Khi các giáo sĩ phương tây sang
Việt Nam
truyền đạo vào đầu thế kỷ XVII, họ rất ấn tượng với tổ chức gia đình, tục thờ
cúng tổ tiên, và nền nếp Nho giáo của làng. Họ nhận thấy cấu trúc gia đình Việt
ràng buộc bởi những chuẩn mực đạo đức được chấp thuận rộng rãi (đạo lý), rằng
người đứng đầu gia đình có thẩm quyền giải quyết mọi xung đột bên trong gia
đình…
Gia hiến, gia giáo xưa
Alexandre de Rhodes cho rằng một
hệ thống (đạo lý) như vậy nếu có ở châu Âu sẽ làm giảm đi tới ¾ số vụ kiện.
Những người (Việt) giàu có nhiều vợ và cha mẹ nghèo phải bán con để trả nợ,
nhưng gắn bó về (tình cảm và) nghĩa vụ cha con, anh chị em trong gia hệ là vô
cùng bền chặt (theo Rome
và các sứ mạng truyền giáo, tác giả Chapoulie).
|
|
|
Một quán bar ở miền nam thời
tạm chiếm.
|
Nhưng nếu như ở Nhật hơn trăm năm
trước, kẻ cắp bị chôn sống cùng với… cả họ (từ Việt: “cả lò”) nhà mình, kể cả
đứa bé nằm trong bụng người con dâu, thì ở Việt Nam, hình phạt gọt đầu bôi vôi
dành cho phụ nữ có hoang thai. Và khoe thân xác, khác với ở châu Âu lúc đó đã
có thể xem như “tốt đẹp bày ra”, những cặp ngoại tình Việt tới giữa thế kỷ XX,
nếu bị phát hiện, vẫn có thể phải chịu hình phạt lột trần như nhộng giữa làng,
rồi trói lên bè chuối thả trôi sông… Họ khó có hy vọng được ai cứu.
Thách thức đầu tiên về một hình
tượng “nuy”, nhưng kiểu Tây, có thể là Đấu xảo (Triển lãm thuộc địa) năm 1902.
Theo tác giả Jean Ajalbert trong Những định mệnh của Đông Dương (Les destinées
de l’Indochine, xuất bản 1911), trong gian Mỹ thuật nước Pháp, đã có cả đám
người đứng ngẩn ra, hoặc ngượng ngùng che miệng cười trước tấm hình khoả thân,
“Người Annam xem ra còn chưa biết tất cả những gì là cơ thể phụ nữ…”. Thời đó,
phụ nữ Việt mặc áo cài tới tận cổ và gấu quần phải chấm mắt cá chân.
Nhưng tệ nạn DAI BAY
(đi vệ sinh ở nơi công cộng) thì cho tới hôm nay vẫn còn dai dẳng, cho dù nó
thể hiện chủ yếu ở đàn ông. Người nước ngoài cho tới hôm nay vẫn không “tiêu
hoá” được sự công khai và tuỳ tiện này của các công tử “Hà lội”, ở nhiều góc
phố tại Thủ đô văn hiến.
Ràng buộc bởi tập quán
Trong tiến trình “Mỹ hoá” ở miền
Nam Việt Nam trong chiến tranh Đông Dương lần thứ II, các tác giả phương Tây
vẫn muốn chỉ rõ sự khác biệt giữa “gái ba” ở các đô thị, và phụ nữ Việt Nam.
|
|
|
Thoát y trong một căn cứ Mỹ ở
Đà Nẵng, 1967.
|
Tác giả Richard West trong Thắng
lợi ở Việt Nam (Victory in Vietnam)
viết rằng không mấy phụ nữ Việt nam, kể cả những ai học tiếng Anh, chấp nhận
“lối sống Mỹ”.
West viết:“Phái nữ Việt không hút
thuốc, hoặc uống rượu; họ trinh trắng, tiết hạnh; khi khiêu vũ, họ muốn nhảy
các điệu tango, rumba cổ, hay foxtrots, hơn là uốn éo một cách lười nhác theo
cách mà hiện nay người Mỹ gọi là nhảy (dance). Tất cả những phụ nữ Việt đều
nhất quyết mặc áo dài.
Khi tạp chí Playboy ra một số báo
về phụ nữ châu Á, trong khi đại diện của nước khác ở châu này hoặc khoả thân,
hoặc nửa khoả thân, một phụ nữ Việt Nam (được chụp) vẫn mặc áo dài, kín
cổ, dài tay, và chấm đến đầu gối.
Sau sự kiện này, diễn viên điện
ảnh Kiều Chinh (được thể hiện mặc áo dài dân tộc trên Playboy) nói rằng cô ta
đã giận dữ khi thấy ảnh mình xuất hiện cùng trang với các phụ nữ (nước khác)
không mặc quần áo. Cùng kỳ với hàng ngàn phụ nữ Việt làm gái mại dâm cho lính
Mỹ, Playboy đã không thể thuyết phục được một diễn viên, một người mẫu, hoặc
một nữ thư ký người Việt nào thoát y. Người Việt bảo thủ về trang phục đến mức
đề xuất làm trễ cổ áo dài xuống một inch sẽ làm nổ ra một cuộc tranh luận tương
đương với tranh cãi ở phương Tây về áo tắm không có nửa trên (topless swim –
suit)… Các tranh luận vẫn tiếp tục, nhưng (tới năm 1974), vẫn chưa hề có đề
xuất rằng người Việt sẽ chuyển sang mặc các trang phục phương tây”.
Thần “đô la” giáng thế
Tuy nhiên, chỉ thế hệ tới lúc đó
đã trưởng thành có cơ đứng vững. Từ năm 1965 chính quyền VNCH cho phép các giải
trí trường kinh doanh nghề mại dâm. Nghề tú bà, ma cô từng hình thành từ thời
quân đội viễn chinh Pháp, nay công khai phát triển.
Cùng với sự xuất hiện của đồng đô
la, lan tràn các quán rượu kiểu Mỹ, hộp đêm, nhà chứa, phòng tắm hơi… Tại đây
công khai trao đổi xác thịt, kể cả kiểu đồng tính, mãi xoá đi những điệu vũ
thướt tha và chuyện tình “dị chủng” vụng trộm, hoa lá cành kiểu Pháp, tự truyện
Continenetal Saigon (xuất bản 1976) của chủ cũ của Hôtel Cotinental đổi phận
thành nhà văn Phillippe Franchini, than thở.
Nhưng tìm gạch nối cho hai phong
cách ăn chơi Pháp và Mỹ đâu có thiếu. Chẳng hạn, các quán ba có nhảy go – go
khá phổ biến ở miền Nam Việt Nam.
Đây là điệu nhảy à gogo tiếng Pháp, có nghĩa là (chơi) hết mình, thoải mái
(abudance, galore). Vũ nữ có khi mặc hai mảnh, thậm chí một mảnh (topless).
Theo báo Tiền tuyến, Sài Gòn
11/12/1969 nửa triệu lính Mỹ, như trên trời rớt xuống, tiêu tới 30 triệu
USD/tháng (tính trượt giá - khảng hơn 200 triệu USD hôm nay). Đây là hiện tượng
được các cơ cấu đánh giá thời cuộc của chính quyền Sài Gòn cho là đã làm “thay
đổi bộ mặt xã hội miền Nam”, khi một bộ phận dân cư làm “dịch vụ” tại những nơi
quân đội nước ngoài trú đóng kiếm tiền “dễ dàng” hơn .
Trong những thay đổi lớn nhất
chắc phải kể đến nhân sinh quan. Từ nay, sắc đẹp, kể cả nhờ đồng tiền (mỹ
viện), là “tư bản”, xác thịt là hàng hoá. Khoe xác thịt là quảng cáo, là show
hàng. Rải rác trong lưu trữ của Mỹ là các tin, ảnh về “thoát y phục vụ binh
lính Mỹ” thời tạm chiếm.
Nhảy với… thần chết
Dịch vụ giải trí, theo các tác gia
phương tây, là điểm nhấn của hoạt động kinh doanh ở miền Nam thời tạm
chiếm. Nhưng nó còn là sự vỡ oà về nếm trải lạc thú theo kiểu yến tiệc trong
nguy nan của cả một số người Việt, như chiêm nghiệm cảm giác mạnh một cách
“sành điệu”.
|
|
|
Một ban nhạc rock ở Biên Hoà
thờii tạm chiếm.
|
Cuốn “Cuộc chiến của Australia ở Việt Nam”
(Vietnam The Australian war, NXB Happer Collins, 815 trang), tác giả Paul Ham
đã dành cả một chương mang tên “R&R” (rest and relaxation) để nói về nghỉ
ngơi - giải trí của quân đội viễn chinh phe Mỹ tại Nam Việt Nam. Sách có
đoạn viết về Sài Gòn những năm cuối thập kỷ 60: “Bên những đại lộ lớn, rợp bóng
những hàng cây, cánh nhà giàu Việt Nam mở những tiệc tùng phô phang, đàng điếm,
với sò huyết, rượu Pháp, gan ngỗng (foie gras), và trứng cá ngập bàn, trong khi
dân đen chui rúc trong những ổ chuột dựng từ vỏ hộp Coke đập bẹt, trệu trạo nắm
cơm chim.
Bên bờ sông, rạp Majestic và
khách sạn Continental, công trình rập khuôn theo thềm lục địa (Continental
Shelf), vẫn còn khét mùi của mốt “nhái” theo Pháp (faux - French) đã suy tàn.
Chúng là sân chơi của trác táng thâu đêm, với vài xen có thể mua nổi cả một bạn
nhảy tango. Tình dục, á phiện, cờ bạc, nhảy đầm và rock’n roll được xài dữ,
theo phong cách Hoàng đế Xê za. ‘Tiệc tùng, yến ẩm, hội hè liên miên’, một nữ y
tá người Úc thốt lên, ‘cả Sài Gòn như đều ngấu nghiến những thời khắc mông muội
giát vàng của cái thành phố hoang dâm vô độ này, dù vẫn cảm nhận được rằng ngày
tận diệt (apocalypse) đã cận kề’.
Được bộ máy chiến tranh của Mỹ
tài trợ, mọi thứ thú vui đã xả láng đến mức khản giọng. Nam Việt Nam đã có một
quá khứ đủ hùng hậu để làm hài lòng ông chủ Mỹ theo cung cách chợ đen, với hối
lộ, đút lót là luật chơi phổ biến…”
Các tác giả phương Tây cho rằng
dịch vụ thoát y là cung xuất hiện đáp ứng nhu cầu thanh toán được của các cụm
quân viễn chinh. Vẫn theo Richard West, người Mỹ nhận thấy phụ nữ Việt “vụ lợi
và có khuynh hướng thương mại (mercenary and commercially minded)”.
Tác giả Paul Ham kể “một vũ nữ
‘hàng ngoại’ (exotic) đến ‘khoe hàng’ (strutted her stuff) trên sân khấu ở trại
lính Úc (ở Việt Nam).
Đột nhiên, cô gái Việt nhỏ nhắn này giật bỏ cái xu chiêng, cưỡi lên vai một
cảnh sát chiến đấu to như bò mộng, ngả người ra đằng sau hắn, và bắt đầu làm
tình giả vờ với cái cổ của tay MP này... Đám đông lính tráng sôi lên, chồm lên
phía sàn diễn, để rồi bị cảnh sát chiến đấu và ‘các cha tuyên uý giận dữ’ chặn
đứng”.
Mới biết một tập thể, từng được
dạy dỗ cả về tình dục học và kỹ năng sống, vẫn phải được canh giữ về phần xác,
bởi cảnh sát vũ trang, và phần hồn, bởi các linh mục khổ hạnh. Nhưng đám đông
lính tráng vẫn “nóng máy”, đến mức súng đạn đã nhiều lần nổ trong các sô diễn
này. Truyền thông phương Tây cho hay diễn viên Cathy Wayne đã thiệt mạng trong
một vụ như vậy ngay trên sàn diễn.
Năm 1975, Mỹ rút quân hoàn toàn
khỏi Nam Việt Nam
trên những “chiếc trực thăng cuối cùng”. “Người Mỹ ra đi, nhưng đồng đô la ở
lại”, truyền thông Pháp chiêm nghiệm. Ai đó vẫn tìm cách show hàng không vì
nghệ thuật đâu, chủ yếu vì tiền xanh thôi.
Lê Đỗ Huy (thuật)
Nguồn: