Triết Lý, để làm gì ?

Khi ta bế tắc tư tưởng, chân thật công nhận rằng những kiến thức và phương pháp suy luận của ta không cho phép ta sống, tư duy và hành động khớp với khao khát làm người của ta, ngoài vô vàn cách ứng xử khác, ta có thể:

a) Tiếp tục sống, tư duy và hành động như cũ vì, dù sao, ta cũng sống được, không đến nỗi nào

b) Lột áo cũ, khoác áo mới, một tấm áo coi lành lặn đẹp đẽ hơn nhưng cũng hàm hồ không thua gì. Điều ấy luôn luôn khả thi bằng ngôn ngữ.

c) Đi tới cùng bế tắc của chính mình. Nếu không giải quyết được nó, ta ôm nó xuống suối vàng, để lại ở đời chỉ một câu hỏi. Câu hỏi của một con người. Đích thực. Có gì nhục đâu?

Nếu ta tưởng ta đã tìm ra một phần của giải pháp, ít nhất là cho riêng mình, thì cứ viết đi, chẳng cần trích cao nhân nào cả: họ đã là một phần của ta và ta đã phải “vượt” họ để nên mình.

Thế thôi.

(Chungta.com)

Góc nhỏ của Noby Vui Vẻ

Lục lọi, tìm tòi, đọc, cóp nhặt, chia sẻ, ... OK hay không tùy bạn ! ! !

“Nước độc lập mà dân chưa tự do thì độc lập cũng không có ý nghĩa”- Hồ Chí Minh.

19 thg 11, 2010

Điểm giống và khác nhau của công thức quan hệ giữa vương quyền và thần quyền trong các học thuyết chính trị Ai Cập, Babilon, Ấn Độ, Trung Quốc

Hồ Xuân Kiên

Khi nói đền các nhà nước Phương Đông cổ đại, điều mà người ta chỉ có thể nhắc đến đó là các triều đại, các vị hoàng đế, các ông vua chuyên chế. Chứ không hề xuất hiện bóng dáng một thể chế cộng hòa nào tồn tại ở Đông Phương như là Phương Tây cả. Điều gì làm nên những đặc trưng ấy. Theo nhiều nghiên cứu thì đó là hệ quả của phương thức sản xuất, yếu tố văn hóa và địa chính trị. Các triều đại Phương Đông đã tạo nên những ông vua, những vị hoàng đế với quyền năng bao trùm trời đất, “thế giới hậu mỹ, Faed Zakaria”. Điều gì đã khiến những ông vua như thế xuất hiện ở Phương Đông. Có một công thức chung cho sự cai trị ấy . Đó chính là sự kết hợp giữa vương quyền và thần quyền.

Để làm rõ được cái công thức chung cho sự cai trị, hay có thể gọi một cách khác là cho sự tồn tại và vận hành của nền chính trị cổ đại ở Phương Đông là sự kết hợp giữa vương quyền và thần quyền thì trước hết ta phải làm rõ thần quyền là gì ? và vương quyền là gì? Trong khuôn khổ của bài viết này thì ta có thể hiểu một cách sơ lược rằng: Vương quyền ở đây là nói đến quyền lực nhà nước, của giai cấp thống trị mà biểu hiện cao nhất là ông vua chuyên chế. Còn thần quyền ở đây là quyền lưc tôn giáo.

Ở Ai Cập nhà nước chiếm hữu nô lệ đã xuất hiện từ thiên niên kỷ thứ VI trước công nguyên.

Nguồn nô lệ chủ yếu lấy từ các cuộc chiến tranh bộ tộc. Chính vì thế nô lệ bị đối xử rất tàn bạo, để củng cố cho vị trí cai trị của mình các Faraon được thần thánh hóa là con trai của thần mặt trời. Vị thần tối cao của vũ trụ trong tín ngưỡng của người Ai Cập cổ đại. Và sự phân hóa chủ nô – nô lệ. là qui luật vĩnh hằng của vũ trụ.

Ở Babilon thì nhà nước cổ đại xuất hiện vào thiên niên kỷ thứ III trước công nguyên. Những tư tưởng chính trị cổ đại được phản ánh tập trung trong bộ luật “Hamurabi”. Và ngay trong phần mở đầu của bộ luật Vua Hammurabi tuyên bố rằng các vị thần đã trao đất nước cho nhà vua thống trị để làm cho đất nước giàu có, nhân dân no đủ. Và ở phần kết luận Hammurabi tuyên bố sẽ trừng trị tất cả những ai xem thường và định huỷ bỏ đạo luật. người ta cho rằng tác giả bộ luật đã ý thức sâu sắc kết hợp thần quyền và vương quyền. khiến bộ luật trở nên được “thiêng hoá” nhằm đạt được mục đích cai trị dân chúng. Như vậy theo luật hamurabi thì quyền lực của nhà vua là quyền lực thiên định.

Ở xã hội Ấn Độ cổ đại cũng có một kịch bản tương tự như hai nền văn minh trên, xã hội Ấn Độ đươc chia làm bốn đẳng cấp:

Đẳng cấp tăng lữ(Braman) là cao quí nhất.

Đẳng cấp cai trị(Ksatri) gồm vua và các quan lại.

Đẳng cấp thứ ba là Vaxia có nghĩa vụ lao động làm ra của cải trong xã hội.

Đẳng cấp thứ tư là Sudra là đẳng cấp nô lệ.

Trong tư tưởng chính trị Ấn Độ cổ đại thì hai đẳng cấp trên có quyền cưỡng bức hai đẳng cấp dưới . Và đó là điều tự nhiên , do thần thánh qui định.

Ở Trung Quốc thì quá trình hình thành nhà nước cổ đại diễn ra khá dài và phức tạp. Và phần lớn người ta thường bắt đầu tập trung nghiên cứu tư tưởng chính trị Trung Quốc từ thời Xuân Thu - Chiến Quốc. Trong học thuyết chính trị ở Trung Quốc cổ đại người ta thường nhắc đến hai trường phái tiêu biểu nhất đó là học thuyết nhân trị của Khổng Tử và Hoc thuyế Pháp trị của Hàn Phi. Đây là hai học thuyết được chế độ phong kiến tập quyền dùng để thiết lập nên bộ máy cai trị của mình mà người đời sau vẫn gọi là “ Dương nho âm pháp”. Tuy nhiên điều cốt lõi nhất chính là cách vận hành cái bộ máy ấy. người đứng đầu bộ máy ấy. Ông vua chuyên chế tự xưng là thiên tử. Và ông làm vua là tuân theo mệnh trời. Và tất nhiên cái bộ máy ấy, với cả hệ thống quan lại của nó cũng là thừa mệnh trời mà tồn tại.

Từ đây ta có thể tóm lại rằng điểm giống nhau của công thức quan hệ giữa vương quyền và thần quyền trong các học thuyết chính trị Ai Cập, Babilon, Ấn Độ, Trung Quốc chính là sự nhân danh thần quyền của vương quyền. các Faraon ở Ai Cập hay các thiên tử của Trung Quốc đều được xem là những đại diện của thần thánh, thậm chí hành vi cảu quan lại cũng được xem là hợp tự nhiên do sự sắp đặt của thần thánh.

Tuy nhiên ngoài điểm chung ấy, ở mỗi nền văn minh lại có những điểm khác, đặc thù của mỗi văn hóa.

Ta hãy xem ở Ấn Độ, mặc dù nhà vua có quyền lực tối thượng nhưng vẫn phải thường xuyên nghe lời khuyến cáo của tầng lớp giáo sĩ. Sở dĩ có điều đó bởi vì giữa vương quyền và thần quyền có sự phân chia tương đối rõ ràng và độc lâp, cho nên có sự chi phối lẫn nhau. Nhưng ở Ai Cập thì lại khác hẳn như vậy. Các Faraon chình là hiển thị của thần mặt trời , vị thần tối cao nhất nên trong lịch sử Ai Cập vua Amenkhotep IV đã đánh đổ thê lực tăng lữ muốn thao túng chính quyền trung ương để chấn hưng vương quyền. Và đề xướng một tôn giáo khác thờ thần mặt trời A-tôn thay cho vị thần cũ là A-Môn. Như vậy vương quyền ở Ai Cập cổ đại có thể chi phối chính cả thần quyền. Ở Trung Quốc cũng mang một màu sắc rất riêng. Các tôn giáo ở Trung Quốc không có vai trò rõ nét trong chính trị như ở Ấn Độ. Hoàng đế cũng chính là người đứng đầu các đàn tế. Và vì vậy thần quyền ở Trung Quốc có thể nói là được nhân danh một cách triệt để nhất.

Ở Babilon thì vai trò của các nhà tế tư và thần miếu có một vị trí quan trọng trong chính quyền. Việc vua Cyrus II của Ba Tư phải dựa vào tầng lớp tư tế mới thành lập được chính quyền ở Babilon đã nói lên điều ấy. Tuy nhiên ở Babilon dường như tồn tại một thỏa ước ngầm giữa chính quyền và tôn giáo. Nó dẫn đến ở đây không có một sự xung đột đáng kể nào giữa thần quyền và vương quyền. Hai quyền lực này khá ôn hòa với nhau ở Babilon.

Việc kết hợp giữa thần quyền và vương quyền là một công thức chung cho nền chính trị cổ đại ở Phương Đông, mặc dù ở mỗi nền văn hóa lại có những nét riêng biệt, đặc thù. Nhưng trong xã hội cổ đại, nơi mà trình độ cũng như khoa học của con người chưa cao. việc vương quyền kết hợp với thần quyền là một tất yếu . Nó cúng là một lí do tạo nên những ông vua chuyên chế nổi tiếng của Phương Đông.

quan niệm về chính thể hỗn hợp trong lịch sử tư tưởng chính trị Hy - La cổ đại

Quan niệm về chính thể hỗn hợp trong lịch sử tư tưởng chính trị Hy - La cổ đại

Hồ Xuân Kiên

Lịch sử các học thuyết chính trị Hy – La gắn liền với quá trình tiến hóa của xã hội và nhà nước Chiếm hữu nô lệ. Những tư tưởng chính trị ra đời trong hoàn cảnh những cuộc chiến tranh không ngừng diễn ra giữa các thành bang để tranh giành quyền lực, và những mâu thuẫn ngày càng gay gắt giữa chủ nô với phần còn lại của xã hội, mà đặc biệt là của nô lệ. Chính điều đó đã khiến cho trong giai đoạn này, ở Hy – La cổ đại đã xuất hiện rất nhiều những nhà tư tưởng chính trị vĩ đại. Nhưng phần lớn các tư tưởng này đều ủng hộ một nền dân chủ chủ nô, tức là coi xã hội chiếm hữu nô lệ là vĩnh cửu, nhưng điều đó không làm cho tầm quan trọng và giá trị của những tư tưởng này bị suy giảm mà còn có được chỗ đứng nhất định trong chính trị học hiện đại. Đặc biệt là những học thuyết có đề cập đến những hình thức nhà nước, các kiểu chính thể.

Trong các loại chính thể, ta có thể thấy cái chính thể hỗn hợp gần như là hoàn thiện nhất trong số các chính thể của xã hội chiếm hữu nô lệ. Và nó cũng là tiền đề của quan niệm tam quyền phân lập sau này. Vậy quan niệm về chính thể hỗn hợp bắt đầu xuất hiện từ khi nào và sự phát triển của loại hình chính thể này như thế nào, đó chính là nội dung chính của tiểu luận này.

Đầu tiên, chúng ta không thể không nhắc đến Herodot, người được xem là “người cha của chính trị học”, đã có công phân loại và so sánh các loại hình chính thể khác nhau là : Quân chủ, Quý tộc, Dân chủ. Ông phân loại chúng bằng hai tiêu chí : số lượng người cầm quyền và mục đích cầm quyền. Từ đó ông tiến hành phân loại và chỉ ra những ưu nhược điểm của mỗi loại hình chính thể. Đồng thời, ông cũng chỉ ra “ sự biến chất” của những người cầm quyền và khi đó hình thức nhà nước sẽ chuyển từ trạng thái đúng sang trạng thái sai. Trong học thuyết của mình, Herodot thiên về chính thể quân chủ hơn cả, bởi theo ông đây là hình thức mà dễ được tạo lập khi xã hội trở nên hỗn loạn. Song cái quan trọng nhất trong những đóng góp của Herodot là tu tưởng về chính thể hỗn hợp. Mặc dù có rất ít tư liệu về quan niệm này của ông nhưng một điều chắc chắn rằng đây là đóng góp quan trọng nhất của Herodot đối với chính trị học. Sau khi nêu ra ưu nhược điểm của các hình thức chính thể, ông đã đề xuất một loại chính thể mà ở đó có sự kết hợp những ưu điểm và khắc phục được những nhược điểm của cả ba loại chính thể đã nêu. Quan niệm về chính thể hỗn hợp của Herodot được Plato, Arixtot, Polibi, …, kế thừa và phát triển.

Thứ hai, chúng ta nhắc đến Plato – một trong những nhà triết học, nhà tư tưởng vĩ đại nhất của thời kỳ cổ đại. Tư tưởng chính trị của ông được trình bày trong nhiều tác phẩm ở những giai đoạn sang tạo khác nhau cảu ông, tuy nhiên đáng chú ý nhất là hai tác phẩm : “Nền cộng hòa” và “ Luật pháp”. Ở đó, quan niệm về chính thể hỗn hợp của Plato được thể hiện rõ trong tư tưởng về mô hình nhà nước lý tưởng. Ông chia xã hội ra làm ba tầng lớp: một là tầng lớp các nhà thông thái – có nhiệm vụ lãnh đạo chính quyền và điều hành xã hội ( tức nắm vai trò là người cai trị). Hai là tầng lớp chiến binh – những người có tâm hồn mạnh mẽ, họ là những người bảo vệ thành bang. Ba là tầng lớp lao động – họ có nghĩa vụ sản xuất cung ứng cho những nhu cầu thiết yếu trong xã hội. Và mục đích chính của mô hình nhà nước kiểu Plato là phục vụ lợi ích chung và vì hạnh phúc của mọi tầng lớp. Tuy vậy, ông cho rằng để vì cái lợi ích chung ấy được đảm bảo thì mọi người phải hoàn thành nghĩa vụ của mình và chỉ biết nhiệm vụ của mình, và hơn thế cái ranh giới giữa ba tầng lớp là cố định và vĩnh cửu, không bao giờ có được sự biến đổi dù là nhỏ nhất. Còn về hình thức chính thể mà Nhà nước phải lựa chọn thì theo Plato, đó phải là một “nhà nước đúng”, một nhà nước kết hợp trong nó những nhân tố của thể chế cơ bản – chuyên chế và dân chủ, tức là ông muốn “sự lựa chọn, nói chung đã được tiến hành , phải nằm giữa thể chế chuyên chế và dân chủ: thể chế nhà nước cần phải luôn giữ thế trung gian”. Và tất nhiên trong Nhà nước lý tưởng của Plato sẽ không có sự biến chất như trong các chính thể quân chủ, quý tộc hay dân chủ mà Herodot đã nêu trước đó. Trong suy tư của mình, Plato cũng đã đề cập đến một nhà nước hoàn thiện mà ở đó những người cầm quyền bị chế ước bởi pháp luật. Trong tác phẩm “ luật pháp” của mình ông viết: “ Ở đâu mà pháp luật là chủ nhân đứng trên những người cầm quyền, còn họ là nô lệ của pháp luật, thì tôi nhìn thấy sự giải thoát của nhà nước, đó chính là lợi ích mà Thượng đế có thể ban tặng cho nó”. Đồng thời, Plato cũng nói đến việc thành lập các Hội đồng để bảo vệ pháp luật ( hội đồng 37 người), một đại hội nhân dân cho mọi người dân tham gia và là nghĩa vụ bắt buộc đối với họ ( hội đồng 360 người), và cuối cùng là một hội đồng mà về bản chất nó gần như đứng trên nhà nước ( hội đồng 10 nhà thông thái và người già nhất). Mặc dù tư tưởng chính trị của Plato còn một số hạn chế như muốn khôi phục vị trí của tầng lớp chủ nô, song những tư tưởng của ông về vai trò của luật pháp thì dường như có sự manh nha của tư tưởng pháp quyền sau này. Tức là sự đề cao pháp luật trong tư tưởng của ông, dẫu cho nó còn “ sơ khai”. Một điều quan trọng nữa trong học thuyết của Plato đó là “thể chế xã hội công bằng” (trong sự phù hợp với nguyên tắc phân công lao động).

Tiếp theo, đó là quan niệm của Arixtot – “ nhà tư tưởng vĩ đại của htowif kỳ cổ đại” về chính thể hỗn hợp. Cũng như Herodot, Arixtot cũng phân loại các chính thể bằng hai tiêu chí: số lượng người cầm quyền và mục đích của sự cầm quyền. Ở đó cũng có kiểu nhà nước đúng và nhà nước sai. Ông cũng phân chia làm ba loại chính thể : Quân chủ, Quý tộc, và Dân chủ. Sau khi đi vào phân tích chúng ông cho rằng nếu cứ lựa chọn những hình thức chính thể trên thì sẽ không thoát ra khỏi được cái vòng luẩn quẩn : dân chủ - mị dân – độc tài. Do đó, trong học thuyết của mình, Arixtot đã đưa ra quan niệm về một thứ chính thể hỗn hợp mà ông gọi là thể chế cộng hòa. Đây là hình thức hỗn hợp giữa chính thể quý tộc và chính thể dân chủ. Trong quan niệm về chính thể Cộng hòa, Arixtot đã có những điểm kế thừa và có những điểm bất đồng. Như trong nhà nước cộng hòa của mình, Arixtot đã mở rộng cơ cấu quyền lực hơn Plato. Tức là ngoài tầng lớp các nhà thông thái, còn có tầng lớp giữa, đó là tầng lớp khá đông những công dân sung túc về của cải. Họ - theo Arixtot- là những người không quá nghèo mà cũng không quá giàu, cho nên sẽ không bị những cám dỗ của cải và không bị đè nén bởi sự nghèo khó. Bởi vậy mà ông dành nhiều sự ưu ái cho tầng lớp giữa. Và nhà nước cộng hòa này hoạt động dựa trên cơ sở pháp luật, những người tham gia bộ máy nhà nước sẽ được lựa chọn theo nguyên tắc kết hợp giữa tuyển cử và bốc thăm. Nói chung thì học thuyết chính trị của Arixtot cũng không thể tránh được những hạn chế nhất định (nhất là về những quyền lợi của giai cấp quý tộc chủ nô). Song không thể vì thế mà phủ nhận những giá trị mà học thuyết chính trị của Arixtot mang lại, như về việc tạo dựng cuộc sống cho con người. Mà hơn hết là quan niệm về chính thể cộng hòa đã mở ra con đường của truyền thống chính trị học phương Tây. Học thuyết chính trị của Arixtot đã đặt một dấu mốc trong sự phát triển của các học thuyết chính trị của nhân loại.

Quan điểm cuối cùng trong bài này là quan niệm của Polibi về chính thể hỗn hợp. Nội dung chủ yếu trong học thuyết chính trị của Polibi là qua các nghiên cứu, tổng kết của ông về các hình thức nhà nước thông qua những nghiên cứu về lịch sử Hy lạp và La mã cổ đại. Qua đó ta thấy sự phát triển tư tưởng của Polibi có sự kế thừa rất nhiều từ Arixtot và các nhà tư tưởng chính trị khác. Sau khi phân loại các hình thức chính thể bằng hai tiêu chí đã trở thành truyền thống tư duy chính trị Hy – La. Polibi cũng chia làm ba hình thức nhà nước cơ bản là : Quân chủ, Quý tộc, Dân chủ. Ngoài ra ông cũng đề cập đến những biến thể của chúng như: chuyên chế, tập đoàn quân phiệt và vô chính phủ. Tuy vậy, bao trùm lên toàn bộ học thuyết chính trị của Polibi là quan niệm về chính thể hỗn hợp. Tư tưởng này được ông đưa ra trong những khảo cứu về nhà nước La mã – một quốc gia hùng mạnh, từng làm bá chủ thế giới. Polibi nhận thấy rằng trong thể chế chính trị La mã cổ đại không phải là một trong số những hình thức chính thể đã được nêu ở trên mà ở đó có được sự kết hợp khéo léo giữa các mô hình quyền lực nhà nước cảu các chính thể Quân chủ, Quý tộc và Dân chủ. Ở đó có sự phân chia quyền lực để kiềm chế lẫn nhau, và không ai là có quyền tự quyết định được. Tất cả hoạt động theo cấu trúc: cơ quan chấp chính tối cao – quân chủ; Viện nguyên lão – quý tộc; Hội đồng và các cơ quan bảo dân – dân chủ - Hiến pháp La mã. Từ đó, chúng ta có thể thấy được những ưu điểm của chính thể hỗn hợp là sự phân phối quyền lực, mà trong thực tiễn đã được chứng minh bằng sự hung mạnh của đế chế La mã cổ đại. Và hơn nữa nó có thể khắc chế được những nhược điểm mà các chính thể thông thường hay gặp phải. Còn đối với lịch sử các học thuyết chính trị thế giới thì mô hình thể chế chính trị hỗn hợp của Polibi là một trong những tiền đề quan trọng của quan niệm tam quyền phân lập sau này.

Thay lời kết, qua quan niệm của bốn nhà tư tưởng chính trị lớn nêu trên, chúng ta thấy được sự phát triển của quan niệm chính thể hỗn hợp càng về sau càng được hoàn thiện hơn. Và những tư tưởng đó được lấy làm cơ sở cho nền móng của ngành chính trị học hiện đại sau này. Quan trọng nhất là nó có những đóng góp giá trị vào thực tiễn chính trị trong thời hiện đại. Chứ không chỉ đơn thuần là lý thuyết chính trị. /. .

Vấn đề phương Đông và phương Tây

Phạm Quỳnh
Tiểu luận viết bằng tiếng Pháp trong thời gian 1922-1932


Có chăng một vấn đề Phương Đông và Phương Tây? Đặt ra vấn đề về các quan hệ giữa hai phần đó của thế giới do sự đối lập hay sự đối kháng của chúng là đúng hay sai? Giữa chúng có những khác biệt đặc trưng cho phép một sự đối lập như vậy không?

Giữa lời nói dí dỏm của Kipling bảo rằng Phương Đông và Phương Tây không bao giờ thâm nhập được vào nhau, và luận thuyết của người đối thoại đáng kính của tôi là ngài Paul Viviane trong Bức thư ngỏ của ông, cho thấy vấn đề thậm chí không chỉ đặt ra dưới hình thức gọi là địa lý, tôi cho rằng có một phần lớn chân lý trong dư luận chung đối lập hai lục địa cả về bản chất và cốt lõi của các nền văn minh và đạo đức của chúng.

Ông bạn Paul Viviane của tôi bảo rằng: "Theo tôi thật là hoài công đi đối lập lục địa này với lục địa khác và coi chúng là đặc biệt khác nhau, là vĩnh viễn mang sâu dấu ấn của những đặc trưng riêng biệt về mặt xã hội. Không có những lục địa khác nhau. Trong mỗi lục địa có những dân tộc đạt đến những giai đoạn tiến hoá khác nhau...

"Vậy nên không nên nghiên cứu vấn đề chúng ta đang xem xét trong không gian, trên bề mặt, về mặt địa lý, mà phải là trong thời gian, theo chiều sâu, về mặt lịch sử. Nếu bạn muốn và để dùng một cách diễn đạt thời thượng, hãy nói là cần nghiên cứu vấn đề theo bình diện đứng chứ không phải bình diện ngang".

Nói chung bao giờ nghiên cứu các vấn đề theo bình diện đứng chứ không phải theo bình diện ngang, trong chiều sâu chứ không phải trên bề mặt cũng là một phương pháp tốt. Và đặc biệt trong vấn đề chúng ta đang quan tâm, phương pháp này là bắt buộc, bởi cần phải đẩy sự phân tích khá xa để có thể khám phá ra những khác biệt căn bản và không dừng lại ở một sự phân tích hời hợt chỉ nắm lấy các hiện tượng của sự vật.

Nhưng ở đây không phải là chuyện phương pháp: mà là ngay ở chính vấn đề. Cần biết vấn đề ấy có đặt ra hay không. Mà, tôi tưởng trong trường hợp này, hỏi như vậy là khá vô ích. Quả thật có một vấn đề Phương Đông và Phương Tây; nó được đặt ra hằng ngày, và có thể nói chúng ta sống với vấn đề đó trong mọi lúc, theo cách một tấn kịch có muôn vàn tình tiết vừa lôi cuốn vừa thống thiết. Chỉ cần nhìn quanh chúng ta và ngay trong chính chúng ta để nhận ra thực tế của vấn đề đó và tính chất nóng bỏng của nó.

Quả là không nên xem xét vấn đề đó dưới một góc độ thuần tuý địa lý, và về việc này ngài Paul Viviane đã có lý khi nhận xét rằng, chẳng hạn Nhật Bản, là nước nằm ở Phương Đông, về một số mặt nào đó lại là Phương Tây, và các dân tộc Balkan, vốn ở Phương Tây, về một số mặt khác, lại là Phương Đông. Mặt khác, nếu dưới thuật ngữ Phương Tây, chúng ta hiểu đó là một kiểu văn minh nào đó, với những khác biệt thường khi rất lớn giữa các dân tộc, vẫn có những tính chất tổng quát chung cho hầu hết các nước Châu Âu và Châu Mỹ, thì thuật ngữ Phương Đông bao gộp những nền văn minh chẳng hề giống nhau giữa tất cả các dân tộc Châu Á, chứng cớ là Ấn Độ và Trung Hoa, dù gặp nhau trên đất Đông Dương chúng ta, trong quá khứ đã là hai thế giới khác biệt và gần như không thể hòa hợp được cùng nhau.
Nhưng cả vấn đề này, không nên giản đơn hoá nó lại thành sự đối lập giữa hai giai đoạn tiến hoá hay hai hình thức tổ chức xã hội in dấu ấn chế độ phụ quyền và chủ nghĩa cá nhân. Tôi đã chỉ ra rằng vấn đề này vượt quá, và là vượt qua rất xa, khung khổ hai công thức ấy vốn không hề loại trừ lẫn nhau.

Trong thực tế, vấn đề có tính chất chung hơn và rộng lớn hơn rất nhiều. Nó liên quan ngay đến bản chất của nền văn minh nhân loại biểu hiện dưới hai hình thức tĩnh và động, được đại diện hởi hai cực âm và dương của nó là Phương Đông và Phương Tây. Nếu tôi lý luận như một nhà triết học Trung Hoa, tôi sẽ nói rằng Phương Đông là nguyên lý âm và Phương Tây là nguyên lý dương, rằng một bên là biểu hiện của sức mạnh và hoạt động, bên kia là biểu hiện của tính vĩnh cửu và tĩnh tại, rằng cho đến nay chúng không gặp nhau, mỗi bên phát triển trong cực riêng của mình, nhưng sự gặp nhau của chúng một ngày nào đó sẽ đưa nhân loại đến một hình thức văn minh đẹp đẽ hơn, hài hoà hơn, tóm lại là nhân bản hơn và hoàn thiện hơn.

Trình bày vấn đề này ra như vậy có vẻ như tôi đã đơn giản nó đến cực điểm; nhưng tôi lại cũng khiến cho nó hiển lộ ra một cách sáng rõ nhất và minh bạch nhất bằng cách rút gọn nó lại dưới hình thức đối ngẫu của hai nguyên lý, tuy đối lập nhau, nhưng không vì thế mà không cần thiết cho nhau, cũng như luận đề và phản đề phải kết lại với nhau và hợp nhất với nhau để thành một hợp đề.

Quả là Phương Tây cổ đại cũng đã từng biết đến minh triết, và minh triết đã nhiều lần vượt lên trên khoa học. Nhưng khí chất của Phương Tây chủ yếu là động, không chịu dừng lại ở một thứ minh triết tĩnh tại chối bỏ sự biến đổi và cái mới; bao giờ nó cũng phải đi tới phía trước, khám phá, phát minh, luôn luôn làm ra cái mới, cái chưa từng có, và bất cứ nơi nào nó hoạt động, nó bắt tay vào thì diện mạo của thế giới ở đó ắt phải thay đổi, phải đảo lộn. Cuối cùng ở Phương Tây khoa học đã chiến thắng, và chính nó là đặc điểm, là sự phát minh, là vật sở hữu, là định nghĩa, là nguyên lý, là mục đích hoạt động, là ý nghĩa của số phận Phương Tây. Nền khoa học tóm lược trí tuệ và tâm hồn của Phương Tây ấy, ta biết nó đã làm nên những gì. Nó đã sản sinh ra những kỳ tích. Nó đã tạo nên ở Phương Tây những tiến bộ to lớn trong tất cả các lĩnh vực. Như cách nói của Tagore, nó đã cung cấp vũ khí và bộ áo giáp cho Phương Tây để thực hiện ý chí về sức mạnh của mình, và ý chí này cũng to lớn như công cụ mà họ nắm được. Nhưng nền khoa học nguyên thuở ban đầu chỉ là một hình thức trí tuệ, nếu có thể nói như vậy, của minh triết, cuối cùng đã phình ra vô độ và nuốt luôn mất cái phần minh triết vốn có trong nó; chế ngự các sự vật, nó đã bị các sự vật chế ngự và tự phóng đại mình lên nó đã tự "cơ giới hoá" mình đi để chỉ còn là một thứ kỹ thuật mênh mông, kỹ thuật tuyệt diệu, với những phương pháp ngày mỗi tinh nhuệ, nhưng nếu chúng có thể cai quản các sự vật thì lại tỏ ra không thích ứng để điều khiển được tinh thần. Tinh thần, bị buông thả, không được chỉ dẫn và không có nguyên lý gì nữa, lao mình vào tất cả những cái mới mà một nền khoa học vô độ mang đến cho nó, và cuối cùng rối tung lên vì cái chế độ biến đổi liên tục đó.

Về phần mình, minh triết Phương Đông, nhờ có nó mà vô số những thực thể nhân loại, trải qua nhiều thế kỷ, đã có thể giữ được sự gắn kết và thống nhất, bị giam hãm trong tháp ngà của các nguyên lý bất biến, xa rời thực tế của các sự vật không phát triển được, có thể nói đã "hoá thạch", và trở thành một nguyên lý về sự ngưng đọng khiến cho các xã hội mà nó thống trị không thể tự đổi mới được nữa và sống trong một sự tầm thường thường trực; sự ngưng đọng của các xã hội đó thường giống như là ngủ mê hay chết.

Như vậy, động hay tĩnh tuyệt đối đều không có lợi cho sự bừng nở của một nền văn minh thực sự nhân bản và toàn vẹn. Từ sự hợp nhất hài hoà của khoa học Châu Âu với minh triết Châu Á sẽ nảy sinh một nền văn hóa mới, nền văn hóa toàn nhân loại chân chính. Còn lâu lắm mới thực hiện được sự hợp nhất đó, và trong lúc này vấn đề Phương Đông - Phương Tây chủ yếu là vấn đề cuộc đấu tranh giữa hai nguyên lý trên, khi diễn ra sự thâm nhập dữ dội của khoa học Phương Tây vào các xã hội chịu sự chi phối của minh triết cổ Châu Á.

Những gì vừa nói về văn hóa Phương Tây và Viễn Đông, thì chúng ta cũng có thể nói như thế về các nền nghệ thuật của chúng. Nói cho đúng, không có một nền nghệ thuật Châu Âu cũng không có một nền nghệ thuật Châu Á. Mỗi dân tộc Châu Âu và Châu Á đều có một nền nghệ thuật, và nghệ thuật của một đất nước biểu hiện khí chất riêng của dân tộc sống ở đấy. Trong chuyện này nói đến các lục địa là sai lầm, mà chủ yếu phải nói đến các dân tộc. Tuy nhiên, nếu bao gộp chung nghệ thuật của các dân tộc Phương Tây và nghệ thuật của các dân tộc Viễn Đông, ta sẽ thấy chúng cũng gắn liền với hai nguyên lý động và tĩnh mà ta luôn gặp lại như là một đối ngẫu vĩnh hằng nằm ở nền tảng của tất cả những biểu hiện của Phương Tây và Phương Đông.

Nghệ thuật Phương Tây là sáng tạo và chân lý; nghệ thuật Phương Đông là ước lệ và tượng trưng. Cái trước là sự khẳng định kiêu căng sức mạnh sáng tạo của con người luôn chăm chăm tạo nên những hình thức mới và chưa từng có, và tuy vậy không tách xa khỏi cuộc sống và chân lý. Cái sau là sự phục tùng nhún nhường của lao động con người hoặc là trước thiên nhiên quanh mình, - ví dụ: ngôi chùa nhỏ bên cạnh một cây đa mênh mông, - hoặc đối với một hệ thống các ước lệ muốn diễn đạt dưới một hình thức tượng trưng và gần như bí truyền những quy luật lởn của vũ trụ, chẳng hạn như các kiểu cách điệu hoá những đồ gỗ trong nhà và các đồ vật nghi lễ, các lối trưng bày con rồng vật tổ hay con phượng hoàng báo điềm lành, v.v... Tính chất của một bên là tĩnh tại, không ưa sự vận động làm xê dịch các đường nét, cũng như sự phát minh gây rối các phương cách và các thói quen; ở đây tài năng nằm ở sức mạnh của cách điệu hoá, và do vậy ở trừu tượng hoá, hay gợi cảm trừu tượng. Tính chất của bên kia là động: nó là phát minh, sáng tạo thường trực, thuần tuý phóng túng mà về căn bản vẫn không ngừng là hiện thực, bởi tinh thần Phương Tây, vốn quen điều khiển hiện thực, luôn gắn chặt với nó. Một sự cách điệu hoá quá mức có nguy cơ, khiến cho nghệ thuật bị đông cứng trong những công thức khô cằn và biến người nghệ sĩ thành người thợ khéo tay trong việc thực hiện đôi ba hình thức bị nhốt chặt trong một chuẩn mực cố định. Mặt khác, mọi nghệ thuật đều giả định một thứ chủ nghĩa tượng trưng nhất định, một sự kết tinh của một số hình thức nào đó đã trở thành những hình mẫu của cái đẹp làm cơ sở để đánh giá tất cả những cái khác; một sự phát minh liên tục, vô độ, hỗn loạn, ngăn cản sự kết tinh cần thiết đó và tước mất của nghệ thuật mọi ý nghĩa tượng trưng.

Như vậy trong lĩnh vực nghệ thuật, cũng như tất cả các lĩnh vực khác, có những khác biệt cốt yếu chia cách các quan niệm của Phương Tây và Phương Đông. Một sự tổng hợp của hai công thức ấy quả đáng hy vọng. Nó có thể diễn ra không? Đấy là bí mật của tương lai.

Dẫu sao, dù là nói về nghệ thuật hay về một biểu hiện khác của tu duy và hoạt động của con người, thì lúc này đều đặt ra vấn đề Phương Đông - Phương Tây và sẽ không là quá đáng khi bảo rằng nó nổi trội lên trên tất cả các vấn đề khác. Việc nghiên cứu nó lôi cuốn sự quan tâm nồng nhiệt của tất cả những ai chú ý đến các mối quan hệ tinh thần đang nối liền hai thế giới.

Nguồn: Tiểu luận viết bằng tiếng Pháp trong thời gian 1922-1932

theo chung ta . com


Tổng số lượt xem trang

free counters