Triết Lý, để làm gì ?

Khi ta bế tắc tư tưởng, chân thật công nhận rằng những kiến thức và phương pháp suy luận của ta không cho phép ta sống, tư duy và hành động khớp với khao khát làm người của ta, ngoài vô vàn cách ứng xử khác, ta có thể:

a) Tiếp tục sống, tư duy và hành động như cũ vì, dù sao, ta cũng sống được, không đến nỗi nào

b) Lột áo cũ, khoác áo mới, một tấm áo coi lành lặn đẹp đẽ hơn nhưng cũng hàm hồ không thua gì. Điều ấy luôn luôn khả thi bằng ngôn ngữ.

c) Đi tới cùng bế tắc của chính mình. Nếu không giải quyết được nó, ta ôm nó xuống suối vàng, để lại ở đời chỉ một câu hỏi. Câu hỏi của một con người. Đích thực. Có gì nhục đâu?

Nếu ta tưởng ta đã tìm ra một phần của giải pháp, ít nhất là cho riêng mình, thì cứ viết đi, chẳng cần trích cao nhân nào cả: họ đã là một phần của ta và ta đã phải “vượt” họ để nên mình.

Thế thôi.

(Chungta.com)

Góc nhỏ của Noby Vui Vẻ

Lục lọi, tìm tòi, đọc, cóp nhặt, chia sẻ, ... OK hay không tùy bạn ! ! !

“Nước độc lập mà dân chưa tự do thì độc lập cũng không có ý nghĩa”- Hồ Chí Minh.

9 thg 6, 2010

THƯ NGỎ CỦA NHÀ VĂN NGUYỄN KHẮC PHÊ


Nhà văn Nguyễn Khắc Phê

Kính gửi: Các vị đại biểu QUỐC HỘI
Đồng kính gửi: Ông Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải.

Huế ngày 28/5/2010

Được biết Quốc hội đang thảo luận về Dự án Đường sắt cao tốc Bắc-Nam, là một công dân từng làm cán bộ kỹ thuật cầu đường nhiều năm, xin được góp mấy ý kiến sau đây.

Mấy chục năm qua, là một cán bộ không đủ “tiêu chuẩn” đi tàu bay, mỗi khi có dịp đi dọc đất nước, tôi chỉ đi ô tô hoặc tàu hỏa, từng thấm nỗi khổ vì sự chậm trễ và thân thể bị bầm dập trong các chuyến đi, nên thoạt nghe sẽ có “tàu cao tốc” Hà Nội chạy suốt TP Hồ Chí Minh chỉ 5 tiếng đồng hồ, người sung sướng lâng lâng như… đi trên mây, như là một giấc mơ đẹp vậy. Phải! Là dân Việt, ai không muốn đất nước mình hiện đại, sánh vai càng năm châu bốn biển.

Tuy vậy, “tỉnh giấc”, và lắng nghe những ý kiến thẳng thắn tại diễn đàn Quốc hội, xin được nói thêm đôi điều để may chi được các đại biểu của nhân dân lắng nghe, tham khảo, trước khi biểu quyết.

1) Ai đi tàu cao tốc? Như trên vừa nói, cũng do không đủ “tiêu chuẩn” đi tàu bay và xe riêng đưa đón, có lẽ tôi có điều kiện hiểu được tình trạng người đi tàu xe hiện nay hơn là các Bộ trưởng. Xin thưa, dân ta còn nghèo và rất tiết kiệm, nên trong các đoàn tàu Thống nhất, đôi tàu ký hiệu TN giá rẻ, đi chậm vẫn đông khách hơn. Thậm chí, nhiều người vẫn chê giá tàu loại này đắt, nên thường chỉ đi bằng ô tô, trong đó có ông cụ trên 80 tuổi – một nhân vật nổi tiếng không chỉ trong nước: Ông Đặng Văn Việt, “Con Hùm Xám” trên đường số 4, từng được các tướng Pháp kính nể! Từ Hà Nội vào Huế, Nha Trang… ông đều đi bằng ô tô vì giá vé chỉ bằng nửa đi tàu hỏa. Vì thế, trừ các ngày Tết, nghỉ hè, các toa tàu nhanh ký hiệu SE ghế trống rất nhiều. Tôi không tin 20 năm nữa, dân ta đều có tiền đi tàu cao tốc gần ngang với giá vé tàu bay. Không khéo rồi tàu cao tốc xây xong chỉ để làm cảnh, hoặc như một tỉnh nào đó, lập đường bay, không có ai đi, Tỉnh phải chỉ thị mọi cán bộ, dù mức lương thấp mấy, đi công tác đều phải đi tàu bay, nếu không đường bay sẽ bị hủy bỏ!

Vì thế, xin đừng lo vốn bỏ ra to – các trùm ngân hàng tài chính thế giới sẵn sàng cho vay, càng nhiều “con nợ” khó trả, họ càng giàu – mà vấn đề nguy hiểm nhất là trong điều kiện Việt Nam hiện nay, điều chắc chắn là kinh doanh tàu cao tốc sẽ bị lỗ. Khi đó, món nợ khổng lồ không trả được chẳng khác chi sợi dây thòng lọng thắt vào cả đất nước mà Hy Lạp là chuyện nhãn tiền.

2) Tàu cao tốc không phải là một lối đi nhỏ trong thôn xóm:

Tôi thật sự ngạc nhiên khi nghe một số đại biểu nêu ý kiến là hãy cứ làm trước đoạn Hà Nội-Thanh Hóa và TP Hồ Chí Minh-Phan Thiết. Ý kiến xem ra “dễ chịu” vì đỡ lo bỏ vốn lớn một lúc và hai chặng đường này có lưu lượng khách nhiều hơn. Xin thưa: Làm một lối đi nhỏ trong thôn xóm, chưa đủ xi măng thì năm nay, bổ bê tông đoạn này, năm sau làm đoạn khác, vẫn có ích; nhưng đường tàu cao tốc với công nghệ hiện đại, bộ máy quản lý điều hành phải thống nhất, chỉ sử dụng trên quãng đường dài mới mong có lãi, chứ với chặng đường 1-200 km – nói hình ảnh một chút – máy nổ chưa nóng đã phải tắt, thì không bõ công. Ví von có khập khiễng, nhưng cũng tựa như “dùng dao mổ trâu làm thịt gà!”. Với người sử dụng, nếu đường bộ thông thoáng, người ta lên ô tô, “vèo” 1-2 giờ là đến, chứ trèo lên tàu cao tốc làm chi cho phiền phức! Nếu quyết định theo phương án này sẽ đưa đến tình thế nguy hiểm: Hoặc là để công trình dang dở, nợ đọng càng lâu, hoặc là “đâm lao phải theo lao”, dù đích đến là bất lợi cho đất nước.

3) Hãy “tạm gác” đường tàu cao tốc để tập trung mở rộng, nâng cấp đường số 1:

Tôi vừa có chuyến đi ô tô từ Huế đến Nam Định, chưa phải là quãng đường có lưu lượng xe lớn nhất trên quốc lộ 1, lại không phải là vào ngày lễ Tết, nhưng xe chạy gần như nối đuôi nhau. Với lưu lượng xe như thế, không ít đoạn bị hư hỏng và nhiều đoạn đường lại đi qua phố xá, liên tục có biển báo hạn chế tốc độ, thiệt hại hàng ngày (do chậm trễ công việc, hư hỏng xe cộ, tốn thêm xăng dầu…) là một con số khổng lồ. Các nhà quản lý giao thông có thể tính ra con số này. Xin các Bộ trưởng và đại biểu Quốc hội “vi hành” một chuyến từ Hà Nội vào TP Hồ Chí Minh bằng ô tô sẽ thấy rõ sự cấp thiết phải mở rộng và nâng cấp quốc lộ I. Chính ở công trình này mới có thể áp dụng phương án làm từng đoạn mà vẫn có ích; đoạn nào dễ mở rộng làm trước. Giấc mơ đẹp về con tàu cao tốc không thể an ủi hay làm dân chúng quên đi “con đường đau khổ” mà hàng triệu con người hàng ngày phải đi qua.

4) Xin hãy thăm dò ý kiến cử tri trước khi “bấm nút” biểu quyết:

Vấn đề đã đưa ra bàn, các đại biểu Quốc hội tất phải “bấm nút” biểu quyết. Các vị bấm nút không phải là quyền cá nhân mà là thay mặt cho hàng ngàn cử tri đã bầu mình. Nếu tôi không nhầm thì hầu hết các vị chưa lấy ý kiến đa số cử tri “sau lưng” mình. Xin hãy cẩn trọng! Thiết nghĩ Quốc hội nên hoãn việc biểu quyết dự án quan trọng này để các đại biểu có điều kiện tìm hiểu được ý kiến của cử tri. Như thế là làm đúng lời dạy cụ Hồ và cũng đúng với đường lối của Đảng. “Mọi chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước đều có sự tham gia xây dựng của nhân dân, phản ảnh lợi ích của đại đa số nhân dân…” (Báo cáo Chính trị của BCH Trung ương tại Đại hội X của Đảng)

Khát rượu _ huckerbh

Tôi tưởng mình đang hóa dáng Tây Bắc
Đứng oai hùng trong chờ đợi men ma
Từ hôm ấy đến bây giờ tóc bạc
Vẫn chưa thôi nhung nhớ rượu Bắc Hà.


Nay thiếu rượu tưởng như lòng vỡ mật
Dạ hoang tàn như một nhánh củi khô
Môi nóng cháy như sa mạc bỏng cát
Lưỡi quăn queo khô đến mực thấy mồ...


Và đôi mắt chao ôi sao dữ thế
Chực nuốt chừng cả thế giới vào trong
Đôi chân rượu bỗng bây giờ đứng thẳng
Khát làm sao cảnh xiêu vẹo khắp làng.


Rượu cho ta bao nhiêu niềm hạnh phúc
Khi ta buồn ta uống mãi không thôi
Rượu cho ta cả đất trời hư ảo
Lúc ta vui ta cạn với cuộc đời...

được sáng tác bởi huckerbh

Vô đề

Đã ko còn những đêm trăng lạnh giá

Có em ngồi cùng tìm ánh sao

Mặc gió rít làm run cành liễu

Ta vẫn ngồi sưởi ấm tình cho nhau.


Cuộc đời đâu dành cho ta năm tháng

Hạnh phúc bên nhau trọn kiếp đâu

Khi tơ hồng đứt đoạn, khi lòng người đổi thay

Trong mùa đông, anh sống không tháng ngày.


Đã không còn những chiều thu vàng lá

Ta dìu nhau dưới ánh hoàng hôn

Em đố anh tìm được màu lá

Hình trái tim, hình tình yêu của em …


Anh vội vàng lục tìm theo cơn gió

Bới cho ra chiếc lá hình tình yêu

Nở nụ cười, em yêu khẽ bảo :

Ngốc ạ, chiếc lá đó là anh.


Xuân, hạ, thu, đông, lá cũng rời cành

Bởi thời gian, bởi những làn gió lạnh

Hay bởi chính cây không còn tha thiết

Với chiếc lá tình yêu chẳng phai màu.

Đã không còn chiều hoàng hôn nắng đỏ

Bên Hồ Tây, ta cùng chờ đêm xuống,

Nắm tay nhau, em anh sát vai kề

Dắt nhau đến khung trời mơ mộng.


Và hôm nay, dù đã xa ngày ấy

Nhưng vẫn đây sóng Hồ Tây năm ấy

Vẫn còn đó chiều hoàng hôn nắng đỏ

Đợi em về xây lại cuộc đời anh.


Điều tra xã hội học


Cù Ngưu

Cù Ngưu có anh bạn, Lang Băm, là một tay đa năng, đa sự và đa dạng. Lang Băm tuy là tay "cò đủ thứ" nhưng vừa rồi lại bỏ ra cả tháng trời đi điền dã và mang về một món quà bất ngờ. Đó là tập tài liệu điều tra xã hội học mà theo Lang Băm nói, là đã được "đăng ký bản quyền" và sắp tới sẽ được dịch sang một so thứ tiếng của một số bộ lạc trên một số hòn đảo tân giữa Thái Bình Dương. Nhân ngày Tết, được phép của tác giả Lang Băm, Cù Ngưu xin trích một sồ "gạch đầu dòng" từ tài liệu điều tra mà chính tác giả của nó khoe là "sắp được giải thưởng nay mai", nhưng cũng nói thêm, là mình sẽ không nhận giải thưởng, đề chứng tỏ tinh thần khoa học vô tư và sự khiêm thường mặc định cửa một nhà khoa học. Chú thích: Những kết quả điều tra này được thực hiện ở 15 xã, 5 huyện và 1 thị xã mới lên thành phố.


100% hộ nghèo đều không nhận được quà biếu là rượu Tây, kể cả rượu Tây giả, nhân dịp Tết.

Có ít nhất một khu tập thể ở thành phố và 10 khu dân cư ở cả ba vùng: núi, đồng bằng và ven biển ở 3 huyện có thể công bố là "khu phố cổ" và “làng cổ" phục vụ cho chương trình tăng tốc du lịch 2007. Tất cả đểu mới được xây dựng, khu tập thể có tuổi thọ cao nhất cũng chi mới 17 năm, và khu tái định cư "trẻ nhất mới 3 tháng tuổi”. Tiêu chí để được đánh giá là "cổ" hóa ra không khó lắm: chỉ cần được xây dựng lèm nhèm, thiếu ximăng và thừa... cát, thiếu sắt thép và thừa... gỗ tạp. Ở đó "vật liệu truyền thống" được tôn vinh và sử dụng tối đa.

Những con đường cong queo trong thành phố có thể sẽ thành "mốt” cho phố xá tương lai, bởi trông chúng uốn lượn rất có duyên, dù dễ gây tai nạn.

2/3 số viên chức thường nói "không" với ý kiến riêng của mình, đơn giản vì họ chăng có ý kiến gì cả, và thường xuyên nói "có" với phong bì khi có dịp.

75% giáo viên thiết tha với việc học... thêm của học trò, còn khoảng 50% học trò thiết tha đi... siêu thị hay quán Internet… chat hơn là đi học.

Gần 80% quan chức thường xuyên trong túi không có tiền. Nhiều quan chức không phân biệt được các mệnh giá tiền xu và không biết dừng tiền xu để làm gì vì trò chơi đanh đáo lỗ đã tuyệt chửng.

Nhiều quan chức thú thực là rất sợ khi người ta biếu những món quà nặng… ký vào dịp Tết. Càng nặng càng nhẹ. Nhiều quan chức đã khuyến cáo người tặng quà Tết là không nên tặng rượu Tây, vì năm nay rượu giả nhiều quá. Nên tặng phong bì đựng tiền định dùng mua rượu Tây biếu Tết, để tiết kiệm thời gian và công sức.

Điều ngạc nhiên nhất là có gần 50% nông dân không còn thiết tha với ruộng đất, trong khi những người yêu đất nhất, thiết tha với đất nhất lại là các quan chức, những người ngồi bàn giấy máy lạnh và đi xe ôtô con suốt đời không trông dù một cây rau hay cấy một dảnh mạ.

Mật và gan một số loài cá sông đang được dân nhậu giàu có ưa chuộng. Đơn giản, vì những con cá này phải "to gan lớn mật" lắm mới dám sống ở những dòng sông đầy chất thải công nghiệp.

Các em bé bán vé số có rất nhiều cơ hội để trở thành những vận động viên điền kinh chuyên nghiệp. Các em trung bình moi ngày đi bộ 42 km 150, đúng bằng cự ly chạy marathon. Dù phần trăm hoa hồng bị các "sếp" xổ số kiến thiết liên tục cắt xén, nhưng đoạn đường "hành quân" mỗi ngày của các em vẫn được giữ nguyên.
Theo Tạp chí Thanh niên

Di cư


Harvey B. King

Dịch viên: Lê Thủy

A. Giới thiệu

Di cư thường được hiểu là chuyển đến một chỗ ở khác cách chỗ ở cũ một khoảng cách đủ lớn buộc người di cư phải thay đổi hộ khẩu thường trú: chuyển đến một thành phố khác, một tỉnh khác hay một nước khác.

· Ở Bắc Mỹ, hiện tượng di cư diễn ra rất nhiều, nhất là đối với người lao động trẻ tuổi.

· Những khác biệt về mức tiền công thực tế giữa các tỉnh hàm ý rằng bạn sẽ thu được lợi ích về mặt kinh tế từ việc di cư.

· Tuy nhiên, chúng ta nên lưu ý rằng tỷ lệ thất nghiệp, tỷ lệ việc làm/dân số khác biệt nhau về cơ bản.

· Điều này ngụ ý rằng di cư không đóng vai trò điều hoà giữa các thị trường lao động trong các tỉnh.

· Như bài báo trên tờ Bưu điện Quốc gia phản ánh, vấn đề người nhập cư từ nước ngoài thường là vấn đề chính trị quan trọng ở Canada.

· Một số người lo ngại rằng tình trạng nhập cư làm tăng tỷ lệ thất nghiệp.

· Những người khác lại cảm thấy rằng đây là giải pháp chủ yếu cho việc suy giảm tốc độ tăng trưởng dân số ở Canada.

· Chúng ta cũng lưu ý rằng để có thể hiểu được tăng trưởng dân số ròng hay thay đổi dài hạn trong cung lao động nói chung, chúng ta cần hiểu về vấn đề nhập cư và di cư.

· Hiện tại, số người nhập cư đóng góp khoảng 60% vào tổng mức tăng dân số Canada trong một năm!

· Cuối cùng, để có thể hiểu được hiện tượng Chảy máu Chất xám, chúng ta cần phải tìm hiểu về di cư.

· Kesselman chỉ ra rằng dòng người di cư sang Mỹ bao gồm những thành viên năng động/nhiệt huyết nhất, có trình độ học vấn cao nhất trong LLLĐ.

· Kết quả là tình trạng Chảy máu Chất xám này có thể giảm tăng trưởng kinh tế một cách nghiêm trọng.

Xem bài báo trong tờ Bưu điện Người Lãnh đạo để tìm hiểu thêm về lập luận cho rằng hiện tượng di cư đang tác động xấu đến triển vọng kinh tế của Regina (đúng là chúng ta vẫn thường nghe có những nhận xét tương tự về triển vọng kinh tế của Saskatchewan).

· Liệu nhận xét này có đúng không?

· Chắc chắn Chảy máu Chất xám là một vấn đề có tầm mức ảnh hưởng lớn. Ước tính gần 50% người dân sinh ra ở Saskatchewan đã chuyển tới sinh sống ở tỉnh khác.[1]

B. Di cư: Dữ liệu Chuẩn hóa

Có thể tham khảo những số liệu về di cư dưới đây trong Tờ Nhật báo Thống kê Canada, thứ ba, 25/12/2001 (tại địa chỉhttp://www.statcan.ca/Daily/English/010925/d010925b.thm).

· Đối tượng khảo sát của tờ báo là những người di cư trong phạm vi một tỉnh, từ tỉnh này sang tỉnh khác hay từ nước này sang nước khác trong giai đoạn từ 1/7/1999 đến 30/6/2000.

· Tổng số người ra nhập vào dòng di cư lên tới gần 1.3 tỷ người trong giai đoạn này.

· Trong đó di cư từ tình này sang tỉnh khác là 286,000 người, di cư từ khu vực Điều tra này sang khu vực điều tra khác trong phạm vi một tỉnh là 943,000 người.[2]

· Bảng dưới đây (lấy từ tờ Nhật báo) cho chúng ta kết quả của các KV Đô thị được lựa chọn trong cuộc điều tra.

Di cư trong KV Đô thị - Kết quả Điều tra năm 1999/2000

Nhập cư

Di cư

Ròng

Tỷ lệ ròng/1000 dân

1999/2000

1998/99

Windsor

12,675

7,436

5,239

17.5

12.7

Calgary

50,301

35,111

15,190

16.4

18.6

Oshawa

16,958

12,293

4,665

15.9

10.7

Toronto

165,485

99,866

65,619

14.1

12.3

Kitchener

20,725

15,183

5,542

13.4

11.4

Ottawa-Hull

49,662

36,097

13,565

12.7

8.4

Vancouver

73,901

51,608

22,293

11.0

10.8

Winnipeg

20,452

19,956

496

0.7

0.1

Saint Jonh

3,838

3,936

-98

-0.8

-0.7

Trois-Rivières

4,675

4,970

-295

-2.1

-0.7

Saskatoon

10,663

11,563

-900

-3.9

0.7

Regina

7,817

8,993

-1,176

-5.9

-0.8

Thunder Bay

3,807

4,938

-1,131

-8.9

-6.1

Sudbury

5,429

6,969

-1,540

-9.7

-17.8

Chicoutimi-Jonquiere

3,445

5,158

-1,713

-10.6

-5.6

Cần lưu ý một điều rằng rất nhiều người di chuyển chỗ ở. Có khoảng 4% dân số Canada di chuyển vào/ra một khu vực thuộc diện điều ra trong một năm.

· Điều thứ hai cần lưu ý là mặc dù ở mỗi thành phố xu hướng nổi trội có thể là di cư hay nhập cư, thậm chí có thành phố có tỷ lệ di cư ròng song dòng di chuyển luôn là về cả hai hướng: ra và vào.

· Di chuyển chỗ ở là cách các cá nhân phản ứng trước các nhân tố trong thị trường lao động cá nhân của họ, hay các hàm thỏa dụng cá nhân của họ.

Vậy còn hiện tượng di chuyển chỗ ở từ Canada sang nước khác và ngược lại thì sao?

· Trong nửa cuối của thập kỷ 90, có khoảng từ 200,000 đến 250,000 người nhập cư vào Canada.

o Số người nhập cư chủ yếu đến từ các nước như Trung Quốc (bao gồm cả Hồng Kông), Ấn Độ, Pakistan, Philipin và Nam Triều Tiên.

· Việc ước tính số người di cư khỏi khó khăn hơn vì Thống kê Canada không đưa ra câu hỏi này tại các cửa khẩu.

o Rõ ràng là có dòng di dân đối ngược ra khỏi Canada song khó có thể ước tính được số lượng. Ví dụ như dòng người nhập cư hồi hương.

o Tuy nhiên, bằng việc khảo sát dữ liệu của cuộc Điều tra Dân số Mỹ, chúng ta có thể thấy rằng có khoảng từ 22,000 đến 35,000 người Canada di cư sang Mỹ mỗi năm (sách giáo khoa trang 339).

Việc của chúng ta là thử lý giải những con số di dân này.

C. Mô hình Kinh tế của Di cư

Nguyên nhân chủ yếu (song không phải là duy nhất) của hiện tượng di cư là nguyên nhân kinh tế.

· Mọi người di chuyển chỗ ở khi độ thỏa dụng mong đợi của việc chuyển đi cao hơn so với độ thỏa dụng mong đợi của việc ở lại sau khi đã trừ đi chi phí của việc di chuyển.

· Trong một môi trường kinh tế đơn giản, người ta chỉ chuyển đi khi giá trị hiện tại PV(lợi ích của việc chuyển đi) > PV(chi phí của việc chuyển đi), trong đó chi phí bao gồm tiền công bị mất tại nơi rời đi, chi phí thực tế của việc di dời, chi phí thỏa dụng của việc di dời (đôi khi vẫn thường gọi là chi phí tâm lý - psychic costs).

· Bởi vậy, quyết định di cư rất giống với quyết định đầu tư vào vốn con người như minh họa trong đồ thị dưới đây.

· Bạn rót vốn đầu tư ban đầu để thu được một khoản lợi lớn hơn trong tương lai, v.v.

Hình 1 Quyết định Di cư

Chúng ta có được kết quả rằng Xác suất (di cư) là một hàm của các biến sau:

· Khác biệt về thu nhập giữa các khu vực.

· Khác biệt thất nghiệp giữa các vùng.

· Rào cản ngôn ngữ hay các rào cản văn hóa khác. Chúng giảm lợi ích kinh tế thu được và tăng chi phí tâm lý.

· Khoảng cách giữa nơi đi và nơi đến.

· Khoảng cách này là biến đại diện cho chi phí di dời và tình trạng thiếu hụt thông tin về nơi đến.

· Nếu bạn đang nghĩ đến việc chuyển đến Saskatoon, lúc nào bạn cũng có thể đến đó vài ngày để thám thính tình hình trước khi chuyển chính thức.

· Sẽ khó khăn hơn cho bạn rất nhiều nếu đó là Vancouver chứ không phải là Saskatoon.

· Chi phí tâm lý (pychic costs) là một hàm của sự cách biệt về địa lý với gia đình của bạn và những khác biệt về văn hóa.

· Phí tâm lý sẽ giảm phần nào khi ở nơi đến có sự góp mặt của các cộng đồng đông đảo những người có cùng gốc gác với bạn.

· Đó chính là lý do tại sao Toronto và Vancouver thu hút đến 50% số người nhập cư vào Canada. Các cộng đồng dân cư thiểu số sống tại hai nơi này luôn sẵn sàng hỗ trợ cho việc di chuyển của những người nhập cư mới.

· Độ tuổi: những người trẻ tuổi di cư nhiều hơn bởi họ có được quãng thời gian lâu hơn để thu hồi chi phí bỏ ra và cũng bởi chi phí tâm lý mà họ phải chịu thấp hơn.

· Những trợ cấp thất nghiệp khu vực.

· Ví dụ năm 1971 ở Canada, mức trợ cấp thất nghiệp cho công nhân đánh bắt cá và những khu vực có tỷ lệ thất nghiệp cao tăng mạnh.

· Trong một vài năm tới đây, di cư ròng ra khỏi các tỉnh bên bờ Đại Tây Dương sẽ biến thành nhập cư ròng vào các tỉnh này.

· Nếu bạn là một chủ hộ gia đình, ít có khả năng bạn sẽ di cư hơn vì chi phí bạn phải bỏ ra cao hơn.

· Tình trạng hôn nhân: di cư sẽ khó khăn khi vợ/chồng bạn cũng đi làm. Bởi vì, bạn cần có mức thu nhập dự kiến của cả hai vợ chồng ở nơi đến phải cao hơn ở nơi đi để đảm bảo rằng quyết định di cư của bạn là đúng đắn.

D. Di cư Nhóm

Di cư gia đình phức tạp hơn di cư đơn lẻ từng cá nhân bởi bạn cần có được mức thỏa dụng hộ gia đình cao hơn.

· Bởi vậy, bạn có thể cần có được mức thu nhập tổng cao hơn.

· Nhất là thời kỳ trước đây, phần lớn các trường hợp di cư là nhằm mục đích tăng mức tiền công của lao động nam vì nam giới chú trọng đến sự nghiệp nhiều hơn. Họ có xu hướng nhận được mức lương cao hơn.

· Tuy nhiên, nghiên cứu cho thấy rằng mức tiền công của lao động nữ sẽ bị cắt giảm khi họ di cư theo người thân của mình do mất đi vốn con người chuyên ngành.

· Một nghiên cứu những năm 70 cho thấy rằng mỗi lần di chuyển, mức tiền công của lao động nữ giảm trung bình khoảng 29%.

· Ngày nay, mọi việc có vẻ khả quan hơn khi nghề nghiệp của lao động nữ đang ngày càng quan trọng hơn đối với gia đình họ.

· Nhưng mặt khác, di cư toàn gia đình có thể sẽ suy giảm: nghiên cứu cho thấy lao động nam độc thân là đối tượng có khả năng di cư lớn nhất. Tiếp đó là lao động nam đã lập gia đình và cuối cùng là lao động nam đã lập gia đình cùng vợ họ, những người đi làm toàn thời gian.

E. Di cư và Thông tin

Thông tin đóng một vai trò quan trọng. Không dễ gì để biết được chính xác điều kiện của thị trường lao động ở một vùng khác, nhất là các thông tin ở cấp độ vi mô.

· Mọi người phải đoán chừng.

· Bởi vậy, các nhà kinh tế đã tìm ra được rằng:

· Phải có một độ chênh lệch lớn về tiền công mới đủ để khuyến khích mọi người chấp nhận rủi ro khi di cư.

· Tỷ lệ hồi hương đóng vai trò quan trọng (theo một số đánh giá thì nó chiếm tới 50% số lượng người di cư ở Canada).

· Sau khi đến nơi định cư mới và phát hiện ra rằng bạn không thể tìm được một công việc ở đó, hay sau khi di cư đến Toronto, bạn thấy chán ghét cuộc sống ở đây, bạn sẽ quay trở về quê hương bạn.

F. Tác động của Di cư đối với Người di cư

Các nhà tuển dụng có xu hướng thích tuyển người dân bản địa hơn là người di cư từ nơi khác đến: việc kiểm tra lý lịch của họ dễ dàng hơn, họ sẽ hòa nhập tốt hơn vào văn hóa bản địa và ít có khả năng bỏ việc hơn..

· Bởi vậy, thoạt đầu người nhập cư chịu một mức lương thấp hơn.

· Tu nhiên, nhìn chung, người di cư có đầu óc nhanh nhạy hơn. Về lâu dài, họ có xu hướng đạt được những mức lương tốt hơn. Điều này giống như mô hình của chúng ta dự báo.

· Một nghiên cứu của Mỹ đã do sánh người nhập cư với những công dân bản địa tương tự (có cùng trình độ học vấn, kinh nghiệm làm việc, v.v.) và phát hiện ra rằng sau 10 năm, người nhập cư có mức thu nhập cao hơn người dân gốc là 3 %![3]

· Với trường hợp Canada, nhìn chung họ thường là những người có trình độ học vấn cao hơn, có tỷ lệ tham gia vào LLLĐ cao hơn, tỷ lệ thất nghiệp thấp hơn, v.v. Xem nghiên cứu của Baker và Benjamin liệt kê trong danh mục sách tham khảo.

G. Tác động của Di cư đối với Thị trường Lao động nơi đến

Có nên lo ngại rằng dòng người nhập cư đang tràn ngập thị trường lao động, gây sức ép cắt giảm mức tiền công và tạo ra thất nghiệp hay không (tham khảo một số quan điểm tương tự trong bài báo đăng trên tờ Bưu điện Quốc gia).

· Hầu như không có mấy bằng chứng chứng minh rằng di cư tạo ra thất nghiệp trong thị trường nơi đến.

· Suy nghĩ một cách lôgic, những người di cư không bao giờ chuyển đến những nơi có mức thất nghiệp cao vì mục đích của họ là tối đa hóa lợi ích thu được.

· Họ đến cùng với nhu cầu về các dịch vụ nhà ở, v.v. Những nhu cầu này tạo ra việc làm mới cho thị trường nơi đến.

· Nhất là khi người di cư thường đang còn trẻ và bắt đầu tạo dựng gia đình cho riêng mình, v.v.

· Có khá nhiều bằng chứng cho thấy rằng nhập cư không phải là nguyên nhân khiến cho mức thất nghiệp tăng cao.

Người ta cho rằng di cư là động lực thúc đẩy các thị trường lao động đạt được mức cân bằng, điều chỉnh cung lao động và mức tiền công cho đến khi chúng ta có được những khác biệt đền bù hoàn hảo (complete compensating differentials).

· Tuy nhiên, rất nhiều bằng chứng chứng tỏ rằng di cư không làm được điều đó, thị trường lao động không đạt được mức cân bằng.

· Nguyên nhân có thể là do tính cứng nhắc của thị trường lao động, mức phí di cư cao hoặc thị trường lao động bị bóp méo do các chương trình của CP.

· Như chúng ta thấy ở phần trước, vẫn tồn tại nhưng khác biệt về tiền công và thất nghiệp lớn giữa các vùng. Trạng thái cân bằng đầy đủ chưa bao giờ xảy ra.

H. Tác động của Di cư đối với Thị trường Lao động nơi đi. Có Hiện tượng Chảy máu Chất xám không?

Trước tiên cần phải xác định được quy mô của hiện tượng chảy máu chất xám?

· Bài khóa lập luận rằng mỗi năm có khoảng từ 22,000 đến 35,000 người Canada di cư sang Mỹ.

· Nhiều người trong số này là những người có trình độc học vấn cao, có tâm huyết với nghề. Họ là những người có mức thu nhập cao trước cũng như sau khi di cư.

Thứ hai, hiện tượng chảy máu chất xám có thể gây ra những vấn đề gì?[4]

· Kesselman lập luận rằng một quốc gia sẽ phải chịu ba cái mất lớn từ hiện tượng chảy máu chất xám.

o Thứ nhất, CP của quốc gia đó phải chi trả cho phí đào tạo những người di cư. Phần lớn trong số họ là những người có học vấn cao (ví dụ như các bác sĩ).

o Thứ hai, họ thường là những người đóng góp tài chính ròng. Khoản thuế họ nộp nhiều hơn khoản trợ cấp chi cho họ.

o Thứ ba, một phần để phục vụ những cá nhân này, chúng ta phải vay nợ song họ lại không góp phần giúp chi trả những khoản nợ đó.

o Song cái mất thứ tư, và theo Kesselman cũng là cái mất nghiêm trọng nhất, là những người di cư bằng chính việc di cư đang thể hiện rằng họ chính là những người lao động đầy tài năng và năng động, sáng tạo. Trong nhiều trường hợp, họ chính là các nhà phát minh, sáng chế của đất nước.

o Mất đi những cá nhân ưu tú này, tốc độ tăng trưởng kinh tế của Canada sẽ bị kéo chậm lại.

Cuối cùng thì đâu là giải pháp khả thi cho tình trạng Chảy máu Chất xám?

· Một giải pháp thường được đề xuất là cắt giảm thuế. Cơ sở lập luận cho giải pháp này là chính sách cắt giảm thuế của CP Mỹ đang thu hút được lao động Canada.

· Kesselman chỉ ra rằng đó là một phần của vấn đề song không phải là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến tình trạng di cư của nhiều người Canada sang Mỹ.

· Ông chỉ ra rằng chính cơ hội việc làm chứ không phải thu nhập sau thuế là động lực khuyến khích mọi người di cư.

· Bởi vậy, ông ủng hộ cho nỗ lực theo đuổi các chính sách kinh tế vĩ mô góp phần tạo ra nhiều việc làm hơn (job-friendly).

· Kesselman cũng lưu ý rằng các cá nhân sẵn sàng chấp nhận một mức thuế cao hơn, thu nhập thấp hơn nếu những khía cạnh khác của đời sống của họ được đảm bảo ở mức cao hơn.

o Về cơ bản, người dân Canada có quan điểm về một cuộc sống đơn giản hơn so với người Mỹ. Miễn là những phúc lợi như bảo hiểm y tế, trường ĐH công được duy trì ở một mức độ thích đáng thì họ sẽ ở lại Canada thay vì di cư sang Mỹ.

· Cuối cùng thì giải pháp thứ ba là đảm bảo có một dòng nhập cư đủ lớn để bù đắp cho lượng người di cư.

o Nghiên cứu của Zhao, Drew và Murray đã chỉ ra rằng số lao động có trình độ học vấn cao nhập cư vào Canada nhiều hơn là di cư ra khỏi Canada.[5]

Tóm lại: Chảy máu Chất xám là một vấn đề nghiêm trọng song nó không trầm trọng đến mức hủy hoại nền kinh tế Canada.

I. Kết luận

Nhìn chung thì ở Canada, các nghiên cứu cho thấy rằng:

· Dòng người di chuyển chỗ ở thường hướng từ vùng có mức tiền công thấp, tỷ lệ thất nghiệp cao đến những vùng có mức tiền công cao và tỷ lệ thất nghiệp thấp.

· Xu hướng là người di cư tìm cách giảm thiểu tối đa khoảng cách phải di chuyển ở mức có thể.

· Như chúng ta dự đoán, di cư có xu hướng tăng thu nhập ròng suốt đời cho người di cư.

· Tác động của di cư lên thị trường lao động nơi đến dường như là tương đối trung tính.

· Người ta vẫn đang nghiên cứu về tác động của di cư đối với thị trường lao động nơi đi. Song có thể, tác động này là nghiêm trọng.


[1] Được Cousineau và Vaillancoutr ước tính là 45.6% năm 1991 sử dụng dữ liệu của cuộc Điều tra Dân số năm 1991. Phần lớn những người này chuyển đến Albetra và BC.

[2] Những dữ liệu di cư này có được từ việc so sánh các địa chỉ cung cấp trong lưu trữ về lợi tức thuế thu nhập cá nhân mùa xuân năm 1999 và 2000. Chúng được điều chỉnh theo ước tính dân số Tháng 6. Các dữ liệu này thể hiện những di cư nội tỉnh giữa các KV Đô thị thuộc diện Điều tra hay các Tiểu vùng Điều tra (các đơn vị địa lý nhỏ hơn cấp tỉnh như hạt, huyện hay thành phố thuộc tỉnh), cũng như những dòng di cư giữa các tỉnh và giữa các quốc gia. Không tính đến những trường hợp chuyển chỗ ở từ thị trấn này sang thị trấn khác hay từ khu phố này sang khu phố khác." -Tờ Nhật báo

[3] Có một số bằng chứng chứng tỏ rằng những lao động nhập cư chất lượng cao này đang giảm đi trong những năm gần đây. Xem bài báo của tác giả Borja trong tờ Tạp chí Lý thuyết Kinh tế, tháng 12 năm 1994.

[4] Ngoài Kesselman, bạn cũng có thể tìm đọc J. Zhao, D. Drew, và T. Murray, "Chảy máu Chất xám và Thu hoạch Chất xám: Di cư của Lao động Trí thức đến và đi khỏi Canada," Tạp chí Tổng kết Giáo dục Quý, Mùa Xuân 2000, có thể tham khảo tại địa chỉ trang web thtp://www.statcan.ca:80/english/indepth/81-003/feature/eq2000_ v06n3_spr_a01_hi.thm, HRDC và Công nghiệp Canada, "Di cư Quốc tế của Nhan công có trình độ: Thực tế và Tác nhân," tháng 12 năm 1999 (thtp://strategis.ic.gc.ca/SSI/ra/hand_e.pdf), hay J. Helliwell, "Giám sát Quá trình Chảy máu Chất xám," Chuẩn bị cho Ban chuyên môn về kỹ năng trong Hội đồng Tư vấn Khoa học Kỹ thuật, CP Canada, tháng 2 năm 1999 (http://acst-ccst.gc.ca/acst/skills /finalrepdocs/mainmenu-e.pdf).

[5] Trích dẫn trên.

tin vắn thế giới


Ði bộ toàn cầu ủng hộ chống đói nghèo

Hơn 150 nghìn người ở 70 nước trên khắp thế giới đã tham gia 153 cuộc đi bộ tập thể mang tên "Ði bộ thế giới" nhằm nâng cao nhận thức và ủng hộ các nỗ lực của Chương trình Lương thực thế giới của LHQ (WFP) trong cuộc chiến chống đói nghèo.

OAS bất đồng về vấn đề tái kết nạp On-đu-rát

Tại phiên họp Ðại Hội đồng Tổ chức các quốc gia châu Mỹ (OAS) lần thứ 40 tại Thủ đô Li-ma (Pê-ru), các nước thành viên đã không tìm được tiếng nói chung về vấn đề tái kết nạp On-đu-rát.

ILO hối thúc các nước cân bằng khủng hoảng nợ và tạo việc làm

Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) đã kêu gọi các nước trên thế giới thực hiện chiến lược chính sách cân bằng để thúc đẩy tiến trình phục hồi kinh tế tạo nhiều việc làm trong bối cảnh cuộc khủng hoảng nợ và khó khăn tài chính đe dọa kinh tế toàn cầu.

Tăng cường trao đổi thương mại và du lịch Mỹ - Cu-ba

Trong chuyến thăm Cu-ba, Thống đốc bang Gioóc-gi-a (Mỹ) X.Pơ-đu đã có buổi làm việc với Phòng Thương mại Cu-ba và đại diện công ty nhập khẩu lương thực với La Ha-ba-na, nhằm tăng cường trao đổi thương mại và du lịch.

Chính phủ Mỹ họp về vụ tràn dầu trên vịnh Mê-hi-cô

Phát biểu ý kiến tại phiên họp chính phủ về vụ tràn dầu trên vịnh Mê-hi-cô, Tổng thống Mỹ B.Ô-ba-ma tuyên bố, chính quyền sẽ đứng về phía các cộng đồng bị ảnh hưởng bởi vụ tràn dầu cho tới khi thảm họa này được giải quyết, đồng thời cảnh báo mức độ tác động đến kinh tế của tình trạng dầu loang sẽ là "không nhỏ".

Tư duy phản biện và tư duy tích cực


Giả sử bạn đang ngồi làm việc bên máy tính xách tay (laptop) và bên cạnh bạn có một ly nước uống được. Bạn chỉ cần chuyển tay góc 30 độ, không cần với, là sẽ được uống nước mát.

Tư duy tích cực giúp tôi nhận thấy bạn là người rất chu đáo, làm việc khoa học, biết chăm sóc bản thân. Hẳn sau này bạn sẽ là người rất biết chăm lo cho gia đình.

Tư duy phản biện giúp tôi nhận thấy bạn là người lười vận động, cẩu thả và chẳng biết an nguy cho cái máy tính quý giá ngần ấy. Hẳn sau này bạn sẽ phải cố gắng nhiều hơn nữa để thực sự biết chăm lo cho bản thân và người thân.

Tư duy tích cực lại giúp tôi khuyên bạn nên để bên trong phòng bạn, có thể là trước mặt bạn, một chai La Vie nhỏ chứa đấy nước mát và được vặn chặt nắp. Mỗi khi bạn thấy thích, hoặc cần, uống nước, bạn chỉ cần đứng dậy, đi lại 3 bước, đứng thẳng, cầm cả chai mà giải khát. Hoặc bạn có thể cầm chai đó ra gần cửa sổ thoáng mát mà uống nữa.

Với bất kì sự vật, hiện tượng hay cả con người nào mà ta tiếp xúc hàng ngày, tự thân họ cũng có những điểm mạnh và yếu, tích cực và hạn chế. Tư duy tích cực giúp ta hiểu được mặt tốt của họ mà hợp tác và học hỏi từ họ. Tư duy phản biện giúp ta nhìn thấy mặt hạn chế. Tư duy tích cực lại lần nữa giúp ta tìm được cách khắc phục hạn chế để làm sao có lợi cho ta nhất mà đối tác khác cũng lợi ít nhiều.

Bạn có thể tham khảo thêm năng lực sáng tạo và tự làm mới bản thân.

Chúc vui, khỏe.

Chúng ta phải làm cho toàn cầu hóa có lợi cho tất cả mọi người


Joseph Stiglitz
Yale Global

Cải cách các hệ thống thương mại và tài chính là rất quan trọng

Hàng triệu người có thể thoát nghèo với việc điều hành nền kinh tế toàn cầu tốt hơn.

NEW HAVEN: Trong thập niên 1990 vừa qua, toàn cầu hóa vẫn được nhìn nhận rất tích cực. Rằng “Toàn cầu hóa kiểu Mỹ” sẽ mang lại sự thịnh vượng chưa từng có cho tất cả các nước trên thế giới. Các dòng lưu chuyển vốn đã tăng gấp 6 lần. Đã có nhiều hiệp định thương mại mới được xem như dấu hiệu chuyển tải một kỷ nguyên mới, và các nhà kinh tế bàn tán về những gì mà các hiệp định này sẽ mang lai cho công ăn việc làm, cho sự thịnh vượng ở Mỹ. Nhưng đến cuối thập niên 90 toàn cầu hóa bỗng chốc tỏ ra khác đi. Hội nghị của WTO tại Seatle trên nguyên tắc phải đề ra được một loạt các cuộc đàm phán thương mại mới. Nhưng thay cho một vòng đàm phán mới là những cuộc bạo loạn vô tiền khoáng hậu – trên một phạm vi mà Mỹ chưa từng thấy trong 20 năm qua. Giả sử các hiệp ước thương mại có mang lại sự thịnh vượng cho các nước đang phát triển thì chính họ hình như cũng không biết được điều đó.

Phần lớn sự bất mãn này có lý do chính đáng. Một nghiên cứu của Ngân hàng Thế giới cho thấy khu vực nghèo nhất trên thế giới - vùng Cận Sahara của châu Phi - thật sự đã bị nghèo thêm khoảng 2-3% so với trước. Nhưng ngay cả trước khi báo cáo này được công bố, rõ ràng là có rất nhiều vấn đang tồn tại. Rõ nhất là cuộc khủng hoảng Đông Á, tiếp theo là cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 1998.

Đối với một số nước, tỷ lệ nghèo đói, dân trí và tuổi thọ bình quân đều được cải thiện nhờ có toàn cầu hóa

Mặt khác, toàn cầu hóa thực sự đã có một số thành công, cụ thể là sự tăng trưởng ban đầu của Đông Á. Trong ba thập niên trước đó, những nước như Hàn Quốc đã mục kích thu nhập bình quân đầu người của họ tăng gấp 8 lần. Nghèo đói hầu như bị xóa bỏ hoàn toàn, tỉ lệ biết đọc biết viết hoàn toàn được phổ cập, các tiêu chuẩn chăm sóc y tế đã được cải thiện, tuổi thọ bình quân tăng - tất cả những thành tựu này đều nhờ vào toàn cầu hóa. Nhưng sự “toàn cầu hóa” này lại phần lớn được định nghĩa theo cách riêng của họ. Tăng trưởng của các nước này dựa trên cơ sở lấy xuất khẩu làm chủ đạo và hấp thụ kiến thức (đặc biệt là công nghệ) từ những nước công nghiệp tiên tiến nhất. Các ví dụ của châu Á chứng minh rằng khi toàn cầu hóa được điều hành đúng đắn, nó có thể mang lại những lợi ích to lớn, không chỉ là tăng trưởng kinh tế mà thậm chí là tăng trưởng với sự phân phối công bằng (về tài nguyên và thu nhập). Nhưng khi không được điều hành tốt, không được thực hiện một cách có chọn lọc thì nó có thể gây ra những tác động rất bất lợi.

Sự kết thúc chiến tranh lạnh đã mở ra những cơ hội mới cho nỗ lực tạo ra một trật tự kinh tế mới toàn cầu mới, một trật tự kinh tế dựa nhiều hơn vào một tập hợp các nguyên tắc, tư tưởng và ý tưởng về công bằng xã hội. Thế giới đã có cơ hội hình thành một sân chơi bình đẳng mới. Chúng ta đã bỏ qua cơ hội này. Tôi cho rằng đa số mọi người – các nhà làm chính sách, giới học thuật và phần lớn dân chúng - đều chưa có một tầm nhìn rõ ràng về những gì chúng ta muốn hoặc điều gì đáng lẽ phải được tạo ra. Nhưng giới tài chính và thương mại thật sự đã có một tầm nhìn về những gì mà họ muốn. Họ muốn nắm lấy cơ hội này để mở rộng, để tạo ra một thế giới mở cửa ra những thị trường mới cho chính họ, cho các tập đoàn ở những nước công nghiệp tiên tiến. Và họ sử dụng chính phủ Mỹ để thúc đẩy quan điểm này. Vì vậy điều đã xảy ra là Mỹ, và châu Âu cũng tham gia một phần vào việc này – đã sử dụng sức mạnh kinh tế và vị trí của mình như là một siêu cường độc nhất về quân sự và kinh tế. Mỹ sử dụng vị trí của mình để tạo ra một loạt những chính sách rất phi lý, đặc biệt là trong lĩnh vực thương mại. Và giờ đây chúng ta đang gặt hái hậu quả.

Khi chiến tranh lạnh kết thúc, Thế giới đã có cơ hội hình thành một sân chơi bình đẳng mới. Chúng ta đã bỏ qua cơ hội đấy.

Ý nghĩa kinh tế đằng sau những sự bất bình đẳng này là tương đối dễ hiểu. Các yếu tố bất cân xứng đã được lồng vào những hiệp định thương mại, từ đó các nước phát triển có thể đưa ra yêu sách đòi các nước đang phát triển phải dỡ bỏ tất cả các hình thức trợ giá thương mại và tất cả các rào cản thương mại đối với các mặt hàng mà các nước công nghiệp hóa có lợi thế so sánh. Đổi lại thì các quốc gia phát triển không làm gì cả. Hàng sản xuất công nghiệp vốn dĩ là trung tâm của các cuộc thảo luận thương mại trong 50 năm qua, ngày càng trở thành một bộ phận nhỏ bé trong nền kinh tế Mỹ. Số việc làm trong sản xuất công nghiệp hiện đã giảm còn 14% trong tổng lực lượng lao động Mỹ. Do đó nó không quan trọng bằng ngành dịch vụ đang chiếm ưu thế, và như vậy việc Mỹ chú tâm vào lĩnh vực này là lẽ tự nhiên. Nhưng các ngành dịch vụ nào được đưa vào nội dung nghị sự? Chủ yếu là dịch vụ tài chính mà Mỹ có lợi thế so sánh, có thể gọi đây là các ngành xuất khẩu mới của Mỹ. Không nằm trong nội dung nghị sự là các ngành dịch vụ về hàng hải, xây dựng, sử dụng nhiều lao động phổ thông, đó là những loại dịch vụ mà Mỹ không có ưu thế và bảo hộ rất chặt.

Bởi vì toàn cầu hóa được thúc đẩy bởi cái mà tôi gọi là chương trình nghị sự “đặc ân”, nên những vấn đề căn bản tạo dựng nên quá trình toàn cầu hóa đã không được đề cập đến. Chính hệ thống tài chính toàn cầu gây rắc rối nhiều nhất. Trong 6 năm đã có đến sáu cuộc khủng hoảng tài chính và đó cũng không phải là những cuộc khủng hoảng đầu tiên. Điều đặc biệt phiền toái là trong khi chúng ta nói rằng hệ thống tài chính được toàn cầu hóa này tuyệt vời như thế nào trong việc giải quyết những vấn đề về rủi ro, thì chính các nước đang phát triển đã bị bỏ mặc với gánh nặng của biến động lãi suất và thị trường. Điều đó đã gây ra những hậu quả to lớn đối với các nước đang phát triển. Ở châu Mỹ Latin, vào đầu thập niên 80, nhiều nước đã lún sâu vào khủng hoảng nợ nần. Họ có thể không trả được các khoản vay nợ của mình, nhưng học vẫn buộc phải chịu gánh nặng của lãi suất thất thường.

Toàn cầu hóa được điều khiển bởi một chương trình nghị sự “đặc ân”

Hệ thống được toàn cầu hóa hiện nay còn một vấn đề lớn thứ hai. Hệ thống dự trữ toàn cầu có những điều cực kỳ khác thường và nó chính nguồn gốc gây ra phần lớn sự bất ổn. Một trong những mối quan ngại là Mỹ thực chất đang vay tiền từ những nước nghèo hơn mình rất nhiều. Nói cách khác, nước Mỹ ngày nay đang có mức thâm hụt thương mại khổng lồ, khoảng 600 tỉ đô-la một năm, mỗi ngày vay đến 1,5 tỉ đô-la. Nói một cách khác là quốc gia giàu nhất thế giới này không có khả năng sống bằng những cái mình có. Trong khi đó, Mỹ lại tự mãn đi rao giảng cho các nước nghèo lý do tại sao họ nên sống trong khuôn khổ những tài nguyên hạn hẹp mà họ có.
Quốc gia giàu nhất thế giới này làm không đủ ăn nhưng lại đi rao giảng các nước nghèo nên bằng lòng với những thứ họ có dù là hạn hẹp hơn.

Một số bài học nữa mà tôi cho là sẽ nổi lên từ những sự bất ổn trong hơn 10 năm qua. Thứ nhất là việc tự do hóa thị trường vốn và tự do hóa thương mại có thể khiến các thị trường gặp những rủi ro to lớn. Vì vậy cần phải thiết kế các chính sách một cách thận trọng nhằm xác định thứ tự và tốc độc của các cuộc cải cách. Nếu không các nước có thể chịu nhiều tổn thất lớn mà không được lợi ích gì. Vấn đề thứ hai có liên quan là những khó khăn cơ bản trong việc phân phối rủi ro trong hệ thống dự trữ toàn cầu mà tôi đã đề cập trước đây – các nước lớn hơn cần nhận nhiều trách nhiệm hơn và giảm bớt gánh nặng lên các nước đang phát triển.
Toàn cầu hóa kéo theo sự hội nhập chặt chẽ hơn của các nước trên thế giới và điều này có nghĩa là mức độ phụ thuộc lẫn nhau sẽ cao hơn. Phúc lợi của chúng ta, hạnh phúc của chúng ta sẽ phụ thuộc vào nước khác và sẽ phụ thuộc vào việc toàn cầu hóa được vận hành như thế nào. Nước Mỹ với vai trò siêu cường duy nhất, có nền kinh tế mạnh nhất, cần phải sẵn lòng gánh vác một vai trò đặc biệt. Có những cải cách có thể giúp cho quá trình toàn cầu hóa hoạt động tốt hơn, tốt hơn cho cả các nước phát triển lẫn các nước đang phát triển. Mệnh lệnh đối với chúng ta là phải thực hiện những cải cách đó nếu chúng ta muốn có một thế giới tốt đẹp hơn và công bằng hơn, hay dù chúng ta chỉ mong muốn có một thế giới an toàn hơn mà thôi.

Joseph Stiglitz từng đoạt giả thưởng Nobel kinh tế, là cựu kinh tế trưởng tại Ngân hàng Thế giới và là giáo sư kinh tế tài chính tại Đại học Columbia. Bài viết này là phiên bản của bài phát biểu mà ông thực hiện vào ngày 10/10/2003 tại hội nghị "Tương lai của toàn cầu hóa trước sự biến động hiện nay" do Trung tâm Toàn cầu hóa của Đại học Yale và Ngân hàng Thế giới đồng tổ chức tại Đại học Yale.
Rights: © Yale Center for the Study of Globalization


Tổng số lượt xem trang

free counters