Triết Lý, để làm gì ?

Khi ta bế tắc tư tưởng, chân thật công nhận rằng những kiến thức và phương pháp suy luận của ta không cho phép ta sống, tư duy và hành động khớp với khao khát làm người của ta, ngoài vô vàn cách ứng xử khác, ta có thể:

a) Tiếp tục sống, tư duy và hành động như cũ vì, dù sao, ta cũng sống được, không đến nỗi nào

b) Lột áo cũ, khoác áo mới, một tấm áo coi lành lặn đẹp đẽ hơn nhưng cũng hàm hồ không thua gì. Điều ấy luôn luôn khả thi bằng ngôn ngữ.

c) Đi tới cùng bế tắc của chính mình. Nếu không giải quyết được nó, ta ôm nó xuống suối vàng, để lại ở đời chỉ một câu hỏi. Câu hỏi của một con người. Đích thực. Có gì nhục đâu?

Nếu ta tưởng ta đã tìm ra một phần của giải pháp, ít nhất là cho riêng mình, thì cứ viết đi, chẳng cần trích cao nhân nào cả: họ đã là một phần của ta và ta đã phải “vượt” họ để nên mình.

Thế thôi.

(Chungta.com)

Góc nhỏ của Noby Vui Vẻ

Lục lọi, tìm tòi, đọc, cóp nhặt, chia sẻ, ... OK hay không tùy bạn ! ! !

“Nước độc lập mà dân chưa tự do thì độc lập cũng không có ý nghĩa”- Hồ Chí Minh.

28 thg 11, 2010

Tham nhũng đất đai dẫn đến bất ổn xã hội

Đang xem phim “Bí Thư Tỉnh Ủy” thấy có những người muốn đất là của dân, rằng nông dân là phải có đât, rằng lãnh đạo là phải gần dân, dựa vào dân. Tự nhiên đọc được tin trên báo có ông nào ở Vĩnh Phúc bị bắt vì tội lạm dụng chức quyền trong khi thi hành công vụ và đã tham nhũng hàng chục ha đất của người dân.

Thế mới biết bí thư tỉnh ủy khi xưa và nay khác nhau thật. ( KHX)

Tham nhũng đất đai dẫn đến bất ổn xã hội

Báo cáo của tổ chức World Bank hợp tác với đại sứ quán Thụy Điển và Đan Mạch đưa ra vào ngày hôm nay cho thấy tình trạng tham nhũng trong lĩnh vực đất đai là nguyên nhân dẫn đến mất ổn định xã hội tại Việt Nam.

Theo tin AFP đánh đi vào chiều 25/11 cho biết dựa theo một kết quả thăm dò ý kiến của 4,700 người sống trong lãnh thổ Việt Nam thì 86% trong số người được hỏi cho biết họ tin rằng tham nhũng trong các lĩnh vực có dính líu đến đất đai tại khu vực nông thôn nơi có khoảng 70% dân chúng sinh sống.

Trong một cuộc thăm dò song song khác hỏi ý kiến của 1.000 doanh nghiệp kết quả cho thấy 33% những người kinh doanh đã phải hối lộ giới chức thẩm quyền mới được cấp giấy chứng nhận được quyền sử dụng đất.

Tại Việt Nam tất cả đất đai đều được nhà nước quản lý và sở hữu, tuy nhiên người dân và các doanh nghiệp vẫn có thể hối lộ cơ quan công quyền để được cấp giấy sử dụng đất và tờ giấy này sẽ được phép chuyển nhượng, trao tay nếu được hối lộ để được chính quyền công nhận tiếp.

Bản tường trình còn cho biết những giấy chứng nhận quyền sử dụng đất này được những cán bộ đầy quyền hạn cấp, do đó nảy sinh nạn hối lộ ngày một nặng nề hơn. Kết quả là người giàu lại càng giàu và người nghèo lại càng nghèo hơn do đó hố sâu ngăn cách xã hội ngày càng rộng ra.

Bản báo cáo ghi nhận những lo ngại sẽ nảy sinh những xung đột xã hội gây mất ổn định kinh tế cùng những thứ khác trong điều kiện dân sinh khá bất ổn hiện nay.

theo RFA

Chấp nhận "Độc đảng lãnh đạo", từ bỏ "Độc quyền toàn trị thiếu dân chủ"

bài thứ hai của tác giả Vũ Duy Phú

Hà Nội, ngày 15 tháng 9 năm 2010

Kính gửi TƯ Đảng, Bộ Chính trị

Quốc hội, Chinh phủ

Mặt trận Tổ quốc VN

Xin các Đồng chí quan tâm đọc những ý kiến góp sau đây

Chúng ta đều thấy, Nước ta đang có uy tín khá cao trên trường quốc tế. Nhiều nước không chỉ biết ơn nhân dân, đất nước ta, mà còn trông chờ, hy vọng nhiều hơn vào sự đóng góp của Việt nam cho sự nghiệp đấu tranh vì hòa bình và tiến bộ chung trong khu vực và trên thế giới ở giai đoạn hiện nay. Đó là thời cơ ngàn năm có một đã rộng mở trước đất nước ta. Chúng tarất cần suy nghĩ sâu sắc để tìm tòi tận dụng tốt thời cơ vàng ngọc đó.

Trong khí đó, chúng ta đang gặp những khó khăn trở ngại khách quan chủ quan cũng rất to lớn, chủ yếu là trong đối nội. Tất cả những khuyết tật chung chủ quan của cả nước cuối cùng đang được định vị vào một nguyên nhân chính là Lỗi hệ thống. Nếu chúng ta không nhanh chóng khắc phục, lòng tin vào Đảng sẽ suy giảm nặng nề hơn, thì uy tín đối ngọai cũng sẽ xuống theo; Tìm cách xoay chuyển tình hình từ xấu thành tốt, từ nguy cơ thành cơ hội, trước tiên là thuộc trách nhiệm lãnh đạo của các đồng chí, với sự góp sức của mọi người dân..

Để làm việc đó, chúng ta cần suy tính tạo ra những đột phá cần thiết. Nhưng đột phá thế nào đây? Chúng tôi thấy, Việt nam có vị trí như ngày nay, không phải chủ yếu là do thành tích phát triển kinh tế quyết định, mà là do thành tích chính trị quyết định, và tình thế quốc tế tạo ra. Chúng ta cần phát huy truyền thống anh dũng quật cường, lợi thế chính trị và lý tưởng độc lập, tự do, hạnh phúc đó để bù cho sự thiếu truyền thống và sự chưa giỏi về xây dựng kinh tế và quản lý xã hội hiện nay.

Trên tinh thần đó, xin gửi đến các Đồng chí bản dự thảo sau đây, nhằm mục đích, bằng cách chọn lọc những nội dung cốt lõi nhất về chính trị mà đất nước ta, Đảng ta đã có, gần như đã thống nhất, và thế giới cũng đã thừa nhận rộng rãi, nhưng còn chưa vững tâm.Việt nam có thể hiên ngang, thấu hiểu và tự tin đưa ra những chính kiến chủ yếu là về chính trị nhân dịp 2 sự kiện lớn của Đất nước sắp tới.

Với một nền chính trị văn minh tiến bộ hơn, “đoàng hoàng chững chạc” hơn sẽ giúp Đảng khắc phục hữu hiệu các mặt suy thoái đạo đức và kỷ cương phép nước, lấy lại niềm tin, tập hợp được và phát huy mạnh mẽ trí và lực trong dân, sẽ nhận được sự nể trọng nhiều hơn của các nước đối tác và lôi cuốn mạnh mẽ được tiềm lực của người Việt ở nước ngoài. Đây là lúc lý luận rất cần phải đi đôi với thực tiễn cách mạng. Tuy chưa vững mạnh về kinh tế, nhưng với đường lối chính trị tiên tiến, Đảng Cộng sản VN, với Ban lãnh đạo đổi mới sắp tới, vẫn có thể tự tin, chững chạc, dũng cảm đưa Việt Nam tham gia sâu hơn vào hàng ngũ các thuyền trưởng của con tầu toàn cầu.

Xin kính gửi các Đ/C lời chào kính trọng nhất.

Dự thảo

Tuyên bố chính trị của Đại hội Đảng XI

(Chắt lọc những quan điểm quan trọng nhất nên có trong cương lĩnh Đảng 2011)

(Vì cương lĩnh cần đề cấp rất nhiều nội dung, dài trên một chục trang, do đó chúng tôi xin đề xuất phương án “tuyên bố chính trị” để nói lên quan điểm đổi mới quan trọng nhất do Đại hội Đảng quyết định).

Đại hội lần thứ XI Đảng Cộng sản Việt nam vừa kết thúc thắng lợi. Đại hội đã làm tròn nhiệm vụ trọng đại của mình là đánh giá đúng mức những thành công và tồn tại thời gian qua, phân tích kỹ đặc diểm đất nước, thế giới và thời đại, từ đó thấy rõ những thách thức, khả năng phát triển đất nước và vai trò lãnh đạo của đảng Cộng sản Việt Nam, vạch ra được Cương lĩnh mới của Đảng và Chiện lược phát triển Đất nước giai đoạn 10 – 15 năm sắp tới. Chúng tôi công bố một số những nội dung chính trị quan trọng mà Đảng Cộng sản Việt Nam sẽ quyết tâm thực hiện bắt đầu từ nhiệm kỳ này.

1- Đảng Cộng sản Việt Nam nhận định thời đại hiện nay là thời đại toàn thế giới chuyển hoá tới một Xã hội Văn minh mới (*), đi đầu là các nước tư bản phát triển nhất, đúng như dự báo thiên tài của Các Mác và thực tiễn cũng đang diễn ra. Cách mạng Việt Nam đang nằm trong thời kỳ chuyển hoá chung này;

(*) Dù có thể được mang những cái tên khác nhau, Xã hội Văn minh mới nói tới ở đây là một định hướng lý tưởng của Loài người tới một xã hôi hòa bình, dân chủ, công bằng, văn minh, trí tuệ, hữu ái, hạnh phúc công đồng, mà chưa ở đâu trên thế giới này đã từng có. Mô hình của CNXH mới mà các nước đang chuyển đổi (Việt Nam, TQ . . .) đang theo đuổi, hoặc mô hình Xã hôi Dân chủ mà các nước Tư bản phát triển đang tìm tòi xây dựng, có thể coi là những loại sơ khai, bước đầu của Xã hội Văn minh mới này. Xã hôi Văn minh mới chưa ở đâu có, nó đang hình thành dần dần, từng bước, qua tìm tòi, đúc rút từ những thành công từng phần và từ những thất bại tạm thời, do sai lầm tại các nước đã và đang đi theo định hướng này, ví dụ các nước Bắc Âu, Liên Xô, và đặc biệt ngay tại các nước TBCN phát triển nhất hiện nay. ( Lưu ý :Lý tưởng CNXH đích thực đã bị sai lầm của CNCS bạo lực một thời làm hoen ố; bị mô hình CNXH độc tài , chuyên chế kiểu Liên Xô và các nước XHCN kiểu cũ (trước đổi mới ) làm biến dạng hoàn toàn, đồng thời bị chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi ích kỷ, chủ nghĩa bá quyền nước lớn xen lẫn vào, tạo ra sự nhầm lẫn và cản trở rất đáng tiếc trong lòng Nhân loại tiến bộ suốt gần một thế kỷ vừa qua).

2- Đảng Cộng sản Việt nam chính thức Lấy tư tưởng, đường lối Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động của toàn Đảng, toàn Dân trong thời kỳ mới, đồng thời, tiếp tục chọn lựa để vận dụng và phát triển những phần đúng đắn, tinh túy của học thuyết Mác – Lênin, các học thuyết tiến bộ khác và tinh hoa của nhân loại vào cách mạng VN;

3- Đảng Cộng sản Việt nam tuyên bố coi đường lối Lấy Dân làm gốc - không chỉ Dân chủ - là đường lối cơ bản nhất, sâu sa gốc rễ nhất của Đảng, bởi lẽ chính nhân dân (**) mới là người chủ thật sự của Đất nước, dân trí đã được nâng cao, họ tự biết mình muốn gì và phải làm thế nào, và sức mạnh cùng trí tuệ của Đảng là ở nơi Dân, sự tồn tại của Đảng chính là vì mục đích phục vụ quyền lợi của nhân dân lao động, phục vụ toàn thể xã hội. Vì vậy, hoạt động quan trọng nhất của Đảng thời gian tới là tập trung lãnh đạo và tổ chức bộ máy của Đảng, Nhà nước và mọi tổ chức Xã hội để cụ thể hóa, thể chế hóa, thực thi và kiểm tra đảng viên, Nhà nước và Nhân dân việc thực hiện nghiêm chỉnh đường lối “Lấy Dân làm gốc” này.

(**) Nhân dân ở đây được hiểu là những tầng lớp ưu tú (nhất là khi họ lên tiếng có tổ chức) của giai cấp công nhân, nông dân, binh sĩ, trí thức, công chức, cán bộ về hưu (ai rồi cũng về hưu), đặc biệt là những người từng là các quan chức lãnh đạo giầu trí tuệ của Đảng và chính quyền

4- Đảng Cộng sản Việt nam cương quyết đẩy mạnh quá trình Đổi mới, khẩn trương tiến hành “luật hóa” hoạt động lãnh đạo của Đảng, đồng thời lãnh đạo khẩn trương xây dựng nhà nước pháp quyền đầy đủ vì Dân giầu nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh, bước đầu sẽ học tập nghiêm chỉnh có cải tiến cho phù hợp thực tế Việt Nam và thời đại những mô hình NNPQ tiến bộ nhất hiện có và đang được cải cách tiếp tại các nước phát triển, Đó là nguyện vọng, là đòi hỏi của toàn dân Việt Nam và cũng là điều động viên khuyến khích của dư luận tiến bộ văn minh trên thế giới;

5- Đảng CS VN coi sự phát triển an toàn, bền vững và sức mạnh thực sự của nền kinh tế là phụ thuộc vào đường lối và những chính sách kinh tế đúng đắn vì cộng đồng và sự quản lý khoa học, nghiêm túc và minh bạch của nhà nước; vào sự khuyến khích, tạo điều kiện tốt và bình đẳng cho mọi thành phần kinh tế cạnh tranh lành mạnh và hội nhập có kết quả để đều có thể trở thành nền tảng, thành những lực lượng trụ cột, nòng cốt của kinh tế quốc gia. Mục tiêu đó không chỉ giành riêng cho kinh tế quốc doanh, không phụ thuộc kích cỡ của nó và càng không chỉ có kinh tế quốc doanh mới làm được.

6- Đảng Cộng sản Việt Nam nhận thấy cần thiết phải đổi tên Đảng cho phù hợp với thực tế giai đoạn cách mạng hiện nay, thành Đảng XHCN Việt Nam, (hay Đảng Lao động VN), Đảng tập hợp những thành viên ưu tú nhất của mọi tầng lớp xã hội, không phân biệt giai cấp, tôn giáo, dân tộc, giầu nghèo. . .đồng ý đi theo đường lối “Lấy Dân làm gốc”; Kiến nghị nhà nước đổi tên Thủ đô Hà Nội thành Thủ đô Thăng Long cho đúng với lịch sử lâu đời đã có và tương lai hướng tới, đồng thời quyết tâm quay trở lại và phát triển những nội dung tiến bộ nhất của Hiến pháp Hồ Chí Minh năm 1946:Đảm bảo trên thực tế quyền lực thực sự nằm ở nơi Dân.

7- Đảng Cộng sản Việt nam từ nay sẽ không phân biệt CHXN và CNTB theo các đường biên giới quốc gia, coi việc phân biệt như vậy là một trong nhiều mầm mống gây chia rẽ cộng đồng toàn cầu, không còn phù hợp với thực tế đan xen, lồng ghép giữa hai thể chế chính trị này và không có lợi cho xu thể hòa hoãn, liên kết, hội nhập nhằm phấn đấu cho một thế giới hòa bình, hữu nghị, không phân chia phe nhóm ý thức hệ một cách hình thức, tạo đà tiến bộ chung của toàn nhân loại, giúp cho việc huy động mọi tiềm lực của tất cả các nước vào việc khắc phục những khó khăn chung của cả hành tinh hướng tới phát triển hòa bình và bền vững. Thực tế đan xen lồng ghép hiện nay làm người ta chỉ có thể phân biệt sự khác nhau giữa CNXH hay CNTB khi căn cứ vào thực chất nội dung của các đường lối, chính sách và biện pháp cụ thể của các nước, các chính phủ, các đảng phái, các chính khách, và của từng người dân xem họ hướng tới cái gì và mưu cầu lợi ích cho ai. . . ;

8- Đảng CS VN, đại diện cho toàn dân VN,thể hiện truyền thống và ý nguyện hòa bình nhân từ bác ái của dân tộc VN, kiến nghị Liên hiệp quốc đứng ra tổ chức để VN và các nước khác cùng tham gia Những ngày Đại hòa giải trên toàn thế giới, góp phần làm dịp bớt hận thù, xung đột, khủng bố, chiến tranh . . tạo điều kiện để nhân dân các dân tộc dần dần hòa hợp, liên kết, tập trung tiềm lực chuẩn bị cho việc khắc phục những nguy cơ tiềm ẩn và mọi đại họa có thể xuất hiện đổ lên số phận toàn thể nhân loại bất cứ lúc nào.

9- Đảng CS Việt nam khẳng định sự ủng hộ, đóng góp sáng kiến xây dựng và tích cực tham gia thực hiện những quyết định hướng tới củng cố hòa bình, phát triển bền vững, bảo vệ tài nguyên môi trường toàn cầu, và mọi hoạt động văn minh trí tuệ khác của Liên hiệp quốc, của Khối ASEAN và các tổ chức quốc tế và khu vực khác mà Việt Nam tham gia. /.

Chấp nhận "Độc đảng lãnh đạo", từ bỏ "Độc quyền toàn trị thiếu dân chủ"

Chấp nhận "Độc đảng lãnh đạo", từ bỏ "Độc quyền toàn trị thiếu dân chủ"

Góp ý kiến (mới) với Đại hội Đảng. Thư ngỏ:

Kính gửi các anh Nông Đức Mạnh, Trương Tấn Sang

và Nguyễn Minh Triết rất kính mến,

Đồng kính gửi các anh Bộ Chính trị và Ban CH TƯ

(Kính nhờ Văn phòng TƯ sao gửi giúp)

Giữa thể chế chính trị và triển khai thực hiện có những đặc điểm rất khác nhau. Nếu mạnh mẽ chỉ đánh vào sai trái của "Triển khai", mà để nguyên "Thể chế cũ" thì rồi ông nào lên ngôi, mà thể chế chính trị không thay đổi căn bản, vẫn giữ Cương lĩnh cũ trước đây 20, 30 năm (chỉ tu chỉnh từ ngữ), thì rồi tình trạng đất nước vẫn vậy mà thôi. Chứng cớ: Chỉ sau 6,7 năm, không cải cách thể chế chính trị kịp thời, thì Vinashin lại còn sai trầm trọng gấp hàng trăm lần Lã thị Kim Oanh !

Vì vậy, đồng thời với chỉ trích mạnh mẽ và khắc phục sai lầm của "Triển khai", cũng cần nhanh chóng "loại bỏ" cái phần sai của thể chế chính trị lạc hậu.Tôi xin gửi các anh 2 hiến kế:

- Một là về thể chế, ta nên quá độ "Độc đảng cầm quyền" để ổn định, song không "Độc quyền toàn trị thiếu dân chủ" (thực hiện dĩ bất biến, ứng vạn biến) thì mới đổi mới thực chất được. Nếu không, ông nào lên, mà thể chế chính trị không thay đổi mạnh mẽ, vẫn giữ Cương lĩnh cũ trước đây 20, 30 năm (chỉ tu chỉnh từ ngữ), thì rồi tình trạng đất nước vẫn vậy mà thôi !

- Xin các anh bàn bạc kỹ với anh Nguyễn Phú Trọng, anh Nguyễn Tấn Dũng, nếu các anh ấy "nhất trí" cải cách thể chế chính trị mạnh hơn, thì mới hy vọng. Nếu các anh ấy "gạt đi" và yêu cầu “kiên trì” Mác Lê cổ điển (dưới bất cứ dạng nào), thì còn gay đấy, cần phải mạnh mẽ thuyết phục.

Tôi cho rằng, hai bài viết sau đây là trí tuệ và tâm huyết không phải của riêng ai, nó là của chung đấy. Xin các anh cố đọc qua. Các anh đã dũng cảm và lập thành tích đối ngoại to lớn, xin hãy cố dấn lên thêm chút nữa cho Đất nước và con cháu chúng ta được nhờ !

Bà con rất hy vọng các anh đem lại chuyển biến lớn trong Đại hội này. Còn không, sau này, khi các anh đã về hưu cả, xã hội nó rối ren, loạn lạc cả lên như Liên Xô cũ - "thành trì", "hòn đá tảng" của cách mạng thế giới - thì các anh có tội nặng với dân tộc đấy !

Ngày 8 tháng 11, năm 2010

Một đảng viên già.

Thời cơ vàng:

Cương quyết sửa chữa lỗi hệ thống để đổi mới thể chế chính trị, phát triển nhanh và bền vững !

(Bài viết sau khi tiếp thu ý kiến phê bình, góp ý của nhiều đọc giả)

I- Lỗi hệ thống bắt nguồn từ đâu ?

I.1- Từ phần sai lầm của Chủ nghĩa Cộng sản Mác – Lênin và “Hệ thống XHCN” thời kỳ đầu

+ Sai lầm từ lý luận của Chủ nghĩa Cộng sản của Mác (lúc ông còn trẻ):

Nhìn lại lý luận ban đầu (CNCS phân kỳ I) của Mác về đấu tranh giai cấp:

- Mâu thuẫn giữa g/c bóc lột và bị bóc lột là đối kháng, bất biến, “một mất, một còn”, “không đội trời chung”;

- Giai cấp công nhân chỉ có dùng bạo lực đập tan CNTB, xóa sổ g/c tư sảnmới giải phóng được bản thân và Loài người;

- Chỉ có giai cấp công nhân đại diện cho lực lượng sản xuất tiên tiến nhất, kỷ luật nhất, cách mạng nhất, mới lãnh đạo cách mạng XHCN thắng lợi;

- Cuộc cách mạng này là khác hoàn toàn về bản chất các cuộc cách mạng nửa vời khác, bởi các đặc trưng sau: Công hữu hóa; tập thể hóa; kế hoạch kinh tế tập trung; chuyên chính của gai cấp vô sản; độc đảng của những người vô sản lãnh đạo; và là “Đấu tranh này là trận cuối cùng” . . .

- Cuộc cách mạng này dẫn đến một xã hội: Làm theo năng lực, hưởng theo nhu cầu

Thực tiễn đã chứng minh những luận điểm đó là sai lầm, bởi vì:

- Đã phủ nhận phép biện chứng của chính Các Mác (vạn vật biến đổi không ngừng . . .)

- Đã vi phạm quy luật phát triển có tính liên tục và kế thừa

- Đã đánh giá sai vai trò và khả năng của giai cấp công nhân

- Đã gây lòng căm thù giữa những CON NGƯỜI cùng có quyền tự do, bình đẳng và mưu sinh . . .

Song những luận điểm đó đã ăn sâu vào chúng ta – như những tín đồ - đến mức chúng ta coi đó như kinh thánh, bất khả biến. Ai đụng vào, nói khác đi, làm khác đi là xét lại, phản bội, thậm chí là kẻ thù, phải bị tiêu diệt. Nhưng ngày nay, rõ ràng các giai cấp tư sản và công nhân đang rất cần nhau, đấu tranh để hợp tác với nhau tốt hơn, chứ không tiêu diệt nhau ! Chỉ có những người cộng sản quá khích, tính từ Lênin và Stalin, là “tiêu diệt” ngay cả những đ/c bất đồng chính kiến của mình !

+ Sai lầm từ trong triển khai CN Mác phân kỳ I:

- Thất bại lần 1: Chủ nghĩa Cộng sản phân kỳ I của Mác triển khai ở các nước tư bản Châu Âu đã thất bại, dẫn đến Quốc tế CS I tan rã.(Điều này chính Mác và Ănghen đã thừa nhận)

- Thất bại lần 2: Liên Xô và phe XHCN Đông Âu tan rã; các nước XHCN còn lại, muốn tồn tại, phải “cải cách” hay “đổi mới”

I.2- Sai lầm hệ thống bắt nguồn từ sự phủ nhận CN Mác phân kỳ II, Quốc tế II (khi Mác đã già).

+ không thừa nhận rằng, Mác và Ănghen, sau khi Quốc tế CS I tan rã, và sau mấy chục năm n/c tiếp với tư duy và thực tiễn mới, đã thừa nhận sai lầm, nên đã đưa ra phân kỳ II của CNCS, từ đó hình thành QT II

+ Không thừa nhân những khẳng định mới về lý luận của Mác và Ănghen:

- Giai cấp công nhân và giai cấp tư sản có thể đấu tranh chung sống hòa bình

- Giai cấp CN có thể lợi dụng nền dân chủ tự do và nhà nước pháp quyền tư sản để đấu tranh nghị trường nhằm cải thiện đời sống và cải cách xã hội

Giai cấp công nhân là lực lượng lao động có tổ chức, vận hành những kỹ thuật và cộng nghệ tiên tiến nhất; nhưng các tầng lớp ưu tú của xã hội mới là lực lượng dẫn đầu tư duy mới và sáng tạo để tác động định hướng vào quá trình tiến hóa của xã hội, mới có khả năng sáng tạo khoa học, những kỹ thuật và công nghệ tiên tiến . . .(Những lãnh tụ cách mạng vô sản, những người tạo ra những công nghệ mới, những nhà cầm quyền …hầu hết là trí thức; Thủa xưa, các triết gia nổi tiếng, Đức Phật thích ca cũng xuất thân từ những người quyền quý, có học, rồi sau này Khổng tử cũng vậy ! Mác- trí thức, đã đưa ra một học thuyết, rồi mọi người bảo đấy là "Học thuyết của giai cấp công nhân", và nói rằng, vì có học thuyết riêng và toàn năng đó chỉ đường, nên chỉ có giai cấp công nhân mới lãnh đạo được cách mạng cải tạo thế giới!)

Tất cả những luận điểm mới này của Mác và Ănghen đã bị Lênin và những người theo Quốc tế III coi là “xét lại”, “phản bội”, cố tình phủ nhận, che dấu xuất sứ Mác, Ănghen của những tư duy đổi mới này, ngăn cản sự lan truyền tư tưởng “xét lại” này của Mác và Ănghen.

+ Không thừa nhân những sai lầm hệ thống hậu Cách mạng tháng 10 Nga do Lênin và Stalin triển khai. Đó là, sau khi dành được chính quyền từ tay giai cấp tư sản Nga, nhà nước Liên Xô đã vận dụng một thể chế chính trị như sau:

- Thực hiện chế độ độc đảng toàn trị, mất dân chủ nặng nề (ai có chính kiến khác, sai đường lối của TƯ là không được);

- Thay nhà nước pháp quyền bằng chính quyền Xô viết công nông;

- Thi hành nhất quán nguyên tắc Tập trung dân chủ (kéo dài suốt từ thời cướp chính quyền, sang thời nội chiến và ngoại chiến), dẫn đến tệ “sùng bái cá nhân” trầm trọng, sau này biến thành “tệ sùng bái các cấp ủy, các bí thư”

- Công hữu hóa tư liệu sản xuất, tiến hành ngay tập thể hóa và kế hoach hóa tập trung nền kinh tế, xóa bỏ cơ chế thị trường . . .

- Đề cao tuyệt đối giai cấp công nhân, coi rẻ trí thức;

- Không nghiêm khắc tự đánh giá và hoàn thiện chế độ, mà chỉ đổ lỗi cho sự phá hoại của kẻ thù của CNXH. Trừ giai đoạn ngắn với “chính sách kinh tế mới” của Lênin, nền kinh tế xã hội tuy đã có phát triển mạnh sau những động lực giải phóng ban đầu, nhưng do lãnh đạo độc đảng mất dân chủ tự do nặng nề, cùng với cơ chế kinh tế và quản lý xã hội sai lầm như đã nêu, nên đất nước đã đi dần vào ngõ cụt, tha hóa, biến chất khỏi mục tiêu tốt đẹp ban đầu. Sai lầm hệ thống dẫn đến mất dần sức sống và đã tự tan rã.

+ Chỉ nhắc nhở chịu ơn Liên Xô mở đường giải phóng giai cấp vô sản và nhân dân lao động, tiêu diệt phát xít, cứu loài người – điều đó là rất đúng và rất quan trọng – song chưa chịu thừa nhận rằng, các nước XHCN khác đều bị áp lực (thiếu tự nguyện) phải theo mô hình sai lầm và giáo điều của Liên Xô, và đều có kết cục tan rã tương tự Liên Xô, hay chỉ có thể tồn tại được là nhờ tiến hành “Đổi mới”, rũ bỏ dần dần mô hình cũ.

+ Không thừa nhận rằng các nước Bắc Âu đã tiếp nhận CNCS phân kỳ II, với Quốc tế II theo đường lối đổi mới của Mác và Ănghen. Đất nước của họ ngày một giầu có, tiến bộ, từng bước hướng tới xã hội văn minh như Mác đã tiên đoán và miêu tả trước đây.

Tóm lại: Sai lầm mang tính hệ thống xuất sứ từ khối XHCN, trong đó sai lầm quan trọng nhất là vận dụng nguyên văn CNCS Mác phân kỳ I: Thực hành một thể chế độc đảng toàn trị vi phạm nặng nề dân chủ, tự do, Vi phạm quy luật tiến hóa có tính liên tục và tính kế thừa của lịch sử Loài người, trong đó đã có nhiều vi phạm quan trọng về bản chất sự vật. Thay vì học hỏi, đã phá bỏ hoàn toàn những gì thuộc chế độ tư bản, những thứ mà chế độ này đã vận dụng và phát triển được từ lịch sử tiến hóa của nhân loại,

I.3 – Sai lầm hệ thống là do phủ nhận sự tiến hóa liên tục của CNTB từ thế kỷ 18 đến thế kỷ 21:

a) Chủ nghĩa Tư bản, sau khi đã vượt qua được chế độ phong kiến độc tài toàn trị vào khoảng thế kỷ 17, 18, ngay từ đầu, họ đã chọn một hệ thống xã hội với những nguyên tắc khác hẳn: chấp nhận tự do dân chủ, xác lập nhà nước pháp quyền, thị trường tự do cạnh tranh và xã hội dân sự.

CNTB tiến bộ, văn minh được như ngày nay là nhờ mấy nguyên nhân:

1/ Có động lực của thể chế dân chủ tự do, theo cơ chế thị trường cạnh tranh, được quản lý bởi nhà nước pháp quyền từng bước hoàn thiện và phát triển, trong môi trường xã hội dân sự;

2/ Chế độ tư bản bị Chế độ XHCN theo mô hình Liên Xô cũ cạnh tranh mạnh mẽ, khoảng giữa thế kỷ XX, đã buộc phải cải cách, thay đổi chế độ chính sách liên tiếp, không ngừng hoàn thiện nhà nước pháp quyền và xã hội dân sự, điều chỉnh cơ chế thị trường nhiều lần, tiến hành xây dựng xã hội phúc lợi, nên đã từng bước tiến đến những thể chế chính trị văn minh như hiện nay;

3/ Điều quan trọng, quyết định hơn cả là thể chế tự do, pháp trị và dân chủ, đã tạo môi trường thuận lợi cho sự tiến hóa tự nhiên của con người, trong đó trình độ minh triết và nhân nghĩa, văn hóa và giáo dục, khoa học và công nghệ, . . .ngày một phát triển, đã tạo ra những công cụ, điều kiện và hoàn cảnh mới mẻ chưa từng có giúp các nước này vượt qua được những khó khăn khách quan chủ quan của xã hội và thiên nhiên để phát triển, giúp cho sự giác ngộ, liên kết, hợp tác giữa những mặt đối lập, tạo ra tổng hợp lực chung mạnh mẽ chưa từng có để vượt qua mấy "đại họa" đã từng xẩy ra (và sẽ có thể xẩy ra) của Loài người.

b) Hiện nay, một thực tế không thể phủ nhận là: Cả thế giới chậm tiến, kể cả các nước vốn là XHCN, đang thực sự chấp nhận và học tập mô hình tư bản chủ nghĩa mới (gạt bỏ những sai lầm hiển nhiên của nó, những sai lầm mà chính các nước TB cũng đã và đang bỏ đi). Việt Nam và Trung Quốc, còn đang cố gắng để được công nhận là có “nền kinh tế thị trường”. Ôn Gia Bảo tuyên bố Trung Quốc không đổi mới thể chế chính trị hiện nay sẽ trở nên lạc hậu. Cu Ba và Triều Tiên cũng đã bắt đầu “gió đổi chiều”. Còn nước Nga vẫn đang phấn đấu để được tham gia WTO do tư bản lập ra. Nếu quá trình “Quốc tế hóa”, “Hội nhập quốc tế” theo quy luật là do các nước có lực lượng sản xuất tiên tiến nhất khơi mào, tạo điều kiện cho mọi nước chậm tiến có thể lợi dụng quá trình này để vươn lên đuổi kip các nước phát triển trong một thời gian ngắn hơn hàng nhiều chục lần, thì đấy chẳng phải bắt nguồn từ các nước tư bản phát triển nhất ? Hơn nữa, thống kê cho thấy số thanh niên từ các nước XHCN sang các nước TBCN để học tập, số chuyên gia sang các nước TB để nghiên cứu, số bằng sáng chế phát minh xuất sứ từ các nước TB, v.v…nhiều gấp hàng trăm lần cũng những thông số đó theo chiều ngược lại . . .Lại nữa, trong 5 nước sáng lập ra Tổ chức Liên hiệp quốc chỉ có một nước XHCN (thời đó chỉ có Liên Xô); trong 6 nước sáng lập hiệp hội các nước ASEAN không có một nước XHCN nào; ngược lại quá khứ, ta thấy rất nhiều tổ chức tiến bộ quốc tế đã xuất hiện đầu tiên tại các nước TB! Như vậy đủ thấy xã hội các nước tư bản phát triển vẫn đang văn minh tiến bộ hơn các nước XHCN và đang chuyển đổi.

c) Tuy Các Mác thiên tài đã tiên đoán: các nước tư bản phát triển nhất sẽ là những nước đầu tiên chuyển sang một xã hội tốt đẹp hơn, mà ông – và nhiều triết gia trước ông – đã gọi là CNXH, các triết gia tư sản gọi đó là xã hội hậu TB, hay Xã hội TB sáng tạo . . . , nhưng ông đã không ngờ rằng sức mạnh, sức bật của nền dân chủ và nhà nước pháp quyền tư sản lại mạnh mẽ đến mức, không cần cách mạng đột biến chuyển chính quyền sang tay giai cấp công nhân, xã hội của các nước tư bản vẫn chuyển hóa thật sự và liên tục, không cần “đột biến”, sang một xã hội văn minh hơn. Tôi thì mạn phép gọi đó là “Xã hội Văn minh mới” – vì nhiều xã hội tư bản hiện nay đã được coi là văn minh, nhưng chưa đủ độ văn minh như Loài người mong muốn - và điều đó đang dần dần diễn ra trước mắt chúng ta.

Vậy hệ thống nào đang vươn tới tương lai, hệ thống nào đã mắc lỗi hệ thống và đang sửa chữa chắp vá, cải lương?

Tóm lại: CNCS phân kỳ I của Các Mác đã từng đúng ở thế kỷ 18,19, nhưng nay đã không còn phù hợp và không thể giải thích được những gì đang diễn ra trên thế giới tại thế kỷ 21 này. Ngày nay, hầu như toàn thế giới tiến bộ đã chấp nhận tư tưởng tự do, dân chủ, nhân quyền; chấp nhận thể chế nhà nước pháp quyền, thị trường tự do và xã hội dân sự - như là thành quả của sự tiến hóa chung của cả xã hội Loài người - với những đấu tranh quyết liệt để cải cách, điều chỉnh cần thiết.

II-Việt Nam đứng trước thời cơ lớn chưa từng có để sửa chữa lỗi hệ thống, đổi mới thể chế chính trị.

II.1- Về mặt lý luận:

Nếu chọn từ những triết lý (học thuyết) từng có trên thế giới, ta sẽ thấy tư tưởng và đường lối xây dựng xã hội mới của Hồ Chí Minh là rất thich hợp cho thế giới thế kỷ 21. Tại sao vậy ? Bởi vì, thế giới thế kỷ 21 có những đặc trưng sau đây:

1/ Thế kỷ 21, dân trí đã được nâng cao, Nhân dân các nước mới chính là người chủ thật sự của đất nước mình, và của cả thế giới này. Mọi chính đảng chỉ tồn tại có ý nghĩa và có sức mạnh, khi đảng ấy “Lấy dân làm gốc”. Không một mình giai cấp nào có đủ thẩm quyền, trí tuệ và đạo đức để có thể tự cho mình đứng trên nhân dân mỗi nước và nhân dân các nước; giai cấp công nhân chỉ là người được huấn luyện để xử dụng các công nghệ tiên tiến trong lao động tạo ra của cải xã hội. Động lực phát triển và lãnh đạo xã hội luôn luôn thuộc về tầng lớp ưu tú của mọi giai cấp, mọi thời đại - mà hạt nhân trí tuệ là tầng lớp trí thức. Có thể "Trí thức hóa" giai cấp công nhân, nhưng tầng lớp trí thức lúc đó lại tiếp tục tiến xa hơn nữa để thực hiện chức năng tạo ra và huấn luyện giai cấp công nhân xử dụng thành thạo những công nghệ mới còn tiên tiến hơn trong lao động của họ.

2/ Tại thế kỷ 21 này, nội dung và quy mô những vấn đề quan trọng nhất, những mâu thuẫn gay gắt nhất của các dân tộc không còn nằm trong phạm vi giữa các giai cấp trong từng nước với nhau, mà nó đã mở rộng ra không gian của toàn quốc gia và toàn cầu. Đấu tranh giai cấp theo kiểu học thuyết Mác vẫn còn, nhưng không còn là đỉnh cao thời sự tại thế kỷ XXI nữa.

3/ Thế kỷ 21, với trí tuệ và sức mạnh thời đại, quan hệ đấu tranh “một mất một còn”, phân chia ranh giới “ta – địch” . . .đã không còn chỗ đứng, mà được thay bằng quan hệ mới “đấu tranh cùng tồn tại”, “các bên đều thắng”, “Các giai cấp, các quốc gia dân tộc đều nhận thức rõ sẽ cùng chết, để liên kết, hợp tác để cùng sống”. Tangày nay là toàn Nhân loại mong muốn hòa bình và mưu cầu hạnh phúc. Địchngày nay là sự ngu dốt, trì trệ, mất dân chủ, thói tham quyền cố vị, tham nhũng tha hóa đạo đức, bành chướng bá quyền nước lớn, tình trạng bóc lột thậm tệ sức lao động, chủ nghĩa khủng bố và các thảm họa thiên tai . . .

4/ Thế kỷ XXI, các nước đến với nhau không vì cùng chung và theo tiếng gọi của “ý thức hệ” hẹp hòi nữa, mà vì cùng chung những mối quan tâm quy mô quốc gia và toàn hành tinh trên tầm cao mới của Minh triết và sức mạnh cộng đồng toàn Nhân Loại. . .

Tóm lại: Về mặt lý luận, Việt Nam đã có tư tưởng đường lối Hồ Chí Minh dẫn đường, đã được thực tiễn thắng lợi của cách mạng Việt Nam hơn nửa thế kỷ qua kiểm nghiệm, nên được thế giới hoan nghênh và chấp nhận. Đó là điều kiện lý luận thuận lợi nhất để VN tự tin, vững vàng sửa chữa lỗi hệ thống đang tồn tại với những bước đi thích hợp.

II.2- Về mặt thực tiễn hiện nay:

a) Thắng lợi lần 1: của cuộc cách mạng “Dân chủ - Cộng hòa” 1945, các thắng lợi lần 2, lần 3 lẫy lừng 1954, 1975, cùng thắng lợi của “Đổi mới” kinh tế từ 1986, đã tạo ra một trong những nguyên nhân quan trọng nhất biến Việt Nam thành chiếc cầu nối cho “cuộc cạnh tranh các bên cùng thắng”, tạo ra sự hội tụ về Hà Nội các đoàn đại biểu của Hiệp hội ASEAN, ASEAN + 2,3 và 4 . . , và nay là ASEAN + 17, đã là sự thừa nhân hùng hồn của tư tưởng và đường lối Hồ Chí Minh: Đoàn kết, đại đoàn kết; liên kết mọi lực lượng đối lập để tạo thành sức mạnh; Dân chủ - cộng hòa; đảng toàn dân; Chính phủ liên hiệp; Mặt trận Việt Minh – Trí , Nông, Công, Thương . .; không nhấn mạnh đấu tranh giai cấp; Tập hợp, đoàn kết, phát huy mọi lực lượng để tập trung diệt 3 thứ giặc: Giặc đói, giặc dốt và giặc chiến tranh – điều mà hiện nay Liên hiệp quốc đang động viên các quốc gia – không phân biệt Tư bản hay XHCN, đạo Giáo, đạo Phật, hay đạo Hồi - tham gia trên phạm vi toàn cầu; vận dụng tư duy thâm uyên và đầy lòng nhân đạo “biến thù thành bạn”, chống lại tư duy tìm bạn, tìm đồng chí khác chính kiến để biến bạn và đồng chí thành thù (như đã có thời Lênin, Stalin và Mao Trạch Đông từng làm một cách thường xuyên. . .) Đó chính là thể hiện trong thực tiễn của sức mạnh tư tưởng, đường lối Hồ Chí Minh.

b) Việt Nam hiện nay cần nhận thức rõ hơn nữa nguồn gốc sức mạnh của mình để tận dụng được tối đa cho sửa chữa lội hệ thống. Đó là:

1/ Chúng ta đang phát huy tốt tư tưởng đường lối Hồ Chí Minh vào hoạt động đối nội, đặc biệt là đối ngoại, tham gia tập hợp lực lượng quốc tế cho ASEAN, và cho chính mình, tương thích với thời đại mới; Chúng ta có Nhân dân anh hùng với sức mạnh đại đoàn kết dân tộc; có truyền thống trí, đức, nhân nghĩa thắng bạo tàn và trình độ nhận thức chính trị, văn hóa, xã hội ngày càng cao; có mục tiêu chung với toàn thể Nhân loaị. . .Chúng ta có một Đảng với lịch sử oai hùng lãnh đạo, mặt yếu của Đảng không ít, cũng khá nặng nề, song mặt mạnh vẫn là chủ yếu, chắc chắn đổi mới được thể chế chính trị lạc hậu hiện nay.

2/ Chúng ta đang nhận được sự cảm thông và tin tưởng của quốc tế vì một số chính sách đối ngọai sai lầm gần đây của Trung Quốc – điều này chúng ta hoàn toàn không mong muốn, nhưng là sự thật;

3/ Chúng ta đang nhận được sự thông cảm và hỗ trợ của quốc tế vì đã được xác định sẽ trở thành một trong mấy nạn nhân nặng nề nhất đầu tiên của những thảm họa thiên nhiên trong tương lai.

4/ Điều quan trọng quyết định nữa là chúng ta sớm nhận thức được (về mặt lý thuyết) tính tất yếu phải sửa chữa triệt để lỗi hệ thống, không ngập ngừng, do dự, vì đã thấy rất rõ định hướng tiến hóa mang tính hệ thống, cách mạng sâu sắc và hiện đại của toàn Nhân loại đang diễn ra trên thế giới đã “rõ như ban ngày”, mà ta cần hội nhập vào.

c) Việt Nam hiện nay đã nhận thức cho rõ hơn những nguy cơ lớn tiềm ẩn đối với sự nghiệp cách mạng của dân tộc,

1/ Đất nước, do lý do hoàn cảnh khách quan, đã trở thành niềm hy vọng và điểm tựa của bạn bè, mà chưa đủ tài năng thật sự để đáp ứng sự tín nhiệm đó, trong nhiều tiêu chí đánh giá chung (sự bền vững, trình độ dân trí, giáo dục, quản lý hành chính nhà nước, mức độ trong sạch của xã hội, mức độ tham nhũng, tiêu cực xã hội . . .), Đấy là một nguy cơ, tiềm ẩn sự hẫng hụt: Muốn làm đầu tầu, nòng cốt thì phải phát triển bền vững, trong sạch, nghiêm chỉnh, hiệu quả cao!

2/ Mức độ, tốc độ và chất lượng hội nhập kinh tế với ASEAN và thế giới còn yếu: Hầu hết các nước Đông Nam Á, ASEAN đều đã được công nhận là nền kinh tế thị trường, còn ta thì vẫn vấn vương “đảng lãnh đạo toàn diện”, “quốc doanh làm nòng cốt”, phân biệt đối xử giữa các thành phần kinh tế; chính sách một đằng, thực thi một nẻo, quản lý sản xuất kinh doanh yếu kém, thiếu minh bạch. . . do đó chưa được thừa nhận là nền kinh tế thị trường, làm cho quan hệ hợp tác buôn bán làm ăn với các nước kém hiệu quả . . .

3/ Chậm hòa đồng, hội nhập về thể chế chính trị với thế giới văn minh: cái chính là ta chưa chấp nhận Nhà nước pháp quyền đa nguyên, tam quyền phân lập; chưa thừa nhận xã hội dân sự, còn là một xã hội hạn chế dân chủ, tập trung trước (cấp ủy quyết trước), dân chủ sau (dân chúng bàn bạc cụ thể hóa sau). Nên lưu ý, sẽ đến lúc tiêu chuẩn để được coi là “hội nhập đầy đủ”, hay được bầu vào các tổ chức lãnh đạo toàn cầu, sẽ có tiêu chí “đã được công nhận là nhà nước pháp quyền thực s”, là một “nhà nước văn minh Tự do dân chủ”, dân chúng có đủ tiêu chí “công dân hành tinh” để có thể được vào các nước du lịch và làm ăn, đã có “xã hội dân sự” hoàn chỉnh hay chưa ?, v.v….theo các chuẩn chung của Liên hiệp quốc!

4/ Trung Quốc có thể sẽ cải cách mạnh mẽ thể chế chính trị và thành công trước chúng ta (tuy là rất khó). Trong trường hợp này, Trung Quốc sẽ từ bỏ dần tham vọng bá quyền nước lớn, sẽ giữ vững hòa bình, sẽ hành xử chân chính như một nước lớn văn minh, có trách nhiệm. Được coi là nguy cơ, vì khi đó các nước sẽ tin tưởng TQ hơn hiện nay, họ sẽ không còn “cần đến một đồng minh tình thế ” Việt nam như bây giờ nữa. Xét về chính diện, trong trường hợp này, một TQ hòa bình, gương mẫu, văn minh, từ bỏ bá quyền, bành chướng . . . sẽ cũng rất có lợi cho cả Việt Nam (Lâu nay, dưới cái bóng của TQ, cái gì ta cũng phải nhường bước đi sau. Nay TQ đã thể hiện ý muốn cải cách thể chế chính trị, như vậy là đã “bật đèn xanh” cho Việt nam "yên tâm" tiến lên!? )

5/ Cái nguy cơ bao trùm, là với thể chế chưa giải phóng hoàn toàn tự do tư tưởng con người, thậm chí còn tạo ra sự cảnh giác, e ngại, sợ sệt trước chính quyền như hiện nay, Việt Nam sẽ tự tạo ra một tình thế rất nguy hiểm: lực ly tâm sẽ lớn dần, cái “vỏ ốc” ngày càng to ra, chất keo gắn kết tinh thần dân tộc sẽ bị thay bằng những luật lệ về tự do dân chủ ngày càng bó lại, không tập hợp và phát huy được thực sự nhân tài, vật lực to lớn, giầu trí sáng tạo của toàn dân tộc để vươn lên kịp trào lưu tiến hóa của Nhân loại thế kỷ XXI. Vì vậy, để sửa chữa lỗi hệ thống thì ta phải đổi mới triệt để về tư tưởng, sơ bộ như gọi ý sau đây:

III. Việt nam nên sửa chữa lỗi hệ thống, đổi mới thể chế chính trị theo những nội dung cơ bản:

V lý luận, trong giai đoạn “quá độ” đặc thù hiện nay, Đảng đề nghị nhân dân vẫn chấp nhận chế độ độc đảng cầm quyền để ổn định xã hội, songcương quyết sửa chữa “chế độ độc quyền toàn trị”, bằng cách phải nhanh chóng tiến hành các bước dân chủ hóa thực sự sau đây:

1/ Đầu tiên, Đảng phải tự định nghĩa lại chính mình. Đảng Cộng sản VN ngày nay là ai ? Theo tôi, Đảng CS Việt Nam ngày nay cần vượt lên trên cái gốc công nhân hạn hẹp để xứng tầm dân tộc anh hùng và thời đại văn minh mới, nên coi mình là đảng của toàn dân (trên thực tế thành phần đã như vậy rồi), đại biểu cho quyền lợi, trí tuệ và văn hóa của toàn dân tộc (trên thực tế đang phấn đấu). Đảng sẽ phấn đấu tập hợp những người ưu tú nhất của mọi thành phần xã hội, tuân theo đường lối gốc rễ sâu sa nhất: “Lấy Dân làm gốc”, lấy tư tưởng đường lối Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động, đồng thời tham khảo vận dụng và phát tiển cả các học thuyết tiến bộ khác và tinh hoa của nhân loại. Đảng hoạt động tuân theo Hiến pháp và pháp luật nhà nước, theo nguyên tắc Dân chủ tập trung; vì mục tiêu hòa bình, độc lập, tự do, dân chủ, công bằng và bình đẳng xã hội, an toàn và hạnh phúc cho toàn dân tộc và cho từng đảng viên của Đảng;

2/ Đảng sẽ tự luật hóa ngay vai trò lãnh đạo của mình, sau đó đem ra xin ý kiến nhân dân, tạo thành một bộ phận được nhân dân chấp nhận của Hiến pháp mới, rồi cấp ủy mới “quyết”. Nhiệm vụ số 1 của Đảng là tập trung chỉ đạo, tổ chức, giám sát, kiểm tra . . .đảm bảo thực hiện nghiêm chỉnh trên mọi mặt hoạt động xã hội (và công tác tổ chức chính trị của Đảng), đường lối tư tưởng “Lấy dân làm gốc” – không lấy giai cấp công nhân, hay Đảng làm gốc như hiện nay - trên nguyên tắc mới: Dân chủ trước- Tập trung sau, tức là lấy ý dân trước, Đảng (các cấp ủy) sẽ “quyết” sau.

2/ Song song, Đảng chỉ đạo và phối hợp với Quốc hội và Chính phủ dự thảo lại Hiến pháp mới, trên tinh thần có phát triển Tuyên ngôn độc lạp và Hiến pháp 1946, trong đó đảm bảo nước ta theo thể chế Dân trị, Dân chủ - Cộng hòa, Tự do – Dân chủ - Nhân quyền, thượng tôn pháp luật, từ bỏ nguyên tắc Tập trung dân chủ (thời chiến), chuyển sang nguyên tắc Dân chủ tập trung thời bình . . .để Việt nam có thể trở thành một dân tộc hoàn toàn tự do sáng tạo vươn tới tương lai xa v.v…

3/ Thực hiện nghiêm chỉnh chủ trương: Đảng chỉ lãnh đạo bằng đường lối, chính sách thông qua tính thuyết phục của chúng, và sự gương mẫu thực hiện của đảng viên của đảng (dự thảo cương lĩnh). Để thực hiện trên thực tế, khác với hiện nay, mọi thể chế nhà nước đều đặt đảng là một bộ phận dưới Hiến pháp, một bộ phận bình đẳng trong Quốc hội và Mặt trận tổ quốc. Đảng phấn đẩu để có đủ điều kiện (được nhân dân tín nhiệm) “nhất thể hóa” tối đa người đứng đầu các cơ quan nhà nước.

4/ Vì Đảng sẵn sàng nghiêm chỉnh lãnh đạo bằng tính đúng đắn, thuyết phục của đường lối, chinh sách, bằng sự gương mẫu thực hiện, với tâm niệm rằng, đảng không có một mục tiêu quyền lợi riêng tư nào, “ngoài mục đích phục vụ nhân dân, phục vụ dân tộc” (như dự thảo cương lĩnh đã viết), nên Đảng sẽ có các cải tiến lớn. Ví dụ:

+ Đảng sẽ không bao biện và “lãnh đạo toàn diện” theo kiểu ôm đồm như hiện nay. Đảng (chính trị) cần tập trung lãnh đạo vào các đường lối chính trị, độc lập quốc gia, an ninh, quốc phòng, văn hóa, giáo dục, đời sống nhân dân, sức khỏe giống nòi, giữ vững môi trường trong lành cho toàn dân . . .Về kinh tế, trên cơ sở đường lối chung của Đảng, xã hội sẽ vận động theo cơ chế cạnh tranh thị trường, Đảng chỉ cần đối chiếu với NQ Đảng để thực hiện giám sát, kiểm tra tính “Lấy dân làm gốc” , cũng vậy tại các lĩnh vực xã hội và chuyên môn nghiệp vụ còn lại.(Phát triển kinh tế là mặt trận quan trọng hàng đầu, nhưng Đảng lại là đảng chính trị đứng về phía quyền lợi nhân dân, người tiêu dùng và quyền lợi quốc gia, dân tộc, do vậy đảng chỉ nên tập trung vào nghiên cứu để chỉ đạo đường lối lớn và giám sát, kiểm tra, tránh trực tiếp "vào trận" (ra các quyết định cụ thể, phức tạp) để dính vào những tiêu cực, bị lôi kéo vào việc "ăn chia" với các thế lực quyền lợi nhóm, và quyền lợi nước ngoài, rất khó rạch ròi và gỡ ra được ! Nên nhớ rằng, nhân dân - với nghĩa sô đông, tập thể - giờ đây đã đủ hiểu và biết, rằng mình muốn cái gì, và làm như thế nào)

+ Đảng biểu thị tính không độc quyền của mình bằng cách tự nguyện hạn chế số thành viên của mình trong Quốc hội và tại các Hội đồng nhân dân theo tỷ lệ đảng viên trên tổng dân số toàn quốc, hoặc tại mỗi khu vực bầu cử (tỷ lệ nào, thì cần n/c cụ thể hóa cho thích đáng).

+ Thay vì thực hiện chế độ đa đảng, Đảng Cộng sản – đã chứa đựng tính toàn dân - sẽ chứng minh tính không độc quyềntính dân chủ, công bằng của mình bằng cách tổ chức cạnh tranh lành mạnh, công khai, minh bạch trong tranh cử chung và nội bộ. . .dưới s dám sát của toàn dân, ngay cả trong các cơ cấu đảng của đảng toàn dân này.

+ Vì là Đảng toàn dân, một dạng đa đảng kiểu mới sáng tạo, nên kỷ luật đảng chỉ nên (?) bắt buộc đảng viên phải nghiêm chỉnh tuân theo các Nghị quyết Đại hội Đảng. Mọi đảng viên có quyền tranh luận, chất vấn, yêu cầu sửa đổi, bảo lưu, thậm chí không chấp hành các NQ của Ban CH TƯ, của các cấp ủy Đảng các cấp, nếu thấy có sự đi chệch NQ Đại hội Đảng, hoặc vi phạm Hiến pháp, khi có những vấn đề không nhất trí nẩy sinh, tạo khả năng hiện thực dân chủ đa nguyên tác động phản biện kịp thời vào các quyết định chưa trúng, hoặc sai lầm của các cấp ủy Đảng.

+ Cần n/c lại vấn đề quy định "Các điều cấm đảng viên không được làm". Đối với đảng viên, ngoài Hiến pháp, điều lệ Đảng, nghị quyết Đại hội Đảng, và luật pháp cụ thể đã quá nhiều, không nên khoanh thêm một vòng luât lệ hẹp hơn nữa để bó buộc tư duy và trí tuệ đảng viên. Đảng nên trân trọng đảng viên của mình, không hơn, thì cũng phải bằng người dân ngoài đảng.

(Xin xem thêm các bài giải trình liên quan tại www.vids.org.vn)

+ V.v…và v.v . .(Còn tiếp tục góp ý)

(Mỗi đảng viên hãy tưởng tượng rằng, nêu mình là người ngoài Đảng, hoặc khi đã về hưu, mình sẽ muốn sống và góp ý với Đảng như thế nào. Càng tin tưởng trông chờ ở Đảng, càng không chỉ ca ngợi, mà cần chỉ ra cả những yếu kém của tổ chức này !)

Tóm lại: Nước ta muốn giữ được vị trí của một nước có thể chế chính trị vững vàng, tham gia vào đội ngũ có trách nhiệm các thuyền trưởng của con tầu toàn cầu, nhằm tạo những điều kiện căn bản để thực hiện thắng lợi Cương lĩnh mới của Đảng và Mục tiêu chiến lược của đất nước, chúng tacần nhanh chóng dũng cảm, khẩn trương, quyết liệt cải cách cái thể chế chính trị cũ kỹ, lạc hậu hiện nay của chúng ta nhanh hơn nữa.

Chúng ta đang đứng trước những vận hội rất lớn, và cũng thật nhiều nguy cơ đáng ngại, do sự chuyển biến rất nhanh chóng nội dung tiến hóa của thời đại và thiên nhiên, nên không một mình riêng ai dù có tài giỏi đến đâu cũng không lường tính hết được. Lịch sử đã chứng minh rằng, những hệ thống quản lý lãnh đạo Dân trị đã được Loài người lựa chọn và gọt dũa đang tiến tới hoàn hảo, sẽ tiến nhanh và bền vững hơn mọi hệ thống nhân trị, độc tài toàn trị mà thế giới đã từng loại bỏ.

Nếu đổi mới thể chế kinh tế đã đưa chúng ta thoát khỏi đói nghèo và lạc hậu, thì đổi mới thể chế chính trị (theo một phương thức chuyển đổi có tính toán thông minh) chắc chắn sẽ sớm đưa nước ta vào thế ổn định và vững vàng phát triển trở thành một nước “Xã hội Văn minh mới”(*). Thời cơ vàng đang mở ra trước Đất nước ta.

(*) Đã đề cập ở mục “Xã hội Tư bản tiến hóa liên tục . . .” ở phía trên.

Hà Nội,10- 2010. Vũ Duy Phú (Viện VIDS)

theo VIDS.org.vn

Cuộc đấu giá từ thiện bị biến thành trò đùa

12 ngày sau khi công bố bức tranh đá quý, viên rubi nặng 10 kg, chiếc trống đồng, được nhiều nhà hảo tâm chịu mua với giá hàng chục tỷ đồng ủng hộ miền Trung, chiều 23/11, Hội Chữ thập đỏ TP HCM cho biết họ đã bị lừa.


Bà Nguyễn Thị Huệ, Chủ tịch Hội Chữ thập đỏ TP HCM chia sẻ, dù đã có kinh nghiệm trong việc bán đấu giá gây quỹ từ thiện, nhiều lần cũng bị những người giả danh nhà hảo tâm hứa mua vật phẩm giá cao, hoặc hứa ủng hộ tiền thật nhiều rồi sau đó bặt vô âm tín, nhưng chưa lần nào nghiêm trọng như lần này.

"Đêm hội Hoa hậu Trái đất và Doanh nhân hướng về miền Trung", do Công ty Cổ phần đá quý Gia Gia mua bản quyền của tập đoàn Thanh Niên Media, diễn ra tại khách sạn Queen Plaza, TP HCM, đêm 11/11. Sự kiện được đăng ký kỷ lục Việt Nam với việc "hơn 90 hoa hậu thế giới và doanh nhân cùng có mặt để chung tay làm từ thiện".

Chương trình đã được phát sóng trên các kênh quốc tế như NBC, StarWorld và những kênh truyền hình trong nước.

Bộ Tứ linh (long - lân - quy - phụng) - tác phẩm nhận giải xuất sắc tại Triển lãm sinh vật cảnh cao cấp toàn quốc trong dịp Đại lễ 1000 năm Thăng Long, có giá đấu khởi điểm là 40 tỷ đồng, chỉ sau vài phút số tiền cho linh vật này tăng dần từ 42 lên 45 rồi dừng lại ở con số 47,9 tỷ đồng. Người thắng cuộc để sở hữu tác phẩm nghệ thuật này là đại diện Công ty gốm sứ Bảo Long.

Các vật phẩm quý khác gồm chiếc trống đồng kỷ vật 1000 năm Thăng Long được một người xưng tên Lương Đức Hải trả mua với giá thu về 12 tỷ đồng; bức tranh đá quý có chữ ký của khoảng 80 thí sinh Miss Earth được một người tên Thanh Bình đấu với mức giá 3 tỷ đồng. Còn viên đá rubi khổng lồ được người tên Phát xưng là đại diện Công ty Bình Điền, Long An, mua giá 11 tỷ đồng.

"Tuy nhiên sau đó, chúng tôi liên lạc lại thì người mua bức tranh đá quý và trống đồng đều không bắt máy. Đại diện Công ty Bình Điền thì cho rằng không có cá nhân nào tên Phát tham gia đấu giá", bà Nguyễn Thị Huệ nói.

Câu chuyện trả tiền đấu giá cho bộ tứ linh cũng thất bại. Bà Huệ cho hay, sau buổi đấu giá, chủ sở hữu của bộ long - lân - quy - phụng tự ý đưa sản phẩm về Lâm Đồng và yêu cầu đơn vị thắng đấu giá phải giao trực tiếp 47,9 tỷ đồng, sau đó họ muốn quyên góp từ thiện bao nhiêu là quyền của họ. Công ty gốm sứ Bảo Long không đồng ý.

Theo bà Huệ, phía Bảo Long từ chối giao dịch vì hai lý do. Thứ nhất: chủ sở hữu của bộ tứ linh đã tự ý đưa sản phẩm đi nơi khác. Thứ hai: Bảo Long chỉ giao tiền cho Hội Chữ thập đỏ TP HCM chứ không giao cho chủ của linh vật.

"Đại diện Công ty Bảo Long sau đó chỉ đồng ý góp cho Hội 1 tỷ đồng tiền mặt", bà Huệ nói.

Như vậy, tính đến nay, dù đã công bố trên các phương tiện truyền thông số tiền trên lý thuyết có được từ đêm đấu giá là 74 tỷ đồng, Hội Chữ thập đỏ TP HCM chỉ thu được hơn 1 tỷ đồng (bao gồm số tiền 1 tỷ đồng ủng hộ của Bảo Long, 100 triệu đồng của Công ty TNHH một thành viên dịch vụ hàng không sân bay Tân Sơn Nhất và vài triệu đồng của các cá nhân).

Phân tích nguyên nhân dẫn đến sự cố, đại diện ban tổ chức "Đêm hội Hoa hậu Trái đất và Doanh nhân hướng về miền Trung", ông Đinh Gia Diên, Giám đốc Công ty cổ phần đá quý Gia Gia cho rằng, ban tổ chức đã bị người tham gia đấu giá lừa bằng cách xưng bừa danh tính hoặc dùng số điện thoại giả để gọi đến chương trình.

"Có thể họ lợi dụng chúng tôi để quảng bá thương hiệu, cũng có thể họ xem đây như một trò đùa. Phần khác, người dẫn chương trình do thiếu kinh nghiệm hoặc trong tâm lý muốn bán được giá cao nhất nên bị kẻ xấu lừa", ông Diên nói.

Cũng theo ông Diên, có nhiều doanh nghiệp nghiêm túc, trả giá khá cao nhưng bị những kẻ giả danh trả giá cao hơn để phá hoại. "Chúng tôi đang nhờ luật sư tư vấn và sẽ trình sự việc đến cơ quan công an", ông Diên nói.

"Sự thật là tôi từng nhiều lần bị lừa kiểu này, nhưng đây chính là bài học kinh nghiệm cho những người làm từ thiện, rằng chớ vội mừng và công bố những kết quả có được từ những lời hứa ủng hộ từ thiện", Chủ tịch Hội Chữ thập đỏ TP HCM nói.

Thiên Chương

theo Vnexpress


Tổng số lượt xem trang

free counters