lại phải nuôi dưỡng cha mẹ già. Không lo đủ gạo, nên người con chạy vạy khắp nơi để vay thóc, vay lúa. Không vay được, cùng đường nên người con quyết định chôn sống đứa con thơ dại để bớt đi một miệng ăn, chứ nhất quyết không để ông bà chết đói. Phải là quỷ dữ hay là rắn độc mới có thể di rao giảng chư hiếu theo kiểu như vậy. Thật trái với đạo trời, trái với tình người đến cực độ.              
Trong "Thất khứ" ở trên, họ rao giảng rằng sự bất hiếu lớn nhất là vợ chồng không có con cái (?). Thế mà ở đây họ lại thuyết giảng để có hiếu với cha mẹ, thì có phải chôn sống con mình đứt ruột đẻ ra cũng phải làm. Rặt những điều mâu thuẫn.              
Thật ra, ý tứ sâu xa của những câu chuyện như thế chỉ là nhằm áp đặt thân phận trên dưới, khuôn phép giữa các thế hệ, cố tìm mọi lý lẽ để nhấn mạnh vị thế yếu kém của thế hệ trẻ. Theo cách thuyết giáo trong "Luận ngữ" với mục đích như trên thì công ơn của cha mẹ rất sâu nặng. Kể từ khi còn trong bụng, người mẹ đã phải mang nặng, đẻ đau. Và còn phải chăm bẵm cho bú suốt 3 năm trời sau khi sinh...              
Nhưng, nào phải chỉ có loài người mới biết sinh đẻ và nuôi con. Các loài chim chóc, muông thú cũng vậy. Điểm khác biệt sơ bản với các loài vật khác là ở chỗ con người, ngoài việc lo cái ăn, cái mặc, còn biết giáo dục và dạy dỗ cho con cái biết giao tiếp, biết làm người.
Vậy mà có nhiều kẻ làm cha, làm mẹ, chỉ sòn sòn đẻ mà không biết giáo dục, dạy bảo con cái, tối ngày vùi đầu vào bài bạc, rượu chè, chơi gái... Kết cục là nợ nần chồng chất, gia đình tan nát. Cùng đường họ lại bắt con cái phải cung phụng, phải gánh chịu mọi hậu hoạ. Những loại cha mẹ ấy vô liêm sĩ làm sao, nhục nhã làm sao. Những lúc đó, người vợ vốn như con ở, chỉ cần trái ý với bố mẹ chồng thì thiên hạ lại đồn ầm lên, bảo con dâu nhà đó không hiếu thảo... Ngay cả những người con dâu đúng cũng vẫn gièm pha.              
Trước đây, đã có lần tôi nói với các bạn: mẹ chồng vốn cũng đã từng là người đi làm dâu (?). Trước khi chì chiết hay ngược đãi con dâu thì các bà mẹ chồng hãy chịu khó nhớ lại thời làm dâu của mình trước đã.              
Trên đây là các ví dụ xấu, được sinh ra trên cái nền tảng đạo đức cũ trong xã hội phong kiến. Con người bị đóng khung theo quy định về thân phận, về đẳng cấp trên dưới, sang hèn. Có rất nhiều phong tục cũ lạc hậu, nề nếp xấu xoay quanh mối quan hệ giữa vợ chồng, giữa cha mẹ và con cái. Nó ăn sâu trong xã hội dưới nhiều hình thức khác nhau.              
Về vấn đề này tôi sẽ tiếp tục đề cập đến trong các phần sau.
Tháng 4 năm Minh Trị thứ bảy (tức năm 1874)

Trích phần tám sách “Khuyến học” của Fukuzawa Yukichi, Phạm Hữu Lợi dịch, NXB Trẻ ấn hành. 

Tổng số lượt xem trang

free counters