Suy nghĩ từ ý kiến
Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng chỉ đạo Hội đồng Lý luận Trung ương.
Tống Văn Công
Tôi rất vui khi đọc trên các báo bản tin với cùng một tựa đề lấy từ bài phát
biểu chỉ đạo của đồng chí Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng trong lễ công bố quyết
định thành lập Hội đồng Lý luận Trung ương nhiệm kỳ 2011-2015: “Đột phá về lý
huận sẽ tạo tiền đề cho sự phát triển thực tiễn”. Giở ngay Từ điển tiếng Việt: “Đột
phá: Chọc thủng, phá vỡ một số đoạn trong hệ thống phòng ngự của đối phương để
mở đường tiến quân”. Mở thêm Từ điển Bách khoa Việt Nam: “Đột phá (quân sự),
thủ đoạn tác chiến được thực hiện bằng cách dùng sức mạnh của hỏa lực và xung
lực phá vỡ một đoạn trận địa phòng ngự của đối phương để đưa lực lượng vào sâu
trong trận địa phòng ngự, hoặc để thoát khỏi vòng vây của đối phương. Khi tiến
công đối phương không có sườn hở, đột phá là thủ đoạn tác chiến hàng đầu tạo
khả năng giành thắng lợi”.
Vừa mừng lại lo, không biết khi
dùng từ này Tổng bí thư có nghĩ với ý nghĩa như thế không? Rồi lại tự cười mình
lo quẫn, ông ấy là giáo sư mà! Biết vậy mà vẫn cứ lo lo, bởi nhớ hồi tháng 7
năm 2010, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng trong bài viết về phát triển bền vững kinh
tế-xã hội đăng trên hầu hết các báo, đã đề cập đến vai trò của văn hóa: “Sự
phát triển của một thời đại ở bất kỳ quốc gia nào đều có dấu ấn khai sáng của
văn hóa”. Lúc ấy, tôi cũng đã phấn khởi, hy vọng sẽ có một “dấu ấn khai sáng
của văn hóa”; nhưng rồi niềm hy vọng teo tóp dần, bởi vì “khai sáng có nghĩa là
bắt đầu mở dựng lên (fonder)” (Từ điển Hán-Việt của Đào Duy Anh). Đó là công
việc của các hiền triết Pháp thế kỷ 18, xóa bỏ thứ văn hóa nô lệ mở dựng lên
văn hóa tự do của Con người viết hoa, không chỉ đóng góp cho người Pháp mà cho
cả nhân loại. Các nhà văn hóa Việt Nam chưa được cho phép “mở dựng” thì làm sao
dám nói ra ngoài “nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc”? Dịp góp ý văn
kiên Đại hội 11, ông Trần Trọng Tân, nguyên Trưởng ban Tư tưởng –Văn hóa Trung
ương, một nhân vật được coi là có thẩm quyền của chế độ để bàn về văn hóa đã
viết bài phản biện nhẹ nhàng: “Nền văn hóa Việt Nam ở thời nào cũng có
tính tiến và bản sắc dân tộc của thời ấy, chứ không phải đến văn hóa xã hội chủ
nghĩa mới có tính tiên tiến và bản sắc dân tộc”. Ông đề nghị sửa lại: “Nền
văn hóa Việt Nam
vì độc lập, tự do, hạnh phúc, vì hòa bình, hữu nghị”.Ý kiến của ông không thấy
ai trả lời và nó không để lại chút dấu vết nào trong các văn kiện. Do đó, dù
Thủ tướng có ý tốt, muốn đặt văn hóa ở một tầm cao mới, nhưng khổ nỗi không có
ai dám làm một việc có tính “mở dựng”, chứ chưa nói là “đột phá” vào một hệ
thống giáo điều đang được canh gác hết sức nghiêm mật ở tất cả các cổng ngõ
chính trị.
Ý kiến chỉ đạo đột phá về lý luận
vô cùng quan trọng, vì nó đề cao tự do tư tưởng, đặt một vấn đề ở tầm thời đại
của nhân loại văn minh! Từ nay, các nhà lý luận Việt Nam và có thể nói rộng ra
là toàn thể nhân dân Việt Nam, sẽ được thực hiện tư tưởng Hồ Chí Minh:“Chế độ
ta là chế độ dân chủ, tư tưởng phải được tự do…Đối với mọi vấn đề, mọi người tự
do bày tỏ ý kiến của mình, góp phần tìm ra chân lý…Quyền tự do tư tưởng hóa ra
là quyền tự do phục tùng chân lý” (Toàn tập, nxb Sự Thật,1987, tập7, trang 482).
Nhân dịp này, với tinh thần đột
phá về lý luận, tôi muốn nêu lên với Hội đồng Lý luân Trung ương và Bộ chính
trị một số vấn đề bị ách tắc lâu nay:
I - Tư tưởng Hồ Chí Minh là nền
tảng tư tưởng của Đảng cộng sản Việt Nam. Tại sao Đảng chỉ tổ chức học
và làm theo đạo đức mà, không tổ chức học tập và thực hiện tư tưởng Hồ Chí
Minh?”. Do đó, nhiều ý kiến quan trọng của Hồ Chí Minh về dân chủ đã không thể
thực hiện được. Ví dụ như câu nói vừa trích dẫn ở trên. Nếu quán triệt tư tưởng
Hồ Chí Minh thì chúng ta sẽ không còn dị ứng với báo chí tư nhân (giống như
ngày xưa dị ứng với kinh tế tư nhân). Bởi vì, trong tác phẩm “Đây công lý của
thực dân Pháp ở Đông Dương”, Nguyễn Ái Quốc cho rằng báo chí tự do phải là tờ
báo của tư nhân lập ra, “chứ không phải một tờ báo do chính quyền lập ra”. Đến
năm 1938, báo Dân Chúng của Đảng cộng sản Việt Nam là tờ báo xé rào, ra báo
không xin phép, nhưng đã được chính quyền thực dân Pháp chấp nhận, và sự kiện
đó mở đầu cho nền tự do báo chí ở Đông Dương.
II - Đề nghị Hội đồng Lý luận
Trung ương nghiên cứu những vấn đề sau đây và có kết luận công khai là “có tính
đột phá về lý luận”, hay thuộc “hệ tư tưởng phản động” cần phải lên án và
bài trừ:
1. Ý kiến
của nguyên ủy viên Bộ chính trị, nguyên Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Văn An về “lỗi
hệ thống là lỗi từ gốc đến ngọn, từ lý thuyết đến mô hình và đã được cuộc sống
kiểm nghiệm là chưa phù hợp với thời đại ngày nay. Lâu nay chúng ta thường nói
tới cái lỗi của mô hình thôi” ... “Hiến pháp, pháp luật ghi rõ: Nhà nước
ta là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, pháp luật là tối thượng. Song trong
thực tiễn thì không ít trường hợp chỉ thị, nghị quyết của Đảng mới là tối
thượng.”… “Quốc hội là nhánh lập pháp có quyền lực cao nhất, song cũng còn
nhiều hình thức, thực chất là Trung ương , Bộ chính trị quyết.”…“Quyền lực nhà
nước được phân công ra làm ba nhánh, song lại thống nhất ở nơi Đảng. Vậy Đảng
trở thành ông vua tập thể rồi. Không phải dân chủ nữa mà là Đảng chủ rồi. Mô
hình của Cộng hòa Xô viết là như vậy”.
Phát biểu của đồng chí Nguyễn Văn
An trùng hợp với quan điểm của hằng chục nhà lý luận hàng đầu đất nước trong
cuộc thảo luận do giáo sư, nguyên Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Trần Phương
chủ trì. Chẳng lẽ, chỉ một câu chỉ trích của hai vị Lê Khả Phiêu và Nguyễn Đức
Bình cho rằng “Đi ngược lại đường lối chính trị của Đảng” là đủ để xóa bỏ,
không cần phải tranh luận, để tìm đến sự “tự do phục tùng chân lý” và “Nghị
quyết gì mà dân chúng cho rằng không hợp thì để họ đề nghị sửa chữa” của Hồ Chí
Minh?
2. Trước
tình hình kinh tế Việt Nam trong tình trạng khó khăn nhất trong 20 năm qua, nhà
nghiên cứu kinh tế Lê Đăng Doanh cho rằng cần phải làm cuộc “Đổi mới lần 2” nội
dung là cấu trúc lại toàn bộ mô hình phát triển. Nội dung này đã từng được các
nhà nghiên cứu Nguyễn Trung, Phạm Chi Lan…đề cập trong nhiều bài viết.
Bộ trưởng Kế hoạch-Đầu tư Bùi
Quang Vinh cho rằng “nói đổi mới lần 2 thì to tát quá”.
Trong khi đó, các nhà nghiên cứu
kinh tế nêu ra những việc cấp thiết phải làm là: Cải cách guồng máy nhà nước,
gắn liền cải cách các tập đoàn doanh nghiệp nhà nước, cải cách quản lý tài
nguyên, đất đai…Nhiều bài viết nêu ra những điều cần phải ngăn chặn như: Liên
minh ma quỉ giữa doanh nghiệp nhà nước với ngân hàng và các quan chức;
Bốn lĩnh vực tham nhũng là đất
đai, ngân sách, doanh ngiệp nhà nước và tổ chức cán bộ.Trong đó khâu tổ chức
cán bộ chạy quyền chạy chức là khó trị nhất; Phải ngăn chặn các nhóm lợị ích
chạy chính sách…
Nghe những điều mà các nhà kinh
tế nêu ra, lại thấy “đổi mới lần 2” không thể chỉ là những việc cần làm
trong kinh tế mà phải như ông Nguyễn Trung nêu ra trong một bài tâm huyết có
tựa đề
Trách
nhiệm lịch sử: “Yêu cầu Đảng với tính cách là Đảng duy nhất cầm quyền phải
đẩy mạnh cải cách chính trị, coi đây là chìa khóa của mọi giải pháp và là tiền
đề quyết định chuyển đất nước đi vào một giai đoạn phát triển mới…” Điều mà văn
kiện Chiến lược phát triển kinh tế-xã hội 2011-2020 ở Đại hội 11 cũng
đã ghi nhận:”Đổi mới chính trị phải đồng bộ với đổi mới kinh tế theo lộ trình
thích hợp”…Nay chính là lúc đã chín muồi cho lộ trình này! Và phải chăng tình
trạng bi đát về kinh tế có nguyên nhân từ điều Nguyễn văn An đã kết luận: “Lỗi
hệ thống”?
3. “Xã
hội chủ nghĩa” là một từ úy kỵ, do đó nó chi phối từ tổ chức nhà nước pháp
quyền đến kinh tế, xã hội mà ít ai dám yêu cầu bỏ đi.
GS TS Dương Phú Hiệp, nguyên Tổng
thư ký Hội đồng Lý luận Trung ương với tấm lòng vì nước, vì dân và cả vì Đảng,
đã dũng cảm đặt vấn đề: “Cương lĩnh chỉ nêu lên những việc phải thực hiện
trong 20 năm.Thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội chưa biết bao lâu mới tới,có
thể cả trăm năm. Chủ nghĩa xã hội “bao gồm thực hiện chuyên chính vô sản,tiến
hành cải tạo xã hội chủ nghĩa trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội,
tiến hành đấu tranh giai cấp, đấu tranh giữa hai con đường xã hội chủ nghĩa và
tư bản chủ nghĩa để giải quyết vấn đề “ai thắng ai” đều là những nội dung mà
hiện nay Đảng không dùng nữa, không nói nữa. Khi những nội dung cơ bản đó chúng
ta không dùng thì tại sao vẫn dùng khái niệm thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã
hội, vì nhân dân đã khốn khổ vì những nội dung trên?”(TuanVietnam.net).
TS Hồ Bá Thâm nhận định về Pháp
quyền xã hội chủ nghĩa: “Thực trạng quyền lực và cơ cấu, quan hệ quyền lực
nhà nước ở nước ta hiện nay không chỉ cồng kềnh, nhiều tầng nấc, chậm chạp,
nặng nề mà còn thiếu cơ chế thực thi quyền lực, đảm bảo giám sát, kiềm chế
quyền lực, chống lạm quyền, chống tùy tiện”. “Với thực tế nảy sinh tràn lan và
kéo dài ngày càng trầm trọng tệ nạn tham nhũng, cửa quyền, quan liêu và lãng
phí hiện nay trong hệ thống chính trị và trong xã hội ta, càng thấy khiếm
khuyết lớn trong một cơ chế thiếu giám sát và kiềm chế quyền lực tệ hại như thế
nào. Đó là chỗ hổng và yếu kém nhất trong hệ thống cơ chế tam quyền của nhà
nước, phải được khắc phục sớm bằng cả nhận thức và thể chế. Có như thế mới phù
hợp với phân công quyền lực và cơ chế thực thi quyền của nhà nước văn minh,
hiện đại và dân chủ” (Tạp chí nghiên cứu lập pháp tháng 11-2009). Ông không nói
thẳng “quyền lực và cơ chế thực thi quyền của nhà nước văn minh, hiện đại và
dân chủ”là hình thức gì . Nhưng làm sao hiểu khác, đó là “tam quyền phân lập”
để ba quyền có thể kiểm soát, hạn chế sự lạm quyền?
Nghị quyết Trung ương 6, khóa 10
viết: “Nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội xã hội chủ nghĩa ở
Việt Nam
là nền kinh tế vừa tuân theo quy luật của cơ chế thị trường vừa chịu sự chi
phối bởi các quy luật kinh tế của chủ nghĩa xã hội”. Chính câu này của Nghị
quyết 6 Trung ương đã làm nổi bật lên sự trái nhau không thể nào hòa hợp được
của hai khái niệm“kinh tế thị trường” và “định hướng xã hội chủ nghĩa”. Bởi vì
“Quy luật kinh tế cơ bản của chủ nghĩa xã hội ra đời và bắt đầu phát huy tác
dụng cùng với việc xây dựng thành phần kinh tế xã hội chủ nghĩa; phạm vi hoạt
động của nó được mở rộng theo đà củng cố và phát triển thành phần kinh tế xã
hội chủ nghĩa. Tư liệu sản xuất trở thành sở hữu công cộng làm cho nền sản xuất
không phải để phục vụ cho sự phát tài và làm giàu cho một cá nhân hay một giai
cấp”. (Từ điển kinh tế, nxb Sự thật, Hà Nội,1976, trang 455).
Cho đến nay, Trung ương Đảng
(hoặc Hội đồng Lý luận Trung ương là nơi đưa ra thứ lý luận chấp vá, tùy tiện
này) chưa công khai nhận đây là lý luận sai trái. Do đó, nhiều chủ trương về
kinh tế sai trái lấy định nghĩa chấp vá tùy tiện đó làm chỗ dựa, như: “Kinh tế
nhà nước giữ vai trò chủ đạo”, gây ra nhiều hậu quả tai hại mà các nhà kinh tế
mới đây đã nhận diện: Hiệu quả rất thấp; chèn ép kinh tế tư nhân…
Đến đây, có thể tin rằng ý kiến
giáo sư Dương Phú Hiệp dù không đưa ra điều gì mới, nhưng vẫn có tính đột phá
rất cao trong tình trạng chủ nghĩa giáo điều đang cố thủ bằng nhiều phòng
tuyến. Cũng có thể nói không sợ sai rằng, nếu như chủ nghĩa xã hội thực sự là
khát vọng của nhân dân Việt Nam
thì nó đã được Mặt trận Việt Minh và Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam ghi vào
Cương lĩnh và Tuyên ngôn để tăng sức thu phục nhân tâm rồi!
♦
Trong lời tựa cho bản Tuyên ngôn cộng sản in bằng tiếng Đức năm 1883, Engels
nhận định: “Trong mỗi thời đại lịch sử, sản xuất kinh tế và cơ cấu xã
hội-cơ cấu này tất yếu phải do sản xuất kinh tế mà ra- cả hai cái đó cấu thành
cơ sở của lịch sử chính trị và lịch sử tư tưởng của thời đại ấy”. Tôi nghĩ, câu
này đến nay vẫn đúng. Nền kinh tế thị trường sau 25 năm đổi mới đã xé rách toạc
chiếc áo “cơ cấu xã hội” theo mô hình Cộng hòa Xô viết. Né tránh hoặc tệ hại
hơn là trấn áp, vùi dập những ý kiến yêu cầu đổi mới chính trị đầy nhiệt tâm vì
sự phát triển của đất nước là một tội ác! Đổi mới lần 2, do đó phải là đổi mới
chính trị tương thích với đổi mới kinh tế.
Đúng như ý kiến của Tổng bí thư
Nguyễn Phú Trọng, “đột phá về lý luận sẽ tạo tiền đề cho sự phát triển thực
tiễn” đem lại sinh khí và trí tuệ cho dân tộc.
Ngày 24-10-2011
TVC