Hồ Xuân Kiên
Khi nói đền các nhà nước Phương Đông cổ đại, điều mà người ta chỉ có thể nhắc đến đó là các triều đại, các vị hoàng đế, các ông vua chuyên chế. Chứ không hề xuất hiện bóng dáng một thể chế cộng hòa nào tồn tại ở Đông Phương như là Phương Tây cả. Điều gì làm nên những đặc trưng ấy. Theo nhiều nghiên cứu thì đó là hệ quả của phương thức sản xuất, yếu tố văn hóa và địa chính trị. Các triều đại Phương Đông đã tạo nên những ông vua, những vị hoàng đế với quyền năng bao trùm trời đất, “thế giới hậu mỹ, Faed Zakaria”. Điều gì đã khiến những ông vua như thế xuất hiện ở Phương Đông. Có một công thức chung cho sự cai trị ấy . Đó chính là sự kết hợp giữa vương quyền và thần quyền.
Để làm rõ được cái công thức chung cho sự cai trị, hay có thể gọi một cách khác là cho sự tồn tại và vận hành của nền chính trị cổ đại ở Phương Đông là sự kết hợp giữa vương quyền và thần quyền thì trước hết ta phải làm rõ thần quyền là gì ? và vương quyền là gì? Trong khuôn khổ của bài viết này thì ta có thể hiểu một cách sơ lược rằng: Vương quyền ở đây là nói đến quyền lực nhà nước, của giai cấp thống trị mà biểu hiện cao nhất là ông vua chuyên chế. Còn thần quyền ở đây là quyền lưc tôn giáo.
Ở Ai Cập nhà nước chiếm hữu nô lệ đã xuất hiện từ thiên niên kỷ thứ VI trước công nguyên.
Nguồn nô lệ chủ yếu lấy từ các cuộc chiến tranh bộ tộc. Chính vì thế nô lệ bị đối xử rất tàn bạo, để củng cố cho vị trí cai trị của mình các Faraon được thần thánh hóa là con trai của thần mặt trời. Vị thần tối cao của vũ trụ trong tín ngưỡng của người Ai Cập cổ đại. Và sự phân hóa chủ nô – nô lệ. là qui luật vĩnh hằng của vũ trụ.
Ở Babilon thì nhà nước cổ đại xuất hiện vào thiên niên kỷ thứ III trước công nguyên. Những tư tưởng chính trị cổ đại được phản ánh tập trung trong bộ luật “Hamurabi”. Và ngay trong phần mở đầu của bộ luật Vua Hammurabi tuyên bố rằng các vị thần đã trao đất nước cho nhà vua thống trị để làm cho đất nước giàu có, nhân dân no đủ. Và ở phần kết luận Hammurabi tuyên bố sẽ trừng trị tất cả những ai xem thường và định huỷ bỏ đạo luật. người ta cho rằng tác giả bộ luật đã ý thức sâu sắc kết hợp thần quyền và vương quyền. khiến bộ luật trở nên được “thiêng hoá” nhằm đạt được mục đích cai trị dân chúng. Như vậy theo luật hamurabi thì quyền lực của nhà vua là quyền lực thiên định.
Ở xã hội Ấn Độ cổ đại cũng có một kịch bản tương tự như hai nền văn minh trên, xã hội Ấn Độ đươc chia làm bốn đẳng cấp:
Đẳng cấp tăng lữ(Braman) là cao quí nhất.
Đẳng cấp cai trị(Ksatri) gồm vua và các quan lại.
Đẳng cấp thứ ba là Vaxia có nghĩa vụ lao động làm ra của cải trong xã hội.
Đẳng cấp thứ tư là Sudra là đẳng cấp nô lệ.
Trong tư tưởng chính trị Ấn Độ cổ đại thì hai đẳng cấp trên có quyền cưỡng bức hai đẳng cấp dưới . Và đó là điều tự nhiên , do thần thánh qui định.
Ở Trung Quốc thì quá trình hình thành nhà nước cổ đại diễn ra khá dài và phức tạp. Và phần lớn người ta thường bắt đầu tập trung nghiên cứu tư tưởng chính trị Trung Quốc từ thời Xuân Thu - Chiến Quốc. Trong học thuyết chính trị ở Trung Quốc cổ đại người ta thường nhắc đến hai trường phái tiêu biểu nhất đó là học thuyết nhân trị của Khổng Tử và Hoc thuyế Pháp trị của Hàn Phi. Đây là hai học thuyết được chế độ phong kiến tập quyền dùng để thiết lập nên bộ máy cai trị của mình mà người đời sau vẫn gọi là “ Dương nho âm pháp”. Tuy nhiên điều cốt lõi nhất chính là cách vận hành cái bộ máy ấy. người đứng đầu bộ máy ấy. Ông vua chuyên chế tự xưng là thiên tử. Và ông làm vua là tuân theo mệnh trời. Và tất nhiên cái bộ máy ấy, với cả hệ thống quan lại của nó cũng là thừa mệnh trời mà tồn tại.
Từ đây ta có thể tóm lại rằng điểm giống nhau của công thức quan hệ giữa vương quyền và thần quyền trong các học thuyết chính trị Ai Cập, Babilon, Ấn Độ, Trung Quốc chính là sự nhân danh thần quyền của vương quyền. các Faraon ở Ai Cập hay các thiên tử của Trung Quốc đều được xem là những đại diện của thần thánh, thậm chí hành vi cảu quan lại cũng được xem là hợp tự nhiên do sự sắp đặt của thần thánh.
Tuy nhiên ngoài điểm chung ấy, ở mỗi nền văn minh lại có những điểm khác, đặc thù của mỗi văn hóa.
Ta hãy xem ở Ấn Độ, mặc dù nhà vua có quyền lực tối thượng nhưng vẫn phải thường xuyên nghe lời khuyến cáo của tầng lớp giáo sĩ. Sở dĩ có điều đó bởi vì giữa vương quyền và thần quyền có sự phân chia tương đối rõ ràng và độc lâp, cho nên có sự chi phối lẫn nhau. Nhưng ở Ai Cập thì lại khác hẳn như vậy. Các Faraon chình là hiển thị của thần mặt trời , vị thần tối cao nhất nên trong lịch sử Ai Cập vua Amenkhotep IV đã đánh đổ thê lực tăng lữ muốn thao túng chính quyền trung ương để chấn hưng vương quyền. Và đề xướng một tôn giáo khác thờ thần mặt trời A-tôn thay cho vị thần cũ là A-Môn. Như vậy vương quyền ở Ai Cập cổ đại có thể chi phối chính cả thần quyền. Ở Trung Quốc cũng mang một màu sắc rất riêng. Các tôn giáo ở Trung Quốc không có vai trò rõ nét trong chính trị như ở Ấn Độ. Hoàng đế cũng chính là người đứng đầu các đàn tế. Và vì vậy thần quyền ở Trung Quốc có thể nói là được nhân danh một cách triệt để nhất.
Ở Babilon thì vai trò của các nhà tế tư và thần miếu có một vị trí quan trọng trong chính quyền. Việc vua Cyrus II của Ba Tư phải dựa vào tầng lớp tư tế mới thành lập được chính quyền ở Babilon đã nói lên điều ấy. Tuy nhiên ở Babilon dường như tồn tại một thỏa ước ngầm giữa chính quyền và tôn giáo. Nó dẫn đến ở đây không có một sự xung đột đáng kể nào giữa thần quyền và vương quyền. Hai quyền lực này khá ôn hòa với nhau ở Babilon.
Việc kết hợp giữa thần quyền và vương quyền là một công thức chung cho nền chính trị cổ đại ở Phương Đông, mặc dù ở mỗi nền văn hóa lại có những nét riêng biệt, đặc thù. Nhưng trong xã hội cổ đại, nơi mà trình độ cũng như khoa học của con người chưa cao. việc vương quyền kết hợp với thần quyền là một tất yếu . Nó cúng là một lí do tạo nên những ông vua chuyên chế nổi tiếng của Phương Đông.