Triết Lý, để làm gì ?

Khi ta bế tắc tư tưởng, chân thật công nhận rằng những kiến thức và phương pháp suy luận của ta không cho phép ta sống, tư duy và hành động khớp với khao khát làm người của ta, ngoài vô vàn cách ứng xử khác, ta có thể:

a) Tiếp tục sống, tư duy và hành động như cũ vì, dù sao, ta cũng sống được, không đến nỗi nào

b) Lột áo cũ, khoác áo mới, một tấm áo coi lành lặn đẹp đẽ hơn nhưng cũng hàm hồ không thua gì. Điều ấy luôn luôn khả thi bằng ngôn ngữ.

c) Đi tới cùng bế tắc của chính mình. Nếu không giải quyết được nó, ta ôm nó xuống suối vàng, để lại ở đời chỉ một câu hỏi. Câu hỏi của một con người. Đích thực. Có gì nhục đâu?

Nếu ta tưởng ta đã tìm ra một phần của giải pháp, ít nhất là cho riêng mình, thì cứ viết đi, chẳng cần trích cao nhân nào cả: họ đã là một phần của ta và ta đã phải “vượt” họ để nên mình.

Thế thôi.

(Chungta.com)

Góc nhỏ của Noby Vui Vẻ

Lục lọi, tìm tòi, đọc, cóp nhặt, chia sẻ, ... OK hay không tùy bạn ! ! !

“Nước độc lập mà dân chưa tự do thì độc lập cũng không có ý nghĩa”- Hồ Chí Minh.

30 thg 6, 2010

chiều cao và tổng thống MỸ

http://www.tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=109&CategoryID=4&News=2514

ở việt nam liệu có thống kê như vậy không nhỉ?
không biết ông Dũng, ông Mạnh cao bằng người thấp nhất bên ấy ko nữa

Từ Fukuzawa Yukichi nhìn về Nguyễn Trường Tộ


Nguyễn Cảnh Bình

Có thể nói, ở hai ông Nguyễn Trường Tộ và Fukuzawa Yukichi (Phúc-Trạch Dụ-Cát). Có rất nhiều sự tương đồng về thời đại, về đất nước, về tình hình thế giới bởi cả hai sống cùng trong một giai đoạn lịch sử. Từ thực tế trên, việc so sánh hai nhân vật lịch sử này, đồng thời cũng là những nhà tư tưởng về cải cách, mở cửa có thể mang lại cho chúng ta nhiều điều thú vị.

Những điểm tương đồng

Có thể nói, Fukuzawa Yukichi và Nguyễn Trường Tộ là hai người sinh cùng thời, và cả hai đều học rất giỏi. Điều thú vị nữa là hai người đều sinh ra từ một vùng đất có truyền thống, chứ không không phải ở thủ đô. Hai ông không xuất thân từ gia đình quá giàu có, nhưng cũng không phải ở gia đình quá nghèo.

Hai nước Nhật và Việt Nam ở thời mà các ông sinh sống thì cũng có một vài điểm tương đồng. Thí dụ như hai nước cùng đóng cửa với thế giới, nhưng bắt đầu bị các quốc gia phương Tây nhòm ngó.

Tại Nhật, năm 1853, hạm đội Mỹ xuất hiện gây một cú sốc lớn trên khắp nước Nhật. Anh trai thúc giục Fukuzawa tới Nagasaki học tiếng Hà Lan để nắm vững về súng ống phương Tây. Khi đó, ông mới 23 tuổi. Đến tháng 8-10/1858, Fukuzawa được bổ nhiệm làm người dạy tiếng Hà Lan cho lãnh địa Nakatsu. Tháng 7/1859: Nhật mở cửa ba cảng biển theo các điều khoản của "Hiệp ước hoà bình và hữu nghị", được ký một năm trước đó với Mỹ và một số nước châu Âu.

Ở Việt Nam, năm 1858, Pháp đánh Đà Nẵng. Nguyễn Trường Tộ lúc đó 30 tuổi, Nhà thờ xã Đoài mời ông làm giáo viên dạy chữ Hán. Giám mục Gauthier dạy ông tiếng Pháp và khoa học thường thức phương Tây.

Hai người cùng đi nước ngoài hầu như cùng thời điểm, như vậy cả Nguyễn Trường Tộ và Fukuzawa có điều kiện tiếp xúc Tây học từ sớm, biết tiếng Hà Lan, tiếng Anh, tiếng Pháp. Lại có dịp được ra nước ngoài nên hai ông có điều kiện tiếp xúc trực tiếp với văn minh, với thế giới vật chất và công nghệ của phương Tây, từ đó hình dung trong đầu những hoạt động, những tư tưởng mang tinh thần cải cách.

Đầu năm 1860, trong khuôn khổ các điều khoản của hiệp ước, chính quyền Shogun quyết định phái sứ giả sang Mỹ. Fukuzawa tình nguyện đi theo đoàn sang San Francisco, Mỹ. Từ Mỹ về trong năm đó, ông dịch và xuất bản cuốn sách đầu tay “Kaeitsugo”. Khoảng ba năm đầu sau đó, Fukuzawa chỉ chuyên tâm học hành và viết cuốn sách đầu tiên.

FUKUZAWA YUKICHI
(1835-1901)

Sinh tại thành phố Osaka, trong một gia đình Samurai cấp thấp. Đến năm 1837, cha ông qua đời đột ngột ở tuổi 44. Cuộc sống khó khăn, ông phải giúp gia đình và cho mãi đến năm 14 tuổi mới được đến trường. Không chỉ dừng lại ở một nhà tư tưởng, Fukuzawa đã bắt tay làm rất nhiều việc, từ mở trường dạy học, lập tờ báo, dịch sách để hướng những đề xuất, ý tưởng, giải pháp của mình vào đông đảo người dân và trí thức Nhật Bản, từ đó tạo nền tảng cho sự phát triển nhanh chóng về nhận thức, hành động và phát triển của người dân cũng như đất nước Nhật Bản.

Trong những năm 1861-1863, ông sang châu Âu theo đoàn đàm phán mở thêm cảng biển và điều chỉnh tỷ giá hối đoái. Ông đến các nước như Pháp, Anh, Hà Lan, Đức, Nga và Bồ Đào Nha. Trong vai trò phiên dịch, Fukuzawa quan sát được rất nhiều điều mới mẻ và các thể chế tổ chức như bệnh viện, kho vũ khí, hầm mỏ, trường học. Dựa vào những điều chứng kiến trong chuyến đi, Fukuzawa xuất bản tập đầu tiên của tác phẩm Thực trạng phương Tây (Seiyo jijo). Tác phẩm này của ông được bán chạy nhất lúc bấy giờ. Đến năm 1866, ông hoãn việc viết tiếp tập hai cuốn Thực trạng phương Tây để giành thời gian dịch cuốn Kinh tế chính trị của J. H. Burton. Trong cuốn sách xuất bản năm 1867, ông thảo luận về “những cột trụ chính yếu” và mạng lưới xã hội vô hình thiết lập nên xã hội văn minh. Sau đó, ông tiến hành dịch các tác phẩm quan trọng của Anh cho người Nhật đọc, học tập và tiếp thu.

Còn ở Việt Nam, những năm 1859-1860, Nguyễn Trường Tộ được giám mục Gauthier đưa qua Hương Cảng, Singapore, Thụy Sĩ. Trên đường đi ông có ghé Roma yết kiến Giáo hoàng rồi cuối cùng sang Paris theo học trong gần 2 năm.

Vào năm 1861, khi Đại đồn Kỳ Hoà thất thủ, ông nhận làm phiên dịch cho Pháp với mong muốn góp phần mình cho sự hoà hoãn hai bên. Ông viết thư gửi triều đình trong đó nêu ý kiến là nên hoà với Pháp. Sau đó, ông viết bản điều trần đầu tiên. Đến quãng năm 1862-1863, ông thôi không làm phiên dịch nữa vì thất bại trong việc điều đình. Thời gian này, ông tham gia xây cất tu viện ở Sài Gòn và dồn tâm trí soạn kế hoạch giúp phát triển đất nước. Vào tháng 3/1863, ông gửi triều đình văn bản “Bàn về tình thế lớn trong thiên hạ”. Tiếp đó, ngày 29/3/1863, ông gửi bản Trần tình. Một năm sau đó, ông gửi triều đình văn bản “Kế hoạch duy trì hoà ước mới”, và “Kế hoạch làm cho dân giàu nước mạnh”. Tất cả là những bản điều trần!

Và những khác biệt

Nhưng đáng tiếc thay, nếu so sánh với Fukuzawa, Nguyễn Trường Tộ có nhiều nhược điểm, thiếu sót. Điểm mấu chốt làm nên sự khác biệt giữa công cuộc Duy Tân Minh Trị ở Nhật và thời kỳ trì trệ của Tự Đức ở Việt Nam có lẽ cũng bắt nguồn từ chính sự khác biệt về lối tư duy và hành động của hai nhà trí thức đại diện này.

Năm 1867, Fukuzawa lại sang Mỹ, tới Washington và New York với nhiệm vụ thương lượng mua tàu chiến của chính phủ Mỹ. Nhưng mục đích chính của Fukuzawa là tìm mua sách cho các sinh viên và ông đã mua sách bằng tất cả số tiền mà ông có. Về nước, Fukuzawa mở trường KEIO. Chỉ trong năm đó (1867), số học sinh của trường đã lên đến 100. Thời gian này, ông chủ yếu đọc, viết sách và giảng dạy. Những cuốn sách miêu tả cuộc sống phương Tây của ông rất được người dân Nhật Bản yêu thích, điều đó cho thấy sự quan tâm của người dân đối với thế giới bên ngoài.

Với kinh nghiệm học được từ người phương Tây qua sách vở và những chuyến thị sát, ông đã nhiệt huyết truyền bá những tư tưởng tiến bộ bằng mọi cách có thể. Ông đã tách mình ra khỏi biến động chính trị cuối thời Mạc phủ Edo, thầm lặng dịch và viết sách.

Ngày 4/7/1868, cuộc nội chiến giữa hai phe cải cách và bảo thủ ở Nhật Bản bùng nổ. Fukuzawa đã nói với học sinh, lúc bấy giờ chỉ còn 18 người: “Cho dù có bất kỳ điều gì xảy ra, cho dù cuộc chiến tranh tàn phá đất nước ta như thế nào, chúng ta sẽ không bao giờ từ bỏ kiến thức của phương Tây. Chừng nào ngôi trường này còn đứng vững, Nhật Bản vẫn sẽ là quốc gia văn minh trên thế giới”.

Sau năm 1868, Fukuzawa dành hết thời gian, sức lực cho công việc giảng dạy ở Keio và giúp lập thêm nhiều trường học mới. Ông cũng dịch và viết thêm nhiều sách về phương Tây, viết những sách giáo khoa cơ bản về rất nhiều lĩnh vực như vật lý, địa lý, nghệ thuật quân sự, nghị viện Anh, các mối quan hệ quốc tế. Sau đó, vào năm 1876, Fukuzawa xuất bản cuốn Khuyến học, tác phẩm nổi tiếng nhất. Ông thúc giục người Nhật học đọc, học viết, học những phép toán và bàn tính, cách để sử dụng khối lượng và dụng cụ đo đạc, rồi tiếp đến là học những lĩnh vực khoa học khác như địa lý, vật lý, lịch sử, kinh tế và đạo đức. Lúc này, ông 41 tuổi.

NGUYỄN TRƯỜNG TỘ
(1828 - 1871)

Sinh tại Bùi Chu, Hưng Nguyên, Nghệ An. Ông học rất giỏi, ngoài việc học với cha ở nhà, ông còn theo học nhiều thầy đồ nổi tiếng trong vùng. Tuy mất sớm ở tuổi 43 nhưng ông đã đề xuất rất nhiều kế hoạch cải cách táo bạo, nhằm đưa đất nước thoát khỏi cảnh trì trệ, tiến lên trở thành một quốc gia dân giàu nước mạnh. Đáng tiếc, những bản điều trần của ông thời đó đã không được trọng dụng.

Về Nguyễn Trường Tộ, những công việc thì vẫn như vậy. Năm 1865, ông gửi triều đình văn bản “Về việc mua thuyền và đóng thuyền máy”. Vào đầu năm 1866, khi được mời đến Huế, ông tiếp tục gửi văn bản “Kế hoạch khai thác tài nguyên đất nước”. Đến tháng 4/1866: ông thảo thư Tây Soái có châu phê của Vua. Đây vẫn là một bản điều trần và gửi thư cho Vua. Tháng 8/1866, Nguyễn Trường Tộ cùng giám mục Gauthier đến Huế, chuẩn bị đi Pháp, được vua Tự Đức tiếp kiến.

Từ tháng 9 đến hết năm 1866, ông tiếp tục gửi văn bản và thư tới triều đình, cụ thể như văn bản “về việc học thực dụng” và “Phải tạm thời dựa vào Pháp” và những bức thư về vấn đề khác nhau. Vào năm 1867,ông cùng một số quan chức đáp tàu đi Pháp. Tháng 3 năm đó, ông tới Paris. Rồi đến ngày 15/11/1867, ông soạn văn bản “Tế cấp bát điều”. Tháng 2/1868, về tới Huế, ông được vua Tự Đức tặng thưởng. Tháng 3 năm sau đó, Nguyễn Trường Tộ viết: “Tổ chức gấp việc khai mỏ”.Trong các tháng 3-5/1868, ông viết nhiều văn bản thúc giục triều đình cử người đi Pháp học

Tiếp tục như vậy, suốt năm 1871, Nguyễn Trường Tộ viết rất nhiều văn bản đề xuất việc thông thương với Pháp như “Chỉnh đốn quân đội và quốc phòng”, “Canh tân và mở rộng quan hệ ngoại giao”, “Về chính sách nông nghiệp”; “nên mở cửa chứ không nên khép kín”. Rất tiếc, ngày 24/11/1871, Nguyễn Trường Tộ mất ở quê, hưởng thọ 41 tuổi. Nguyễn Trường Tộ mất sớm nhưng tôi tin rằng, dù ông còn sống, ông sẽ vẫn không làm gì khác hơn ngoài việc viết tấu trình.

Nguyễn Trường Tộ đã liên tiếp gửi lên triều đình Huế 30 bản điều trần đề xuất canh tân, xây dựng đất nước giàu mạnh và gần sáu chục bản điều trần khác đề cập đủ mọi lĩnh vực.

Tôi không nghĩ rằng ở thời đại Nguyễn Trường Tộ, việc mở trường có quá nhiều khó khăn. Việc dịch sách, ngược lại thì rất khó vì lúc đó hầu như chúng ta chỉ sử dụng tiếng Hán và phụ thuộc nhiều vào sách dịch của người Trung Quốc. Tại Trung Quốc, mãi đến những năm 1903, Lương Khải Siêu và Khang Hữu Vi mới ồ ạt triển khai dịch sách của phương Tây cho người Trung Quốc, điều này cho thấy Nguyễn Trường Tộ khó lòng làm được việc này ở Việt Nam thời điểm đó.

Còn Fukuzawa thì vào năm 1875 xuất bản cuốn "Văn minh khái luận" ra đời, nhằm thuyết phục trí thức Nhật Bản chấp nhận quá trình hiện đại hoá. Ngày 1/3/1882, Fukuzawa tự mình xuất bản tờ Jiji-shimpo. Trước đó, Fukuzawa muốn mở một tờ báo nhằm thúc đẩy việc sớm thiết lập Nghị viện nhưng kế hoạch này đã bị gác lại vì sự chia rẽ nội bộ. Năm 1885, Fukuzawa viết bài báo gây rất nhiều tranh cãi Datsu - a - ron [Thoát Á Luận], kêu gọi Nhật Bản hãy học theo phương Tây và nhanh chóng hiện đại hóa…

Đánh giá của hậu thế

Lịch sử biết đến Fukuzawa Yukichi như một nhà cải cách chính trị xã hội, nhà giáo dục tiên phong, nhà tư tưởng tiêu biểu của Nhật Bản từ cuối thời Edo, đầu thời Minh Trị, thời kỳ diễn ra những chuyển biến lớn lao trong lịch sử Nhật Bản. Tư tưởng của ông có ảnh hưởng rất lớn tới phong trào Khai sáng ở Nhật Bản vào cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20, tạo tiền đề cho Nhật Bản trở thành một cường quốc trên thế giới. Lòng biết ơn của người Nhật đối với Fukuzawa được thể hiện qua việc in hình ông trên tờ tiền 10.000 yen, dù ông không phải là một đấng quân vương hay võ tướng lỗi lạc của đất nước Mặt trời mọc.

Fukuzawa để lại ngôi trường Keio mà ngày nay là Đại học Keio (hiện trường Keio hệ chính thức có khoảng 28.000 sinh viên và 5.000 nghiên cứu sinh). Ông cũng để lại hàng chục cuốn sách dịch và nhiều sách do ông viết. Ông được coi là người khởi xướng cho việc dịch sách ở Nhật Bản, mang lại tác động to lớn cho xã hội Nhật Bản.

Còn đối với Nguyễn Trường Tộ, theo nhiều học giả và công chúng, các bản điều trần của ông nếu được áp dụng là một sách lược lớn biến Việt Nam thành một nước hùng cường, tạo nên chuyển biến quan trọng trong lịch sử giữ nước của dân tộc Việt Nam.

Học giả Lê Thước phê bình công nghiệp bình sinh của ông: "Nguyễn Trường Tộ là nhà khoa học, nhà chính trị và cũng là nhà tân học nước ta xưa. Tư tưởng và kiến thức của tiên sinh hơn người đồng thời muôn nghìn".

Tên của ông được đặt cho nhiều trường học và đường phố tại Việt Nam, nhưng chưa có đồng tiền nào mang hình ông mặc dầu ông cũng được coi là nhà tư tưởng tiến bộ, có tinh thần cách tân. Nguyễn Trường Tộ thường được trí thức Việt Nam coi là hình mẫu thất bại trong mong ước hiện đại hóa Việt Nam vào thế kỷ 19. Nhiều người cũng coi ông như bài học để chỉ ra sai trái của triều đình mà quên đi những sai lầm của chính ông.

Tư tưởng tiền nhân để lại

Fukuzawa tin rằng giáo dục là cách duy nhất để đạt tới văn minh, bởi bản chất của văn minh là sự phát triển kiến thức và đạo đức nội tại của dân tộc:

"Văn minh có nghĩa là đạt được cả những tiện nghi vật chất lẫn sự nâng cao tinh thần của con người. Nhưng cái tạo ra những tiện nghi vật chất và nâng cao tinh thần của con người là kiến thức và đạo đức, [do đó] bản chất của văn minh chính là quá trình phát triển kiến thức và đạo đức con người."

Fukuzawa là người đưa ra nguyên tắc nổi tiếng: "Độc lập quốc gia thông qua độc lập cá nhân", tức là một xã hội muốn phát triển phải dựa trên những cá nhân có khả năng tư duy độc lập và sáng tạo, chứ không phải dựa vào chính phủ. Ông kêu gọi các sĩ phu Nhật Bản làm việc theo phương châm "coi trọng quốc gia và coi nhẹ chính phủ", tự tin vào sức mạnh cá nhân mà không phụ thuộc vào sức mạnh của người khác.

Tháng 5 năm 1863, Nguyễn Trường Tộ soạn xong ba văn bản để gửi lên Triều đình Huế: bản thứ nhất là Tế cấp luận, bản thứ hai là Giáo môn luận, bản thứ ba là Thiên hạ phân hợp đại thế luận. Trong ba bản đó, bản Tế cấp luận là văn bản quan trọng nhất. Nội dung của bản này đề cập đến việc canh tân và phát triển đất nước. Với Tế cấp luận ông đã khẳng định: "Tế cấp luận thâu tóm trí khôn của thiên hạ 500 năm nay... Bài Tế cấp luận của tôi nếu đem ra thực hành hàng trăm năm cũng chưa hết".

Trong giáo dục, ông phản đối lối học tầm chương trích cú, đóng cửa khư khư giữ lấy cái sự học lỗi thời chỉ cốt có học vị bằng cấp. Ông chủ trương học để thực hành. Ngay cả bản thân, ông không hề đề tên ứng thí một khoa nào, không hề có bằng cấp gì nhưng kiến thức của ông sâu rộng mang tầm bách khoa, uyên thâm trong nhiều lĩnh vực.

Theo ông cần phải đưa vào chương trình giáo dục những tri thức về nông nghiệp, địa lý, thiên văn, công nghệ, luật pháp, nghĩa là những gì xã hội, cuộc sống hiện đại thực sự cần tới trước mắt và lâu đài, chứ không phải dùi mài tứ thư ngũ kinh với những giáo huấn xa vời của Khổng Mạnh. Ông cũng sớm đề xuất soạn Tự điển cho người học, nghiên cứu Hán học, Tây học.

Dường như toàn bộ sự nghiệp, tư tưởng của Nguyễn Trường Tộ chỉ gói gọn trong mấy từ viết điều trần. Không thể đếm được ông đã viết bao nhiêu bản điều trần trong cuộc đời ngắn ngủi của ông, và dù những bản điều trần này được rất nhiều trí thức Việt Nam hiện đại ca ngợi là tư tưởng lớn thì cũng chỉ dừng lại ở mức độ đề xuất, chứ không phải là bắt tay vào làm (thực hiện). Trong khi đó, Fukuzawa đã dịch và viết nhiều sách, mở trường dạy học, lập báo, hợp tác và hướng dẫn các trí thức quốc gia láng giềng. Fukuzawa có gửi điều trần lên Thiên Hoàng nhưng không nhiều và không phải là hành động chính yếu của ông. Có thể khi đó, Minh Trị đã là một nhà vua anh minh nhưng ở Fukuzawa, tư duy là hành động. Điều quan trọng hơn nữa, đó là Fukuzawa hướng những đề xuất, ý tưởng, giải pháp của mình vào đông đảo người dân và trí thức Nhật Bản. Ông truyền tinh thần canh tân của mình cho hàng nghìn sinh viên theo hoc ở Keio, cho hàng triệu người Nhật qua các cuốn sách ông dịch, và qua những bài báo gây nhiều tranh cãi…

Qua bài học thành công và thất bại của Fukuzawa Yukichi và Nguyễn Trường Tộ có thể tìm ra được cách hành xử thích đáng hơn của trí thức Việt Nam trong công cuộc xây dựng và phát triển đất nước.

Thực trạng khai khoáng ở miền Tây Nghệ An:

tan hoang chà hạ p1:
http://www.vietnamnet.vn/psks/201006/Ky-1-Tan-hoang-Cha-Ha-918741/
yên tịnh bao giờ được yên tĩnh p2 :
http://www.vietnamnet.vn/psks/201006/Ky-2-Yen-Tinh-bao-gio-duoc-yen-tinh-918911/
tan hoang nhũng đỉnh núi triệu đô xứ nghệ p3
http://vietnamnet.vn/psks/201006/Ky-3-Tan-hoang-nhung-dinh-nui-trieu-do-xu-Nghe-919145/

Tái cấu trúc: Đơn đã kê, bệnh nhân có chịu uống thuốc?


- Bàn cờ kinh tế VN bị chia thành rất nhiều mảnh nhỏ. Các mảnh này thường bị chi phối bởi các nhóm độc quyền và đặc quyền - TS Vũ Thành Tự Anh, Giám đốc nghiên cứu Chương trình giảng dạy kinh tế Fulbright lý giải vì sao Việt Nam thiếu các chính sách tốt.

Ông Anh cho biết cho đến nay, chưa thể có sự thống nhất về mô hình tăng trưởng tốt nhất cho Việt Nam vì đây là một vấn đề rất rộng và phức tạp.

Hơn nữa, tái cấu trúc và thay đổi mô hình tăng trưởng mới chỉ được thảo luận từ sau giai đoạn bất ổn kinh tế vĩ mô 2007 - 2008.

Mô tả ảnh.
TS Vũ Thành Tự Anh (trái): So với Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc trong giai đoạn phát triển tương đương, tăng trưởng của Việt Nam hiện đắt gấp rưỡi, thậm chí gấp đôi về đầu tư. Ảnh: Lê Anh Dũng

Tuy nhiên, giới nghiên cứu đã tiến gần tới sự đồng thuận về những khiếm khuyết nội tại, có tính cố hữu của nền kinh tế Việt Nam. Nếu như trước đây người ta thường tìm cách biện minh cho các điểm yếu đó thì bây giờ chúng đã được chấp nhận như những thực tế phải sửa đổi.

Gồm những điểm yếu nào, thưa ông?

- Điểm yếu cơ bản nhất trong mô hình tăng trưởng của Việt Nam là tăng trưởng chủ yếu nhờ vào việc bán tài nguyên và gia công trình độ thấp, nhờ vào tăng lượng đầu tư và lấy khu vực kinh tế nhà nước vốn kém hiệu quả làm chủ đạo.

Điều này dẫn đến một số hệ quả như đã thấy trong giai đoạn bất ổn vĩ mô và suy giảm kinh tế gần đây.

Thứ nhất là nền kinh tế kém hiệu quả. Số đơn vị đầu tư cần thiết để tạo ra một điểm phần trăm tăng trưởng GDP (tức là hệ số ICOR) của nền kinh tế tăng rất nhanh, từ 3 vào đầu những năm 1990 lên trên 6 mấy năm gần đây.

Như vậy, so với Nhật Bản, Hàn Quốc và ngay cả Trung Quốc trong giai đoạn phát triển tương đương, tăng trưởng của Việt Nam hiện nay đắt gấp rưỡi, thậm chí gấp đôi về đầu tư.

Thứ hai là nguy cơ thường trực về bất ổn vĩ mô. Mô hình tăng trưởng hiện nay chạy theo chiều rộng (chủ yếu dựa vào tăng vốn) mà không theo chiều sâu (không cải thiện được năng suất).

Hệ quả là để tăng trưởng, nền kinh tế Việt Nam cần rất nhiều đầu tư, khiến tín dụng tăng theo. Nhưng do nền kinh tế kém hiệu quả nên kết cục tất yếu là lạm phát cao, thâm hụt ngân sách và thâm hụt cán cân vãng lai lớn.

Thứ ba là một số nhóm đặc quyền đặc lợi cản trở cải cách. Những cải cách quan trọng và thành công nhất của Việt Nam kể từ Đổi mới chủ yếu liên quan tới khu vực nông nghiệp và dân doanh mà chưa đụng chạm nhiều tới những khu vực được hưởng đặc quyền đặc lợi, nhất là những DNNN lớn.

Những DN này được hưởng vị thế độc quyền trên thị trường nội địa, được ưu tiên tiếp cận các nguồn tài nguyên khan hiếm như đất đai và tín dụng nhờ vào vai trò chủ đạo (có tính mặc nhiên) của chúng trong các ngành kinh tế trọng yếu.

Khi không chịu áp lực cạnh tranh từ thị trường và giám sát chặt chẽ từ nhà nước, các DN này đầu tư ào ạt và dàn trải để mở rộng “đế chế” của mình mà không quan tâm đến hiệu quả vì họ biết rằng nếu có thua lỗ chăng nữa thì nhà nước sẽ cứu.

Không những thế, để bảo vệ quyền lợi của mình, các DN này có thể còn cản trở nhiều cải cách hướng đến một nền kinh tế thị trường cạnh tranh bình đẳng và hiệu quả hơn. Khu vực dân doanh vì thế cũng không thể phát triển dù rất năng động và đầy tiềm năng.

Bàn cờ kinh tế bị chia cắt

Theo ông, cuộc hội thảo do Ủy ban Kinh tế Quốc hội và Trường ĐH Kinh tế Quốc dân tổ chức mới đây có đưa ra được giải pháp khắc phục điểm yếu cơ bản này không?

- Đã có một số ý kiến rất đích đáng được nêu tại hội thảo.

Nguyên Phó Thủ tướng Vũ Khoan cho rằng “thay đổi cần bắt đầu từ cái đầu”, tức là nếu nhận thức và tư duy mà không thay đổi thì không thể cải cách được.

Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Doan cũng đồng tình và nói thêm rằng đổi mới tư duy cần xuất phát từ cấp lãnh đạo cao nhất của đất nước. GS Võ Đại Lược khẳng định nếu vẫn giữ khu vực nhà nước làm chủ đạo thì không thể tái cấu trúc nền kinh tế.

GS Nguyễn Quang Thái cho rằng đổi mới thể chế là điều kiện tiên quyết để có thể đưa nền kinh tế Việt Nam tiến lên. Còn TS Nguyễn Đình Cung, người chủ trì đề án tái cấu trúc nền kinh tế, nói tái cấu trúc không thuần túy là vấn đề kinh tế mà thực chất là một vấn đề kinh tế - chính trị.

Thế còn quan điểm của ông?

- Một nguyên lý cơ bản của kinh tế học là hành vi của con người bị chi phối bởi các động cơ và khuyến khích, mà những động cơ và khuyến khích này lại được quy định bởi hệ thống thế chế.

Mô tả ảnh.

Nguồn: Số liệu về vốn, doanh thu và lao động lấy từ Báo cáo giám sát tập đoàn, tổng công ty nhà nước của Ủy ban Kinh tế Quốc hội (2009). Số liệu GDP là của năm 2008 lấy từ Tổng cục Thống kê, trong đó khu vực nhà nước bao gồm các DNNN và các hoạt động phi kinh doanh (như quản lý nhà nước, an ninh quốc phòng, đảm bảo xã hội, giáo dục, y tế, văn hóa, thể thao v.v...).

Thể chế ở đây được hiểu một cách rộng rãi bao gồm những quy tắc thành văn (hiến pháp, luật, quy định v.v...), những quy tắc không thành văn (văn hóa, phong tục, tập quán v.v...), và những cơ chế cưỡng chế thi hành các quy tắc này.

Một hệ thống thể chế tốt sẽ giúp thu hút người hiền tài vào khu vực công và góp phần tăng hiệu quả, hiệu lực cho những chiến lược, chính sách của nhà nước, mà đây chính là điều chúng ra đang thiếu.

Hãy hình dung nền kinh tế Việt Nam như một bàn cờ. Chia theo cột dọc là 22 bộ và cơ quan ngang bộ. Chia theo hàng ngang là 63 tỉnh thành. Chia theo đường chéo là mười mấy tập đoàn kinh tế nhà nước, vì các tập đoàn hoạt động đa ngành ở nhiều địa phương khác nhau. Bàn cờ kinh tế đã bị chia cắt thành rất nhiều mảnh nhỏ.

Sẽ không có gì đáng lo ngại nếu mỗi mảnh nhỏ đều được điều tiết và bảo đảm có sự cạnh tranh lành mạnh. Vấn đề ở nước ta là các mảnh nhỏ này thường bị chi phối bởi các nhóm độc quyền và đặc quyền. Mỗi mảnh nhỏ này là một “nền kinh tế” và những người có quyền lợi sẽ cố hết sức để bảo vệ nó như bảo vệ thành trì của mình.

Điều này đã, đang và sẽ tiếp tục phá hỏng hoàn toàn chiến lược và quy hoạch tổng thể, dù chiến lược và quy hoạch này đúng đắn đến đâu đi chăng nữa.

Tỉnh nào cũng muốn có sân bay, cảng biển, các KCN và khu kinh tế mở đua nhau mọc lên bất chấp hiệu quả kinh tế. Đất rừng bị cho thuê rẻ vô tội vạ. Các nhà máy thủy điện mọc lên như nấm ở miền Trung và Tây Nguyên. Các tập đoàn đua nhau mở ngân hàng, lập công ty chứng khoán.

Không chỉ bị giới hạn về không gian, tầm nhìn chính sách còn bị giới hạn về thời gian do “tư duy nhiệm kỳ”. Thực chất, “tầm nhìn” của mỗi nhiệm kỳ không phải là 5 năm mà chỉ còn 3 năm vì năm đầu tiên và năm cuối cùng người ta không làm được bao nhiêu.

Khi tầm nhìn chính sách bị giới hạn cả về không gian và thời gian, không những thế, khi các “nền kinh tế nhỏ” phải cạnh tranh với nhau để bảo vệ đặc quyền đặc lợi của mình thì chúng sẽ phá vỡ hoàn toàn các chính sách tổng thể. Đây thực sự là vấn đề lớn, là lý do chính tại sao chúng ta thiếu chính sách tốt.

Cải cách tập đoàn: Bài học từ Trung Quốc

Giải quyết những khuyết tật này như thế nào?

- Đây là câu hỏi lớn, không thể trả lời thỏa đáng trong phạm vi một bài phỏng vấn. Tôi nghĩ cần xuất phát từ một sự đồng thuận cơ bản, đó là nền kinh tế của chúng ta vẫn còn lạc hậu và đang kém hiệu quả, vì vậy cần tiếp tục cải cách mạnh mẽ hơn.

Đề án tái cấu trúc nền kinh tế do CIEM - Bộ KH&ĐT thực hiện là bước đi cần thiết và đúng hướng.

Để tái cơ cấu thì phải nhận dạng được những “méo mó” quan trọng nhất của nền kinh tế, mà đầu tiên là tình trạng phân bổ và sử dụng nguồn lực kém hiệu quả của các tập đoàn, tổng công ty và các siêu dự án đầu tư công. Khắc phục được tình trạng “méo mó” này sẽ là tiền đề quan trọng để giải quyết các trục trặc có tính cơ cấu khác.

Về phương diện cải cách các tập đoàn kinh tế nhà nước, kinh nghiệm của Trung Quốc có thể hữu ích cho Việt Nam.

Từ sau khủng hoảng tài chính khu vực 1997 - 1998, các nhà lãnh đạo của Trung Quốc đã hiểu ra rằng sự tồn tại của những DNNN có sức mạnh kinh tế và thế lực chính trị nhưng lại không bị điều tiết tất yếu sẽ dẫn tới sự bành trướng, độc quyền và lũng đoạn.

Vì vậy, để cải cách các tập đoàn này, phải thay đổi cơ chế giám sát và buộc chúng phải cạnh tranh. Trung Quốc đã thực hiện khá tốt điều này theo ba cách.

Thứ nhất là ép các tập đoàn phải niêm yết trên thị trường chứng khoán quốc tế Hồng Kông, London... Do vậy buộc chúng phải minh bạch về tài chính theo các thông lệ và chuẩn mực quốc tế. Đồng thời, các DNNN phải cạnh tranh quyết liệt với nhau và với các DN nước ngoài trên cả thị trường nội địa và quốc tế.

Thứ hai, khi buộc phải niêm yết và có tính cạnh tranh thì các DN này sẽ phải thuê các chuyên gia quản trị được đào tạo ở nước ngoài.

Các chuyên gia này sẽ mang tới nhiều thay đổi quan trọng về tư duy, quản trị, giúp kết nối DN Trung Quốc vào chuỗi cung ứng toàn cầu.

Với khát vọng bá chủ thế giới và vì lợi ích chung của dân tộc, các nhà lãnh đạo Trung Quốc đã chấp nhận “thuê ngoài thể chế”, miễn là điều này mang tới sự cải thiện hiệu quả.

Điều thứ ba, cũng rất quan trọng, khi đã có một số hình mẫu thành công thì cả hệ thống dần dần điều chỉnh theo, không phải để chống lại cái mới mà để thu nạp, nhân rộng nó.

Kinh nghiệm của Trung Quốc cho thấy thực ra việc “kê đơn” đúng không quá khó, điều thực sự khó là làm thế nào để bệnh nhân chịu uống thuốc, mà điều này lại phụ thuộc vào ý chí của cả hệ thống chính trị, đặc biệt là những nhà lãnh đạo cao nhất của đất nước.

Bước đầu tiên trong quá trình cải cách các tập đoàn nhà nước mà Việt Nam có thể thực hiện là công bố báo cáo tài chính của các tập đoàn theo chuẩn mực quốc tế.

Khi được ưu tiên sử dụng các nguồn lực khan hiếm của đất nước và nhận tiền đầu tư từ ngân sách nhà nước, chính xác hơn là từ tiền đóng thuế của người dân, các tập đoàn này phải chịu trách nhiệm giải trình trước công chúng.

Đồng thời, họ phải tự chứng minh mình xứng đáng với vai trò chủ đạo, thực sự là “quả đấm thép” bằng cách tự đứng vững trên đôi chân của chính mình, cạnh tranh thành công trên cả thị trường nội địa và quốc tế.

  • Lê Nhung

"Nông dân phải thấy cắt điện là chuyện cực chẳng đã"


29/06/2010 10:12:41

-

Vừa gặp ông Nguyễn Đình Lộc - Giám đốc Điện lực Thái Bình - sau sự cố dân đòi điện ở Quỳnh Phụ, ông nói luôn: "Công việc dạo này rất bận rộn lại ức chế vì những sự cố vừa qua nhưng chúng tôi vẫn làm việc với báo chí, không trốn tránh”.



Ông Lộc (áo trắng, đeo kính) đang nghe dân Quỳnh Phụ thắc mắc về  việc công bằng chia điện.
Ông Lộc (áo trắng, đeo kính) đang nghe dân Quỳnh Phụ thắc mắc về việc công bằng chia điện.

Người dân Quỳnh Phụ băn khoăn việc bán điện cho các khu công nghiệp được giá cao hơn nên đã cắt điện của dân đem bán?

(Cười). Tôi đâu dám bán điện như thế nọ thế kia đâu. Nhà máy cán thép Shengli (Khu công nghiệp Cầu Nghìn) dùng điện thuộc điện lưới quốc gia, chúng tôi không có lợi ích gì hết.

Điện hằng ngày của một đất nước cũng như một nhà chia dầu thắp đốt. Nếu như thiếu thì dầu để ngồi chơi, dầu để nấu cơm, dầu để học hành, 3 cái ấy anh chọn cái nào? Nếu chọn để học hành rất hữu ích, để ngồi chơi thì phải tắt rồi. Về việc điện dân sinh nông dân đòi hỏi là đúng, nhưng họ cũng phải thấy là cực chẳng đã.

Cái khó hiện nay đó là chủ trương phục vụ công nghiệp xuất khẩu, ở Thái Bình chủ yếu dệt may, chính con em nông dân cũng làm việc ở đây nhiều. Theo chủ trương ưu tiên công nghiệp xuất khẩu trong nền kinh tế khủng hoảng.

Người dân phản ánh chủ trương của chính phủ cắt điện không quá 6 - 8 h/ngày, khi tôi hỏi văn bản đó đâu thì không ai có.

Người dân bây giờ lại phản ánh có điện từ 11h đêm đến 4h sáng chưa thực sự hợp lý, không cần thiết?

Ban ngày không còn điện. Vì ban ngày các hoạt động công nghiệp hoạt động hết công suất. Phương thức cắt thời gian qua cố gắng có điện ban đêm để tái sản xuất hoặc ngủ đêm. Chính vì vậy hoạt động sản xuất của nông thôn chuyển về đêm.

Phải cắt thì mới khống chế được sản lượng để phân bổ. Việc phân bổ điện đều có sổ sách bên phòng điều độ.

Hôm qua tôi có nhận được tin nhắn: "Xin chào giám đốc, thay mặt nhân dân xã Quỳnh Hội, xin chân thành cảm ơn đồng chí anh em công ty đã hoàn thành đóng điện phục vụ nhân dân. Tôi xin chân thành cảm ơn".

Chiều ngày 22/6, ông có nói “Thắng lợi lớn nhất ngày hôm nay đó là phía Tổng EVN về trực tiếp thấy được bức xúc của người dân"?

Đúng. Tôi có nói chuyện phía trên Tổng EVN và báo cáo tình hình là khu vực đó rất nhạy cảm.

Có ý kiến người dân yêu cầu ngành điện phải có thông báo lịch cắt cụ thể và có văn bản, chữ ký đến từng hộ dân. Chuyện này trong hoạt động quy trình ngành điện, chỉ có thông báo cho những khách hàng lớn, còn lại thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng.

Chia điện trong thời tiết nóng và chia cho nhiều “cái đầu nóng”, ông phải làm như thế nào?

Người dân luôn đặt câu hỏi việc cắt điện 16 - 18 h/ngày là đúng hay sai. Tôi có thể trả lời là bảo đúng thì đúng, mà bảo sai thì theo nghĩa nào đó thì nó sai. Ví dụ nhu cầu cuộc sống dân sinh mà chúng tôi chưa phục vụ được, đây là sai sót của ngành điện chưa đảm bảo cuộc sống người dân.

Mà bảo sai thì chúng tôi chưa làm gì sai. Đó là điện ít thì phải chia. Mà chia phải ưu tiên công nghiệp, mà công nghiệp của tỉnh là xuất khẩu mà Bộ Công Thương có văn bản. Muốn cắt điện thì phải xin ý kiến UBND tỉnh. Nhưng đối tượng ưu tiên cũng phải tính đến. Chúng tôi rất có ý thức.

Ông có vẻ gầy đi?


Sáng sớm đi làm ăn cơm muối vừng, cá kho. Vì bệnh nên đâu dám ăn nhiều, uống nhiều. Hết giờ làm việc nhưng nhiều khi vẫn còn việc phải ở lại đến 9h. Khi 19 tuổi tôi tham gia kháng chiến bên Lào, giờ về chia điện cho dân.

xem thêm

vụ tham nhũng ở điện biên

http://nhandan.com.vn/tinbai/?top=40&sub=67&article=177909

Người nuôi cá tự... bơi


30/06/2010 0:36

Hôm qua, cá vẫn tiếp tục chết và các hộ dân nuôi cá bè ở TP Biên Hòa (Đồng Nai) đã phải trực tiếp đưa mẫu nước thải mà họ nghi ngờ đi xét nghiệm, sau khi Sở Tài nguyên - Môi trường (TN-MT) báo cáo không phát hiện ra thủ phạm gây ô nhiễm.

Trước đó, ngày 21.6, Sở TN-MT báo cáo với UBND tỉnh Đồng Nai, nguyên nhân cá chết là do ô nhiễm từ những cơn mưa đầu mùa, cộng với nước thải từ KCN Biên Hòa 1 và nước thải sinh hoạt làm hàm lượng oxy hòa tan trong nước bị giảm mạnh. Ngoài việc đề xuất UBND tỉnh chỉ đạo Phòng Cảnh sát môi trường kiểm tra các đơn vị đóng trên khu vực, Sở TN-MT không xác định được thủ phạm gây ra ô nhiễm nguồn nước làm chết hơn 80 tấn cá.

Trong khi đó, người dân đã gửi mẫu nước lấy được từ Nhà máy giấy Tân Mai đem đi xét nghiệm. Ông Nguyễn Đức Cần, đại diện Chi hội 5 cá bè (P.Thống Nhất), nói rằng sau nhiều đợt cá chết, ông cùng với một số hộ dân quyết đi tìm chứng cứ. Vào khuya ngày 24.6, nhóm của ông phát hiện dòng nước sủi bọt, bốc mùi hôi thối… nên cùng nhau gọi điện cho Phó chủ tịch Hội Nông dân phường đến chứng kiến. Sau đó cả nhóm lần theo dấu vết nguồn nước thải độc hại và phát hiện nó xuất phát từ họng xả của Nhà máy giấy Tân Mai.

Nhờ sự giúp đỡ của một sinh viên Đại học Nông Lâm đang thực tập ở đây, những "điều tra viên nghiệp dư" nói trên đã quay phim, chụp ảnh và lấy mẫu nước đem về bảo quản rồi gửi đi xét nghiệm. Nhiều nơi từ chối nhưng sáng qua may mắn được một đơn vị ở TP.HCM nhận xét nghiệm và hẹn đến tuần sau sẽ thông báo kết quả. Ông Cần quả quyết: "Nếu có kết quả xét nghiệm nguyên nhân do Nhà máy giấy Tân Mai gây ra chết cá, chúng tôi sẽ đòi bồi thường đến cùng".

Thật khó hình dung khi mà quản lý nhà nước về môi trường đã có sẵn một bộ máy chuyên nghiệp, khép kín từ địa phương đến trung ương nhưng khi "đụng chuyện" người dân phải tự… bơi như vậy.

Hoàng Tuấn

theo thanhnienonline

sẽ có một vụ nữa tương tựu như vedan, tungkuang


Tổng số lượt xem trang

free counters