Triết Lý, để làm gì ?

Khi ta bế tắc tư tưởng, chân thật công nhận rằng những kiến thức và phương pháp suy luận của ta không cho phép ta sống, tư duy và hành động khớp với khao khát làm người của ta, ngoài vô vàn cách ứng xử khác, ta có thể:

a) Tiếp tục sống, tư duy và hành động như cũ vì, dù sao, ta cũng sống được, không đến nỗi nào

b) Lột áo cũ, khoác áo mới, một tấm áo coi lành lặn đẹp đẽ hơn nhưng cũng hàm hồ không thua gì. Điều ấy luôn luôn khả thi bằng ngôn ngữ.

c) Đi tới cùng bế tắc của chính mình. Nếu không giải quyết được nó, ta ôm nó xuống suối vàng, để lại ở đời chỉ một câu hỏi. Câu hỏi của một con người. Đích thực. Có gì nhục đâu?

Nếu ta tưởng ta đã tìm ra một phần của giải pháp, ít nhất là cho riêng mình, thì cứ viết đi, chẳng cần trích cao nhân nào cả: họ đã là một phần của ta và ta đã phải “vượt” họ để nên mình.

Thế thôi.

(Chungta.com)

Góc nhỏ của Noby Vui Vẻ

Lục lọi, tìm tòi, đọc, cóp nhặt, chia sẻ, ... OK hay không tùy bạn ! ! !

“Nước độc lập mà dân chưa tự do thì độc lập cũng không có ý nghĩa”- Hồ Chí Minh.

24 thg 9, 2011

Bài học về quyền lực Nhà nước từ mô hình công ty cổ phần


Võ Trí Hảo



Mayflower Compact đóng vai trò là hiến pháp cho chính quyền Plymouth trong những ngày đầu tiên
Một công ty cổ phần chỉ thực sự duy trì được bản chất là công ty của cổ đông, do cổ đông, vì cổ đông, khi bảo vệ được yếu tố minh bạch trong quyền lực điều hành. Đây cũng là quy luật tất yếu để chúng ta đánh giá liệu một Nhà nước có thực sự là của dân, do dân, và vì dân.

Quyền lực Nhà nước đến từ đâu?

Thủa hồng hoang, khi loài người mới hình thành, thì những tập tính của động vật còn rất rõ nét, chưa có trật tự như xã hội ngày nay. Khi đó con người có thể có những “quyền” nguy hiểm, gây ảnh hưởng tới sự an nguy và quyền lợi tối thiểu của cá nhân và cộng đồng. Gọi là “quyền” vì người ta có thể thực hiện hành vi mà không phải xin phép ai, ví dụ như việc người này tàn sát hay cướp bóc người khác - cũng tựa như việc hai con bò húc nhau - không phải xin phép ai. Nhưng loài người thông minh đã nhanh chóng nhận ra sự tồn tại của cá nhân và cộng đồng không thể duy trì, phát triển nếu kéo dài thực tế này. Nên họ đã cùng nhau thỏa thuận loại bỏ những quyền nguy hiểm như vậy và đảm bảo điều này bằng việc giao quyền kiểm soát cộng đồng cho một chủ thể trung gian. Chủ thể trung gian này chính là tiền thân của Nhà nước.

Ngoài ra, người ta cũng nhận ra cần phải tập hợp quyền lợi kinh tế manh mún của nhiều cá nhân lại vào tay một chủ thể trung gian có năng lực điều hành, qua đó làm tăng quy mô và hiệu quả sử dụng các nguồn lực của cộng đồng. Chủ thể trung gian ấy cũng chính là Nhà nước. Việc tập trung quyền lực vào tay một chủ thể trung gian cũng tương tự như một công ty cổ phần được thành lập bởi các cổ đông, khi họ thấy rằng từng thành viên tiếp tục làm ăn riêng lẻ không mang lại hiệu quả, vì vậy cần trao quyền định đoạt tài sản cá nhân của mình sang bàn tay của một chủ thể trung gian bằng hình thức góp vốn. 

Nếu như nhân dân đóng góp chủ yếu cho nhà nước bằng tiền thuế và sức lao động dưới hình thức lao động công ích và nghĩa vụ quân sự; thì các cổ đông chủ yếu đóng góp cho công ty bằng tiền. Nhưng thay vì đầu tư hết tiền bạc vào công ty, các cổ đông khôn ngoan bao giờ cũng giữ lại cho mình một góc tài sản để chi dùng cá nhân. Tương tự như vậy các thành viên xã hội cũng không dại gì tự nguyện trao hết tất cả các quyền của mình cho nhà nước: phần quyền còn giữ lại này chính là các quyền tự do cơ bản của công dân thường được ghi nhận trong các tuyên ngôn nhân quyền, trong các bản hiến pháp.
Không phải là nhà nước trao quyền cho các thành viên xã hội, mà là ngược lại – các thành viên xã hội trao quyền cho nhà nước.
Như vậy, bản chất vấn đề ở đây không phải là nhà nước trao quyền cho các thành viên xã hội, mà là ngược lại – các thành viên xã hội trao quyền cho nhà nước. 

Qua việc phân tích nguồn gốc quyền lực của công ty cổ phần và của nhà nước, chúng ta có thể thống nhất với nhau một số điểm: 

-    Nhà nước và công ty là chủ thể nhân tạo, nên nó không có quyền tự thân. Tất cả quyền mà nhà nước là do nhân dân trao cho, cũng như quyền lực công ty là do các cổ đông thành viên trao cho. 

-    Mọi hành vi của công ty, ngoại trừ trường hợp bất khả kháng, đều phải nằm trong một khuôn khổ được các cổ đông đồng ý từ trước. Tương tự như vậy, mọi hành vi của Nhà nước điều chỉnh, can thiệp vào những quyền tự do của công dân khi xã hội trước đó đã đồng ý về điều này.  

-    Khi công ty làm ăn thua lỗ, cũng như khi nhà nước không còn đáp ứng được mục đích nhân dân đặt ra thì các thành viên có thể từ chối tiếp tục đóng góp hoặc trong trường hợp trầm trọng thì có thể tiến hành giải thể. 

-    Tài sản chi dùng cá nhân là độc lập với tài sản công ty, thì nhân quyền là góc quyền tự do của từng cá nhân, nhà nước không được phép xâm phạm. 

Hiến pháp và điều lệ công ty

Giữa hiến pháp và điều lệ công ty có những điểm tương đồng rất cơ bản.

Nếu hiến pháp quy định về việc thành lập, hoạt động của các cơ quan nhà nước chủ chốt như quốc hội, thủ tướng, tòa án, kiểm toán thì điều lệ công ty sẽ quy định về hội đồng quản trị, ban giám đốc, ban kiểm soát, kế toán ...  những thiết chế chủ chốt của công ty.
Hiến pháp là một loại khế ước đặc biệt mà Rousseau gọi là khế ước xã hội.
Nếu hiến pháp quy định mối quan hệ giữa nhà nước và công dân thì điều lệ công ty điều chỉnh mối quan hệ giữa cổ đông và công ty. Nếu các công dân thực hiện quyền lực trực tiếp thông qua trưng cầu dân ý, thì các cổ đông thực hiện quyền lực trực tiếp thông qua đại hội cổ đông; nếu các công dân thực hiện quyền lực gián tiếp thông qua quốc hội, chính phủ, tòa án thì các cổ đông của mình cũng có ảnh hưởng gián tiếp đến đường lối, các quyết định của công ty thông qua lá phiếu bầu hội đồng quản trị.

Nhưng trên tất thảy, điểm tương đồng lớn nhất giữa hiến pháp và điều lệ công ty là ở chỗ, cả hai đều là những khế ước được xây dựng trên cơ sở thỏa thuận giữa các thành viên. Điều lệ công ty là một bản khế ước thỏa thuận giữa các cổ đông để phục vụ quyền lợi cao nhất của các cổ đông. Tương tự như vậy, hiến pháp là một bản khế ước được thỏa thuận bởi nhân dân để phục vụ quyền lợi cao nhất của nhân dân.

Chính vì vậy hiến pháp là một loại khế ước đặc biệt mà Rousseau gọi là khế ước xã hội. Khế ước xã hội hiện thân một cách minh thị[1] ở các bản hiến pháp thành văn hoặc hiện thân một cách mặc thị ở các quốc gia có "hiến pháp bất thành văn“. 

Lời nói đầu Hiến pháp bang Massachusetts năm 1780 đã trực tiếp đồng nhất hiến pháp và khế ước xã hội như sau:

"Cơ quan chính trị được thành lập bởi liên minh tự nguyện giữa các cá nhân; nó là một khế ước xã hội, qua khế ước này toàn thể nhân dân ký kết thảo ước với từng công dân, và mỗi công dân ký kết với toàn thể nhân dân rằng mọi người sẽ bị điều hành bởi những luật nhất định vì mục tiêu tốt lành chung.“ 

Một ví dụ kinh điển nữa cho hình thức thể hiện minh thị của khế ước xã hội là Mayflower Compact[2]:

Vào năm 1620 thì một nhóm bất đồng về tôn giáo (Pilgrim) đã rời bỏ nước Anh trên con thuyền mang tên là Mayflower để đi tìm vùng đất tự do cho mình. Khi con thuyền còn lênh đênh trên đại dương thì các thành viên có mặt trên con tàu đã bàn định về “nhà nước” tương lai của mình. Vào ngày 11 tháng 11 năm 1620, họ đã cùng nhau ký một thỏa thuận (Compact tiếng Anh cổ có nghĩa là hợp đồng) về sau được giới học thuật gọi là Mayflower Compact để thiết lập nên “nhà nước” tương lai của mình. Khi con tàu cập bến vào vùng đất trống mà ngày nay là Plymouth - USA, thì Mayflower Compact đã đóng vai trò là hiến pháp cho chính quyền Plymouth trong những ngày đầu tiên.  
Các học thuyết này làm giảm tính minh bạch của quyền lực nhà nước, tạo điều kiện hoặc hợp thức hóa cho sự lạm quyền.
Tuy không trực tiếp, rõ rệt nhưng chúng ta có thể dễ dàng tìm thấy hình bóng[3] về khế ước xã hội ngay trong bản hiến pháp đầu tiên của lịch sử Việt Nam – Hiến pháp 1946. 

Lời nói đầu của Hiến pháp 1946 ghi:

“Được quốc dân giao cho trách nhiệm thảo bản Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà,...”

Sau đó Điều 70 khoản c quy định về thủ tục sửa đổi hiến pháp như sau:

"Những điều thay đổi khi đã được Nghị viện ưng chuẩn thì phải đưa ra toàn dân phúc quyết.“
Hành động phúc quyết ở đây có thể ví với hành động phê chuẩn hợp đồng. 

Những cách giải thích không minh bạch về quyền lực Nhà nước 

Trước khi có quan điểm “nhà nước của dân, do dân, vì dân“ được các quốc gia văn minh chấp nhận rộng rãi từ thế kỷ 18, các nhà nước phong kiến luôn đưa ra những sự giải thích rối rắm, huyền bí khi giải thích về nguồn gốc Nhà nước và bản chất quyền lực Nhà nước. Các vị vua phong kiến đã hậu thuẫn cho các học thuyết thần quyền về nguồn gốc nhà nước để lý giải cho sự cai trị độc đoán của mình và trạng thái vô quyền của nhân dân. Các học thuyết này đều có điểm chung: nhà vua nhận quyền lực từ một đấng siêu nhiên (Ngọc hoàng ở phương Đông, hay Thượng đế ở phương Tây) để thiết lập nên nhà nước và thay mặt đấng siêu nhiên trị vị nhà nước đó; nếu nhân dân chịu cảnh lầm than bởi bàn tay tàn bạo của một vị vua nào đó, thì họ không nên lật đổ nhà vua, mà nên tự sám hội, xem xét xem dân tộc đó đã phạm lỗi gì để thượng đế nổi giận cử một ông vua như vậy xuống trần gian trừng phạt dân tộc đó. 

Vào cuối thế kỷ 17, với sự tiến bộ vượt bậc của khoa học kỹ thuật thì các học thuyết thần quyền không còn chỗ đứng, nhưng nhân loại lại phải tiếp tục đối mặt với các nhóm học thuyết của những thể chế độc tài, ví dụ như học thuyết giám hộ.

Học thuyết giám hộ thừa nhận về nguyên tắc thì quyền lực nhà nước là thuộc về toàn dân giống như học thuyết khế ước xã hội, nhưng trong đó khẳng định rằng vì trình độ dân trí thấp, không đủ khả năng nắm bắt các vấn đề phức tạp trọng đại của quốc gia, nên người dân cần chấp nhận đi theo sự dẫn dắt của lãnh đạo quốc gia, giống như đứa trẻ vị thành niên cần phải có người giám hộ trong các giao dịch dân sự có giá trị lớn vậy. Học thuyết này có ưu điểm là vừa xoa dịu được sự phản kháng của tầng lớp thiểu số, bởi họ thừa nhận nhà nước là của toàn dân, vừa bảo đảm được đặc quyền chính trị của kẻ thống trị bởi họ được ghi nhận là người giám hộ. Trong lịch sử, chế độ bảo hộ của thực dân Pháp lên nước ta là một ví dụ điển hình cho học thuyết giám hộ. 
Trong việc trao quyền cho người điều hành một Nhà nước, cũng phải có một sợi dây liên kết mật thiết giữa lợi ích của nhân dân và quyền lực của người lãnh đạo.
Không như học thuyết khế ước xã hội thừa nhận trọn vẹn Nhà nước là của dân, do dân, vì dân, thì các học thuyết trên đây phủ một màn sương mù lên quyền lực nhà nước làm cho quyền lực nhà nước như một con rồng thần bí, nhân dân chỉ thấy cái đầu rồng, còn thân và đuôi của nó thì ẩn trong mây. Các học thuyết này làm giảm tính minh bạch của quyền lực nhà nước, tạo điều kiện hoặc hợp thức hóa cho sự lạm quyền. 

Vì sao cần minh bạch trong trao quyền điều hành

Ở trong mỗi công ty, sợi dây liên hệ giữa lợi ích cổ đông và quyền lực thành viên hội đồng quản trị cùng các lãnh đạo khác là rất rõ ràng. Việc lựa chọn nhầm người cầm quyền ở công ty ngay lập tức gây ra sự sụt giảm cổ tức của cổ đông, và khi điều này xảy ra thì những người cầm quyền này sẽ nhanh chóng phải ra đi, không cứ họ phải có một vi phạm nhỏ nào, mà chỉ đơn giản là khi không đáp ứng được lợi ích kỳ vọng của các cổ đông. Hay nói cách khác sợi dây lợi ích trong công ty là rất minh bạch và nhạy bén theo cả hai chiều. Khi duy trì được sợi dây này thì sẽ tạo động lực mạnh mẽ buộc người lãnh đạo công ty phải phấn đấu nỗ lực trong việc bảo vệ và phát huy quyền lợi của cổ đông nếu muốn duy trì quyền lực. 

Cũng tương tự như vậy, trong việc trao quyền cho người điều hành một Nhà nước, cũng phải có một sợi dây liên kết mật thiết giữa lợi ích của nhân dân và quyền lực của người lãnh đạo. Nếu như quyền lực của lãnh đạo Nhà nước được quyết định chủ yếu bởi những tác nhân nằm ngoài lợi ích của cử tri, thì người lãnh đạo sẽ ít quan tâm lợi ích của cử tri vì lợi ích của cử tri không đóng vai trò sống còn đối với sự nghiệp chính trị của họ.

Minh bạch trong đánh giá hiệu quả hoạt động 

Đối với công ty cổ phần có một công cụ đánh giá vô cùng nhanh nhạy đối với hiệu quả hoạt động của công ty đó là thị trường chứng khoán. Chỉ cần một quyết định bổ nhiệm CEO hay sự ra đi của một nhân sự cao cấp của công ty có thể làm cho giá cổ phiếu của công ty thay đổi ngay tức thì. Chiến lược kinh doanh, sản phẩm mới và kể cả những vụ bê bối đều được phản ánh thông qua sự trồi sụt giá cổ phiếu của công ty. 

Đáng tiếc là đối với nhà nước không thể nào có một công cụ như vậy. Các tổ chức xếp hạng tín nhiệm tài chính như Standard & Poor, Moody có thể xếp hạng tín dụng của các quốc gia; Humanright Watch có thể đưa ra các chỉ số về quyền cơ bản của công dân... Nhưng không có một chỉ số nào đánh giá một quốc gia toàn diện khách quan nhanh nhạy như chỉ số chứng khoán đối với công ty.

Vì thiếu một công cụ đánh giá hiệu quả hoạt động kiểu như thị trường chứng khoán, nên các chính trị gia dễ dàng huyễn hoặc dân chúng về những thành công của mình, hoặc thoái thác trách nhiệm để có thể tái cử một cách dễ dàng.

(Đón đọc kỳ tới: Đưa tinh túy tinh thần doanh nghiệp vào Nhà nước)

[1] Theo GS Nguyễn Văn Bông thì khế ước xã hội chỉ tồn tại dưới dạng mặc thị, không tìm thấy dưới dạng minh thị. Nhưng tôi thì cho rằng khi GS Bông đưa ra quan điểm này đã bỏ qua Hiến pháp Massachusetts và Mayflower Compact năm 1620. Xem Nguyễn Văn Bông (1974), Hiến pháp và chính trị học – Quyển I,NXB Luật Khoa Sài Gòn, tr. 73

[3] Tuy hiến pháp 1946 không trực tiếp khai sinh ra một nhà nước mới như trường hợp Mayflower Compact hay hiến pháp bang Massachusetts năm 1780, nhưng đã đóng vai trò là cơ sở cho việc vận hành quyền lực nhà nước của chính quyền cách mạng, làm cơ sở cho nhà nước của dân, do dân, vì dân.

Lời cuối cho Bauxite



Nguyễn Quang Lập

Cho dù dự án Bauxite Tây Nguyên còn kéo dài bao lâu  nữa, cũng như Vinashin, câu chuyện Bauxite  người ta  có thể đặt dấu chấm hết được rồi. Nói như ông Tô Văn Trường: “Lối ra rẻ nhất và cũng là có lợi nhất cho đất nước là đình chỉ và tiến tới xóa sổ dự án bauxite Tây Nguyên.”
Ấy là ông Tô Văn Trường chỉ nói riêng về mặt kinh tế, sự thảm bại về kinh tế của Bauxite Tây Nguyên là không thể chối cãi. Khi Nhà nước bỏ ra 4000 tỉ cho TKV nợ để nâng cấp quốc lộ 20 cho Bauxite Tân Rai vận chuyển Alumin thì không cần phải đi thi toán quốc tế người ta cũng thừa biết Bauxite Tây Nguyên không thể trả được món nợ này, bởi vì nếu tính cả thuế thì TKV đã không còn một xu lãi nào, lấy đâu ra tiền để trả nợ?
Ông Tô Văn Trường nói rất đúng: ” Theo TKV, nếu đưa chi phí cải tạo, nâng cấp các tuyến đường tỉnh lộ, quốc lộ vào các dự án bauxite thì dự án sẽ không còn hiệu quả kinh tế và nguồn vốn hiện nay cho dự án đang gặp khó khăn muốn được nhà nước bảo lãnh!?  Tính mập mờ, cố tình lờ đi trong tính toán về kinh tế của TKV còn thể hiện ở việc dỡ bỏ thuế thì dự án có lãi, nếu để thuế thì không có lãi”  Thì rõ rồi, Nhà nước sẽ bảo lãnh theo cách đánh thuế 0%, cho nợ đáo nợ giãn nợ, cuối cùng treo nợ thế là xong. Cứ nhìn sang Vinashin thấy Chính phủ cứu Vinashin thế nào rồi sẽ biết Chính phủ cứu Bauxite Tây Nguyên theo cách đó. Rõ như ban ngày ấy mà.
Nhưng câu chuyện Bauxite Tây Nguyên không chỉ là kinh tế. Nếu chỉ thuần kinh tế như Vinashin thì sẽ không có Kiến Nghị 2009,Kiến nghị 2010 của hàng ngàn nhân sĩ trí thức trong và ngoài nước, sẽ không có hẳn một trang mạng Bauxite ròng rã 4 năm trời kiên trì phản biện để đến nỗi VTV1 gọi họ là “bọn phản động”.  Sở dĩ ông Tô Văn Trường nói “dự án bauxite Tây Nguyên là một dự án gây chia rẽ sâu sắc nhất trong lòng người dân Việt Nam” chính vì nó liên quan đồng thời cả ba vấn đề sinh tử của Đất nước: kinh tế, môi trường và quốc phòng. Ấy là chưa kể văn hóa Tây Nguyên bị bào mòn, bị xâm hại đến thế nào.
Kinh tế coi như xong om, thế còn môi trường thì sao? Bauxite Tân Rai vừa đưa vào sản xuất nhưng Rò rỉ hóa chất ra môi trườngđã xảy ra. “Ông Bùi Công Liên, phó giám đốc Công ty TNHH trà giống Cao Nguyên (khu 6, thị trấn Lộc Thắng), cho biết: “Cuối tháng 7, nguồn nước từ nhà máy alumin chảy ra có mùi hắc, sủi bọt và có độ nhờn. Nguồn nước này đổ vào hồ nước rộng khoảng 20ha của công ty, khiến cá chết nổi trắng hồ và không thể dùng nước để tưới cho hơn 100ha trà và cà phê. ”. Báo Tuổi trẻ đăng đàng hoàng nhé, không phải “rác rưởi” đăng đâu nhé!  Cứ nhìn vào bức ảnh chụp Nước nhiễm hóa chất từ dự án bôxit Tân Rai chảy ra môi trường với bọt trắng xóa, không ai không giật mình tự hỏi: vừa mới đưa vào sản xuất đã thế này, năm mười năm nữa rồi sẽ ra sao đây? Đấy là chưa nói đến mối nguy hiểm tiềm tàng, ấy là những quả bom bùn đỏ đang treo trên lơ lửng trên đầu Đất nước.

Cuối cùng là Quốc phòng. Tình trạng lao động nước ngoài, nói thẳng ra là lao động TQ,  không cấp phép đang tràn ngập như hiện nay ai dám bảo đảm họ chỉ là những lao động? Ngày xưa Trung Quốc có đội quân gọi là sương quân, đấy là những người lính được huấn luyện bài bản rồi cho về quê quán làm ăn, khi cần giao vũ khí cho họ là họ chiến đấu được ngay. Đã từ lâu người ta nghi ngờ các công nhân lao động Trung Quốc (cả có phép lẫn không phép) chính là  những người lính sương quân. Có bao nhiêu sư đoàn sương quân Trung Quốc trên Đất nước ta là bấy nhiêu con ngựa thành Troy đấy. Theo đó thấy rất rõ có ít nhất hai con ngựa thành Troy ở Nhân Cơ và Tân Rai, cùng với những con ngựa thành Troy ở Cao- Bắc Lạng, ở Đồng bằng sông Cửu Long, tạo ra thế chân vạc rất nguy hiểm, nhờ đó mà ông Khổng Minh thời Tam quốc đã đánh đâu thắng đó.
Làm  Bauxite Tây Nguyên chẳng được cái gì, thiệt hại về kinh tế, ô nhiễm về môi trường, nguy hiểm về quân sự, đến đứa con nít cũng biết. Vậy người ta có đóng cửa Bauxite Tây Nguyên không? Không, không bao giờ, không đời nào. Cũng như Vinashin, người ta sẽ chèo chống đến cùng giữ cho được Bauxite Tây Nguyên. Vì sao ư, quá dễ để có câu trả lời. Nhưng như một ông quan đã than thở với mình:  nói ra dễ bị tù tội lắm em ạ, ai dại. Mình cũng chả dại, vì thế mình mới viết lời cuối cho Bauxite, coi như ai điếu cho cái thời  mình đang sống vậy.
“Đường xa nghĩ nỗi sau này mà kinh”, kinh thì kinh thật nhưng chắc là không còn xa nữa đâu.

N. Q. L.

Dẫn theo: Bauxite Việt Nam

Marx vẫn sai



Peter Coy

Xã hội thường tiến lên nhờ rút kinh nghiệm từ những sai lầm của mình.  Bác sĩ không còn rút hết máu từ bệnh nhân.   Phi công không gắng bay bằng cách buộc cánh vào tay mình.  Chẳng còn ai vẫn còn nghĩ rằng nạn nô lệ là điều hay.  Tuy nhiên, Karl Marx dường như là một ngoại lệ của quy tắc sống và học hỏi.  Những tiên đoán nổi tiếng nhất của Marx đã thất bại; không có chế độ độc tài của giới vô sản, và nhà nước cũng chẳng lụi tàn.  Môn đồ của ông có một số kẻ sát nhân hàng loạt tàn bạo nhất của thế kỷ 20: Lenin, Stalin, Mao, Pol Pot.  Thế nhưng triết gia thích tranh luận và bi quan này dường như vẫn có nhiều người ủng hộ trong mỗi thế hệ mới của những bạo chúa và những kẻ mơ mộng.
Thậm chí ta có thể nói rằng Karl Marx hiếm khi nào có vẻ đúng hơn.  Cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu hiện nay đã làm xuất hiện một lớp người ngưỡng mộ mới ít ai nghĩ tới.  Năm 2009, tờ báo chính thức của Vatican,L’Osservatore Romano, đăng một bài ca tụng lời chẩn đoán của Marx về bất bình đẳng thu nhập; quả là một kiểu tán thành đáng kể, nếu biết rằng Marx tuyên bố tôn giáo là “á phiện của nhân dân”.  Ở Thượng Hải, trung tâm siêu tư bản chủ nghĩa của nước Trung Quốc chỉ có mỗi cái tên là Cộng sản, khán giả đổ tới xem một vở nhạc kịch năm 2010 dựa trên Tư Bản, tác phẩm nổi tiếng nhất của Marx.  Ở Nhật, Tư Bản giờ có cả ấn bản hoạt họa manga.  Năm ngoái, dân Brazil bầu một cựu du kích quân Marxist, Dilma Rousseff, làm tổng thống.
Chuyện Marx trở thành mốt thời thượng chẳng có gì lạ ở thời điểm mà các ngân hàng Châu Âu đang đứng bên bờ vực sụp đổ và tình trạng nghèo đói ở Mỹ đã đạt tới những mức chưa từng thấp trong gần hai thập niên.  Các chính khách biết họ có thể lấy điểm với cử tri của mình bằng cách công kích những nhà tư bản tạo công ăn việc làm như những tên vô lại bẩn thỉu.
Nhưng điều đáng ngạc nhiên là thế này.  Ta không cần mặc áo Che Guevara đi ngủ hay ném đá vào tiệm McDonald mới công nhận rằng tư tưởng của Marx là đáng nghiên cứu, đáng trăn trở, và có thể thậm chí áp dụng cho những thách thức hiện nay của chúng ta.  Suy cho cùng, nhiều nhà tư tưởng tư bản chủ nghĩa vĩ đại cũng đã từng bàn về Marx.  Joseph Schumpeter, bậc thầy về “sự hủy diệt mang tính sáng tạo” (creative destruction) và là anh hùng của nhiều người ủng hộ thị trường tự do, dành bốn chương đầu trong cuốn sách của ông in năm 1942, Capitalism, Socialism and Democracy (Chủ nghĩa Tư bản, Chủ nghĩa Xã hội và Dân chủ), để khám phá Marx Nhà tiên tri, Marx Nhà xã hội học, Marx Nhà kinh tế học, và Marx Nhà thuyết giáo.  Ông viết tiếp với nhận xét rằng Marx đã sai lầm, nhưng ông không thể bỏ qua Marx.
Dù Marx lạc lối về nhiều điều, và dù có ảnh hưởng nguy hại ở những nơi như Liên Xô và Trung Quốc, trong khối tác phẩm (đồ sộ) của ông có những bài viết tinh tường sâu sắc đáng ngạc nhiên.  Một trong những luận điểm quan trọng nhất của Marx là chủ nghĩa tư bản vốn dĩ bất ổn.  Ta chỉ cần đọc tít thời sự từ Châu Âu – hiện bị ám ảnh bởi bóng ma Hy Lạp có thể vỡ nợ, một thảm họa ngân hàng, và sự sụp đổ của khu vực đồng tiền chung euro – là đủ thấy ông đúng.  Marx chẩn đoán tính bất ổn của chủ nghĩa tư bản ở thời điểm mà những người cùng thời và những người đi trước ông, như Adam Smith và John Stuart Mill, hầu như mê mẩn với khả năng của chủ nghĩa tư bản trong việc phục vụ những ước muốn của con người.
Gần đây, Marx thu hút sự quan tâm nghiên cứu thấu đáo từ những người như kinh tế gia Nouriel Roubini thuộc Đại học New York, và George Magnus, cố vấn kinh tế cao cấp của Ngân hàng Đầu tư UBS ở London.  Chủ lao động của Magnus, ngân hàng UBS có trụ sở chính ở Thụy Sĩ, là một cột trụ của thế giới tài chính, với văn phòng ở hơn 50 nước và giá trị tài sản hơn 2 ngàn tỉ đô-la.  Tuy nhiên, trong một bài viết ngày 28/8 cho Bloomberg View, Magnus nói rằng “nền kinh tế toàn cầu hiện nay có một số điểm tương đồng kỳ lạ” với những gì Marx đã tiên liệu. (Ông ghi chú đó chỉ là ý kiến cá nhân.)
Thử bàn cụ thể xem sao.  Theo Magnus, Marx tiên đoán rằng các công ty sẽ cần ít công nhân hơn khi họ cải tiến năng suất, tạo ra một “đội quân dự trữ công nghiệp” của những người thất nghiệp; sự tồn tại của đội quân này gây áp lực giảm lương cho những người có việc làm.  Thời buổi này với tỉ lệ thất nghiệp Mỹ vẫn cao hơn 9 phần trăm, khó mà tranh cãi với điều đó.  Hôm 13/9, Cơ quan Điều tra Dân số Mỹ công bố số liệu cho thấy mức thu nhập ở điểm giữa đã giảm từ năm 1973 cho tới 2010 đối với nam công nhân từ 15 tuổi trở lên, có việc làm toàn thời gian quanh năm, sau khi đã tính trượt giá.  Thân phận của người lao động chân tay ở Mỹ vẫn khác xa với mức lương bèo bọt đủ sống và bóng ma “bất hạnh chồng chất” mà Marx gọi hồn kêu về.  Nhưng cũng chưa phải tương lai tươi sáng.
Marx thích chỉ trích nhà kinh tế học người Pháp Jean-Baptiste Say, người đã lập luận rằng tình trạng thừa thải hàng hóa chung không thể tồn tại bởi vì thị trường luôn khớp cung với cầu.  Marx lập luận rằng tình trạng sản xuất thừa mứa là bản chất cố hữu của chủ nghĩa tư bản vì giai cấp vô sản không được trả lương đủ để mua hàng hóa do giai cấp tư sản sản xuất.   Một lần nữa, gần đây khó mà phản bác lý thuyết đó.  Cách duy nhất mà giới lao động Mỹ có thể duy trì tiêu dùng trong thập niên vừa qua là bằng cách vay mượn quá mức.  Khi thị trường nhà sụp đổ, nhiều người lụn bại vì nợ ngập đầu.  Cơn ác mộng vỡ nợ tiếp sau đó vẫn còn chưa dứt.
Những người ái mộ Marx nhìn nhận tất cả những vấn đề với một thái độ “đã bảo mà” đầy thương hại.  Nhà địa lý David Harvey, 75 tuổi, đã dạy cuốn Tư Bảncủa Marx trong 40 năm ở những trường bao gồm Đại học Oxford, Đại học Johns Hopkins, và hiện nay tại Trung tâm Cao học thuộc Đại học City University of New York.  Văn phòng của Harvey, cách tòa nhà Empire State Building một con phố, được trang trí bằng một bức chân dung màn lụa vẽ Marx, từ trên tủ sách trừng mắt nhìn xuống.  Cũng như Marx, Harvey tin rằng giới tư sản có khuynh hướng gieo mầm mống cho sự tự hủy diệt.  Theo lập luận của vị giáo sư này, chủ nghĩa tư bản không kiềm chế có xu hướng đưa tới thặng dư vô độ, vì vậy việc hoàn toàn xóa bỏ quản lý điều tiết thực sự có tác hại cho chủ nghĩa tư bản về lâu dài.  “Đảng Cộng hòa đang trên đường hủy diệt chủ nghĩa tư bản,” Harvey nói với giọng thích thú, “và họ có thể làm điều đó tốt hơn tầng lớp lao động.”
Nhưng hượm đã.  Điều mà Marx và các đồ đệ đánh giá thấp là khả năng tự lành bệnh của chủ nghĩa tư bản.  Đó có thể là sai lầm trí tuệ tai hại của ông.  Tuyên ngôn Cộng sản nói rằng khi cách mạng của giai cấp công nhân diễn ra, nó sẽ mang lại giáo dục công cộng miễn phí cho trẻ em và xóa bỏ “lao động trẻ em trong công xưởng như hiện nay”.  Thế nhưng, hóa ra là thế giới không cần đến một cuộc cách mạng vô sản để những cải cách xã hội đó diễn ra; chỉ cần có chủ nghĩa tư bản được khai sáng.
Những nhà Marxist giáo điều thích nói rằng “cơ sở hạ tầng” kinh tế quyết định và kiểm soát “kiến trúc thượng tầng” chính trị xã hội, nhưng điều ngược lại cũng có thể đúng.  Các lãnh tụ chính trị đã nhiều lần khắc phục những thặng dư của chủ nghĩa tư bản, như trong chiến dịch chống độc quyền của Tổng thống Teddy Roosevelt, chương trình phục hồi kinh tế New Deal [sau thời kỳ Đại Khủng hoảng 1929-1933, N.D.]  của Tổng thống Franklin Roosevelt, và chương trình cải cách xã hội Great Society [xóa bỏ nghèo đói và bất công chủng tộc, N.D.] của Tổng thống Lyndon Johnson’
Hiện nay, một lần nữa chủ nghĩa tư bản không kiềm chế đang đe dọa phá hoại chính mình.  Những ngân hàng lớn nhất thế giới, yếu về tài chính nhưng mạnh về chính trị, đang siết chặt với người đi vay trong nỗ lực cứu vãn bảng cân đối kế toán của chính họ.  Tương tự như thế, các nước chủ nợ như Trung Quốc và Đức đang cố gắng đổ gánh nặng tái cân đối lên vai các nước con nợ, mặc dù việc siết chặt họ quá mức có nguy cơ dẫn tới một thảm họa kinh tế và tài chính. 
Đã đến lúc cần có một đợt bùng nổ khai sáng khác.  Trước kia, John Maynard Keynes của Anh, và Hyman P. Minsky của Mỹ (tác giả cuốn Stabilizing an Unstable Economy [Ổn định Một Nền Kinh tế Bất ổn]) đã giúp ích cho chủ nghĩa tư bản bằng cách chẩn đoán khuynh hướng sa vào khủng hoảng của chủ nghĩa tư bản và kê toa bốc thuốc để hồi phục.  Các nhà hoạch định chính sách hiện nay càng sớm “nhận ra rằng chúng ta đang đối mặt với một cuộc khủng hoảng ngàn năm một thuở của chủ nghĩa tư bản,” như Magnus viết, “thì họ càng được trang bị tốt hơn để tìm được lối thoát ra khỏi khủng hoảng.”  Thấu hiểu những khía cạnh Mark đã nhận định đúng là bước đầu tiên để tiến tới bảo đảm rằng những tiên đoán của ông về sự suy tàn của chủ nghĩa tư bản vẫn còn sai lầm.

Coy là trưởng biên tập Kinh tế của Bloomberg Businessweek.

Dịch từ bản tiếng Anh “Marx to Market“, Bloomberg Businessweek, 14/9/2011
Bản tiếng Việt:
PVLH, Blog lên đông  xuống đoài, http://phamvuluaha.wordpress.com

Hết kẻ thù rồi giết bạn mình sao?



Nguyễn Trọng Bình

Theo dõi báo chí mạng gần đây thấy có hiện tượng, không hiểu sao những nhân sĩ, trí thức lớn tuổi nước nhà lại bị “công kích” và xúc phạm nhiều và nặng nề quá. Là một người trẻ, tôi thật sự thấy hoang mang vô cùng. Hoang mang vì lẽ, người ta dạo này không hiểu sao lại dễ dàng buông ra những lời nanh nọc để dè bĩu thậm chí là miệt thị con người một cách không thương tiếc như vậy. Điển hình như thời gian qua những bậc học giả cao niên vốn những “trí thức dấn thân” hàng đầu nước nhà hiện nay chỉ vì thể hiện tấm lòng với quê hương đất nước; thể hiện nỗi trăn trở muốn đóng góp trí tuệ công sức cho quê hương đất nước đã bị một cơ quan truyền thông nọ không ngần ngại “lên lớp” và “tuyên truyền” để rồi xúc phạm rất nặng nề bằng từ ngữ mà bất cứ người Việt Nam nào cũng ngay ngáy lo sợ (vì nó vốn đã ăn sâu trong tiềm thức):“phản động”! Hay gần nhất là chuyện một số nhà văn lớn tuổi được Hội nhà văn mời đi tham dự Hội nghị những người viết văn trẻ toàn quốc lần 8 ở Tuyên Quang thì có không ít người cho rằng những “nhà văn già” này chẳng qua chỉ đi theo để “ăn chực”, “ăn ké”… nghe mà chua xót quá!
Dẫu biết rằng trước một sự việc nào đó của cuộc sống mỗi người đều có quyền phát biểu suy nghĩ và tiếng nói riêng của bản thân. Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa là ai đó tự cho mình cái quyền suy nghĩ hời hợt, cẩu thả và thiếu trách nhiệm hay vì cay cú chuyện “ân oán” cá nhân để rồi buông ra những lời nanh nọc xúc phạm người khác vốn cũng là đồng bào mình, nhân dân mình. Và nếu như chúng ta nhớ rằng dân tộc Việt vốn có một truyền thống, một đạo lí tốt đẹp đó là: sự tôn kính, sự quý trọng dành cho người già, người có tuổi thì với những sự việc này phải nói là điều vô cùng tệ hại; là bằng chứng rõ ràng nhất cho thấy sự xuống cấp và suy đồi về văn hóa ứng xử của không ít người trong xã hội ta hiện nay. Nói điều này, hẵn có không ít những người “có hiểu biết” sẽ phản biện rằng, ở những nước vốn còn nhiều điều “lạc hậu” và “bảo thủ” như nước ta thì truyền thống “kính trọng người già” có khi là cái “vòng kiêm cô” siết chặt và “cản trở” sự đi lên của xã hội bởi trong thực tế có không ít người già thật sự không đáng để kính trọng (vì chẳng qua chỉ là “sống lâu lên lão làng”) nhưng mỗi khi nhắc đến họ cũng phải “kính nhi viễn chi”, phải “dưng trà rót nước” và “đền đài”, “hương khói” rình rang khi họ mất… Ở phương diện nào đó suy nghĩ này không phải không có cơ sở tuy nhiên, nếu như đã có được suy nghĩ của một người tiến bộ như thế thì lẽ ra, ở chỗ này càng phải nhìn xa thêm chút nữa để hiểu và thể hiện sự tôn kính người già và giữ gìn đạo lý truyền thống cao đẹp của cha ông. Vì sao tôi lại nói như vậy? Vì một lẽ rất đơn giản là: đã là con người thì không ai là không trở thành già (trừ những trường hợp những người không may mất sớm) để rồi chắc chắn sẽ phải chịu sự nhìn nhận và phán xét từ những người trẻ - thế hệ con cháu sau này của mình. Nhìn ở góc độ này sẽ thấy tính “minh triết” trong đạo lý kính trọng người già, đạo lý “kính lão đắc thọ” của cha ông ta, đó là: bất cứ người già nào cũng là một động lực thúc đẩy cho thế hệ trẻ trở nên ngày một hoàn thiện hơn.Nếu người già là một con người ưu tú của đất nước thì động lực ở đây có lẽ không cần phải bàn (vì đó là một tấm gương sáng để cho người trẻ noi theo). Còn nếu với một người già như đã nói chỉ đơn giản chỉ “sống lâu lên lão làng” thì động lực ở đây chính là sự “vô tình nhưng cần thiết” khi trở thành “đối trọng” để người trẻ có cơ hội phát huy tinh thần phản biện và tư duy độc lập trong cái nhìn về cuộc sống của họ; người trẻ sẽ nhận ra “tiềm lực” thật sự ẩn chứa trong bản thân họ và họ sẽ tự nhủ rằng: ta dứt khoát không nên giẫm vào bước chân, giẫm vào “vết xe đổ” của những người chỉ đơn giản là “sống lâu lên lão làng” kia (nếu không khi trở thành già ta sẽ lại phải chịu sự phán xét của con cháu đời sau). Như vậy, nhìn ở phương diện này, rõ ràng những người chỉ đơn giản là “sống lâu lên lão làng” không hẳn là sự “cản trở” xã hội như không ít người hiểu mà có khi là ngược lại. Điều này cũng giống chúng ta trong lúc đọc sách mà không may đọc nhằm quyển sách dở vậy. Khi đó chắc chắn ta sẽ tự nhủ với chính mình nếu có cơ hội viết sách mình phải viết sao cho hay hơn những điều có trong quyển sách này. Cho nên mới nói đôi khi trong cuộc sống cái “hạn chế”, “cái tệ hại” của người này lại chính là động lực thúc đẩy cho bản thân người khác. Ở chỗ này nhìn rộng ra hơn tí nữa, nên chăng chúng ta cũng phải “thành thực” và “thiện chí” nói với nhau là: “ừ thì cũng xin cảm ơn “đối thủ”, cảm ơn “kẻ thù” của ta; nhờ “đối thủ”, nhờ “kẻ thù” mà ta mới trở thành người “tài giỏi”, nhờ đó mà ta mới biết ta cũng là một “anh hùng”…?”
Trở lại vấn đề, việc một cơ quan truyền thông nọ xúc phạm những bậc cao niên trí thức và việc không ít người có lời lẽ xúc phạm những “nhà văn già” ở Hội nghị người viết văn trẻ ở Tuyên Quang vừa qua có thể nói đây là một hành vi, một việc làm kém cỏi trong suy nghĩ, thô bạo trong ứng xử và hồ đồ trong nhận thức. Bởi vì sao? Trước hết, đây là sự xúc phạm vô cớ, vô bằng chứng. Kế nữa, nhìn ở góc độ văn hóa và đạo đức đó là sự chà đạp một cách không thương tiếc lên một truyền thống tốt đẹp và cao cả của dân tộc; dấu hiệu của sự băng hoại đạo đức và văn hóa của con người.
Thử suy luận mà xem những người như giáo sư Chu Hảo, nhà văn Nguyên Ngọc, giáo sư Nguyễn Huệ Chi, tiến sĩ Nguyễn Quang A, nhà phê bình Phạm Xuân Nguyên…- những “trí thức dấn thân” một đời cống hiến cho quê hương đất nước; những danh lợi, vinh quang, cay đắng trong cuộc đời có lẽ họ cũng đã nếm trải hết; nhìn họ ai nấy cũng đầu bạc trắng, sức khỏe cũng chẳng còn như xưa vậy mà họ vẫn sục sôi một tấm lòng đối với quê hương đất nước như thế lại không đáng kính nể và quý mến sao? Sao lại bảo những việc làm của họ chỉ là để “đánh bóng tên tuổi” trong khi tên tuổi họ vốn đã “hữu xạ tự nhiên hương” lâu rồi? Sao lại thô bạo và nanh nọc bảo họ “phản động” trong khi từ lâu họ đã xác định và chọn khoa học chứ không phải chốn “quan trường” là nơi để “dấn thân”? Nếu như muốn “làm quan”, làm “lãnh đạo” hay làm “chính trị” (đơn thuần như nhiều người nghĩ) thì họ có lẽ không đợi đến lúc tóc trên đầu ngã hết sang trắng thế kia; không phải một đời lao tâm khổ trí đi theo khoa học vừa nghèo mà lại ít người xem trọng?
Và cũng thử suy luận mà xem, những “nhà văn già” đầu cũng hai thứ tóc một đời “đánh vật” với văn chương chữ nghĩa để rồi có không ít người cũng chính vì văn chương chữ nghĩa mà bị “người khác” “đánh” cho “bầm dập”, cho “tơi bời”; những “nhà văn già” tuổi cao, sức yếu thế kia thì còn ăn uống gì được bao nhiêu nữa mà sao lại cất công lặn lội đường xa để rồi phải hứng chịu những lời cay độc là “ăn chực”, “ăn theo”…? Mà khổ quá, ví như với nhà văn gạo cội Nguyễn Quang Sáng thôi, ông có một người con là đạo diễn rất nổi tiếng Quang Dũng chẳng lẽ anh này không đủ tiền mua một tour du lịch xuyên Việt cho cha mình hay sao lại để ông phải lặn lội đường xa “du hí” ké với mấy người trẻ? Hay với các “nhà văn già” khác nữa, chẳng lẽ gia đình và con cháu họ không đủ tiền mời cha, ông họ vô nhà hàng, khách sạn nào đó ở Hà Nội hay thành phố Hồ Chí Minh để được ăn uống no say, nghỉ ngơi trong vài bữa được sao? Chỉ với điều này thôi cũng cho thấy những “nhà văn già” lặn lội đường xa đến Tuyên Quang, đến với những người viết trẻ hoàn toàn không phải để “ăn chực”, “ăn ké” hay “du hí không mất tiền túi”… Sao không nghĩ đến chuyện này để hiểu và cảm thông cho họ? Cùng chung một nước, cũng được học hành, nhưng sao có người lại chẳng thèm “nhìn trước ngó sau”, chẳng biết “tôn ti trật tự” gì cả để rồi “xuống tay” một cách không thương tiếc với đồng nghiệp, với đồng bào mình như thế?
Than ôi, hay là “hết kẻ thù rồi nên muốn giết bạn mình luôn”?

Cần thơ, 20/9/2011
Nguyễn Trọng Bình


Tổng số lượt xem trang

free counters