Triết Lý, để làm gì ?

Khi ta bế tắc tư tưởng, chân thật công nhận rằng những kiến thức và phương pháp suy luận của ta không cho phép ta sống, tư duy và hành động khớp với khao khát làm người của ta, ngoài vô vàn cách ứng xử khác, ta có thể:

a) Tiếp tục sống, tư duy và hành động như cũ vì, dù sao, ta cũng sống được, không đến nỗi nào

b) Lột áo cũ, khoác áo mới, một tấm áo coi lành lặn đẹp đẽ hơn nhưng cũng hàm hồ không thua gì. Điều ấy luôn luôn khả thi bằng ngôn ngữ.

c) Đi tới cùng bế tắc của chính mình. Nếu không giải quyết được nó, ta ôm nó xuống suối vàng, để lại ở đời chỉ một câu hỏi. Câu hỏi của một con người. Đích thực. Có gì nhục đâu?

Nếu ta tưởng ta đã tìm ra một phần của giải pháp, ít nhất là cho riêng mình, thì cứ viết đi, chẳng cần trích cao nhân nào cả: họ đã là một phần của ta và ta đã phải “vượt” họ để nên mình.

Thế thôi.

(Chungta.com)

Góc nhỏ của Noby Vui Vẻ

Lục lọi, tìm tòi, đọc, cóp nhặt, chia sẻ, ... OK hay không tùy bạn ! ! !

“Nước độc lập mà dân chưa tự do thì độc lập cũng không có ý nghĩa”- Hồ Chí Minh.

16 thg 3, 2011

Đổi mới mô hình tăng trưởng của Việt Nam: Vẫn mơ hồ?




Tại một hội thảo về kinh tế Việt Nam mới đây, Viện trưởng Viện Kinh tế Trần Đình Thiên đã kể lại hai mẩu chuyện nhỏ
Tại một hội thảo về kinh tế Việt Nam mới đây, Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam Trần Đình Thiên đã kể lại hai mẩu chuyện nhỏ.

Chuyện thứ nhất. Trong một cuộc gặp với một vị lãnh đạo cấp cao, một chuyên gia kinh tế đã phát biểu gay gắt rằng những đánh giá về thành tích kiểu như nền kinh tế cơ bản là ổn định, tăng trưởng cơ bản là bền vững… sẽ gây ra ảo tưởng rằng các chính sách mà chúng ta đang làm là rất tốt. Ý của chuyên gia đó là những nhận định kiểu như thế cần điều chỉnh lại tại các văn kiện chính thức, ông Thiên nói.

Câu chuyện thứ hai liên quan đến cuộc tranh luận của hai nhóm tại một trung tâm chiến lược về thay đổi mô hình tăng trưởng. Một nhóm cho là tái cơ cấu kinh tế phải đặt lên đầu, nhóm khác cho rằng đổi mới mô hình tăng trưởng phải là vấn đề bao trùm.

“Hôm sau tôi nói riêng với từng ông một, là các anh cãi nhau thế thì được cái gì. Đổi mới mô hình tăng trưởng là định hướng để làm, còn tái cấu trúc là thực hiện cái đổi mới mô hình đó”, vị viện trưởng này kể lại.

Không trực tiếp bình luận, nhưng trong suốt một ngày rưỡi diễn ra hội thảo "Kinh tế Việt Nam: Những vấn đề đặt ra trong trung và dài hạn" do Ủy ban Kinh tế và Viện Khoa học xã hội Việt Nam phối hợp tổ chức cuối tuần qua tại Cần Thơ, hàm ý của hai câu chuyện nói trên cũng là nội dung được tranh luận sôi nổi.

Bởi như yêu cầu được Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế Hà Văn Hiền nhấn mạnh: vấn đề cấp thiết đặt ra hiện nay là phải đánh giá đúng và nhận diện được đầy đủ những vấn đề cốt lõi mà nền kinh tế đang phải đối mặt. Từ đó đưa ra được giải pháp đồng bộ, hiệu quả và khả thi để ổn định kinh tế vĩ mô và tăng trưởng bền vững trong trung và dài hạn.

Có 50 m2 nhà là thành… triệu phú USD

Mất cân đối vĩ mô đã và đang làm suy giảm lòng tin của cả nhà đầu tư và người tiêu dùng, đang gây ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động sản xuất, kinh doanh và ổn định xã hội, là nhận định của Phó chủ tịch Viện Khoa học xã hội Việt Nam Nguyễn Xuân Thắng.

Từ các góc nhìn cụ thể hơn, nhiều chuyên gia cũng đã đưa ra những phát hiện riêng đi kèm với sự quan ngại sâu sắc.

Theo TS. Trần Du Lịch, Ủy viên Ủy ban Kinh tế của Quốc hội, bong bóng của thị trường chứng khoán và thị trường bất động sản từ cuối năm 2006 đến cuối năm 2007 đã tạo đột biến thị trường tín dụng và hình thành lượng tài sản ảo so với nền kinh tế thực, mà lạm phát trong hai năm 2007-2008 đã san bằng khoảng chênh lệch đó bằng một mặt bằng giá mới.

Theo ông Lịch, không có nơi nào như Việt Nam, GDP bình quân đầu người chỉ khoảng 1.000 USD, nhưng chỉ trong vòng mấy năm thôi, nếu ai ở Hà Nội và Tp.HCM có căn nhà 50 m2 mặt tiền hay 100 m2 trong hẻm đều trở thành triệu phú USD hết.

Đề nghị Viện Khoa học xã hội tổ chức nghiên cứu vấn đề này và cho rằng kết quả nghiên cứu sẽ khiến mọi người "giật mình”, ông Lịch phân tích, tài sản ảo này được cân đối bằng khối lượng tiền tệ khủng khiếp và bất cứ lúc nào nó cũng luân chuyển. "Cơn lũ này nó chuyển qua chuyển lại làm xáo động tất cả, không ngăn chặn cái này thì không thể ổn định được".

Trong một phân tích khác, Viện trưởng Trần Đình Thiên thẳng thắn: trong năm 2010, thông điệp được Chính phủ phát đi từ đầu năm là quyết tâm ổn định vĩ mô, kiềm chế lạm phát. Thứ hai là tái cấu trúc nền kinh tế và mục tiêu thứ ba mới là tăng trưởng.

"Cuối năm, hai mục tiêu ưu tiên hàng đầu chưa đạt được, trong khi tái cơ cấu hầu như vẫn chưa có động tĩnh gì”, ông Thiên nói.

Bắt buộc phải tái cấu trúc

Khẳng định thêm sự cần thiết phải đổi mới mô hình tăng trưởng, tái cấu trúc nền kinh tế đã được nhiều ý kiến thống nhất,  TS. Nguyễn Đức Kiên, Ủy viên Ủy ban Kinh tế của Quốc hội đưa thêm luận cứ.

Từ 2006 - 2010, vốn FDI giải ngân 45 tỷ USD, ODA là 13,8 tỷ USD. Như vậy, gần 60 tỷ USD giải ngân không từ nguồn vốn ngân sách (ODA còn có thể gọi là từ nguồn vốn ngân sách nhưng chủ yếu vào hạ tầng giáo dục - ông Kiên giải thích rõ hơn), chưa kể khoản đầu tư từ ngân sách, chỉ làm tăng được 0,1% tỷ trọng công nghiệp trong GDP.

Nhìn từ cơ cấu đầu tư và cơ cấu của nền kinh tế, ông Kiên cho rằng đã đến lúc bắt buộc phải tái cấu trúc.

Cho rằng không cần bàn cãi về sự cần thiết, thậm chí là cấp thiết phải đổi mới mô hình tăng trưởng, song Viện trưởng Thiên tỏ ra hết sức sốt ruột khi dự thảo kế hoạch phát triển kinh tế, xã hội 2011 - 2015 "chưa có câu chuyện đổi mới mô hình tăng trưởng”.

Sau tiếng nhắc nho nhỏ rằng "có đề cập" của chủ tọa, ông Thiên phản biện ngay: tinh thần xuyên suốt của những cân đối vĩ mô cho việc này là không có, dù anh viết 100 từ đổi mới nhưng cách làm, các cân đối như vậy thì vẫn không phải là đổi mới.

"Mô hình tăng trưởng tại dự thảo kế hoạch 5 năm tới vẫn kiểu cũ, dựa vào khai thác tài nguyên là chủ yếu, trong khi chỉ 2-3 năm nữa là hết mỏ. Ý kiến chủ quan của tôi là chưa thấy nhiệm vụ tái cấu trúc ở đây", ông Thiên quả quyết.

Bên cạnh ý kiến khá quyết liệt của Viện trưởng Thiên, nhiều ý kiến khác đều gặp nhau ở nhận định cần phải đổi mới mô hình tăng trưởng và tái cấu trúc nền kinh tế để chuẩn bị cho Việt Nam bước vào một giai đoạn mới, giai đoạn phát triển nhanh, bền vững và tham gia có hiệu quả vào mạng sản xuất khu vực và chuỗi gía trị toàn cầu

Tuy nhiên, chuyên gia kinh tế Đặng Văn Thanh lại băn khoăn, nói nhiều về mô hình tăng trưởng thì không biết đã chuẩn chưa? Cái quan tâm là phải tính tới mô hình phát triển của Việt Nam, bởi có rất nhiều cái tăng trưởng nhưng không phát triển, vì, "tăng trưởng do vốn và lao động thì phát triển gì đâu".

"Quả bóng" về chân Quốc hội

Cũng theo ông Thanh, chủ trương tái cơ cấu nền kinh tế đã thấy rồi, nhưng cái khó nhất là giải pháp cụ thể.

"Quả bóng" này sẽ phải quay về chân Quốc hội, vì suy cho cùng tái cơ cấu là chọn lựa cho được một cơ cấu kinh tế Việt Nam hợp lý, nhưng để đạt được cơ cấu đó phải do phân bổ nguồn lực, và đây thuộc thẩm quyền quyết định của Quốc hội.

"Nếu cứ phân bổ vốn như hiện nay thì không thể hiệu quả, không thể tái cơ cấu được, Quốc hội phải mạnh mẽ hơn trong phân bổ nguồn lực cho ngành lĩnh vực, vùng miền cần được ưu tiên phát triển", ông Thanh nêu ý kiến.

Còn theo ông Thiên thì một việc mà Quốc hội nên làm, rất đáng làm, là cần làm rõ những tổn thất do chống lạm phát và chi phí cho điều hành là bao nhiêu, vì những cái này rất tốn kém.

Gọi những giải pháp trung, dài hạn là nước cờ thứ hai sau những giải pháp ổn định kinh tế vĩ mô mà Chính phủ đang triển khai thực hiện, TS. Trần Du Lịch cho rằng cần bắt đầu từ việc thay đổi tư duy. Bởi tư duy nặng nề nhất trong quản lý kinh tế, theo ông, là việc "dạy người ta nên sản xuất cái này, cái kia, trồng con này, nuôi con kia".

"Anh phải quên chuyện đó đi, nhà nước muốn gì thì dùng hệ thống chính sách tác động vào thị trường, thị trường sẽ hướng dẫn doanh nghiệp, làm cái gì lợi nhuận cao thì người ta làm, chứ không làm theo nhà nước”, ông Lịch phát biểu.

Cũng theo ông Lịch, trong kinh tế thị trường, mọi nhà nước đều có bốn nhóm công cụ về chính sách: chính sách tiền tệ, chính sách tài khóa, chính sách chi tiêu và chính sách kinh tế đối ngoại. Nhưng chính sách muốn đi vào cuộc sống phải được thể hiện bằng luật.

Ví dụ được "ông nghị” này nêu ra là để khắc phục hậu quả khủng hoảng của Hàn Quốc năm 1997 -1998, chỉ trong một năm, vị tổng thống nước này đã trình Quốc hội sửa 1.000 đạo luật (dĩ nhiên mỗi luật chỉ sửa 1-2 điều), và đã cứu được toàn bộ nền kinh tế.

Vậy Quốc hội Việt Nam phải sửa bao nhiêu luật? Đặt câu hỏi này, ông Lịch đề nghị Ủy ban Kinh tế qua tập hợp ý kiến của các chuyên gia kinh tế sẽ tính toán cụ thể, qua đó chủ động kiến nghị Quốc hội khóa 13 có sự ưu tiên để tạo hệ thống chính sách đồng bộ. Nếu không đổi mới mô hình tăng trưởng và tái cơ cấu cứ "nói mà không làm được".

Tư tưởng chuyển đổi mô hình tăng trưởng và tái cơ cấu nền kinh tế phải được triển khai ngay từ năm đầu tiên của kế hoạch 5 năm, chứ không thể chờ thêm nữa, TS. Lịch đồng quan điểm với nhiều chuyên gia tại hội thảo.


15 nước sản xuất dầu lửa lớn nhất thế giới




AN HUY 

Khủng hoảng ở Libya khiến thị trường dầu lửa hoảng loạn, nhưng nước này không nằm trong top 15 nước sản xuất nhiều dầu nhất thế giới
Thời gian gần đây, cuộc khủng hoảng chính trị tại khu vực Trung Đông và Bắc Phi đã đẩy giá dầu thô thế giới vượt qua ngưỡng 100 USD/thùng, cao nhất trong hai năm rưỡi. Đặc biệt, các cuộc giao tranh ở Libya đã khiến thị trường dầu lửa quốc tế nhiều phen rơi vào trạng thái hoảng loạn.

Dẫn số liệu mới nhất từ Bộ Năng lượng Mỹ, hãng tin CNBC đã liệt kê 15 quốc gia sản xuất nhiều dầu lửa nhất thế giới hiện nay. Đáng chú ý, theo Bộ Năng lượng Mỹ, Libya chỉ là nước sản xuất dầu lửa thứ 17 trên thế giới. Trong tháng 12/2010, Libya chỉ xuất 32.000 thùng dầu thô sang Mỹ mỗi ngày, chiếm khoảng 0,37% lượng nhập khẩu dầu mỗi ngày của Mỹ trong tháng đó.

15. Nauy
Sản lượng dầu thô: 2,14 triệu thùng/ngày
Tỷ trọng trong sản lượng dầu thô toàn thế giới: 2,45%
Lượng dầu thô xuất khẩu sang Mỹ mỗi ngày: 35.000 thùng/ngày
Trữ lượng dầu lửa đã được phát hiện: 6,7 tỷ thùng

14. Algeria
Sản lượng dầu thô: 2,16 triệu thùng/ngày
Tỷ trọng trong sản lượng dầu thô toàn thế giới: 2,47%
Lượng dầu thô xuất khẩu sang Mỹ mỗi ngày: 262.000 thùng
Trữ lượng dầu lửa đã được phát hiện: 12,2 tỷ thùng

13. Venezuela
Sản lượng dầu thô: 2,35 triệu thùng/ngày
Tỷ trọng trong sản lượng dầu thô toàn thế giới: 2,8%
Lượng dầu thô xuất khẩu sang Mỹ mỗi ngày: 825.000 thùng
Trữ lượng dầu lửa đã được phát hiện: 99,4 tỷ thùng

12. Iraq

Sản lượng dầu thô: 2,39 triệu thùng/ngày
Tỷ trọng trong sản lượng dầu thô toàn thế giới: 2,81%
Lượng dầu thô xuất khẩu sang Mỹ mỗi ngày: 336.000 thùng
Trữ lượng dầu lửa đã được phát hiện: 115 tỷ thùng

11. Kuwait

Sản lượng dầu thô: 2,5 triệu thùng/ngày
Tỷ trọng trong sản lượng dầu thô toàn thế giới: 2,93%
Lượng dầu thô xuất khẩu sang Mỹ mỗi ngày: 125.000 thùng
Trữ lượng dầu lửa đã được phát hiện: 101,5 tỷ thùng

10. Nigeria
Sản lượng dầu thô: 2,51 triệu thùng/ngày
Tỷ trọng trong sản lượng dầu thô toàn thế giới: 2,95%
Lượng dầu thô xuất khẩu sang Mỹ mỗi ngày: 1,02 triệu thùng
Trữ lượng dầu lửa đã được phát hiện: 37,2 tỷ thùng

9. Brazil

Sản lượng dầu thô: 2,75 triệu thùng/ngày
Tỷ trọng trong sản lượng dầu thô toàn thế giới: 3,2%
Lượng dầu thô xuất khẩu sang Mỹ mỗi ngày: 271.000 thùng
Trữ lượng dầu lửa đã được phát hiện: 12,8 tỷ thùng

8. Các Tiểu vương quốc Arab thống nhất (UAE)

Sản lượng dầu thô: 2,81 triệu thùng/ngày
Tỷ trọng trong sản lượng dầu thô toàn thế giới: 3,3%
Lượng dầu thô xuất khẩu sang Mỹ mỗi ngày: 10.000 thùng
Trữ lượng dầu lửa đã được phát hiện: 97,8 tỷ thùng

7. Mexico
Sản lượng dầu thô: 2,88 triệu thùng/ngày
Tỷ trọng trong sản lượng dầu thô toàn thế giới: 3,39%
Lượng dầu thô xuất khẩu sang Mỹ mỗi ngày: 1,22 triệu thùng
Trữ lượng dầu lửa đã được phát hiện: 10,4 tỷ thùng

6. Canada
Sản lượng dầu thô: 3,7 triệu thùng/ngày
Tỷ trọng trong sản lượng dầu thô toàn thế giới: 4,3%
Lượng dầu thô xuất khẩu sang Mỹ mỗi ngày: 2,06 triệu thùng
Trữ lượng dầu lửa đã được phát hiện: 175,2 tỷ thùng

5. Iran

Sản lượng dầu thô: 4,2 triệu thùng/ngày
Tỷ trọng trong sản lượng dầu thô toàn thế giới: 4,9%
Lượng dầu thô xuất khẩu sang Mỹ mỗi ngày: 0
Trữ lượng dầu lửa đã được phát hiện: 137,6 tỷ thùng

4. Trung Quốc

Sản lượng dầu thô: 4,26 triệu thùng/ngày
Tỷ trọng trong sản lượng dầu thô toàn thế giới: 5,0%
Lượng dầu thô xuất khẩu sang Mỹ mỗi ngày: 8.000 thùng
Trữ lượng dầu lửa đã được phát hiện: 20,4 tỷ thùng

3. Mỹ
Sản lượng dầu thô: 8,85 triệu thùng/ngày
Tỷ trọng trong sản lượng dầu thô toàn thế giới: 10,4%
Tổng lượng dầu thô nhập khẩu: 8,63 triệu thùng/ngày
Trữ lượng dầu lửa đã được phát hiện: 19,2 tỷ thùng

2. Nga

Sản lượng dầu thô: 9,91 triệu thùng/ngày
Tỷ trọng trong sản lượng dầu thô toàn thế giới: 11,6%
Lượng dầu thô xuất khẩu sang Mỹ mỗi ngày: 158.000 thùng
Trữ lượng dầu lửa đã được phát hiện: 60 tỷ thùng

1. Saudi Arabia
Sản lượng dầu thô: 10,3 triệu thùng/ngày
Tỷ trọng trong sản lượng dầu thô toàn thế giới: 12,1%
Lượng dầu thô xuất khẩu sang Mỹ mỗi ngày: 1,08 triệu thùng
Trữ lượng dầu lửa đã được phát hiện: 259,9 tỷ thùng

Cảnh báo nợ của doanh nghiệp nhà nước

Vũ Thành Tự Anh (*)
(TBKTSG) - Theo báo cáo của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, tính đến 31-12-2008, tổng dư nợ nội địa của các tập đoàn, tổng công ty nhà nước là 287.000 tỉ đồng. Nếu tính cả nợ nước ngoài thì đến cuối 2008, tổng nợ của khu vực doanh nghiệp nhà nước (DNNN) xấp xỉ 23,9% GDP.
Trong năm 2009, theo báo cáo của Chính phủ gửi Quốc hội ngày 1-11-2010 thì nợ của 81/91 tập đoàn, tổng công ty nhà nước (chưa tính Vinashin) là 813.435 tỉ đồng, tương đương với 49% GDP. Nếu tính cả nợ của Vinashin, theo báo cáo của Bộ Tài chính là 86.000 tỉ, thì nợ của khu vực DNNN đến cuối năm 2009 (không kể chín tập đoàn, tổng công ty chưa có số liệu) đã lên tới 54,2% GDP năm 2009.
Rõ ràng là nợ của cả DNNN và Chính phủ đều tăng rất nhanh trong một thời gian rất ngắn, trong đó mức tăng nợ của khu vực DNNN thật sự đáng lo ngại.
Nếu nhìn vào con số tuyệt đối, sau khi trừ đi các khoản nợ nước ngoài và với những tính toán thận trọng nhất thì trong năm 2009, khu vực DNNN chiếm không dưới 60% trong tổng tín dụng nợ nội địa tăng thêm của toàn nền kinh tế. Đây là bằng chứng cho thấy các DNNN là đối tượng được hưởng lợi nhiều nhất từ chương trình hỗ trợ lãi suất và kích cầu của Chính phủ năm 2009.




Việc nợ của DNNN và nợ của Chính phủ đang ở mức khá cao, đồng thời tăng rất nhanh đòi hỏi phải sớm có những biện pháp quản lý nợ công hiệu quả.
Nội dung quan trọng nhất trong quản lý nợ công là quản lý rủi ro. Đầu tiên là rủi ro thị trường - chủ yếu liên quan đến sự thăng giáng thất thường của thị trường. Với viễn cảnh phục hồi đầy bất trắc, cộng thêm sự lan tỏa khủng hoảng nợ trên thế giới, thị trường có thể không mặn mà với trái phiếu chính phủ, đặc biệt là đối với những quốc gia có mức tín nhiệm tín dụng thấp và triển vọng tiêu cực. Phương pháp chủ yếu để hạn chế rủi ro thị trường là đảm bảo sự linh hoạt về thời điểm, cấu trúc, và các điều khoản của việc phát hành nợ.
Thứ hai là rủi ro lãi suất. Rủi ro này chủ yếu xảy ra đối với các khoản nợ có lãi suất thả nổi hoặc không được phòng vệ. Vì tỷ lệ nợ chính phủ với lãi suất thả nổi của Việt Nam còn thấp nên rủi ro lãi suất không phải là điều lo ngại trước mắt. Tuy nhiên, vì Việt Nam đã trở thành một nước thu nhập trung bình nên tỷ trọng các khoản vay thương mại sẽ tăng. Vì lãi suất thương mại thường cao và biến động mạnh hơn lãi suất ưu đãi nên trước khi phát hành nợ, Chính phủ và các doanh nghiệp sẽ ngày càng phải cân nhắc nhiều hơn tới rủi ro lãi suất.
Thứ ba là rủi ro về dòng tiền. Cho đến nay, nợ ngắn hạn chiếm chưa tới 15% trong tổng nợ chính phủ của Việt Nam. Tuy nhiên, việc tỷ lệ nợ ngắn hạn trên dự trữ ngoại tệ đang tăng lên sẽ đòi hỏi Bộ Tài chính phải hết sức thận trọng trong hoạt động quản lý nợ của mình.
Thứ tư là rủi ro về tỷ giá. Hiện nay khoảng một phần ba nợ chính phủ của Việt Nam là bằng đồng yen, vì vậy nếu đồng yen vẫn tiếp tục xu thế lên giá như hiện nay thì gánh nặng nợ nần cũng gia tăng theo. Tương tự như vậy, với sức ép của Mỹ và EU, xu thế đồng nhân dân tệ tăng giá là khó tránh khỏi. Trong khi đó, tín dụng thương mại bằng nhân dân tệ, đặc biệt là trong các dự án cơ sở hạ tầng và công nghiệp nặng ở Việt Nam đang tăng lên một cách nhanh chóng. Chính phủ cũng như doanh nghiệp vì vậy cần rất thận trọng khi đi vay bằng nhân dân tệ.
Cuối cùng, rủi ro lớn nhất có lẽ nằm ở hoạt động... quản lý rủi ro nợ công! Cho đến nay, từ Bộ Tài chính cho đến các DNNN đều chưa coi trọng đúng mức việc phân tích, đánh giá, và có biện pháp hiệu quả nhằm hạn chế rủi ro khi phát hành nợ.
Cần lưu ý rằng vì nợ của DNNN và nợ của Chính phủ có tính chất và cấu trúc khác nhau nên cần có những biện pháp quản lý rủi ro thích hợp. Tuy nhiên, dù nợ ở cấp độ nào thì cũng phải tuân thủ một số nguyên lý cơ bản: không nên chấp nhận rủi ro khi không có biện pháp hữu hiệu để thấu hiểu và quản lý nó; không nên chấp nhận một mức độ rủi ro vượt quá một ngưỡng an toàn; và không nên chấp nhận rủi ro nếu không có một sự đền bù thỏa đáng.
Khi bỏ qua những nguyên lý hết sức giản dị nhưng cơ bản này, một doanh nghiệp có thể rơi vào tình trạng khó khăn, thậm chí mất khả năng trả nợ, từ đó ảnh hưởng tiêu cực đến các doanh nghiệp khác cũng như toàn bộ nền kinh tế. Trường hợp Vinashin mới đây là một ví dụ điển hình. Tương tự như vậy, một nền kinh tế cần có chiến lược quản lý rủi ro nợ tốt để tránh đưa đất nước rơi vào gánh nặng nợ nần.
___________________________________
(*) Chương trình Giảng dạy kinh tế Fulbright

Chính phủ Việt Nam có nguy cơ bị phá sản (*)




David Koh
Vừa mới đây trên trang mạng Businessinsider, tác giả Gregory White có liệt kê một danh sách 18 nước trên thế giới có nguy cơ vỡ nợ, trong đó Việt Nam được xếp hàng thứ 9 với một dòng bình luận ngắn là gần đây chính phủ Việt Nam buộc phải phá giá đồng tiền để đương đầu với tình trạng nợ nần. Trên tờ Kinh tế Sài gòn số ra 16/03/2011 có bài phân tích của chuyên gia Kinh tế Vũ Thành Tự Anh nói rõ hơn tình trạng nợ nần của các doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam hiện nay. Bài dưới đây của David Koh, Chuyên viên cao cấp của Viện Nghiên cứu Đông Nam Á mổ xẻ thêm vấn đề về nguy cơ vỡ nợ của chính phủ Việt Nam. Hơn thế nữa, ông còn có đưa ra một số giải pháp tổng quát để giúp vực dậy tình trạng khủng hoảng tài chính đã và đang diễn ra ở Việt Nam, đáng để suy nghĩ. Mời bạn đọc theo dõi.
Bauxite Việt Nam
Số liệu trong bài dựa trên giá trị đồng đô la Mỹ, tổng hợp từ BBC. Nợ nước ngoài của chính phủ Việt Nam ở thời điểm đầu 03/ 2011 là 29 tỉ, tức là hơn 42% so với tổng sản phẩm quốc nội (GDP) hàng năm. Quốc gia này đang rơi vào tình trạng thâm thủng kép cả về thương mại và ngân sách chính phủ. Tuy nhiên, còn có dấu hiệu cho thấy chính phủ Việt Nam có thể đi tới tình trạng vỡ nợ, nếu diễn dịch theo các số liệu dưới đây.
Dự trữ của chính phủ, tức khoản tiết kiệm, hiện có không tới 50% so với công nợ. Nếu phải trả nợ 29 tỉ đô la ngay vào ngày mai, chính phủ Việt Nam sẽ không thể có đủ tiền để trả một lần. Nếu có chuyện các chủ nợ kêu đòi ngay một lúc thì nguồn tài chính của chính phủ sẽ không đủ để thanh khoản. Điều này có thể không xảy ra nhưng vẫn tiềm ẩn khả năng đó, nói tỉ như nếu có một sự cố khủng hoảng chính trị kiểu Ai Cập 2011 hay một thảm họa thiên nhiên nghiêm trọng như trận động đất trong tháng này ở Nhật, hay xuất hiện một mối hoang mang bất thần trong số các nhà đầu tư và các chủ nợ nước ngoài.
Tình hình này có vẻ không khả quan hơn trong thời gian ngắn. Tình trạng thâm hụt ngân sách vẫn tiếp diễn và chính phủ cũng dự tính 5% thâm hụt nữa cho năm tài khóa này. Thâm hụt mậu dịch cũng cho thấy không có dấu hiệu cải thiện nhanh, trong tháng Hai là gần 1 tỉ. Chính phủ lập kê hoạch hạn chế tình trạng thâm hụt mậu dịch của năm 2011 là khoảng chừng 18% kim ngạch xuất khẩu, tức khoảng 14,2 tỉ. Nhưng số này vẫn là tăng nhẹ so với năm 2010.
Do vậy, trong tình thế thâm hụt kép vẫn tiếp diễn, thì việc tiếp tục vay nợ là điều cần thiết, sau khi đã cân đối với nguồn thu từ đầu tư trực tiếp ngoại tệ và kiều hối của người Việt hải ngoại. Tuy nhiên, nguồn kiều hối này sẽ đi thẳng vào túi người dân hơn là vào hầu bao của chính phủ. Người dân Việt Nam có khoảng vài tỉ đô la giữ làm tài sản bằng các hình thức tiết kiệm khác nhau, chủ yếu là đô la Mỹ và vàng. Lý do chính là do họ thiếu tin tưởng vào giá trị của đồng tiền Việt Nam, và vào khả năng chống lạm phát của chính phủ.
Năm 2011, chính phủ cần 4 tỉ để trả lãi suất cho phần nợ nước ngoài. Khoản này chiếm chừng 12% ngân sách của chính phủ. Càng ngày càng có nhiều chủ nợ của chính phủ Việt Nam sẽ phải xem chuyện gom nợ dài hạn và khả năng thu thuế của chính phủ là yếu tố quan trọng để cân nhắc chuyện cho vay trong tương lai. Trong bối cảnh đó thì các con nợ đặc quyền [nhà nước] có xu hướng có lợi thế hơn các bộ phận vay mượn phi chính phủ, và như thế điều phân vân là liệu xảy ra nguy cơ tráo trở (moral hazard) trong hệ thống tài chính quốc tế hay không?
Nếu dự trữ ngoại tệ của chính phủ Việt Nam rớt xuống dưới mức 4 tỉ, là số tiền cần phải trả lãi suất hàng năm, thì điều gì sẽ xảy ra? Nguồn dự trữ ngoại tệ của chính phủ đã và đang có xu hướng đi xuống từ cuộc khủng hoảng tài chính bắt đầu ở Việt Nam vào năm 2008, xảy ra trước cả khủng hoảng kinh tế toàn cầu.
Phản ứng của khu vực sẽ như thế nào nếu Việt Nam trở thành một Iceland hoặc một Hy Lạp của Đông Nam Á?
Hiện đang có một động lực để giảm thiếu hụt ngân sách bằng cách cắt giảm chi tiêu. Việc cắt giảm đã được lên kế hoạch nhưng chỉ giảm chừng được 0,5% so với năm 2010. Còn nhiều việc khác nữa cần phải làm và chính phủ và các nhà lãnh đạo đảng cần phải tự làm gương cũng như các lãnh đạo các cơ quan của họ phải đi đầu trong việc này. Vài năm trước, người dân Việt Nam rất lấy làm ấn tượng, khi có một nhà lãnh đạo chính phủ ngoại quốc rời khỏi Hà Nội bằng một hãng hàng không giá rẻ. Ngược lại, trong các chuyến thăm cấp quốc gia, các nhà lãnh đạo Việt Nam lại đem theo cả tùy tùng của mình trên một chuyên cơ đặc biệt của hãng hàng không quốc gia. Đi lại theo kiểu ít phô trương có lẽ là hữu ích hơn. Các thí dụ khác về tình trạng lãng phí thì đầy rẫy.
Điều mà chính phủ cần là kiện toàn các phương thức kiểm soát vĩ mô và ngăn ngừa việc chi tiêu quá mức. Tựu trung là, cần phải ấn định một giới hạn mức độ thâm hụt mà không một chính phủ nào có quyền thay đổi hoặc chi tiêu nếu không được 80% đại biểu Quốc hội đồng ý, và Chủ tịch nước cũng phải được cho phép rà soát ngân sách của chính phủ một cách kỹ càng hơn và được quyền yêu cầu chính phủ phải có những điều chỉnh bắt buộc theo đúng luật. Chủ tịch nước cũng cần phải được quyền phủ quyết tình trạng thiếu hụt ngân sách ngay cả khi 80% đại biếu Quốc hội đồng ý – nếu không đem lại lợi ích gì cho quốc gia. Tiết kiệm có tính bắt buộc ngân sách hàng năm của chính phủ cần phải trở thành một việc làm thường quy.
Có lẽ cũng nên thể chế hóa việc kiểm soát các bộ phận có tính cụ thể. Chẳng hạn như, trong khi các đơn vị như quốc phòng, chăm sóc sức khỏe và giáo dục không phải là đối tượng để siết chặt, thì ngân sách cho các bộ ngành khác và các doanh nghiệp nhà nước cần phải được giám sát chặt chẽ và cần phải đặt trong lộ trình giảm dần ngân sách chi trong vòng 5 năm tới, cho tới khi tình hình tài chính được cải thiện rõ rệt. Nếu là các doanh nghiệp do nhà nước làm chủ, trừ khi có tầm quan trọng chiến lược đối với an ninh quốc gia, thì có lẽ không nên để sống bằng tiền nhà nước bơm vào, mà cần phải giải thể.
Một điều nghịch lý, lúc này cũng chính là thời điểm cho các quốc gia tài trợ cần phải cân nhắc việc cắt giảm viện trợ, dù là dần dần, để gây áp lực buộc chính phủ này phải đương đầu với những lựa chọn quyết liệt trong vấn đề dự chi ngân sách để đảm bảo cho Việt Nam sống một cách tự lực. Với tình trạng tài chính hiện nay, thì câu chuyện phát triển của Việt Nam là không bền vững và có thể bị sụp đổ.
(*) Tựa đề do người dịch đặt lại. Nguyên văn: Vietnam’s poor government
Tác giả David Koh là Chuyên viên cao cấp của Viện nghiên cứu Đông nam Á
Người dịch gửi trực tiếp cho BVN.

Hãy để lương tâm của bạn lên tiếng




Mẹ Nấm


Tôi vừa có cuộc trao đổi với bạn Trịnh Kim Tiến, con gái của nạn nhân Trịnh Xuân Tùng – nạn nhân của cựu Trung tá Nguyễn Văn Ninh Công an phường Thịnh Liệt - Hà Nội.
Ông Tùng bị đánh gãy cổ, dẫn đến thiệt mạng sau khi tranh cãi với công an về việc xử phạt lỗi không đội mũ bảo hiểm khi tham gia giao thông ngày 03 tháng 03 năm 2011 tại Hà Nội vừa qua.
Bạn Kim Tiến cho biết 8 ngày sau cái chết của bố mình thì gia đình bạn vẫn chưa nhận kết quả khám nghiệm tử thi từ phía cơ quan điều tra. Vì sự ra đi oan nghiệt này, hôm nay ngày 15/03/2011, gia đình bạn ấy đã mang bàn thờ ông Tùng ra trước cửa nhà và Kim Tiến – cô con gái lớn của ông Tùng – đã quỳ trước bàn thờ bố mình, trước sự chứng kiến của nhiều người, để đòi công bằng.
Tiến nói với tôi: "Công an có thể đánh chết người trong vòng vài tiếng, nhưng gia đình em đã mất 8 ngày để đợi kết quả khám nghiệm cái chết của bố mình. Có bất công không hả chị? Gia đình em có đề nghị bác sĩ khám nghiệm từ phía quân đội cho khách quan, nhưng bên phía công an lại chỉ định bác sĩ quân đội khám nghiệm. Điều gia đình em cần bây giờ là sự công bằng của pháp luật để bố em được ra đi thanh thản".
Tôi nghẹn lời, không biết nói gì.
Khi tôi hỏi về Pages "Xin hãy lên tiếng đòi công lý cho bố cháu Ô. Trịnh Xuân Tùng" (*) trên Facebook được lập ra sáng nay để đòi công bằng cho gia đình chị, Kim Tiến cho biết: "Page này có thể do những bạn học sinh đồng cảm với gia đình em lập ra chị ạ".
Và trong phần Info của Page này cũng có chi tiết này:
Founded: Nhóm bạn ủng hộ chị Trịnh Kim Tiến đòi lại công lý cho bố mình
Kim Tiến cho tôi biết: "Những ngày này em không thể khóc, vì trên em còn bà 90 tuổi và mẹ, dưới lại là em nhỏ, nếu em gục ngã lúc này thì ai sẽ là trụ cột trong gia đình em. Em mong mọi người hãy lên tiếng trước sự im lặng trong cái chết oan khuất của bố em. Gia đình em mong mọi việc nhanh chóng có kết quả để bố em khỏi phải lạnh lẽo chị ơi!".
Tôi không biết làm gì hơn ngoài việc chia buồn và động viên em bình tĩnh, cố gắng vượt qua sự mất mát lớn lao này và đợi sự phán xét công minh của pháp luật.
Có nhiều người cho rằng, việc Kim Tiến trả lời đài Á Châu Tự Do, và xuất hiện trong một đoan clip trên Youtube để nói về sự ra đi đầy oan khuất của bố mình là nguyên nhân để các thế lực thù địch lợi dụng để chống phá.
Chống phá ai, chống phá cái gì khi tính nghiêm minh của pháp luật còn là một dấu lặng?
Hãy phán xét sự việc bằng một cái đầu tỉnh táo và để lương tâm của mình lên tiếng. Còn cảm nhận được nỗi đau, sự mất mát của người xung quanh mình là bằng chứng trái tim bạn vẫn còn đập.
Đừng để cái "lý thuyết chống phản động" mà bạn vẫn đang được nhồi sọ nó giết chết cảm xúc của một con người.
M. N.
Nguồn: menam0.multiply.com , boxitvn.blogspot.com


Tổng số lượt xem trang

free counters