Triết Lý, để làm gì ?

Khi ta bế tắc tư tưởng, chân thật công nhận rằng những kiến thức và phương pháp suy luận của ta không cho phép ta sống, tư duy và hành động khớp với khao khát làm người của ta, ngoài vô vàn cách ứng xử khác, ta có thể:

a) Tiếp tục sống, tư duy và hành động như cũ vì, dù sao, ta cũng sống được, không đến nỗi nào

b) Lột áo cũ, khoác áo mới, một tấm áo coi lành lặn đẹp đẽ hơn nhưng cũng hàm hồ không thua gì. Điều ấy luôn luôn khả thi bằng ngôn ngữ.

c) Đi tới cùng bế tắc của chính mình. Nếu không giải quyết được nó, ta ôm nó xuống suối vàng, để lại ở đời chỉ một câu hỏi. Câu hỏi của một con người. Đích thực. Có gì nhục đâu?

Nếu ta tưởng ta đã tìm ra một phần của giải pháp, ít nhất là cho riêng mình, thì cứ viết đi, chẳng cần trích cao nhân nào cả: họ đã là một phần của ta và ta đã phải “vượt” họ để nên mình.

Thế thôi.

(Chungta.com)

Góc nhỏ của Noby Vui Vẻ

Lục lọi, tìm tòi, đọc, cóp nhặt, chia sẻ, ... OK hay không tùy bạn ! ! !

“Nước độc lập mà dân chưa tự do thì độc lập cũng không có ý nghĩa”- Hồ Chí Minh.

20 thg 9, 2011

GS Hoàng Tụy: Cải cách giáo dục mạnh mẽ, toàn diện, triệt để là giải pháp cứu nguy cho giáo dục, cũng là cứu nguy cho phẩm chất Việt Nam khi còn chưa quá trễ!


Hoàng Tụy

GS Hoàng Tụy là một gương mặt trí thức lớn. 64 năm gắn bó với giáo dục, ý kiến của ông rất có trọng lượng, đáng cho cả xã hội quan tâm.
PHẦN 1

(…) Làm khoa học ở một đất nước nghèo khó, tôi vốn có duyên nợ nhiều với giáo dục. Xuất thân là một thầy giáo trung học, rồi dần dần tự mày mò học tập, nâng cao trình độ mà trưởng thành trong nghề và trở thành một nhà khoa học. Bắt đầu dạy học ở tuôi 20, đến nay đã ngoài 80, suốt hơn 60 năm đó tôi chưa lúc nào xa rời nghề dạy học, tuy học trò của tôi thì tuổi tác, tính chất, trình độ và cả quốc tịch cũng ngày càng đa dạng.  
Được may mắn (chứ không phải rủi ro) học phổ thông ở nhà trường thời thực dân (nhưng không phải nhà trường thực dân), ra đời cũng được đi đây đi đó học, dạy, làm việc trong những môi trường đại học khoáng đạt, hiện đại từ Tây sang Đông trên thế giới, nên tôi thường có dịp suy ngẫm về nghề nghiệp của mình. Suy ngẫm từ vị trí công dân một nước nghèo, lạc hậu, khát khao mau chóng đuổi kịp một nhân loại đang rộn rịp chuyển lên nền văn minh trí tuệ đầy thách thức. Điều đó tự nhiên dẫn đến mối quan tâm trăn trở gần như thường trực đối với nền giáo dục của nước nhà. Mà cũng từ đó được mở rộng tầm mắt, có cách nhìn hệ thống đối với nhiều vấn đề giáo dục, kinh tế, văn hoá, xã hội của đất nước. 

Hồi còn GS Tạ Quang Bửu làm Bộ trưởng Đại học và Trung học chuyên nghiệp, tôi đã có nhiều dịp nghiên cứu và trình bày về tư duy hệ thống trong các xê-mi-na giáo dục do GS Bửu chủ trì. Những tư tưởng, quan niệm của tôi về giáo dục, văn hoá, kinh tế, xã hội ngay từ những ngày ấy phần lớn đều xuất phát từ cách nhìn hệ thống đó, cho nên ít nhiều cũng có tính hệ thống nhất quán, nếu có lúc cần thay đổi thì cũng do logic sự vật, chứ không tuỳ hứng, tuỳ tiện, tuỳ thời.

Một thế kỷ nay chưa bao giờ vai trò then chốt của giáo dục trong sự phát triển của dân tộc ta nổi rõ như lúc này. Chỉ trong vòng một thế hệ mà những bước tiến khổng lồ của khoa học và công nghệ đã mang đến cho cuộc sống trên hành tinh những đổi thay sâu sắc hơn cả hàng trăm năm. Trong bối cảnh ấy,giáo dục càng quan trọng thiết yếu hơn bao giờ hết cho bất cứ xã hội nào, kể cả những xã hội tân tiến nhất. 

Việt Nam không là một ngoại lệ. Nên dù trước mắt kinh tế có khó khăn bức bách bao nhiêu cũng không cho phép chúng ta một phút được lơ là các vấn đề giáo dục. Chừng nào giáo dục còn yếu kém, tụt hậu như hiện nay, thì dẫu có tăng trưởng kinh tế giữ được tốc độ 7- 8%, thậm chí 10%/ năm chăng nữa, đất nước cũng vẫn mãi mãi lẹt đẹt sau thiên hạ.

Muốn tăng trưởng kinh tế bền vững, muốn chuyển hướng phát triển từ chiều rộng sang chiều sâu, mà để giáo dục yếu kém, thì chỉ là nói suông. Ông Lý Quang Diệu từng khuyên chúng ta: Thắng trong giáo dục thì mới thắng trong kinh tế. Gần đây, ông Đại sứ Hoa Kỳ, sau nhiệm kỳ công tác ở Việt Nam, cũng nhận xét thách thức lớn nhất của Việt Nam hiện nay là giáo dục. Không phải họ hù doạ chúng ta, cũng chẳng phải họ cung cấp cho chúng ta thông tin gì mới mẻ, tân kỳ. Họ chỉ nói cho ta biết một điều mà, từ nhiều năm rồi, ngay chuyên gia trong nước đã có không it lời cảnh báo tương tự. Chẳng qua Bụt nhà không thiêng, thì mới cầu tới Bụt ngoài!

Đó là nội dung thiết yếu hai bản kiến nghị mà một nhóm trí thức quan tâm tới vận mệnh đất nước đã gửi Trung ương Đảng, Quốc hội và Chính phủ năm 2004 và năm 2009 (...).

Như chúng ta còn nhớ, cách đây 15 năm, từng có nghị quyết lịch sử của Hội nghị TƯ 2 khoá VIII, xem phát triển giáo dục, khoa học là quốc sách hàng đầu. Nhưng, mười năm sau đó, Thủ tướng Chính phủ đã phải thẳng thắn thừa nhận chúng ta chưa thành công trong hai lĩnh vực nêu trên. Cho nên các nghị quyết Đại hội X và ba Hội nghị TƯ sau đó đều nhắc lại nhiệm vụ khẩn thiết cải cách giáo dục để ra khỏi cuộc khủng hoảng kéo dài mấy thập kỷ (…). 

May thay, sự kiện Ngô Bảo Châu đã tạo một cú hích, ít nhất về nhận thức. Sự kiện này cuối cùng đã cho thấy rõ quá nhiều vấn đề cần suy nghĩ lại nghiêm túc và tỉnh táo hơn về nhà trường của chúng ta.  Đáng mừng là lần đầu tiên sau nhiều năm chờ đợi, người dân đã được nghe Thủ tướng long trọng tuyên bố cần một cuộc cải cách giáo dục mạnh mẽ, toàn diện, triệt để, để chấn hưng đất nước. Với niềm hân hoan như đã lâu chưa hề có, tôi đã lắng nghe bài diễn văn buổi tối đó của Thủ tướng, y như người đang khát giữa trưa hè nóng bức mà được uống bát  nước chè tươi.

Sau tuyên bố của Thủ tướng, nguyên Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình cũng đã lên tiếng đầy sức thuyết phục, kêu gọi thực hiện cải cách giáo dục để tiến lên một nền giáo dục trung thực, lành mạnh và hiện đại, đáp ứng nguyện vọng chính đáng của người dân và yêu cầu cấp thiết chấn hưng đất nước. Nhiều bậc thức giả khác đã hưởng ứng lời kêu gọi đó. Ai nấy đều tin rằng đã đến lúc cần kết thúc giai đoạn đổi mới vụn vặt, chuyển sang cải cách mạnh mẽ thì giáo dục mới có thể ra khỏi bế tắc, trì trệ. 

Trong một buổi làm việc hơn hai giờ vào khoảng giữa tháng 11/2010, tôi cũng đã cố gắng thuyết phục Bộ trưởng GD và ĐT Phạm Vũ Luận hãy nhân cơ hội này, nhận nhiệm vụ lịch sử khởi động công cuộc cải cách giáo dục đã được đề ra trong các nghị quyết lớn của TƯ. Trước hết, hãy có một cách tiếp cận mới đối với một số vấn đề nhức nhối nhất hiện nay như thi cử, tổ chức trung học phổ thông và dạy nghề, tuyển chọn giáo sư, phó giáo sư, xây dựng đại học đẳng cấp quốc tế, v.v. 

Tuy nhiên, cho đến giờ phút này, nghĩa là gần nửa năm trời sau tuyên bố mạnh mẽ của Thủ tướng, tình hình vẫn im ắng. Một chủ trương đúng đắn có ý nghĩa then chốt chiến lược đến như vậy, lại đã long trọng hứa hẹn với dân nhiều lần, mà đấu tranh thực hiện cũng gian khổ chẳng khác gì việc đòi giảm sưu cao thuế nặng thời thực dân, phong kiến hay sao? Tôi thật sự lo lắng khi thấy bất chấp mọi lời khuyên, cỗ máy giáo dục già nua, cổ lỗ vẫn tiếp tục vận hành ì ạch mà chưa thấy tín hiệu gì sẽ có thay đổi. 

Đến hẹn lại lên, cả nước lại chuẩn bị lao vào địa ngục thi cử với biết bao tốn kém, lo âu, để rồi như mọi năm hàng chục vạn học sinh, sau 12 năm đèn sách, bị ném bơ vơ ra đời, không nghề nghiệp, mà cũng chẳng có nơi nào học tiếp, cùng với hàng vạn sinh viên, sau 3 - 4 năm đại học, vẫn bỡ ngỡ ngay cả với những việc làm rất thông thường mà ở các nước khác chỉ đòi hỏi một học vấn trung cấp. 

Tại sao thanh, thiếu niên ta phải chịu thiệt thòi lớn như vây? Tại sao đã 36 năm ròng rã từ ngày thống nhất đất nước mà giáo dục đến nông nỗi này?  
  
Hiển nhiên có nhiều nguyên nhân nhưng điều dễ thấy nhất là một đất nước mà người dân tin rằng “cái gì tiền không làm được thì nhiều tiền sẽ làm được” - một đất nước như thế thì giáo dục tụt hậu là tất yếu.Suy cho cùng sự chấn hưng giáo dục tuỳ thuộc quyết định vào cuộc đấu tranh chống tham nhũng. Chừng nào tham nhũng còn nặng thì dối trá, lừa đảo còn phổ biến khắp hang cùng ngõ hẻm, làm sao giáo dục có thể trung thực, lành mạnh được, nói chi đến hiện đại.

Chống tiêu cực trong thi cử, chống bệnh thành tích ư? Thì đó, năm đầu làm nghiêm thì hàng loạt thí sinh trượt, năm sau bắt đầu dễ dãi thì tỉ lệ thi đỗ tăng, năm sau nới rộng nữa thì đạt tỉ lệ thi đỗ cao ngất ngưỡng như ban đầu, thế là chứng minh chất lượng giáo dục đã đựơc nâng cao, giáo dục đã đạt siêu thành tích! Còn mua bằng, bán điểm, chạy trường, chạy dự án, chạy chức, thứ gì cũng chạy được, chạy bằng chân, bằng đầu, bằng “vốn tự có”, hay gì gì đó thì đố ai biết quy mô đến đâu. Có điều chắc chắn là những chuyện tiêu cực trong giáo dục và, kèm theo đó, bạo lực học đường chưa hề giảm mà có phần phát triển bạo liệt tinh vi hơn (…). 

PHẦN 2

Giáo dục là một hệ thống phức tạp, theo nghĩa khoa học của từ này, cần phải được tiếp cận và vận hành như một hệ thống phức tạp mới có hy vọng tránh khỏi sai lầm, thất bại. Lãnh đạo, quản lý giáo dục mà thiếu tư duy hệ thống, thiếu môt tầm nhìn chiến lược bao quát thì chỉ có sa vào sự vụ, nay thế này mai thế khác, “đổi mới” liên miên nhưng vụn vặt, chắp vá, không nhất quán, rốt cục tiêu tốn nhiều công sức, tiền của, mà kết quả chỉ làm rối thêm một hệ thống vốn đã què quặt, thiếu sinh khí, thường xuyên trục trặc. 
  
Trong một thế giới biến chuyển cực kỳ mau lẹ, chỉ chậm một vài năm đã có thể gây thiệt hại đáng kể, huống chi mấy thập kỷ liền hầu như giẫm chân tại chỗ và loay hoay với những vấn nạn nhức nhối kéo dài hết năm này qua năm khác. 

Không đâu cần bốn chữ cần, kiệm, liêm, chính hơn lĩnh vực giáo dục. Cũng không đâu cần tư duy phê phán, cần tự do, sáng tạo hơn ở đây.  Một nền học đã thiếu vắng các đạo đức và đức tính cơ bản ấy, tất nhiên, sớm muộn cũng biến chất và lâm vào bế tắc. Khi ấy những điều chỉnh cục bộ theo kiểu đổi mới từng việc vụn vặt như vừa qua không những không có tác dụng, mà còn làm kéo dài thêm tình trạng trì trệ. Lúc này lối ra duy nhất cho giáo dục là cải tạo cấu trúc, xây dựng lại từ gốc, thay đổi cả thiết kế hệ thống. Chỉ có như thế mới mong cứu giáo dục thoát ra khỏi khủng hoảng triền miên.  

Không đi sâu vào những việc quản lý cụ thể tôi chỉ xin nêu một số vấn đề ở tầm chiến lược về chất lượng giáo dục. Dù bảo thủ đến đâu, dù thoát ly thực tế cuộc sống đến đâu, ai cũng phải công nhậnchất lượng giáo dục của ta quá thấp. Thấp như thế nào và làm gì để nâng cao chất lượng thì lại có nhiều cách nhìn thiển cận, phiến diện, sa vào chi tiết vụn vặt không thực chất.

 Thứ nhất là chuyện học và thi. Năm nào bàn chuyện này cũng có nhiều đề xuất cải tiến nhưng càng bàn càng rối mà chưa thấy hướng ra đúng đắn. Học thì cứ miêt mài nhồi nhét nhiều thứ vô bổ, nhưng lại bỏ qua nhiều điều cần thiết trong đời sống hiện đại. Thi thì mãi vẫn một kiểu thi cổ lỗ, biến thành khổ dịch cho học sinh nhưng là cơ hội kinh doanh, làm tiền cho một số người. Không phải học mà thi mới là chính, học chỉ để đi thi, để có bằng, thậm chí không học mà có bằng thì càng tốt. 

Đặc biệt thi tốt nghiệp nặng nề như chưa hề thấy đâu trên thế giới văn minh. Tuy đã có không ít hội nghị bàn thảo về cải tiến phương pháp giảng dạy, cho đến nay chủ yếu vẫn chỉ là dạy trên lớp, thầy đọc, trò ghi và bám sát sách giáo khoa. Trong khi đó, với cách nhìn toàn cục có thể thấy rõ cốt lõi của chuyện học và thi ở chỗ khác. 


Đã sang thế kỷ 21 nhưng giáo dục của ta vẫn giữ nhiều quan niệm cổ hủ như thời phong kiến nho giáo hay thời trung cổ ở châu Âu, nặng tính giáo điều kinh kệ, vì nhằm mục tiêu thiển cận biến con người thành một phương tiện sử dụng vào các mục đích tôn giáo hay chính trị, hơn là hoàn thiện con người như một chủ thể tự do. Phương Tây đã có thể nhanh chóng bước lên giai đoạn phát triển văn minh công nghiệp hiện đại trong khi phương Đông còn ngủ dài trong văn minh nông nghiệp chính là nhờ họ đã sớmthế tục hoá giáo dục. Thiết nghĩ một giải pháp tương tự cũng cần nghiên cứu cho nhà trường Việt Nam để bước vào kinh tế tri thức thời nay.

Thứ hailà chuyện đào tạo theo nhu cầu xã hội. Các doanh nghiệp thường phàn nàn gặp nhiều khó khăn khi tuyển nhân lực cần thiết vì trình độ, năng lực thực tế của sinh viên do các trường đào tạo ra quá thấp so với yêu cầu của họ. Trong khi đó, hằng năm có hàng chục vạn học sinh, sinh viên ra trường không tìm được việc làm thích hợp. Mặc cho khẩu hiệu “nói không với đào tạo không đạt chuẩn, không đáp ứng nhu cầu xã hội”, và một số biện pháp đổi mới quản lý giáo dục, chất lượng đào tạo vẫn giẫm chân tại chỗ từ hàng chục năm nay. Quá nhiều trường đào tạo về kinh tế, tài chính, kế toán, ngân hàng, v.v. nhưng rất ít trường về công nghệ, kỹ thuật, khoa học. Quá nhiều đại học, cao đẳng kém chất lượng, nhưng rất ít trung cấp kỹ thuật. 


Cơ cấu đào tạo khiến trong nước rất thiếu công nhân lành nghề, rất thiếu cán bộ kỹ thuật trung cấp giỏi, nhưng thừa kỹ sư, cán bộ quản lý tồi. Không lạ gì có nhà đầu tư nước ngoài từng nhận xét: Chúng ta nói nhiều về công nghiệp hoá, nhưng ngay một chiếc đinh vít cũng chưa có nơi nào trong cả nước làm được đúng chuẩn quốc tế. Công nghiệp phụ trợ không phát triển nổi, muốn làm ra sản phẩm công nghệ gì tinh vi đôi chút cũng phải nhập phần lớn linh kiện, bộ phận và các sản phẩm trung gian. Rôt cụcchỉ lắp ráp là chính thì bao giờ mới xây dựng được công nghiệp hiện đại? Sự thể nghiêm trọng đến mức chuyên gia Nhật Bản đã khuyến cáo: Vận mệnh ngành công nghiệp phụ trợ Việt Nam không chỉ ảnh hưởng đến tương lai phát triển kinh tế của Việt Nam, mà còn ảnh hưởng đến địa vị chính trị của Việt Nam trong khu vực Đông-Nam Á. Mà với cơ cấu đào tạo nhân lực như hệ thống giáo dục hiện nay thì không cách nào phát triển công nghiệp phụ trợ.  

Cho nên có nhìn rộng ra cả nền kinh tế mới thấy vấn đề đào tạo theo nhu cầu xã hội không chỉ là cải tiến khâu đào tạo ở cấp đại học hay cao đẳng mà phải cải tổ cơ cấu hệ thống giáo dục, theo hướng như đã trình bày trong bản Kiến nghị 2009: Sau trung học cơ sở, phần lớn học sinh sẽ vào trung học nghề, trung học kỹ thuật, chỉ một tỉ lệ nhỏ vào trung học phổ thông. Bản thân trung học phổ thông cũng cần được cải tổ theo hướng không phân ban cứng nhắc, mà có nhiều lựa chọn cho học sinh phát triển năng khiếu sở thích, nhờ đó nâng cao chất lương đầu vào đại học, tạo điều kiện  nâng cao chất lượng đại học. Như vậy, sau 12 năm học, học sinh nếu ra đời thì đã có nghề, còn số có thể tiếp tục học sẽ không bị nhiều rào cản do cánh cửa chật hẹp của đại học hiện nay.

Thứ ba là xây dựng đại học. Vị trí và tính chất của giáo dục đại học trong sự phát triển của các quốc gia ngày nay đã thay đổi rất nhiều so với chỉ cách đây vài thập kỷ. Nói giáo dục là thách thức lớn nhất cho đất nước hiện nay thì trước hết đó là giáo dục đại học. Trong một thế giới toàn cầu hóa, xây dựng đại học tất nhiên phải hướng tới và tuân thủ các chuẩn mực quốc tế trong mọi lĩnh vực. Trong khi đó, từ việc đào tạo tiến sĩ, việc tuyển chọn giáo sư, đánh giá các công trình khoa học, các nhà khoa học, các trường đại học, đến nay chúng ta vẫn giữ nhiều tiêu chuẩn riêng chẳng giống ai! 

Mặc dù đã trải qua mấy chục năm trời xây dựng, đại học của ta vẫn còn ngổn ngang rất nhiều vấn đề đòi hỏi không chỉ phải đổi mới, mà phải thay đổi tận gốc, từ chiến lược phát triển cho đến cách thực hiện chiến lược. Trong đó việc xây dựng các đại học tiến lên đẳng cấp quốc tế đang gặp nhiều khó khăn, lúng túng, trước hết là về quan niệm. Nếu không kịp thời khắc phục thì căn bệnh thành tích, phô trương, cộng với tính vô trách nhiệm ở đây sẽ gây lãng phí lớn, làm chậm lại thay vì thúc đẩy quá trình tiến lên hiện đại theo tinh thần khai sáng.

Thứ tư và cuối cùng nhưng then chốt nhất là chính sách đối với đội ngũ giáo chức. Không có khâu quản lý nào thể hiện rõ hơn quyết tâm chấn hưng giáo dục bằng chính sách đối với thầy giáo. Thế nhưng hiếm có nơi nào trên thế giới và cũng hiếm có thời nào trên đất nước ta người thầy mặc dù bị đối xử bất công vẫn tận tuỵ gắn bó với nghề như trong mấy chục năm nay. 

Khi nói điều này không phải tôi không biết những gương xấu trong ngành, những con sâu làm rầu nồi canh. Nhưng tôi nghĩ số đó vẫn là số ít - số ít đáng ngạc nhiên nếu đặt trong hoàn cảnh xã hội và điều kiện làm việc cực kỳ khó khăn của tất cả thầy giáo của ta. Tôi tin rằng với những hoàn cảnh như thế ở các nước khác tình hình giáo dục phải bi đát hơn nhiều. Với chính sách đối với thầy giáo như của ta mà giáo dục còn được như thế này đó thật sự là kỳ công. 

Song cái gì cũng có giới hạn, kể cả lòng tự trọng, thiện chí và … lương tâm. Cứ thế này e sẽ đến lúc lương tâm cũng chai lì, chẳng còn ai biết xấu hổ (…), chẳng còn gì để bàn về giáo dục, văn hoá, khoa học nữa. Tôi cũng hiểu và thông cảm với những khó khăn thực tế liên quan đến tham nhũng. Song có thể nói không quá đáng, kinh nghiệm hơn ba mươi năm qua đã cho thấy hầu hết mọi căn bệnh tàn phá giáo dục đều có nguồn gốc ít nhiều ở cái chính sách bỏ mặc, rồi khuyến khich thầy giáo tự bươn chải để kiếm sống mà làm nghề, trong một môi trường đòi hỏi họ phải toàn tâm toàn ý mới làm tốt được nhiệm vụ.  

Vậy nên giải quyết cái u này là điều kiện tiên quyết mở đường cho giáo dục (và khoa học) thật sự trở thành quôc sách hàng đầu. Tuy nhiên, cũng phải cắt u một cách an toàn vì nếu làm không minh bạch, đường hoàng như hiện nay thì chỉ gây thêm hỗn loạn, cũng rất nguy hiểm.

Để kết thúc, xin bày tỏ niềm tin cải cách giáo dục mạnh mẽ, toàn diện, triệt để là giải pháp cứu nguy cho giáo dục, cũng là cứu nguy cho phẩm chất Việt Nam  khi còn chưa quá trễ. 

Nguồn:  Văn hóa Nghệ An

Bổ nhiệm giáo sư để phù hợp Thông lệ quốc tế hay để làm gì?


Từ Thanh Quang

Thông lệ quốc tế!
Trước ý kiến của một số độc giả gửi thư phản ánh qua Cổng TTĐT Chính phủ về những vấn đề liên quan đến việc xét công nhận đạt tiêu chuẩn chức danh Giáo sư(GS), ngày 21/7/2011, Hội đồng chức danh GS Nhà nước đã có công văn số  89/CV-HĐCDGSNN trả lời, trong đó nhấn mạnh : ” Việc phân cấp để các cơ sở giáo dục đại học xem xét, đề nghị bổ nhiệm GS, PGS cũng để hội nhập dần dần với thông lệ quốc tế.”

Tại cuộc họp HDCDGSNN lần thứ VI ngày 23/8, Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân đề nghị các thành viên hội đồng khẩn trương nghiên cứu sửa đổi Quy chế 174 hiện hành, sao cho việc xét công nhận chức danh đảm bảo chất lượng cao nhất, phù hợp với thông lệ quốc tế…

Có vẻ cụm từ “phù hợp thông lệ quốc tế” được dùng với tần xuất hơi nhiều để thuyết phục dư luận, biến cái vô lý thành cái có lý ?.  Mỗi khi lúng túng, không tự tin giải quyết sự việc lớn, người ta hay đưa ra cụm từ này, vì nghĩ rằng không ai có tiền ra nước ngoài kiểm chứng “thông lệ quốc tế”? .  Nhưng họ đã nhầm, trong thời đại toàn cầu hóa, thông tin gần như tức thời.  

GS  Nguyễn Văn Tuấn hiện đang là Giáo sư đại học của Úc,  trong bài “đề nghị cải cách chức danh giáo sư”  đã đưa ra ý kiến phản bác : :”Cách làm (cách bổ nhiệm giáo sư) này là một cách xem thường chức danh giáo sư như là một … bằng tốt nghiệp. Qui trình này rất lạ lùng. Tôi không thấy nơi nào trên thế giới làm như thế. Giáo sư là phải gắn liền với một đại học. Trước khi đệ đơn xin phong giáo sư, ứng viên phải là giảng viên của một đại học. . . .  Cũng cần nói thêm rằng ở ngoài ngoài không có chuyện tiến phong chức danh giáo sư theo nhu cầu. .. …. . Do đó, để phù hợp với qui chuẩn quốc tế, nên bỏ khái niệm phong chức danh giáo sư theo nhu cầu “.

Nhà văn Nguyễn Quang Lập trong bài “khổ thân giáo sư” có đoạn viết :”Chả hiểu nhu cầu giáo sư là thế nào, thế nào mới gọi là có nhu cầu? Rất tù mù. Chỉ biết sau khi “ cơ sở” có nhu cầu rồi thì bước thứ hai bi hài là những ai muốn có cái danh GS, PGS phải “xin” được bổ nhiệm, và cơ sở có nhu cầu tuyển GS, PGS “cho” thì mới được danh hiệu cao quí ấy, công văn 89 nói vòng vèo nhưng tóm lại là như thế. Có lẽ dưới gầm trời này chỉ có nước Nam ta mới có chuyện “xin cho” danh hiệu cao quí và danh hiệu cao quí được bổ nhiệm chứ không phải tưởng thưởng hay tấn phong.”

Thực chất bổ nhiệm giáo sư là gì?

Nhà báo Hồ Bất Khuất  trong bài “Chức danh khoa học: Thêm rắm rối để kiếm chác?!” đã viết “Đây là cách làm không giống ai, rất pha tạp, rắm rối và lại tạo điều kiện cho tiêu cực. Nếu những ai phải chạyđể được công nhận GS, PGS thì phải chạy cả hai cửa, công nhận và bổ nhiệm. Mà chạy chọt bây giờ tốn kém lắm. Một số bạn bè của tôi đủ tiêu chuẩn để là GS, PGS nhưng không đủ tiền để “đi chợ” nên “nghỉ cho khoẻ”.

Trong bài : Chuyện phong học hàm: “Nhục lắm, em ạ!”,  tác giả Nhật Nguyệt cho biết “Có một chuyện mà ai cũng biết nhưng khi nói ra trên mặt báo, nhiều người lại nhăn mặt tỏ ra khó chịu. Số là, tôi có người thân trong đoàn giảng viên một tỉnh phía Bắc kéo về Hà Nội hồi đầu năm, để thi nâng ngạch giảng viên chính. Trong tin tức hàng ngày tôi được cập nhật, không khi nào không có chuyện đoàn đã “đi” những cửa nào, tốn bao nhiêu tiền. Đó là chuyện chua chát hệt như nỗi đau khổ của những người muốn được phong GS, PGS. Thử hỏi nếu những người thầy khốn khổ theo một nghĩa nào đó, không phải là giảng viên chính thì ai mới là giảng viên chính? Tại sao họ lại phải đi “xin” được công nhận- một điều hiển nhiên- từ những người “leng keng” những học hàm học vị nhưng có khi cả đời chưa từng biết rát cổ vì giảng bài 12 tiết một ngày?”

Trong bài “Tương lai buồn cho cải cách giáo dục Việt Nam”, một độc giả đã thốt lên rằng :” Việc duy trì những thủ tục hành chính, không có một nguyên nhân sâu xa nào khác ngoài nguyên nhân để cho những người / nhóm người ra quyết định được nhận bổng lộc - đó là một loại tiền hối lộ, và tiền bẩn. Việc chạy chọt và nịnh nọt cho các chức vụ, hay chức danh GS/PGS  là có thật. Ở nước ta, điều lạ kỳ là mọi người đều biết sự thật nhưng chẳng ai dám/muốn nhìn thẳng vào sự thật”

Kết luận

Những nhà soạn thảo quy trình tấn phong GS/PGS cho rằng :”quyết định 174 là theo “thông lệ quốc tế”, nhưng qua 3 năm thực hiện, mới phát hiện ra :Không có nước nào trên thế giới có cách tấn phong GS/PGS như quyết định 174 của Việt Nam .

Mà giả sử như có  một nước xa xôi  nào đó áp dụng cách làm này, thì cũng nên cho là chuyện bình thường, không nên vì thế mà  hệ thống hóa thành “thông lệ quốc tế”  để “hù dọa” người trong nước?

GS/PGS là chức danh khoa học cao nhất của nhà giáo, do đó việc xét phong tặng chức danh này cần phải bảo đảm tính chính xác, khách quan, khoa học nhất,  nhưng không nên lợi dụng yêu cầu này để tạo ra những thủ tục hành chính rườm rà làm nản lòng các nhà giáo, các nhà khoa học. Hãy để họ có thời gian chuyên tâm vào giảng dạy thay vì phải  sa đà mất thời gian công sức vào các thủ tục phiền hà bấy lâu nay.

Mối nguy địa chủ thời hiện đại



Đặng Hùng Võ

Chế độ sử dụng đất "vô thời hạn" của doanh nghiệp sẽ có lợi cho các "đại gia" nhiều vốn. Các doanh nghiệp trong tương lai chỉ còn cách thuê lại đất của các đại gia này, địa tô tuyệt đối mà Mác quyết tâm loại trừ lại quay lại nước ta.
"Bươn bả" chạy theo nhu cầu
Đúng một năm sau thời điểm đất nước ta quyết định Đổi mới, Quốc hội thông qua trong cùng một kỳ họp tháng 12/1987 hai sắc luật rất quan trọng, Luật Đất đai và Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam. Nhìn vào hình thức, người ngoài cuộc sẽ đinh ninh rằng Luật Đất đai đóng vai "giá đỡ" cho thu hút đầu tư trực tiếp từ nước ngoài. Nhìn sâu vào nội dung thì Luật Đất đai chẳng mấy ăn nhập với Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam. Luật Đầu tư tập trung vào lôi kéo các dự án công nghiệp, còn Luật Đất đai vẫn chưa lệch khỏi tiêu điểm là sản xuất nông nghiệp. Năm 1991, Quốc hội thông qua Luật Công ty và Luật Doanh nghiệp tư nhân nhằm khuyến khích khu vực kinh tế ngoài Nhà nước đầu tư phát triển kinh tế phi nông nghiệp.
Năm 1993, Luật Đất đai thứ hai được Quốc hội thông qua, mục tiêu vẫn chưa lệch khỏi phát triển kinh tế hàng hóa nông nghiệp trong cơ chế thị trường. Luật này quy định rằng các tổ chức kinh tế chỉ được sử dụng đất thuê của Nhà nước, không nói gì đến các quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp đối với đất đai. Gần một năm sau, Ủy ban Thường vụ Quốc hội thông qua Pháp lệnh về quyền và nghĩa vụ của các tổ chức trong nước được Nhà nước giao đất, cho thuê đất. Pháp lệnh không cho phép các tổ chức kinh tế thực hiện quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê đối với đất thuê, nhưng cho phép thực hiện quyền thế chấp, góp vốn bằng đất thuê với mức độ ưu tiên khác nhau. Doanh nghiệp hoạt động trong khu vực nông nghiệp có quyền thế chấp và góp vốn đối với đất thuê. Tổ chức kinh tế hoạt động trong khu vực phi nông nghiệp được quyền thế chấp đối với đất thuê. Doanh nghiệp thuộc khu vực Nhà nước (doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp của các tổ chức chính trị xã hội, doanh nghiệp quốc phòng, an ninh) được quyền góp vốn đối với đất thuê.
Những quy định trên phù hợp về lý luận theo hướng không cho các doanh nghiệp kinh doanh đất thô, khuyến khích kinh doanh từ đầu tư trên đất, ưu tiên các doanh nghiệp thuộc khu vực nhà nước và khu vực sản xuất nông nghiệp được chuyển quyền sử dụng đất thành vốn tài chính (thông qua quyền thế chấp và góp vốn). Cách "không cho" và "khuyến khích" như vậy thực sự rất "bao cấp". Thị trường sẽ không chấp nhận vì một mặt không có tác dụng phát triển thị trường bất động sản, mặt khác tạo nên sự bất công bằng rất lớn giữa các doanh nghiệp thuộc khu vực Nhà nước và các doanh nghiệp ngoài khu vực Nhà nước. Sớm hay muộn, các bất cập như vậy sẽ bị cơ chế thị trường làm cho "mất" hiệu lực thi hành.
Giữa năm 1994, Quốc hội thông qua Luật Khuyến khích đầu tư trong nước. Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá VII thông qua tại kỳ họp thứ 7 Nghị quyết về phát triển công nghiệp, công nghệ đến năm 2000 theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và xây dựng giai cấp công nhân trong giai đoạn mới. Luật Đất đai 1993 lại chậm nhịp so với yêu cầu đối với đất đai để phát triển kinh tế phi nông nghiệp như một nội dung chính của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Nhu cầu phát triển thị trường bất động sản được đặt ra như một bức xúc trên thực tế phát triển kinh tế phi nông nghiệp.
Đến tháng 8/1996, Pháp lệnh về quyền và nghĩa vụ của các tổ chức trong nước được Nhà nước giao đất, cho thuê đất được sửa đổi, bổ sung theo cách thức tiếp cận tốt hơn với thị trường bất động sản. Hình thức Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất được hình thành đối với các dự án đầu tư xây dựng kinh doanh nhà ở và kết cấu hạ tầng, tất nhiên các doanh nghiệp này có quyền chuyển nhượng, cho thuê, thế chấp, góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng đất. Bất công giữa các doanh nghiệp thuộc khu vực Nhà nước và bên ngoài Nhà nước vẫn còn nguyên.
Vào tháng cuối năm 1998, Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đất đai đã mở rộng thêm khá nhiều về quyền của doanh nghiệp đối với đất đai theo hướng hỗ trợ cho thị trường bất động sản. Đất ở được sử dụng vô thời hạn, tổ chức kinh tế cũng có quyền có đất ở sử dụng vô thời hạn. Hình thức Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất được mở rộng tới các dự án "đổi đất lấy hạ tầng", thậm chí đất đổi ấy còn tương đương đất ở. Hình thức Nhà nước cho thuê đất được tách ra thành 2 trường hợp, thuê đất trả tiền hàng năm không được thực hiện quyền giao dịch đối với đất thuê, thuê đất trả tiền một lần được quyền giao dịch đối với đất thuê nếu thời hạn thuê đất còn lại từ 5 năm trở lên.
Luật Đất đai 2003 đã dàn dựng lại quyền và nghĩa vụ của tổ chức kinh tế đối với đất đai sao cho mạch lạc hơn, hệ thống hơn. Trước hết, Luật đã xóa bỏ quyền ưu tiên của các doanh nghiệp thuộc khu vực Nhà nước, cách tiếp cận đất đai là công bằng giữa các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế. Tiếp đó, doanh nghiệp trong nước có thể được lựa chọn hình thức được Nhà nước giao đất có thu tiền hoặc cho thuê đất trả tiền hàng năm, doanh nghiệp nước ngoài (nhà đầu tư nước ngoài) có thể lựa chọn hình thức được Nhà nước cho thuê đất trả tiền một lần hoặc cho thuê đất trả tiền hàng năm. Doanh nghiệp trong nước được giao đất có thu tiền và doanh nghiệp nước ngoài thuê đất trả tiền một lần có quyền và nghĩa vụ đối với đất đai tương đương nhau.
Câu chuyện trở nên phức tạp ở đây là phải cho phép nhà đầu tư nước ngoài thực hiện dự án xây dựng kinh doanh nhà ở mà đất ở lại được giao sử dụng vô thời hạn. Tại Nghị định số 84/2007/NĐ-CP, Chính phủ đã cho phép nhà đầu tư nước ngoài được sử dụng đất thuê để kinh doanh nhà ở cũng có nội dung tựa "vô hạn".
Những đại gia phi nông nghiệp
Quá trình trên cho thấy pháp luật đất đai ở nước ta luôn phải "bươn bả" chạy theo nhu cầu phát triển kinh tế, nhu cầu đầu tư công nghiệp hóa, nhu cầu đô thị hóa, và cả nhu cầu của doanh nghiệp nữa. Lúc đầu, pháp luật giữ rất chặt, chặt tới mức như bắt các nhà đầu tư phải yên tâm đầu tư trên đất đã được Nhà nước chỉ định. Sau đó, mở rộng dần, chạy theo yêu cầu của doanh nghiệp, mở cả cho doanh nghiệp sử dụng đất ở vô thời hạn, trong khi doanh nghiệp không hề có "nhu cầu ở" của tổ chức doanh nghiệp. Cách thức đổi mới như vậy là "quá đà", tạo điều kiện để doanh nghiệp đầu cơ đất đai. Chế độ sử dụng đất "vô thời hạn" của doanh nghiệp sẽ có lợi cho các "đại gia" nhiều vốn, có thể giữ nhiều đất mà không sao. Các doanh nghiệp trong tương lai chỉ còn cách thuê lại đất của các đại gia này, địa tô tuyệt đối (tiền thuê đất trả cho chủ đất) mà Mác quyết tâm loại trừ lại quay lại nước ta.
Từ một góc nhìn khác, nhìn vấn đề thông qua cơ cấu các khoản thu từ đất. Lấy ví dụ số liệu kiểm toán năm 2007: Tổng thu từ đất của cả nước là 36.384 tỷ đồng, trong đó tiền sử dụng đất khi Nhà nước giao đất chiếm gần 80% (28.677 tỷ), thuế chuyển quyền sử dụng đất (2.328 tỷ), tiền thuê đất khi Nhà nước cho thuê đất (2.180 tỷ), tiền bán nhà thuộc sở hữu nhà nước (2.488 tỷ), mỗi hạng mục xấp xỉ 6%, thuế nhà đất chỉ chiếm chưa đầy 2% (711 tỷ). Từ cơ cấu thu như vậy cho thấy khối lượng Nhà nước giao đất là rất lớn, mà bản chất là Nhà nước bán quyền sử dụng đất cho doanh nghiệp. Không mấy mà giao hết đất, sau này lấy đất đâu mà dùng. Một nguy cơ bất công bằng về đất đai sẽ ập tới trong thời gian không xa nữa.
Hiện nay đất ở có giá cao nhất thị trường vì được sử dụng không có thời hạn. Nhà đầu tư trong nước cũng như nước ngoài đều được quyền tiếp cận đất ở như vậy.
Theo pháp luật hiện hành, nếu đã trả tiền theo giá đất ở rồi mà chuyển sang sử dụng vào mục đích khác thì vẫn được sử dụng vô thời hạn, gọi là đất có nguồn gốc đất ở. Cách tiếp cận đất đai như vậy ắt dẫn tới: (1) tạo nguy cơ đầu cơ đất đai rất lớn, khi nhà đầu tư đã được giao đất ở thì yên tâm giữ đất, không cần đầu tư ngay, dự án treo rất phổ biến, hoàn thành dự án rồi cũng không cần bán nhà ngay mà có thể tùy tiện găm hàng lại đợi "sốt"; (2) tạo nguy cơ hình thành nhóm "đại gia" đóng vai địa chủ phi nông nghiệp, thao túng thị trường quyền sử dụng đất, kìm hãm phát triển.
Chắc chắn, các nhà đầu tư rất muốn giữ nguyên các quy định hiện hành vì thuận tiện hơn cho gặt hái "siêu lợi nhuận" như thường thấy trong thị trường trong BĐS thời gian qua.
DN có nên được đầu tư dự án vô thời hạn?
Như trên đã đề cập, đối với các loại đất sản xuất kinh doanh phi nông nghiệp được sử dụng có thời hạn theo dự án đầu tư. Nhà đầu tư trong nước được Nhà nước giao đất có thu tiền còn nhà đầu tư nước ngoài được Nhà nước cho thuê đất trả tiền một lần với quyền và nghĩa vụ hoàn toàn tương đương.
Theo thuật ngữ pháp lý, khi đất được sử dụng có thời hạn thì đều gọi là đất thuê. Như vậy, cần quy về một cơ chế Nhà nước cho thuê đất trả tiền một lần hoặc trả tiền hàng năm đối với cả nhà đầu tư trong nước và nước ngoài.
Hiện nay, nhà đầu tư trong nước được nhận chuyển quyền sử dụng đất từ hộ gia đình, cá nhân; các nhà đầu tư nước ngoài không được nhận. Việc thiết lập một cơ chế tiếp cận đất đai bình đẳng là cần thiết. Nhà nước hoàn toàn có thể cho phép nhà đầu tư nước ngoài được nhận chuyển quyền sử dụng đất từ hộ gia đình, cá nhân miễn là trong phạn vi dự án đã được cơ quan quản lý chấp thuận địa điểm đầu tư. Mặc dù nhận chuyển quyền sử dụng đất ở từ hộ gia đình, cá nhân được sử dụng vô thời hạn nhưng dự án vẫn có thời hạn, khi hết thời hạn của dự án thì nhà đầu tư vẫn được nhận lại giá trị quyền sử dụng đất từ chuyển quyền cho người khác hoặc từ bồi thường của Nhà nước. Đây là cách tiếp cận phù hợp với quyền doanh nghiệp được bình đẳng trong thể thức của Tổ chức Thương mại Thế giới.
Tóm lại, để nâng cao hiệu quả sử dụng đất phi nông nghiệp cũng như bảo đảm điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế, có thể điều chỉnh lại chế độ sử dụng đất phi nông nghiệp trên các nguyên tắc:
1.  Các nhà đầu tư trong nước cũng như nước ngoài đều chỉ được sử dụng đất có thời hạn để thực hiện các dự án đầu tư dưới dạng thuê đất của nhà nước trả tiền một lần hoặc trả tiền hàng năm, thời hạn dự án được xác định theo dự án đầu tư;
2. Các dự án xây dựng nhà ở để bán phải nộp tiền sử dụng đất ở một lần cho cả thời gian thuê, các dự án xây dựng nhà ở để cho thuê được nộp tiền thuê đất hàng năm hoặc tiền thuê đất một lần;
3. Các nhà đầu tư trong nước cũng như nước ngoài đều được quyền nhận chuyển quyền sử dụng đất từ tổ chức kinh tế, hộ gia đình, cá nhân để thực hiện dự án đầu tư trong phạm vi dự án được xét duyệt hoặc được chấp thuận địa điểm đầu tư;
4. Các dự án xây dựng nhà ở để bán mà chưa bán hết nhà ở vào thời điểm kết thúc dự án thì tổ chức đấu giá nhà ở còn tồn lại đó hoặc Nhà nước mua để bổ sung vào quỹ nhà ở thuộc sở hữu nhà nước.
Trong quá trình phát triển, chế độ sử dụng đất ở vô thời hạn đối với hộ gia đình, cá nhân là tạo điều kiện ổn định dân sinh. Chế độ sử dụng đất ở vô thời hạn lại cho cả doanh nghiệp thì ắt dẫn đến thiếu ổn định kinh tế, phát triển "nóng" sẽ diễn ra, "bong bóng" sẽ hình thành. Trong sửa đổi Luật Đất đai, cần nghiên cứu để làm rõ những yếu tố tiến bộ thực, đừng chỉ lấy sức nóng của thị trường làm tiêu chí. Hiệu quả của đầu tư mới là điều toàn dân đang cần đến. Cũng đừng ngại áp lực từ các doanh nghiệp "lớn" đang tạo ra
Đ.H.V.


Tổng số lượt xem trang

free counters