Triết Lý, để làm gì ?

Khi ta bế tắc tư tưởng, chân thật công nhận rằng những kiến thức và phương pháp suy luận của ta không cho phép ta sống, tư duy và hành động khớp với khao khát làm người của ta, ngoài vô vàn cách ứng xử khác, ta có thể:

a) Tiếp tục sống, tư duy và hành động như cũ vì, dù sao, ta cũng sống được, không đến nỗi nào

b) Lột áo cũ, khoác áo mới, một tấm áo coi lành lặn đẹp đẽ hơn nhưng cũng hàm hồ không thua gì. Điều ấy luôn luôn khả thi bằng ngôn ngữ.

c) Đi tới cùng bế tắc của chính mình. Nếu không giải quyết được nó, ta ôm nó xuống suối vàng, để lại ở đời chỉ một câu hỏi. Câu hỏi của một con người. Đích thực. Có gì nhục đâu?

Nếu ta tưởng ta đã tìm ra một phần của giải pháp, ít nhất là cho riêng mình, thì cứ viết đi, chẳng cần trích cao nhân nào cả: họ đã là một phần của ta và ta đã phải “vượt” họ để nên mình.

Thế thôi.

(Chungta.com)

Góc nhỏ của Noby Vui Vẻ

Lục lọi, tìm tòi, đọc, cóp nhặt, chia sẻ, ... OK hay không tùy bạn ! ! !

“Nước độc lập mà dân chưa tự do thì độc lập cũng không có ý nghĩa”- Hồ Chí Minh.

7 thg 5, 2012

Điện Biên sau 58 năm giải phóng




ĐBP - Thành phố Điện Biên Phủ những ngày tháng 5 rực rỡ cờ hoa chào mừng 58 năm Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ. Trên các trục đường, dòng người đông đúc, tấp nập hơn bởi du khách trong và ngoài nước lên thăm lại chiến trường xưa...
Tin rằng, mỗi khi nhắc đến Điện Biên Phủ, không ít người dân là “con Lạc cháu Hồng” và cả bạn bè quốc tế đều biết đến bởi chiến tích hào hùng chống thực dân Pháp cách đây 58 năm. Đã có hàng vạn cán bộ, chiến sỹ, thanh niên xung phong và nhân dân các dân tộc anh dũng ngã xuống tại mảnh đất này. Khắc ghi những chiến công hiển hách, phải đánh đổi bằng máu và nước mắt đó, hơn nửa thế kỷ qua, Đảng bộ, chính quyền và nhân dân các dân tộc tỉnh Điện Biên đã nỗ lực, đoàn kết một lòng xây dựng quê hương ngày càng ấm no, giàu đẹp.



Mặc dù hiện tại, Điện Biên vẫn là tỉnh nghèo, nhưng khách quan đánh giá, so với mươi, mười lăm năm trước đây thôi, thì bộ mặt thành phố, sơn thôn, mường bản đã có bước đổi thay đáng kể. Tôi thuộc thế hệ sinh sau đẻ muộn, không được tận mắt chứng kiến các trận đánh giáp lá cà giữa ta và địch tại mặt trận Điện Biên Phủ trong 56 ngày đêm “máu trộn bùn non”, nhưng qua lời kể của các cụ cao niên và tìm hiểu tư liệu qua sử sách, báo chí thì sau ngày giải phóng (7/5/1954), Điện Biên Phủ là chiến trường tan hoang, tang tóc. Ngày đó, cánh đồng “Nhất Thanh” không rộng và bằng phẳng như bây giờ mà tre nứa, bụi rậm nhiều lắm! Dân cư cũng thưa thớt, chủ yếu là đồng bào dân tộc Thái địa phương và một bộ phận người Kinh lên xây dựng vùng kinh tế mới. Từ Hà Nội lên Điện Biên phải đi ôtô mất mấy ngày đường, nếu đi ngựa mất cả tuần lễ. Còn hiện nay, tuyến quốc lộ này đã được mở rộng, cắt cua, hạ thấp độ cao, xe ôtô chỉ đi mất 10 tiếng. Bên cạnh đường bộ là đường hàng không, với tần suất bay mỗi ngày 3 chuyến. Ngần ấy thông tin thôi cũng phần nào phản ánh được Điện Biên Phủ đã gần hơn với thủ đô Hà Nội và các tỉnh miền xuôi.
Xuất phát điểm thấp, trình độ nhận thức của một bộ phận không nhỏ người dân hạn chế, vị trí địa lý không thuận lợi... là những thách thức trong tiến trình phát triển KT - XH, đảm bảo QP - AN của Đảng bộ, các cấp chính quyền tỉnh Điện Biên. Tuy vậy, với phương châm tận dụng tối đa và sử dụng hiệu quả nguồn vốn Trung ương đầu tư, hỗ trợ; cùng với đó là khơi dậy ý chí, nghị lực người dân để biến tiềm năng về nông, lâm nghiệp, thuỷ sản, khoáng sản... thành lợi thế làm giàu, nhờ đó kinh tế tỉnh nhà từng bước ổn định và phát triển.



Với địa bàn như tỉnh ta thì trong những năm tới đây, kinh tế nông - lâm nghiệp vẫn là chủ đạo. Tỉnh chú trọng mở rộng diện tích lúa nước, tuyên truyền, vận động nông dân sản xuất 2 – 3 vụ/năm. Tại những địa bàn thuận lợi như các xã lòng chảo huyện Điện Biên; vùng “Ba Luân”, huyện Điện Biên Đông; “Ba Quài”, huyện Tuần Giáo; thị xã Mường Lay, nông dân tập trung sản xuất lúa chất lượng cao làm hàng hoá tăng giá trị lợi nhuận. Tỉnh giao ngành Nông nghiệp - PTNT thường xuyên nghiên cứu khảo nghiệm, thử nghiệm các giống lúa mới, cho năng suất cao, khả năng kháng sâu bệnh tốt đưa vào sản xuất đại trà. Ở các xã vùng ngoài, chú trọng đưa giống lúa lai vào thâm canh để tự túc lương thực. Cây lương thực ngắn ngày: ngô, đậu tương, bông lai, dong riềng... cũng được đưa vào gieo trồng, giúp nông dân tăng thu nhập, dần ổn định cuộc sống. Với cách làm đó, đến nay, tổng sản lượng thực đạt 226 nghìn tấn, bình quân lương thực đạt 420kg/người/năm.  
Sở hữu quần thể di tích lịch sử Điện Biên Phủ vô giá, do đó tỉnh tập trung phát triển thương mại, du lịch và dịch vụ. Sau nhiều năm và nhiều giai đoạn trùng tu, tôn tạo các điểm di tích lịch sử, chú trọng công tác quảng bá du lịch, các sản phẩm du lịch, lượng khách đến tham quan ngày càng đông, ngành “công nghiệp không khói” theo đó cũng phát triển. Trong cơ cấu kinh tế, khu vực dịch vụ đã chiếm 37,22% (tăng 1,91% so với năm 2010).



Giai đoạn 2005 - 2010, tỉnh Điện Biên đã huy động gần 13.000 tỷ đồng đầu tư phát triển kinh tế xã hội. Các dự án tỉnh quan tâm hàng đầu là điện - đường - trường - trạm - các công trình thuỷ lợi phục vụ nhân dân. Đến nay, 100% xã có đường ôtô đến trung tâm xã, trong đó 82/112 xã có đường ôtô đi lại quanh năm. Giao thông nông thôn phát triển nhanh, toàn tỉnh có trên 3.800km đường giao thông, trong đó đường huyện quản lý gần 1.300km (34% được nhựa hoá hoặc bê tông); đường xã quản lý 1.287km. Giao thông phát triển, người dân có điều kiện mua sắm xe máy làm phương tiện đi lại, thăm thân bạn bè, đi nương... đã rút ngắn thời gian thông thương hàng hoá, lợi ích kinh tế tăng lên rõ rệt.
Văn hoá - xã hội được triển khai, đầu tư phát triển cả bề rộng và chiều sâu. Có 75,5% số hộ dân được dùng điện lưới quốc gia; 100% xã có điểm bưu điện văn hoá; 85% dân số được sử dụng nước sạch sinh hoạt; quan tâm đào tạo nghề, giải quyết việc làm cho lao động nông thôn... Thực hiện đồng bộ các giải pháp phát triển KT - XH, đảm bảo QP - AN nên tỷ lệ hộ nghèo giảm qua từng năm. Đến cuối năm 2011, tỷ lệ hộ nghèo toàn tỉnh giảm xuống còn 45,28%. Theo phân tích của cơ quan chuyên môn, trong những năm tới, tỷ lệ hộ nghèo sẽ giảm mạnh, nhờ tỉnh thực hiện tốt Nghị quyết 30a của Chính phủ tại 4 huyện nghèo. Nghị quyết 30a bắt đầu “đi vào lòng dân” từ năm 2009 và đến nay đã và đang phát huy hiệu quả.
Đi lên từ chiến trường đổ nát, Điện Biên gặp không ít khó khăn. Tuy nhiên, từ thực tế 58 năm qua cho thấy, khi “ý Đảng dân biết, lòng dân Đảng hay” thì đồng bào các dân tộc sẽ kề vai sát cánh, nguyện sắt son một lòng theo cách mạng. Và họ tin rằng, trong tương lai gần, Điện Biên sẽ phát triển, trở thành “hòn ngọc ngày mai của Tổ quốc” như lời cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã nói ngày nào khi lên thăm chiến trường xưa.

Trần Toại

Vụ Thủy Điện Sông Tranh: Chưa thể nói là an toàn...



"Chưa thể nói đập thuỷ điện Sông Tranh 2 an toàn"

 TS Nguyễn Bách Phúc, Chủ tịch Hội tư vấn khoa học công nghệ và quản lý TP HCM, Viện trưởng Viện Điện tử tin học TP HCM đề nghị nên đưa sự cố rò rỉ đập Thủy điện sông Tranh ra Quốc hội theo đề xuất của UBND tỉnh Quảng Nam.

TIN LIÊN QUAN

Ngày 7/5, trong Hội thảo về phát triển thủy điện bền vững ở Việt Nam, trọng tâm là bàn luận và tìm ra giải pháp xử lý vụ rò rỉ thủy điện sông Tranh 2, TS Phúc đưa ra đề nghị trên. Đề xuất này đã được hầu hết các nhà khoa học hoàn toàn ủng hộ.

Hội thảo diễn ra tại TP Tam Kỳ (Quảng Nam) do Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Quảng Nam phối hợp cùng Mạng lưới sông ngòi Việt Nam tổ chức. Hội thảo thu hút gần 50 nhà khoa học đầu ngành về hồ đập, thủy điện, thủy lợi, địa chất của Việt Nam.


Trong tham luận của TS Phúc, ông khẳng định, đập thủy điện sông Tranh 2 vẫn chưa an toàn khi mùa mưa bão sắp đến, các dư chấn vẫn có thể xảy ra trước kết luận quá nóng vội của Hội đồng thẩm định Nhà nước.

Ông Phúc kiến nghị kiểm tra toàn diện và chính xác tình trạng thực của nền đập và đập sông Tranh 2 hiện nay; kiến nghị đánh giá khách quan và chính xác khả năng khắc phục sự cố.


TS Phúc cho rằng: “Sao không tìm kiếm nguyên nhân trước khi khắc phục sự cố?”. TS Phúc bày tỏ quan điểm: “Cuối tháng 3/2012 chúng tôi đã kiến nghị Thủ tướng Chính phủ lập tức ra lệnh xả cạn nước ở đập thủy điện sông Tranh 2 trong suốt thời gian tìm kiếm nguyên nhân và khắc phục sự cố nhằm đảm bảo an toàn cho hàng vạn người dân ở hạ lưu.

Kiến nghị này đã được sự ủng hộ rộng rãi của công luận. Đầu tháng 4/2012 Chính phủ đã chỉ đạo EVN xả nước Đập Sông Tranh 2 đến mức nước chết. Chúng tôi rất vui mừng, rất cảm ơn Chính phủ đã kịp thời ra quyết định này".

Khác biệt giữa kiến nghị của các nhà khoa học quan tâm đến vấn đề đập thủy điện Sông Tranh 2 là kiến nghị xả cạn, còn Chính phủ chỉ đạo xả đến mức nước chết.


Với cách xả này, lượng nước xả chừng 510 triệu m3, khoảng 70% dung tích hồ, lượng nước còn lại chừng 220 triệu m3, khoảng 30% dung tích hồ. Nguy cơ đe dọa vỡ đập đã giảm đi nhiều, nhưng chưa thể gọi là an toàn.

Sau khi đã có quyết định đúng đắn xả bớt 70% nước, vấn đề quan trọng nhất hiện nay là sửa chữa khắc phục sự cố của đập. Sửa chữa như thế nào? Đương nhiên muốn sửa chữa đúng đắn và triệt để thì trước hết phải xác định chính xác nguyên nhân của sự cố.

Đáng lo ngại là hướng xử lý của EVN quá bất cẩn khi không nói đến việc tìm kiếm khe nứt, tìm kiếm khoảng trống trong thân đập, xử lý khe nứt khoảng trống, xử lý lượng nước nằm trong đó, kể cả xử lý lượng nước nằm trong khe nhiệt, cũng không thấy nói đến việc kiểm tra và xử lý nền đập.

Hà Kiều

Danh



Cuối cùng thì bản danh sách những người nhận giải thưởng Hồ Chí Minh và giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật, được phong tặng danh hiệu Nghệ sĩ nhân dân, Nghệ sĩ ưu tú đợt năm 2011 đã được gút lại, Hội đồng cấp nhà nước đã thông qua và trình lên cấp có thẩm quyền phê duyệt. 
Sau những khiếu nại, thắc mắc lùm xùm dẫn đến sự giải quyết kéo dài, khiến lui lại thời điểm trao giải hơn nửa năm, thì đó là kết quả đáng mừng. 


Tuy nhiên, sau 4 lần trao giải thưởng Hồ Chí Minh (vào các năm 1996, 2001, 2006 và lần này 2012), sau nhiều lần trao giải thưởng Nhà nước cũng như phong tặng danh hiệu NSND, NSƯT, có thể lưu ý đôi điều.

Theo pháp lệnh về giải thưởng Hồ Chí Minh và giải thưởng Nhà nước, việc xét giải cho các công trình sẽ được hội đồng bình chọn cấp cơ sở bỏ phiếu, sau đó chuyển danh sách lên cấp trung ương để xem xét. Tiêu chuẩn xét chọn rất chặt chẽ nhằm đánh giá chính xác các công trình, tác phẩm của những cá nhân, tập thể xứng đáng nhất. Nhưng có lẽ vì quá khắt khe hoặc câu nệ vào tiêu chí này nọ, thậm chí kém trách nhiệm, thiếu công tâm mà đã phát sinh điều vô lý. Xin dẫn ra vài trường hợp:


Trong danh sách các nhà văn nhận giải thưởng Hồ Chí Minh lần này có nhà thơ Phạm Tiến Duật. Những tác phẩm nổi tiếng, xuất sắc nhất của ông hầu hết được viết ở Trường Sơn thời đánh Mỹ. Chẳng mấy ai yêu thơ ông lại không biết đến tập thơ Vầng trăng quầng lửa, đến những bài Gửi em, cô thanh niên xung phong; Trường Sơn Đông - Trường Sơn Tây; Lửa đèn; Bài thơ về tiểu đội xe không kính… Năm 2001, ông chỉ được nhận giải thưởng Nhà nước với chính những bài thơ xuất sắc ấy. Đành rằng sau đó ông vẫn tiếp tục sáng tác, có nhiều đóng góp mới nhưng rõ ràng việc đánh giá, trao giải thưởng Hồ Chí Minh lần này cho nhà thơ Phạm Tiến Duật với các tác phẩm Đường dài và những đốm lửa, Tiếng bom và tiếng chuông chùa, Vừa làm vừa nghĩ quả không hợp lý hợp tình, và nhất là không hợp tiêu chí nêu ra trong pháp lệnh của nhà nước. Nhiều người cho rằng nhà thơ Phạm Tiến Duật rất xứng đáng nhận giải thưởng Hồ Chí Minh ngay lần xét tặng đầu tiên khi có tên trong danh sách đề cử, còn giờ đây cũng không ít người khá bỡ ngỡ, gần như không biết những tác phẩm được đề xuất khen tặng lần này là của ông, mà lại nhận giải cao hơn lần trước thì thật lạ.



Trường hợp nhạc sĩ Phạm Tuyên cũng tương tự. Ông được trao giải thưởng Nhà nước năm 2001 với những ca khúc Đảng đã cho ta cả mùa xuân, Chiếc gậy Trường Sơn, Như có Bác trong ngày vui đại thắng, Bám biển quê hương và Gẩy đàn lên hỡi người bạn Mỹ. Chả hiểu sao lần xét ban đầu ấy những cấp có quyền quyết định lại để lọt những sáng tác từng đặt dấu ấn sâu đậm trong lòng bao thế hệ như Tiến lên đoàn viên, Đêm Cha Lo, Lá thư hậu phương, Từ làng Sen, Chiến đấu vì độc lập tự do, Suối Lênin... Kỳ này, mặc dù nhạc sĩ cũng như những lần trước không làm đơn xin - đề nghị gì nhưng các cấp hội đồng xét chọn đã nhìn ra những bài hát “đỉnh” ấy và đưa vào danh sách. Tuy nhiên, dư luận có quyền đặt câu hỏi “tại sao?” đối với kỳ xét trước, không chỉ với trường hợp Phạm Tuyên mà cả những cá nhân khác, liệu họ đã nhận được công bằng.

Trí thức, văn nghệ sĩ rất dị ứng với cơ chế xin-cho. Có lẽ cần xem xét lại việc bắt buộc nghệ sĩ, nhà văn, nhà thơ phải làm đơn xin xỏ này nọ. Họ cần danh nhưng hầu hết không cầu cạnh danh. Giải thưởng cao quý của nhà nước là để dành cho những người có công xứng đáng, vậy thì bộ máy nhà nước các cấp với sự quản lý chặt chẽ xưa nay lẽ nào không thể lên được danh sách những người xứng đáng nhất? Làm được điều đó sẽ trút đi gánh nặng cho văn nghệ sĩ, càng động viên, tạo điều kiện để họ sáng tác tốt hơn. 

Theo Thanh Niên


Tổng số lượt xem trang

free counters