Triết Lý, để làm gì ?

Khi ta bế tắc tư tưởng, chân thật công nhận rằng những kiến thức và phương pháp suy luận của ta không cho phép ta sống, tư duy và hành động khớp với khao khát làm người của ta, ngoài vô vàn cách ứng xử khác, ta có thể:

a) Tiếp tục sống, tư duy và hành động như cũ vì, dù sao, ta cũng sống được, không đến nỗi nào

b) Lột áo cũ, khoác áo mới, một tấm áo coi lành lặn đẹp đẽ hơn nhưng cũng hàm hồ không thua gì. Điều ấy luôn luôn khả thi bằng ngôn ngữ.

c) Đi tới cùng bế tắc của chính mình. Nếu không giải quyết được nó, ta ôm nó xuống suối vàng, để lại ở đời chỉ một câu hỏi. Câu hỏi của một con người. Đích thực. Có gì nhục đâu?

Nếu ta tưởng ta đã tìm ra một phần của giải pháp, ít nhất là cho riêng mình, thì cứ viết đi, chẳng cần trích cao nhân nào cả: họ đã là một phần của ta và ta đã phải “vượt” họ để nên mình.

Thế thôi.

(Chungta.com)

Góc nhỏ của Noby Vui Vẻ

Lục lọi, tìm tòi, đọc, cóp nhặt, chia sẻ, ... OK hay không tùy bạn ! ! !

“Nước độc lập mà dân chưa tự do thì độc lập cũng không có ý nghĩa”- Hồ Chí Minh.

28 thg 10, 2010

Đôi lời với ông Lê Dương Quang


Dân Thường

imageTôi không có chuyên môn gì về bauxite nhưng những điều ôngLê Dương Quang quả là lẩm cẩm và có quá nhiều mâu thuẫn, vào đầu lại còn lên giọng trịch thượng.

Thứ nhất, ông nói: “Rất tiếc là đơn kiến nghị này chỉ được gửi cho lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Quốc hội, Chính phủ mà không gửi tới Bộ Công Thương, TKV”. Thật buồn cười. Những người kiến nghị đã chứng tỏ họ sáng suốt, ít ra là hơn ông. Khai thác bauxite là chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước. Làm hay không là do Đảng và Chính phủ quyết định, Bộ Công thương chỉ được phép làm theo chỉ đạo chứ đâu có được tự tung tự tác. Vì vậy kiến nghị phải gửi cho những người chỉ đạo. Gửi cho ông làm gì! Ông cứ ngồi chờ đấy. Khi nào Đảng và Chính phủ gọi, ông hãy báo cáo.

Thứ hai, ông nói: “Bởi khi dự án đưa vào sử dụng càng sớm thì càng phát huy được hiệu quả của đồng vốn bỏ ra. Nếu sớm đưa vào sử dụng chúng ta có sản phẩm xuất khẩu, thu hẹp được nhập siêu, phát triển đời sống của đồng bào”. Ông quên rằng để làm dự án này toàn dân đã phải chi hết bao nhiêu tiền. Cứ cho là năm 2011 có được sản phẩm để bán. Thu được bao nhiêu chưa biết nhưng vốn bỏ ra cả đống, lại còn phải mua thêm xăng dầu phục vụ cho việc vận chuyển và bao nhiêu thứ khác nữa. Vậy thu hẹp nhập siêu bao nhiêu? Còn phát triển đời sống đồng bào? Chính Bộ ông cũng tính toán phải 50-70 năm thậm chí hơn nữa mới có lãi. Vậy thì ông phải nói lại là “đồng bào thế hệ này tạm chịu khổ để 2-3 đời sau may ra có chút lãi từ bauxite mang lại”. Có lẽ chỉ có mang vàng đi bán mới có quyền nói thu tiền nhanh.

Thứ ba, ông nói sẽ “xem xét lại dự án Tân Rai đang thi công để bảo đảm an toàn”, rồi “thuê đơn vị tư vấn độc lập về phương án thiết kế hồ bùn đỏ”, rồi “xét lại các vấn đề về động đất ở Tây Nguyên”, rồi đi sang các nước để học tập. Những lời này chúng tôi đã quen lắm rồi. Nhiều công trình trọng điểm các loại, đủ thứ tư vấn giám sát nhưng không hiểu sao mọi sự cố vẫn xảy ra, từ cầu đường đến nhà máy, xí nghiệp. Không hiểu khi xây mấy cái nhà máy điện có tư vấn giám sát không mà ì ạch mãi không xong để đến nỗi thiếu điện triền miên. Nhà máy đồng Sinh Quyền tốn bao nhiêu tiền mà vẫn lỗ, càng sản xuất càng lỗ không biết, ông có biết không? Chắc khi xây dựng những nhà máy này không có “phương án thiết kế” và không được “xem xét”, giám sát! Còn chuyện đi tham quan các nước học tập thì thành thực khuyên các ông đừng tiêu tốn thêm tiền dân lại kéo dài thêm cảnh khổ của dân Tây Nguyên do phải chi thêm một khoản tiền tính vào giá thành làm chậm có lãi. Chưa đi nhưng kết quả chuyến tham quan ra sao chẳng nói ai cũng rõ. Sẽ đắp thêm đất vào đập, xẻ vài cái rãnh và sẽ chẳng có gì thay đổi lớn vì nhà máy đã xây, công nghệ đã định, chuyên gia nước bạn đã làm việc. Tất cả chỉ chờ ngày khánh thành. Làm sao mà có chuyện thay đổi? Nếu như vụ bùn đỏ ở Hungary xảy ra từ 1,2 năm trước các ông đi tham quan còn có lý. Nhưng thôi, các ông là “đơn vị trực tiếp liên quan đến dự án” nên nhân dịp này đi cho biết đó biết đây.

Thứ tư, ông nói hồ bùn đỏ được chia làm nhiều ngăn để nếu vỡ, ngăn này chảy sang ngăn khác. Tôi không hiểu thiết kế ra sao nhưng nghe ông đưa ra ví dụ “khi có một chiếc bát to chứa nhiều ngăn, vỡ các ngăn nhỏ thì còn có ngăn to”. Vậy xin hỏi nước đầy quá tràn ra khỏi bát hoặc cả cái bát vỡ, tức là cái ngăn to vỡ hoặc tràn thì ra sao?

Thứ năm, nói đến chuyện động đất, ông nói: “Nếu ai nói rằng vẫn có thể nguy hiểm thì hãy gửi các con số kỹ thuật để chứng minh, chúng tôi sẵn sàng lắng nghe”. Vậy ông hãy đưa con số để chứng minh hoàn toàn không nguy hiểm để khỏi phải nói “không ai nói trước được rủi ro”!

Thứ sáu, về việc bán alumina, tuy chưa có sản phẩm ông đã nói đến “phương án phải đấu giá vì nhu cầu quá lớn”. Đúng là nhu cầu lớn cũng như đồng vậy. Và Bộ ông đã bán đồng thành đồng… nát. Nghe ông nói làm ta lại nhớ đến chuyện cô bé bán sữa của La Phôngten.

Thứ bảy, ông nói “kế thừa kết quả nghiên cứu của nhiều quốc gia. Tiêu biểu trong đó là Nga, Hungary, Nhật Bản, Hàn Quốc…”. Xin nói thẳng, trong công nghệ hiện nay chỉ có ai làm chủ được công nghệ hoàn toàn mới nói đến chuyện học mỗi nơi một ý để tiếp tục sáng tạo, còn những ai không làm chủ được công nghệ, phải mua, phải nhập, phải thuê tư vần, phải thuê thi công, thậm chí phải vay mượn cả vốn để làm thì chẳng kế thừa được cái gì cả. Vì khi đã nhập máy móc ở đâu thì công nghệ là của anh bán máy giao cho chứ đâu có thay đổi được. Nếu ông nói là kế thừa của các nước, vậy xin hỏi với toàn bộ dây chuyền và máy móc thiết bị của nước ngoài và do nước ngoài lắp đặt, những kinh nghiệm ông “kế thừa” từ các nước khác được đặt vào đâu trong cái dự án này? Mà không biết kỹ sư, công nhân ta đã biết gì về các thiết bị đã lắp đặt hay phải chờ bàn giao?

Thứ tám, chuyện bùn khô, bùn ướt tôi thấy ông Nguyễn Thành Sơn giải thích cặn kẽ và có lý hơn ông nhiều.

Đáng lẽ tôi chấm dứt ở đây nhưng thấy ông quàng vào chuyện luyện thép nên tôi phải thêm đoạn này. Cũng xin nói, không chỉ công nghệ luyện thép mà nhiều công nghệ khác cũng có từ đời nảo đời nào. Nhưng thép cũng có nhiều loại. Có thép của Ý, của Nhật , của Mỹ và cả thép của… phong trào toàn dân làm gang thép ở bên láng giềng. Còn ta cũng có thép Thái Nguyên, thép liên doanh và có thời cả thép Bắc Ninh. Không biết ông định nói thép nào?

Mong ông Lê Dương Quang, với trách nhiệm được giao hãy đối thoại và trả lời cụ thể ý kiến của những nhà trí thức. Xin đừng nói cho có lệ.

D. T.

Tác giả gửi trực tiếp cho BVN

theo boxitvn

"Dự án bô-xít: Thà không vận hành còn hơn"


Phạm Huyền (thực hiện)

clip_image001

Ông Nguyễn Văn Ban, Nguyên Trưởng ban dự án Nhôm, Tổng công ty Khoáng sản (ảnh: Phạm Huyền)

(VNR500) - “Nếu bây giờ làm thì sang năm, hồ bùn đỏ cũng không vỡ ngay đâu. Nhưng có thể một ngày nào đó, con cháu chúng ta sẽ lĩnh đủ”, ông Nguyễn Văn Ban, nguyên Trưởng ban dự án Nhôm, Tổng công ty Khoáng sản, bày tỏ về dự án bô-xít Tây Nguyên.

- Thưa ông, trước kiến nghị dừng dự án bô-xít Tây Nguyên của các nhân sĩ, lãnh đạo Tập đoàn Than - Khoáng sản (TKV), Bộ Công Thương, Bộ Tài nguyên môi trường đã khẳng định về tính hiệu quả dự án và độ an toàn của hồ chứa bùn. Ông có suy nghĩ thế nào về các câu trả lời đó?

- Ông Nguyễn Văn Ban: Tôi nghĩ rằng, các nhân sĩ, trí thức có ý kiến nên dừng dự án bô-xít, đó là một điều băn khoăn bức bối trong giới trí thức, khoa học, lo cho vận mệnh đất nước vào thời điểm quan trọng này.

Họ trăn trở những dự án như thế này không biết có mang lại được kinh tế hay không, nếu có là bao nhiêu nhưng mà rủi ro xảy ra thì thiệt hại vô cùng lớn. Băn khoăn ấy là đúng.

Trước sự cố vỡ hồ bùn đỏ ở Hungary, tôi thấy lãnh đạo TKV, Bộ Công Thương lo lắng và rất quan tâm đến.

Tuy nhiên, Thứ trưởng Bộ Công Thương Lê Dương Quang nói hay Bộ trưởng Bộ Tài nguyên Môi trường Phạm Khôi Nguyên nói, hay bất cứ ai ở TKV phát biểu, thì người dân sẽ đều ghi nhận các cam kết ấy.

Nhưng khi các ông là nhà quản lý, dù người dân có nghe thì họ cũng vẫn cứ băn khoăn, không biết ông nói thế thì cơ sở nào để hiểu, để tin?

Trong khi, lũ miền Trung vừa xảy ra, có ai lường trước rằng miền Trung sẽ bị như vậy, cuốn cả nhà máy thủy điện, cả đập? Không ai dám chắc được, địa điểm xây dựng các hồ bùn đỏ, trong tương lai không xảy ra một trận bão lũ như ở miền Trung! Mà nếu bão lũ xảy ra, các hồ bùn đỏ này không vỡ thì cũng bị tràn. Trên thế giới cũng đã xảy ra điều ấy như Canada, Ukraina.

Thực sự mà nói, theo tôi, để yên lòng dư luận xã hội, không gì bằng việc có một hội đồng khoa học thẩm định bao gồm các chuyên gia đầu ngành đánh giá. Kết luận của hội đồng sẽ trả lời được tất cả. Như vậy, TKV được lợi, Chính phủ được lợi và dư luận yên tâm.

Còn giờ, cho dù vị lãnh đạo TKV hay quan chức nào hứa, khẳng định thì dư luận vẫn cứ nghi ngờ.

- Thưa ông, xin ông nói rõ quan điểm của ông về việc nên tiếp tục hay dừng các dự án bô-xít Tây Nguyên?

Theo tôi, Chính phủ nên thành lập một Hội đồng khoa học độc lập.

Với dự án Tân Rai, nếu kết quả thẩm tra của Hội đồng này cho thấy an toàn thì cho nhà máy Tân Rai họat động, nếu không an toàn thì bắt phải làm sao cho an toàn.

Tuy nhiên, xem xét kỹ lưỡng thì tôi thấy dự án sẽ rơi vào tình trạng: để tăng độ an toàn thì sẽ phải đầu tư rất nhiều tiền, tổng mức đầu tư dự án tăng lên và như vậy, hiệu quả kinh tế tụt xuống và có khi, không có hiệu quả.

Mà trong trường hợp ấy, vận hành nhà máy là “dở”, vì càng vận hành sẽ càng lỗ. Thà không vận hành còn hơn!

Đối với dự án Nhân Cơ, chính TKV đã cho biết rằng, rủi ro kinh tế là lớn. Chính Trưởng ban Dự án nhôm hiện nay khi trình Chủ tịch HĐQT TKV, bấy giờ là ông Đoàn Văn Kiển, đã nêu rằng, chỉ cần một vài chi phí thay đổi, thì dự án này đã không có hiệu quả.

Thế mà so với Tân Rai, dự án Nhân Cơ này có nhiều vấn đề hơn như đường sá xa xôi, nằm ở Tây Nguyên, rồi môi trường… Dự án tính đến nay gần như chưa bắt đầu, mới chỉ san gạt mặt bằng thôi. Nếu thế, nên dừng dự án này.

Dừng dự án Nhân Cơ ở thời điểm này thì sẽ cứu vãn được nhiều về mặt kinh tế, còn để thi công rồi mà lại dừng thì thiệt hại rất lớn.

Bô-xít của mình, có nhiều ưu điểm nhất định, nhưng đồng thời cũng có những nhược điểm nhất định. Có lẽ, những người làm dự án chỉ biết đánh giá về những cái “ưu” mà về nhược điểm, chưa chú ý và đánh giá hết.

clip_image002

Dự án bô xít Tân Rai bị chậm tiến độ (ảnh minh họa: vustar)

- Trước đây, tính hiệu quả kinh tế của dự án bô-xít đã gây tranh cãi nhiều như đặc điểm mỏ có khai trường lớn, chất lượng quặng, phương án vận chuyển phức tạp… Đến nay, những yếu tố nào cho thấy nhìn rõ rủi ro về mặt kinh tế ở dự án, thưa ông?

Nói tới dự án Tân Rai, ban đầu, chỉ số hiệu quả kinh tế IRR là tương đối tốt. Tuy nhiên, mức đầu tư hiện tăng lên rất nhiều.

Lúc đầu, TKV tính chỉ khoảng trên 600 triệu USD rồi sau đó, chính ông Đoàn Văn Kiển Chủ tịch TKV tại cuộc họp ở Văn phòng Trung ương Đảng có báo cáo, là tổng mức đầu tư đã tăng lên 714 triệu USD.

Nhưng khi thông báo cho đoàn chuyên gia của Liên hiệp Hội khoa học kỹ thuật rằng, ban dự án của TKV đã cho biết, con số này đã lên tới khoảng 800 triệu USD.

Qua theo dõi, tôi được biết rất nhiều chi phí ở dự án này đã đều tăng lên, ví dự như chi phí đền bù trước đây là 300 triệu đồng/ha, nay, chính TKV đã thông báo đã lên 1,2 tỷ đồng/ha. Mỏ có khai trường lớn nên phạm vị ảnh hưởng lớn, diện tích đền bù nhiều.

Khâu vận tải tính bằng ôtô, dự án tính giá 1.300 đồng/tấn/km mà thực tế hiện nay cước vận tải đó đã tăng gấp đôi và sẽ càng ngày càng tăng theo giá xăng dầu.

Rõ ràng khi tổng mức đầu tư tăng lên thì hiệu quả kinh tế sẽ giảm đi và rủi ro là rất lớn.

Bên cạnh đó, dự án chậm tiến độ.

Theo hợp đồng EPC với Trung Quốc, nhà máy alumin Tân Rai giờ đã phải hoàn thành. Và đáng lẽ, khâu mỏ tuyển ít nhất cũng phải hoàn thành trước 5-6 tháng để tuyển ra tinh quặng và dùng tinh quặng ấy chạy thử nhà máy alumin.

Rất tiếc rằng, đến nay, nhà máy alumin vẫn chưa xong, dự kiến phải 1-2 tháng nữa mới xong. Nhưng đặc biệt, khâu đáng lẽ phải xong sớm là mỏ tuyển cũng chưa xong và có khả năng còn chậm hơn cả nhà máy alumin.

Và như vậy, nhà máy alumina xong trước, sẽ phải nằm chờ và cứ mỗi một tháng chờ, với tổng số tiền đầu tư lớn, phải trả lãi, mất ít nhất 6-7 triệu USD/tháng.

Tất cả những việc ấy làm cho dự án mất tính khả thi. Tất nhiên là, đến thời điểm này, không ai cho biết rõ chính xác con số là bao nhiêu. Có lẽ, phải chờ đến một ngày, người ta thẩm định, kiểm toán dự án, mới có thể biết chắc chắn tổng mức đầu tư và hiệu quả là ra sao. Nhưng khả năng rủi ro là rất lớn.

- Lợi nhuận là yếu tố hàng đầu đối với một doanh nghiệp. Như ông nói, chính TKV đã cho hay dự án Nhân Cơ có rủi ro về kinh tế, thế mà TKV vẫn quyết tâm làm. Ông có đánh giá thế nào về sự mâu thuẫn khó hiểu này?

Đó là một câu hỏi phức tạp hiện nay. Nó cũng giống như Vinashin tại sao lại đổ vỡ, lại chìm như hiện nay? Bài toán kinh tế là quan trọng nhất của một tập đoàn nhưng tập đoàn ấy có coi như vậy không?

Theo tôi, cái “quy tắc” trên thì chỉ đúng với Tập đoàn kinh tế tư nhân, tiền vốn do họ bỏ ra thì họ lo đồng tiền ấy sử dụng sao cho hiệu quả. Đồng tiền đi liền với khúc ruột, khi tiền vốn không phải của anh thì sẽ khác.

Với doanh nghiệp nhà nước thì rất phức tạp. Báo chí hay gọi là lợi ích nhóm.

Không chỉ nước mình, kể cả Anh, Mỹ hay các nước tư bản phát triển, nếu là một tập đoàn Nhà nước sau một thời gian vận hành không tốt thì cuối cùng họ đành phải bán đi, tư nhân hóa đi.

Nguồn: Vnr500


ĐƠN KHỞI KIỆN THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ NGUYỄN TẤN DŨNG VỀ HÀNH VI BAN HÀNH NGHỊ ĐỊNH CẤM CÔNG DÂN KHIẾU NẠI TẬP THỂ TRÁI HIẾN PHÁP VÀ PHÁP LUẬT

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

———————————————————–

Hà Nội ngày 21/10/2010

ĐƠN KHỞI KIỆN

THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ NGUYỄN TẤN DŨNG

VỀ HÀNH VI BAN HÀNH NGHỊ ĐỊNH CẤM CÔNG DÂN

KHIẾU NẠI TẬP THỂ TRÁI HIẾN PHÁP VÀ PHÁP LUẬT

Kính gửi: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO

NGƯỜI KHỞI KIỆN: Cù Huy Hà Vũ, công dân Việt Nam, Tiến sĩ Luật,

24 Điện Biên Phủ – Hà Nội.

NGƯỜI BỊ KIỆN: Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng

1 Hoàng Hoa Thám – Hà Nội

NỘI DUNG

Căn cứ Khoản 1 Điều 1 Luật Khiếu nại, tố cáo (Công dân, cơ quan, tổ chức có quyền khiếu nại quyết định hành chính, hành vi hành chính của cơ quan hành chính nhà nước, của người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước khi có căn cứ cho rằng quyết định, hành vi đó là trái pháp luật, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của mình),ngày 11/9/2010, tôi đã gửi Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng Đơn khiếu nại về hành vi của Thủ tướng ban hành Nghị định số 136/2006/NĐ-CP ngày 14 tháng 11 năm 2006 của Chính phủ cấm công dân khiếu nại tập thể trái Hiến pháp và Pháp luật như trình bày sau đây.

Ngày 26/8/2010 Thanh tra Chính phủ ra Thông tư số 04/2010/TT-TTCP Quy định Quy trình xử lý đơn khiếu nai, đơn tố cáo, đơn phản ánh, kiến nghị liên quan đến khiếu nại, tố cáo. Điều 8 Thông tư quy định: “Đơn khiếu nại có họ, tên, chữ ký của nhiều người thì cán bộ xử lý đơn đề xuất Thủ trưởng cơ quan chuyển trả đơn và toàn bộ tài liệu kèm theo (nếu có) cho người gửi đơn và hướng dẫn người khiếu nại,viết đơn khiếu nại riêng của từng người, gửi đến cơ quan, đơn vị, người có thẩm quyền để được giải quyết theo quy định của pháp luật. Việc trả lại đơn được thực hiện theo mẫu số 05 ban hành kèm theo Thông tư này”.

Mẫu số 05 ban hành kèm theo Thông tư có nội dung: “Căn cứ nội dung đơn khiếu nại, theo quy định tại Điều 6 Nghị định số 136/2006/NĐ-CP ngày 14 tháng 11 năm 2006 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật khiếu nại, tố cáo và các Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật khiếu nại, tố cáo, trả lại đơn khiếu nại của ông (bà). Đề nghị ông (bà) viết đơn khiếu nại riêng của từng người, gửi đến …để được giải quyết theo quy định của pháp luật.”

Sau khi đọc Thông tư số 04/2010/TT-TTCP ngày 26/8/2010 của Thanh tra Chính phủ, tôi tìm đọc Điều 6 Nghị định số 136/2006/NĐ-CP ngày 14 tháng 11 năm 2006 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật khiếu nại, tố cáo và các Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật khiếu nại, tố cáo do chính Thủ tướng – Nguyễn Tấn Dũng – ký thì thấy Khoản 1 Điều này quy định: Cơ quan Nhà nước khi nhận được đơn khiếu nại thì xử lý như sau: Đối với đơn khiếu nại thuộc thẩm quyền giải quyết và có đủ các điều kiện quy định tại Điều 2 Nghị định này thì phải thụ lý để giải quyết; trong trường hợp đơn khiếu nại có chữ ký của nhiều người thì có trách nhiệm hướng dẫn người khiếu nại viết thành đơn riêng để thực hiện việc khiếu nại.

Tóm lại, Điều 6 Nghị định số 136/2006/NĐ-CP ngày 14 tháng 11 năm 2006 của Chính phủ do Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng trực tiếp ký cấm khiếu nại tập thể.

Tôi – Cù Huy Hà Vũ – khẳng định việc Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng ban hành Nghị định số 136/2006/NĐ-CP ngày 14 tháng 11 năm 2006 của Chính phủ quy định cấm khiếu nại tập thể là hành vi hành chính hoàn toàn trái Hiến pháp và pháp luật với những căn cứ pháp luật sau đây:

- Điều 74 Hiến pháp quy định: “Công dân có quyền khiếu nại, quyền tố cáo với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền về những việc làm trái pháp luật của cơ quan Nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân hoặc bất cứ cá nhân nào. Việc khiếu nại, tố cáo phải được cơ quan Nhà nước xem xét, giải quyết trong thời hạn pháp luật quy định. Mọi hành vi xâm phạm lợi ích Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tập thể và của công dân phải được kịp thời xử lý nghiêm minh. Người bị thiệt hại có quyền được bồi thường về vật chất và phục hồi danh dự. Nghiêm cấm việc trả thù người khiếu nại, tố cáo để vu khống, vu cáo làm hại người khác”.

- Điều 32 Luật Khiếu nại, tố cáo quy định: “Khiếu nại thuộc một trong các trường hợp sau đây không được thụ lý để giải quyết:

1. Quyết định hành chính, hành vi hành chính bị khiếu nại không liên quan trực tiếp đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khiếu nại;

2. Người khiếu nại không có năng lực hành vi dân sự đầy đủ mà không có người đại diện hợp pháp;

3. Người đại diện không hợp pháp;

4. Thời hiệu khiếu nại, thời hạn khiếu nại tiếp đã hết;

5. Việc khiếu nại đã có quyết định giải quyết khiếu nại lần hai;

6. Việc khiếu nại đã được Toà án thụ lý để giải quyết hoặc đã có bản án, quyết định của Toà án."

- Điều 2 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật số 17/2008/QH12 ngày 03/06/2008 của Quốc hội quy định: Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật:

1. Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội.

2. Pháp lệnh, nghị quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc hội.

3. Lệnh, quyết định của Chủ tịch nước.

4. Nghị định của Chính phủ.

5. Quyết định của Thủ tướng Chính phủ…

- Điều 3 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật số 17/2008/QH12 ngày 03/06/2008 của Quốc hội quy định: Nguyên tắc xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật: 1. Bảo đảm tính hợp Hiến, hợp pháp và tính thống nhất của văn bản quy phạm pháp luật trong hệ thống pháp luật.”

Do Hiến pháp, Luật Khiếu nại, tố cáo không quy định cấm cơ quan Nhà nước thụ lý đơn có chữ ký của nhiều người nên Khoản 1 Điều 6 Nghị định số 136/2006/NĐ-CP ngày 14 tháng 11 năm 2006 của Chính phủ là trái Hiến pháp và Luật Khiếu nại, tố cáo hay không hợp Hiến, hợp pháp và vì vậy phải bị hủy bỏ!

Bên cạnh đó, căn cứ Khoản 2 Điều 83 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật về áp dụng văn bản quy phạm pháp luật (Trong trường hợp các văn bản quy phạm pháp luật có quy định khác nhau về cùng một vấn đề thì áp dụng văn bản có hiệu lực pháp lý cao hơn) thì cơ quan Nhà nước áp dụng Điều 74 Hiến pháp và Điều 32 Luật Khiếu nại, tố cáo chứ không áp dụng Khoản 2 Điều 6 Nghị định số 136/2006/NĐ-CP ngày 14 tháng 11 năm 2006 của Chính phủ.

Không những thế, quy định cấm khiếu nại tập thể tại Khoản 1 Điều 6 Nghị định số 136/2006/NĐ-CP ngày 14 tháng 11 năm 2006 của Chính phủ còn trái với các quy định khác của Hiến pháp và pháp luật:

1. Điều 69 Hiến pháp quy định: “Công dân có có quyền hội họp, lập hội, biểu tình theo quy định của pháp luật.” Điều này có nghĩa nhiều công dân có quyền tập hợp nhau lại để có tiếng nói chung về một hoặc nhiều vấn đề, đồng nghĩa nhiều công dân có quyền cùng ký tên vào một văn bản dù đó là kiến nghị, đơn khiếu nại hay đơn tố cáo để yêu cầu một hay nhiều cơ quan Nhà nước có thẩm quyền giải quyết một hay nhiều vấn đề vì quyền và lợi ích hợp pháp của họ.

2. Điều 39 Luật Khiếu nại, tố cáo quy định: “Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày hết thời hạn giải quyết quy định tại Điều 36 của Luật khiếu nại, tố cáo mà khiếu nại không được giải quyết hoặc kể từ ngày nhận được quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu mà người khiếu nại không đồng ý thì có quyền khiếu nại đến người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần hai hoặc khởi kiện vụ án hành chính tại Toà án”.

3. Khoản 2 Điều 163 Bộ Luật tố tụng dân sự quy định: “Nhiều cá nhân, cơ quan, tổ chứccó thể cùng khởi kiện một cá nhân, một cơ quan, một tổ chức khác về một quan hệ pháp luật hoặc nhiều quan hệ pháp luật có liên quan với nhau để giải quyết trong cùng một vụ án.”

Như vậy, Luật Khiếu nại, tố cáo và Bộ Luật tố tụng dân sự cho phép nhiều người khiếu nại cùng ký đơn khởi kiện vụ án hành chính thì Nghị định là văn bản dưới Luật không thể cấm nhiều công dân khiếu nại cùng ký đơn khiếu nại!

Ngoài ra, việc cơ quan Nhà nước, cá nhân có thẩm quyền trong cơ quan Nhà nước ban hành văn bản tác động đến nhiều người, thậm chí đến rất nhiều người như quyết định cho phép khai thác, cho thuê tài nguyên, quyết định thu hồi đất…được coi là hợp pháp thì không có lý gì lại cấm nhiều người cùng ký đơn khiếu nại khi những người này có căn cứ cho rằng việc ban hành văn bản đó xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của họ.

Điều nghiêm trọng không kém là quy định cấm khiếu nại tập thể hoàn toàn đi ngược lại Cải cách hành chính mà Nhà nước tuyên bố đang tiến hành, gây tốn kém vô cùng lớn cả về thời gian lẫn vật chất cho cơ quan Nhà nước đồng thời gây ách tắc trong giải quyết khiếu nại bởi thay vì giải quyết một vụ khiếu nại thì cơ quan Nhà nước phải giải quyết hàng chục, hàng trăm vụ khiếu nại, thậm chí gấp nhiều lần hơn tương ứng với số lượng người khiếu nại nạn nhân của cùng văn bản, hành vi hành chính trái pháp luật trong khi nhân sự của cơ quan Nhà nước là có hạn.

Bởi những lẽ trên, căn cứ:

- Điều 52 Hiến pháp: “Mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật”;

- Khoản 1 Điều 36 Luật Khiếu nại tố cáo: “Thời hạn giải quyết khiếu nại lần đầu không quá 30 ngày, kể từ ngày thụ lý để giải quyết; đối với vụ việc phức tạp thì thời hạn giải quyết khiếu nại có thể kéo dài hơn, nhưng không quá 45 ngày, kể từ ngày thụ lý để giải quyết”;

- Điều 39 Luật Khiếu nại, tố cáo: “Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày hết thời hạn giải quyết quy định tại Điều 36 của Luật khiếu nại, tố cáo mà khiếu nại không được giải quyết hoặc kể từ ngày nhận được quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu mà người khiếu nại không đồng ý thì có quyền khiếu nại đến người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần hai hoặc khởi kiện vụ án hành chính tại Toà án”;

- Cho đến nay tôi – Cù Huy Hà Vũ – không nhận được quyết định giải quyết khiếu nại của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng;

Tôi – Cù Huy Hà Vũ – bằng Đơn này khởi kiện Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng về hành vi ban hành Nghị định số 136/2006/NĐ-CP ngày 14 tháng 11 năm 2006 của Chính phủcấm công dân khiếu nại tập thể trái Hiến pháp và Pháp luật.

YÊU CẦU

Không một tổ chức, cá nhân nào – dù đó là Đảng cộng sản Việt Nam hay Thủ tướng Chính phủ – có thể đứng trên Hiến pháp và Pháp luật, không bị Pháp luật nghiêm trị khi xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của công dân Việt Nam!

Là cơ quan quyền lực Nhà nước đại diện cho Tư pháp, Tòa án phải độc lập với Chính phủ đại diện cho Hành pháp. Chỉ có như thế thì mới có được Nhà nước Pháp quyền của Dân, do Dân, vì Dân!

Do đó tôi – Cù Huy Hà Vũ – yêu cầu Quý Tòa thụ lý Đơn khởi kiện này của tôi để đưa Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng ra xét xử công khai nhằm huỷ bỏ Nghị định số 136/2006/NĐ-CP ngày 14 tháng 11 năm 2006 của Chính phủ do Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng trực tiếp ký cấm công dân khiếu nại tập thể trái Hiến pháp và Pháp luật, xâm phạm nghiêm trọng quyền và lợi ích hợp pháp của công dân!

Tôi chân thành cảm ơn và đề nghị Quý Tòa hồi âm sớm.

NGƯỜI KHỞI KIỆN

ĐT: 0904350187

Email: havulaw@yahoo.com CÙ HUY HÀ VŨ

clip_image002

theo bauxite.blogspot.com


Tổng số lượt xem trang

free counters