Về Bertrand Russell:
Bertrand Arthur
William Russell, Bá tước Russell III, OM, FRS (18 tháng 5 năm 1872 – 2 tháng 2 năm 1970), là một triết gia, nhà lôgic học, nhà toán học người Anh của thế kỷ 20.
Là một tác giả có nhiều tác
phẩm, ông còn là người mang triết học đến
với đại chúng và là một nhà bình luận đối với nhiều chủ đề đa dạng, từ các vấn
đề rất nghiêm túc cho đến những điều trần tục. Nối tiếp truyền thống gia đình
trong lĩnh vực chính trị,
ông là một người theo chủ nghĩa tự do với vị thế nổi bật, ông
còn là một người dân chủ xã hội (socialist) và người hoạt động chống chiến tranh trong
phần lớn cuộc đời dài của mình. Hàng triệu người coi ông như là một nhà tiên
tri của cuộc sống sáng tạo và duy lý; đồng thời, quan điểm của ông về
nhiều chủ đề đã gây nên rất nhiều tranh cãi.
Russell sinh ra
vào thời đỉnh cao của nền kinh tế và uy thế chính trị của nước Anh. Sau đó gần
một thế kỷ, ông qua đời vì bệnh cúm, khi Đế quốc Anh đã biến mất, sức mạnh của nó
đã bị hao mòn bởi hai cuộc chiến tranh thế giới. Là
một trong những trí thức nổi
tiếng nhất của thế giới, tiếng nói của Russel mang một quyền lực đạo đức, thậm chí cả khi ông đã vào tuổi 90. Trong các hoạt
động chính trị của ông, Russell là một người kêu gọi đầy nhiệt huyết cho việc giải trừ vũ khí hạt nhân và
một người phê phán mạnh mẽ chế độ toàn trị tại Liên bang Xô viết và sự can thiệp của quân
đội Hoa Kỳ trong Chiến tranh Việt Nam.
Năm 1950, Russel được tặng Giải Nobel Văn học, "để ghi nhận các tác
phẩm đầy ý nghĩa mà trong đó ông đã đề cao các tư tưởng nhân đạo và tự do về tư tưởng".
Dưới đây là tác phẩm Quyền Lực của ông.
Bertrand Russell
QUYỀN LỰC
Nguyễn Vương Chấn & Đàm Xuân
Cận dịch
Nxb. Hiện đại, 1972
--- o0o ---
Chương I
SỰ THÔI THÚC CỦA QUYỀN LỰC
Giữa con người
và thú vật có nhiều dị biệt hoặc về phương diện
trí năng hoặc về phương diện cảm xúc. Khác với thú vật, con
người có một số ham muốn tự bản chất đã vô hạn nên
không thể được thỏa mãn hoàn toàn. Khi no mồi con trăn ngủ yên cho tới lúc
cơn thèm đói mới thức giấc; nếu những con thú khác không ngủ sau bữa ăn
chính là vì chúng chưa đủ no hay chúng sợ kẻ thù. Các
hoạt động của loài vật bắt nguồn từ những nhu cầu về tồn sinh
và truyền sinh, và không những đòi hỏi của những nhu cầu này –
ngoại trừ một vài biệt lệ hiếm hoi.
Với loài người
vấn đề khác hẳn. Thật tình mà nói, đa số nhân loại phải làm việc vất
vả để kiếm miếng ăn đến nỗi chỉ còn ít năng lực dành cho
những mục đích khác: nhưng những kẻ có đời sống bảo đảm cũng vẫn
không ngừng hoạt động. Xerxes
[1]không thiếu thực phẩm hoặc cung tần mỹ nữ vào lúc ông ta lên
đường viễn chinh Athenes. Từ khi được bổ nhiệm chức giảng sư Trinity,
Newton[2]chắc chắn được hưởng đầy đủ tiện nghi vật chất, nhưng sau này
ông mới viết cuốn Principia nổi tiếng. Thánh Francis
[3]và Ignatius Loyola
[4]không cần lập dòng tu để thoát khỏi cảnh túng bấn. Những vị vừa
kể là những nhân vật phi thường, nhưng ta thấy mọi người đều có đặc tính hiếu
động ở những cấp độ khác nhau, ngoại trừ một thiểu số u mê, đần độn rất nhỏ.
Nếu chẳng phải làm việc, bà A sẽ cố sao ăn mặc lịch sự hơn bà B mới được. Có lẽ
bà A muốn chồng bà có ngày được vào quốc hội. Mỗi người chúng ta đều có quyền
mơ tới những vinh quang chiến thắng bất tận, và nếu như ta có thể thực hiện
được bất kỳ giấc mơ nào, hẳn ta sẽ không ngại nhọc mệt mà cố gắng làm việc.
Tưởng tượng
chính là kích thích tố thúc đẩy con người vào những hoạt động
không ngừng sau khi những nhu cầu căn bản đã được thỏa mãn. Phần lớn chúng
ta rất hiếm khi có được những phút giây thực sự hạnh phúc:
Nếu ta phải chết lúc này
Ta vui vẻ sẵn sàng
Ôi ta sợ
Hồn ta chẳng còn khi nào hoan lạc
như bây giờ.
Và thật
tự nhiên nếu trong những giây phút được hưởng hạnh phúc toàn vẹn ta
ước mơ nỗi chết giống như Othello, vì ta biết sự thỏa mãn
không thế kéo dài. Chỉ có Thượng Đế mới có hạnh phúc tuyệt
đối với chính ngài “là Thiên quốc, là quyền năng, là vinh quang”. Các vương
quốc trần gian bị giới hạn những vương quốc khác; quyền lực trần gian bị chấm
dứt bởi sự chết; danh vọng trần thế phai tàn với thời gian cho dù ta có xây kim
tự tháp hay được lời thơ bất diệt xưng tụng. Những ai chỉ có một ít quyền lực
và danh vọng thường hay nghĩ là được thêm chút nữa họ sẽ thỏa mãn, nhưng họ đã
lầm: những ước muốn này vô hạn và chỉ trong vô cùng của Thượng Đế họ mới được
nơi an nghỉ.
Trong khi
thú vật thỏa mãn tồn sinh và truyền sinh. Con người muốn được bành trướng,
và những ước muốn về phương diện này bị giới hạn bởi những gì mà tưởng tượng đã
gợi ra. Mỗi người đều muốn làm Thượng Đế nếu như điều này
có thể xảy ra được; một số người không chịu chấp nhận
lý do họ không thể trở thành Thượng Đế. Hẳn đây
là những kẻ tạo dựng theo khuôn mẫu Santan trong tác phẩm của
Milton
[5]nên không thừa nhận giới hạn cho quyền lực con người. Nơi đó họ
có cả những yếu tố cao cả lẫn lòng bất kính. Sự kết hợp này dễ nhận thấy nơi
các nhà chinh phục lừng danh, nhưng còn hiện diện cách mờ nhạt nơi tất cả mọi
người. Chính điều này làm cho sự hợp tác xã hội trở nên khó khăn vì mỗi người
chúng ta thường thích quan niệm nó theo mẫu mực của sự hợp tác giữa Thượng Đế
và các kẻ tôn kính Ngài, và chúng ta ở vào vị thế của Thượng Đế. Từ đó nảy sinh
cạnh tranh, sự cần thiết của thỏa hiệp và chính quyền, khuynh hướng nổi loạn,
sự bất ổn định và bạo động. Và chúng ta thấy có đạo đức để kìm hãm những hành
động vô chính phủ.
Lòng đam
mê quyền lực và danh vọng là những ước muốn vô hạn chính
của con người. Hai đam mê này không hoàn toàn giống nhau dù chúng liên kết chặt
chẽ với nhau. Thủ tướng có nhiều quyền lực hơn danh vọng, nhưng Vua Anh có
nhiều danh vọng hơn quyền lực. Thường thường cách dễ nhất để có danh vọng là
đoạt được quyền lực, nhất là đối với những người hoạt động trong đời sống công
cộng. Do đó tác động của lòng ham muốn danh vọng gần giống như ở lòng ham muốn
quyền lực. Ta có thể coi hai động lực là một trong thực tế.
Những kinh
tế gia chính thống (Marx đồng ý với họ về điểm này)
thật đã lầm lẫn khi cho rằng quyền lợi kinh tế có thể coi
là động lực căn bản trong những khoa học xã hội. Những ước muốn vật
chất khi tách khỏi quyền lực và danh vọng thì hữu hạn và có thể thỏa mãn hoàn
toàn với một khả năng vừa phải. Lòng yêu thích tiện nghi vật chất không tạo nên
những tham vọng thật sự (tốn kém). Người ta muốn có chẳng hạn một quốc hội gia
nô hay một phòng trưng bày những danh tác của những bậc thầy hội họa là để thỏa
mãn quyền lực hay danh vọng, chứ không phải vì muốn kiếm chỗ nghỉ ngơi thoải
mái. Khi đã có một đời sống tiện nghi vừa phải, cả cá nhân lẫn cộng đồng sẽ
theo đuổi quyền lực hơn là muốn làm giàu: dĩ nhiên người ta có thể kiếm giàu có
vì giàu có là phương tiện đưa tới quyền lực, hay làm giàu thêm để có thêm quyền
lực. Nhưng ta cần nhìn rõ là trong cả hai trường hợp động lực nền tảng không
phải là động lực kinh tế.
Chúng ta nêu
ra sai lầm căn bản này trong kinh tế chính thống và Mácxít không phải
là nói chuyện lý thuyết cho vui, nó đã khiến chúng ta hiểu sai
một số biến cố chính yếu trong thời gian gần đây. Chỉ khi
nào nhận ra rằng lòng yêu quyền lực là căn do của những hoạt động
xã hội quan trọng ta mới có thể giải thích lịch sử xưa nay
một cách đứng đắn.
Tôi
sẽ cố gắng chứng tỏ quyền lực là ý niệm căn bản trong
khoa học xã hội, cũng như ý niệm năng lực trong khoa vật lý.
Giống như năng lực, quyền lực có nhiều hình thức, chẳng hạn như tài
sản, vũ khí, thẩm quyền dân sự, ảnh hưởng trên dư luận. Không
một hình thức nào có thể bị coi là phụ thuộc vào hình
thức khác, mà cũng không hình thức nào gây ra hình thức còn lại. Toan tính
xét một hình thức quyền lực (chẳng hạn như tài sản) một cách riêng
rẽ chỉ có thể thành công một phần, đúng như việc nghiên cứu
một dạng của năng lực sẽ khiếm khuyết ở một số điểm, trừ khi ta xét nó trong
tương quan với các dạng quyền lực khác. Tài sản có thể là kết quả của quyền lực
dân sự hay do ảnh hưởng trên dư luận mà nói quyền lực quân sự hay ảnh hưởng
trên dư luận do tài sản mà có cũng không sai. Ta chỉ có thể trình bài các luật
của động lực học xã hội (social dynamics) theo tác dụng của quyền lực. Thời
xưa, quyền lực quân sự đứng biệt lập nên thắng bại có vẻ như do tài năng của
viên tướng. Bây giờ người ta thường coi quyền lực kinh tế là nguồn gốc của mọi
loại quyền lực khác. Đây cũng là một lầm lẫn không kém lầm lẫn của các sử gia
quân sự thuần túy. Lại còn có những người coi tuyên truyền là hình thức quyền
lực căn bản. Ý kiến này thật ra không mới mẻ gì. Nó được thể hiện trong những
thành ngữ cổ như “magna est veritas et prevalebit”(sự thực vĩ đại sẽ thắng) và
“máu của các thánh tử đạo là hạt giống của giáo hội”. Quan điểm tuyên truyền
cũng có phần sai, phần đúng như quan điểm quân sự hay quan điểm kinh tế. Nếu
tuyên truyền gây nên được một dư luận đồng tình, nó tạo ra một truyền lực bất
khả kháng; những người có quyền lực quân sự hay kinh tế có thể dùng nó vào mục
đích tuyên truyền. Trở lại luận cứ vật lý học, ta thấy quyền lực giống như năng
lực, có thể liên tục chuyển từ hình thức này sang hình thức khác, và khoa học
xã hội có nhiệm vụ tìm kiếm những luật chi phối những chuyển dạng này. Toan
tính cô lập bất kì hình thức quyền lực nào (hiện nay là quyền lực kinh tế) là
một sai lầm nghiêm trọng.
Những
xã hội hành xử quyền lực theo nhiều cách khác nhau. Trước hết
là mức độ quyền lực trong tay cá nhân hay tổ chức, rõ ràng
bây giờ Nhà Nước có nhiều quyền hành hơn thời trước vì guồng
máy tinh vi hơn. Mỗi xã hội lại có một tổ chức riêng:
chế độ độc tài quân sự, thần quyền, tộc quyền rất khác nhau. Chúng
cũng khác biệt về những phương thế thủ đắc quyền lực: việc vua chúa
cha truyền con nối đưa ra một loại người ưu tú, không giống như loại
người của dân chủ, hay chiến tranh chẳng hạn.
Nơi không
có định chế xã hội nào (thí dụ chế độ
quý tộc hay chế độ tập ấm) giới hạn số người nắm quyền
thì nói đại khái ai ham quyền nhất chắc sẽ có quyền. Ta suy
ra những kẻ làm lớn trong một xã hội cởi mở thường là những kẻ ham quyền khác
hẳn người thường. Dù là một trong những động lực mạnh nhất của nhân loại, lòng
yêu quyền lực được phân phối rất không đồng đều, vì bị giới hạn bởi nhiều động
lực khác như lòng ham tiện nghi, lòng ham khoái lạc, và đôi khi lòng ham đồng ý.
Nó được ngụy trang nơi những kẻ rụt rè thành khuynh hướng phục tùng khiến cho
những kẻ bạo tợn càng khoái nắm đầu thiên hạ. Ít khi những người của thời thế
lại là những người không ham quyền lực cho lắm. Những kẻ thay đổi xã hội thường
là những kẻ nhiều đam mê. Do đó lòng yêu quyền lực là đặc tính của những kẻ
quan trọng. Dĩ nhiên ta sai lầm nếu coi lòng yêu quyền lực là động lực duy nhất
của con người, nhưng cho dù ta có nghĩ vậy thì cũng không có gì nghiêm trọng
lắm. Tôi nhấn mạnh lòng yêu quyền lực là động lực chính yếu tạo nên những thay
đổi mà khoa học xã hội phải coi là đối tượng nghiên cứu.
Tôi
sẽ chứng tỏ người ta chỉ có thể trình bày những
luật động lực học xã hội theo tác dụng của quyền lực dưới các hình
thức khác nhau của nó. Muốn khám phá những luật này, trước hết cần phải
phân loại các hình thức quyền lực rồi xét tới cách gây ảnh hưởng
trên đời sống tha nhân của các tổ chức và cá nhân trong
lịch sử.
Tôi
có hai mục đích rõ ràng. Mục đích thứ nhất
là trình bày một lối phân tích những thay đổi xã hội nói chung theo
tôi thỏa đáng hơn phương pháp của các kinh tế gia. Mục đích
thứ hai là giúp cho những người còn bị ám ảnh bởi các
thế kỷ mười tám vá mười chín có thể hiểu thời hiện tại
và tương lai gần đây rõ ràng hơn. Những thế kỷ này đặc sắc về
nhiều phương diện và dường như chúng ta đang trở lại một số lề thói sinh hoạt
và tư tưởng quen thuộc của thời đại cũ.
Phải nghiên
cứu lịch sử thượng cổ và lịch sử trung cổ để hiểu
thời đại của chúng ta và các nhu cầu của nó. Chỉ có làm
như vậy chúng ta mới đạt được một tiến bộ khả quan không
bị các định đề của thế kỷ mười chín chế
ngự quá đáng.
ChươngII
NGƯỜI LÃNH TỤ
VÀ KẺ TUÂN HÀNH
Sự thôi
thúc của quyền lực hiển nhiên nơi những lãnh tụ và những ẩn tàng nơi
những kẻ tuân hành. Người ta theo một lãnh tụ là để chiếm quyền
cho phe nhóm mình và để chia sẻ các chiến thắng của lãnh
tụ mình. Số đông người cảm thấy thiếu khả năng lãnh đạo
kẻ khác nên mới tìm tới một lãnh tụ xem ra có đủ đảm lược
đem lại chiến thắng. Ngay trong tôn giáo cũng vậy. Nietszche
[6]kết án Thiên chúa giáo rao giảng một nền luân
lý nô lệ, những người nô lệ này cũng tìm tới chiến
thắng cuối cùng. “Phúc thay cho những kẻ vâng lời vì trái đất
sẽ là của họ”. Hay một bản thánh ca nổi tiếng đã minh thị:
Xông pha thời chinh chiến
Tìm kiếm ánh quang vinh
Dưới lá cờ hoen máu
Quyết một lòng tiến lên
Ta hãy quên thống khổ
Và nén tiếng thở dài
Đưa thập giá lên vai
Vui trên đường phụng sự.
Nếu
là một thứ nô lệ thì ta phải coi người lính nghề đã
từng chịu đựng gian khổ nơi chiến trường và các chính
trị gia “cầm cờ” làm việc cực nhọc trong mùa tranh cử là những
kẻ nô lệ. Nhưng về phương diện tâm lý kẻ tuân hành
không là nô lệ hơn người lãnh tụ trong bất kỳ một cuộc hợp
tác thành thật nào.
Chính điều này
khiến cho các bất bình đẳng về quyền lực phải có trong một
tổ chức vẫn tồn tại được và có khuynh hướng gia tăng hơn
là giảm đi khi xã hội trở nên ngày càng phức tạp.
Chúng ta thấy
việc phân phối quyền lực không đều luôn luôn tồn tại trong các cộng đồng nhân
loại. Đó là do nhu cầu ngoại tại một phần và cũng vì những căn
nguyên nằm sẵn trong nhân tính. Ta chỉ có thể thực hiện được
phần lớn các công tác tập thể nếu có một ban quản đốc điều hành công
việc, nếu xe lửa chạy điều hòa thì thời biểu không thể cho các
tài xế đầu máy quyết định; nếu ta muốn xây một căn nhà hẳn phải
có người quyết định chọn đồ án; nếu muốn đắp một con đường
ta phải xác nhận lộ trình trước đã. Một chính phủ có bầu
cử đàng hoàng vẫn là một chính phủ. Do đó phải
có kẻ chỉ huy và những người tuân hành nếu các công tác tập thể
muốn thành tựu vì những lý do không liên hệ chi tới tâm lý học cả. Nhưng khi
giải thích ta phải dùng tâm lý học và sinh lý học cá nhân. Một số người có
những đức tính khiến họ luôn luôn ở vào cương vị chỉ huy trong khi những kẻ
khác phải vâng lời; giữa hai thái cực này là khối đông đảo quần chúng thích chỉ
huy trong vài trường hợp nhưng lại muốn phục tùng trong những trường hợp khác.
Trong
cuốn Tìm Hiểu Nhân Tính (Understanding Human Nature), Adler phân biệt
mẫu người phục tùng và mẫu người hiên ngang. Ông viết: “Kẻ phục tùng
sống theo lề lối và luật lệ của kẻ khác, và hầu
như bị thôi thúc tìm tới một địa vị tuân hành. Trái lại
kẻ hiên ngang luôn luôn tự hỏi phải làm thế nào để hơn
người khác.”Mẫu người hiên ngang chỉ có thể giữ những chức
vụ quan trọng và leo tới tột đỉnh trong các cuộc biến động.
Theo Adler cả hai mẫu người này đều xấu (ít nhất là ở những
hình thức cực đoan) và đều là sản phẩm của giáo dục. Bất lợi lớn nhất của
một nền giáo dục độc đoán là đào tạo cả mẫu người nô lệ lẫn độc tài vì theo nền
giáo dục này chỉ có kẻ ra lệnh và kẻ tuân lệnh hợp tác với nhau được.
Lòng yêu thích
quyền lực dưới nhiều hình thức gần như phổ quát, nhưng hình thức
tuyệt đối của nó rất hiếm. Một người đàn bà thích ăn hiếp chồng
con chưa chắc đã muốn ra làm việc nước; trái lại Abraham Lincoln không ngán cai
trị Hiệp chủng quốc lại rất sợ cảnh lục đục gia đình. Nếu chiếc
Bellerophon bị đắm có lẽ Napoleon đã ngoan ngoãn tuân lệnh các
viên sĩ quan người Anh thoát lên thuyền cấp cứu. Con người ưa thích quyền
lực chừng nào có đủ tự tin, nếu không họ thích theo một lãnh tụ cho
chắc ăn hơn.
Khuynh hướng
phục tùng cũng còn bắt nguồn từ nỗi sợ hãi. Trong trường hợp nguy cấp
như trong một trận hỏa tai đám trẻ còn ngỗ nghịch nhất sẵn sàng nghe
theo một người lớn đủ uy quyền, khi thế chiến thứ nhất bùng nổ, những phụ nữ
thuộc phong trào Pankhurst
[7]làm hòa với thủ tướng Lloyd George
[8]. Mỗi khi có nguy cơ thật sự, phần đông sẵn sàng đặt mình dưới
sự che chở và sử dụng của nhà cầm quyền; những lúc này ít ai mơ tưởng tới cách
mạng. Nếu chiến tranh bùng nổ, chính phủ sẽ lên chân vì dân chúng tự nhiên bớt
cứng đầu cứng cổ hơn thường lệ.
Chỉ có một số ít tổ chức được đặt ra là nhằm vào
việc đối phó với những nỗi nguy hiểm. Một tổ chức kinh tế như nghiệp
đoàn công nhân mỏ than có thể gặp nguy hiểm, nhưng chỉ khi có tai nạn mà thôi.
Nếu loại
trừ được các nguy hiểm, các tổ chức kinh tế sẽ phát triển
tốt đẹp hơn. Nói chung đối phó với những nguy hiểm không
hề là mục đích chính yếu của các tổ chức kinh tế hay
những cơ quan công quyền đặc trách nội vụ. Nhưng chắc chắn người ta
đóng thuyền cấp cứu, tổ chức đội nón đồng cứu hỏa, lục quân
và hải quân để đương đầu với nguy hiểm. Điều này cũng đúng nơi các
đoàn thể tôn giáo, vì chúng tồn tại phần nào nhằm giải tỏa những lo
âu siêu hình ẩn sâu nơi bản tính chúng ta. Ai nghi ngờ xin đọc lại bản
thánh ca sau đây:
Hỡi tảng đá thiên thu
Hãy cho ta trú ngụ
Hay:
Chúa Jêsu yêu mến
Xin đón con vào lòng
Mặc biển đời bão tố
Và gió gào sóng dâng.
Trong niềm
tuân phục Thánh Ý có hàm chứa niềm an toàn sau cùng khiến nhiều quân
vương trở nên sùng đạo dẫu họ không thể hạ mình trước bất cứ hiện diện
trần thế nào. Lòng tuân phục trong trường hợp này bắt rễ từ nỗi lo sợ dù rằng
kẻ được tuân phục là người trần hay thần thánh.
Nhiều người
cho rằng tính hiếu thắng cũng bắt rễ từ nỗi lo sợ. Tôi nghĩ thuyết
này đi quá xa. Có thể nó đúng với một loại tính hiếu thắng nào đó, như của
D.H.Lawrence chẳng hạn; nhưng tôi không tin những người trở thành trùm thảo
khấu lại sợ cha như cọp dữ hay Napoleon thực sự buồn phiền vì mẫu hậu lúc ở
Austerlitz
[9]. Tôi mù tịt về
bà mẹ của Anila nhưng tôi ngờ rằng bà đã quá nuông chiều đứa con yêu dấu của bà
nên khi lớn lên Anila không thấy hài lòng với thế giới lắm vì nhiều khi dám làm
nghịch lại ý muốn của hắn. Tính hiếu thắng do nhát sợ không tạo nên những lãnh
tụ vĩ đại. Nói cho rõ, những lãnh tụ vĩ đại phải có lòng tự tin phi thường,
không phải chỉ hời hợt bên ngoài mà còn ăn sâu vào tiềm thức.
Lòng
tự tin cần thiết cho một lãnh tụ có thể được tại nên do
nhiều đường lối khác nhau. Theo lịch sử, lối thông thường nhất
là có địa vị chỉ huy thế tập. Ta hãy đọc câu ca dao
Việt Nam
sau đây:
Con vua thì lại làm vua
Con sãi ở chùa lại quét
lá đa.
Ta cũng
hãy đọc lại các diễn văn của nữ hoàng
Elizabeth [10] trong
các thời kỳ khủng hoảng, bạn sẽ thấy con người quân vương lấn át bản tính phụ
nữ và Nữ hoàng biết phải làm gì để cứu nước. Quyền lợi của quốc gia và quyền
lợi của Nữ Hoàng là một. Đây là lý do khiến Nữ hoàng được tôn xưng là “Nữ Hoàng
Đáng Tôn Kính”. Bà có thể tán dương phụ thân mình mà không khiến ai khó chịu
hết. Chắc chắn thói quen ra lệnh khiến ta dễ nhận trách nhiệm và đưa ra các
quyết định mau lẹ. Một bộ lạc theo vị lãnh tụ thế tập chắc là hăng hái hơn khi
vị lãnh tụ được chọn bằng cách rút thăm. Mặt khác khi một đoàn thể như Giáo hội
thời trung cổ chọn lựa lãnh tụ theo tài đức (thường là trong số những người đã
có kinh nghiệm cai trị) thì đoàn thể này gặt hái nhiều kết quả tốt đẹp hơn là
các nền quân chủ thế tập trong cùng một thời kỳ.
Đọc lịch sử ta
thấy một số lãnh tụ lỗi lạc nhất đã bắt đầu sự nghiệp trong những hoàn cảnh
biến động. Ta hãy xét các đức tính đã mang lại thành công cho Cromwell
[11],
Napoleon, Lênin. Cả ba đã làm chủ xứ sở của họ vào những thời kỳ khó khăn và
dùng được những kẻ có khả năng nhưng chưa chắc dễ bị sai khiến. Cả ba đều can
đảm và tự tin vô biên, thêm vào óc phán đoán mẫn tiệp vào những giây phút khó
khăn. Tuy nhiên họ không giống nhau. Cromwell và Lênin thuộc cùng một loại, còn
Napoleon thì ở loại khác. Cromwell và Lenin bị nung nấu bởi lòng tin mãnh liệt
vì họ tự coi được giao phó sứ mạng siêu nhân. Họ cho những thúc đẩy quyền lực
nơi họ là chính đáng. Họ chẳng màng tưởng những phần thưởng vật chất như một
cuộc đời xa hoa nhàn hạ, vốn là những điều tầm thường khó mà hòa điệu với các
mục đích siêu phàm. Điều này đặc biệt đúng trong trường hợp Lênin, còn Cromwell
đã ý thức sa ngã của mình vào những năm cuối đời. Dẫu sao sự phối hợp giữa niềm
tin và tài năng xuất chúng đã giúp cả hai có thừa tự tin và gây được tin tưởng
nơi kẻ dưới.
Trái với
Cromwell và Lenin, Napoleon là điển hình của lính nghề. Ông hưởng ứng
cuộc cách mạng vì nó giúp ông cơ hội thi thố tài năng
mà thôi, chứ thực ra thì ông rất thờ ơ. Dẫu rằng ông
cảm thông với lòng ái quốc Pháp đối với ông chỉ là một cơ hội không hơn
không kém. Lúc còn trẻ ông từng có ý tưởng sẽ chiến đấu cho Corsica
chống lại nước Pháp. Ông thành công không hẳn do những đức tính đặc biệt mà vì
ông thấu đáo kỹ thuật chiến tranh: ông đã chiến thắng trong nhiều trường hợp kẻ
khác nắm chắc thất bại. Vào những giây phút quyết định như ngày 18 Brumaire và
Marengo ông biết chớp thời cơ cướp đoạt công lao của kẻ khác. Ta cũng nên nhớ
quân đội Pháp lúc đó có nhiều người trẻ tuổi nhiều tham vọng. Những chiến thắng
liên tiếp khiến ông tin tưởng vào số mệnh, nhưng trớ trêu thay sự tin tưởng
thái quá này đã đưa ông tới thất bại ê chề vào lúc chung cuộc.
Ta phải xếp
Hitler vào một loại với Lenin và Cromwell, Mussolini với Napoleon
về phương diện tâm lý. Thực ra tên lính nghề hoặc trùm thảo khấu
là loại người quan trọng trong lịch sử hơn là những sử gia
khoa học thường tưởng. Một đôi khi hắn may mắn trở thành lãnh tụ của những tổ
chức mục đích phần nào vượt khỏi cá nhân, giống như Napoleon. Có nhiều người
tin đạo quân cách mạng Pháp là những kẻ giải phóng Âu châu, nhưng chính
Napoleon lại chỉ nghĩ tới việc giải phóng khi nào cần tăng uy tín cho cá nhân
mình. Rất nhiều khi người ta chẳng cần giả vờ mang một mục đích cao cả nào hết.
Có lẽ Alexander cho rằng ông đã bắt tay vào việc Hy Lạp hóa phương Đông, nhưng
những người lính Macedonians của ông chẳng quan tâm tới khía cạnh này làm chi.
Trong thế kỷ cuối cùng của nền Cộng hòa những viên tướng La Mã chỉ đánh giặc vì
tiền và mua chuộc lòng trung thành của thuộc hạ bằng đất đai, của cải Cecil
Rhodes bày tỏ lòng tin tưởng thần bí của đế quốc Anh nhưng chính niềm tin tưởng
này đã mang lại nhiều lợi lộc. Ông ta dùng tiền bạc để khuyến dụ các binh sỹ
theo ông trong cuộc chinh phục Matabeleland.
Lòng tham lợi, dù được che đậy hay không, đóng vai trò quan trọng vào những
cuộc chiến tranh trên thế giới.
Có thể rằng một công dân bình lặng phục tùng một lãnh tụ do
sợ sệt nhưng điều này không đúng với bọn thảo khấu, trừ khi chúng
bị bắt buộc đi ăn cướp. Một khi quyền lợi của một lãnh
tụ đã được xác định đàng hoàng, ông ta có thể khiến cho những cá nhân
lộn xộn khiếp sợ, nhưng trước khi trở nên lãnh tụ và được đa số công nhận ông
ta không làm cho ai ngán cả. Muốn trở thành lãnh tụ, ông ta phải có đầy đủ lòng
tự tin, quyết đoán mau lẹ và chọn những biện pháp đúng. Tuy vậy, quyền lãnh đạo
chỉ tương đối. Ceasar là người duy nhất có thể sai khiến Antony. Đa số người thấy sinh hoạt chính trị
khó khăn và tốt hơn cả là theo một lãnh tụ như thể những con chó có nghĩa với
chủ. Không vậy thì làm sao quan niệm hành động chính trị tập thể được.
Vậy
thì lòng yêu quyền lực (coi như một nguyên động lực) và
cả ý muốn tự chỉ huy bị hạn chế bởi tính nhút nhát.
Vì quyền lực giúp ta thực hiện nhiều tham vọng và khiến kẻ khác
trọng nể ta, tự nhiên chúng ta mong muốn quyền lực đến một
mức độ nào đó. Quá độ mức độ này, tính nhút nhát sẽ can
thiệp. Tính nhút nhát sẽ giảm bớt nếu ta quen nhận lãnh trách nhiệm
có khuynh hướng muốn gia tăng ước muốn quyền lực. Kinh nghiệm về
sự tàn ác và bất thân thiện có thể làm cho những kẻ nhát sợ
tha mình vào một chỗ trong khi những kẻ bạo tợn thì ráng kiếm những việc hành
hạ kẻ khác.
Sau tình trạng
vô chính phủ gần như chắc chắn đối có chế độ độc tài
vì thiên hạ đã làm quen với lề thống
trị và bị trị ở trong gia đình quốc gia hay lĩnh vực kinh
doanh. Sự hợp tác bình đẳng khó hơn là độc tài và không dính dấp tới
bản năng (chỉ huy và tuân phục). Trong một cuộc hợp tác bình đẳng
người ta phải tự chủ hoàn toàn không được để lộ ý muốn phục
tùng. Mỗi bên đều phải trung thành với một điều thiêng liêng
nào đó. Ở Trung Hoa những công việc kinh doanh trong gia đình thường
thành công nhờ lòng trung thành gia đình đúng theo truyền thống Khổng
Mạnh, nhưng những công ty tổ hợp xem chừng không hoạt động được bởi
chẳng có lý do gì bắt buộc kẻ này phải đối xử thân
thiện đối với người góp vốn khác. Muốn cho một chính quyền do bầu
cử làm việc người ta phải tôn trọng luật pháp hay chính quyền hoặc một
nguyên tắc chung nào đó được mọi người chấp nhận. Hội Liên Hữu không tổ chức
bầu cử. Khi có vấn đề nào khó xử, họ thảo luận bàn cải cho đến khi đạt tới
“thực chất” của cuộc họp, tin là do Chúa Thánh thần mặc khải. Dĩ nhiên Hội Liên
Hữu là một cộng đồng nhất khác thường. Nhưng nếu thiếu một dức độ đồng nhất nào
đó không thể cai trị bằng thảo luận được.
Một gia đình
như họ Fuggers hoặc họ Rothchilds, một tổ chức như nhóm
Thanh giáo, một bộ lạc man rợ hay một quốc gia lâm chiến hoặc sắp lâm
chiến thường có một tình liên đới đủ mạnh để thảo luận mọi vấn đề
mà khỏi phải dùng các biện pháp cực đoan. Nhưng ta nên nhớ cần
có áp lực từ bên ngoài: các hội viên bám lấy nhau vì sợ phải
đứng một mình. Một cơn nguy biến chung là cách dễ nhất để tạo ra sự đồng nhất.
Tuy nhiên đây không phải là giải pháp cho vấn đề quyền lực cho toàn thế giới.
Hiển nhiên là chúng ta ngăn ngừa những hiểm họa như chiến tranh chẳng hạn,
nhưng vấn đề này khó khăn về phương diện tâm lý cũng như chính trị và chúng ta
thấy có lẽ chỉ có thể giải quyết nổi nếu có một nền độc tài chuyên chính ở một
quốc gia nào đó. Việc các quốc gia hợp tác với nhau cũng khó giống như đám quý
tộc Ba Lan trước khi phân ly. Nhân loại cần có tổ chức chính quyền, nhưng ở
những nơi mà trước kia tình trạng vô chính phủ đã từng chế ngự, lúc đầu người
ta chỉ thuần phục chế độ chuyên chế. Do đó, việc đầu tiên là phải nắm vững
chính quyền, dù là một chính quyền chuyên chế, và chỉ khi nào chính quyền này
trở nên quen thuộc ta mới mong biến nó thành chính quyền dân chủ một cách êm
thấm. Quyền lực tuyệt đối hữu ích trong việc xây dựng tổ chức. Tuy áp lực xã
hội đòi hỏi rằng quyền lực phải phục vụ mọi người liên hệ phát triển chậm hơn
nhưng cũng không kém chắc chắn. Áp lực này thường xuyên trong lịch sử giáo
quyền và lịch sử chính trị đã xuất hiện trong phạm vi kinh tế.
Tôi đã
nói về những kẻ chỉ huy và những kẻ tuân hành, nhưng
còn phải nói về kẻ thứ ba: những kẻ đứng bên lề. Nhiều
người có can đảm từ chối tuân lệnh kẻ khác, nhưng cũng không
thích chỉ huy. Họ đứng bên lề xã hội và tìm nơi trú ẩn
mà họ có thể hưởng một thứ tự do phần nào cô độc,
nhiều lúc loại người này rất quan trọng; chẳng hạn những tín đồ Thiên chúa
giáo thời sơ khai hay các kẻ tiền phong ở Hoa Kỳ. Nơi
trú ẩn có thể là tinh thần, có thể là thân xác, có khi là một sự cô đơn
hoàn toàn của một nơi ẩn dật, có khi là sự cô đơn tập thể của một tu viện.
Trong số những kẻ trú ẩn về phương diện tinh thần, có những ẩn sĩ, những kẻ
thích thú những đam mê vô hại, những kẻ ám ảnh bởi những hình thức bí hiểm và
không mấy quan trọng của ti thức. Trong số những kẻ trú ẩn về phương diện thân
xác là những kẻ đi tìm biên cương văn minh và những nhà thám hiểm, ví dụ như
Bates nhà vạn vật học của vùng Amazon, kẻ đã sống sung sướng suốt mười lăm năm
chỉ bầu bạn với người da đỏ. Kẻ ẩn dật cũng có một số đức tính có thể khiến họ
tạo dựng những công trình tuyệt hảo vì họ cặm cụi làm việc mà chẳng màn danh
lợi, mặc cho thiên hạ lãnh đạm hay đả kích. Họ là những kẻ dám có những ý kiến
nghịch đời.
Một
số kẻ đứng ngoài không hẳn là thờ ơ với quyền
lực, nhưng chỉ vì họ không thể chiếm được quyền lực
theo phương thức thông thường. Những người này có thể nên thánh hay
trở thành những tư tưởng gia tiên phong, kẻ sáng lập dòng tu hay
trường phái văn chương nghệ thuật. Họ thâu nhận những đệ tử vừa có khuynh hướng
phục tùng, vừa có khuynh hướng phản kháng, những kẻ không theo chính thống và
chấp nhận cái mới. Ta còn nhớ trường hợp Tolstoy và các môn đệ của ông. Loại cô
đơn hoàn toàn thì khác. Tên hầu cận rầu rỉ sẵn sàng chia sẽ đời sống lưu đày
với tướng công tốt lòng của mình và dù sao này vị tướng công có đổi tính đổi
nết đi chăng nữa, hắn vẫn sẵn lòng ở lại rừng xanh hơn là về với triều đình. Ta
cũng đã biết nhiều tên khai phá tiền phong Hoa Kỳ đã bán trang trại của họ và
lên đường tây tiến trước khi bị văn minh bắt kịp. Với họ, thế giới ngày càng
khan hiếm cơ hội. Một số nhúng tay vào tội ác, một số trở buồn phiền chán đời.
Tiếp xúc với người đồng loại nhiều quá khiến họ chán chường đến độ nếu không
sống cô đơn được thì họ bạo động chém giết.
Tổ chức được tăng cường vì những người nhút nhát dễ tuân
phục lãnh tụ và cảm thấy an tâm được thuộc về một đám đông
có cảm nghĩ giống nhau. Trong một buổi họp công cộng hào hứng, ta
thấy sảng khoái, pha lẫn ấm cúng và an tâm; cảm xúc được chia sẽ càng lúc trở
nên càng mạnh mẽ đến khi nó lấn át mọi cảm nghĩ khác trừ ý thức quyền lực sôi
nổi do sự gia tăng bản ngã. Khích động tập thể chính là một nhiễm độc ngọt ngào
dễ dàng làm quen sự tỉnh táo, lòng nhân đạo và ngay cả bản năng sinh tồn. Những
đám đông bị kích động dễ dàng phạm tội tàn sát ghê tởm hay chịu hy sinh anh
hùng. Loại nhiễm độc này, như những loại khác, thật khó cưỡng lại khi ta đã một
lần nếm mùi. Nhưng cuối cùng cũng chỉ là nỗi chán chường hờ hững, để rồi phải
có liều kích thích tố ngày càng mạnh hơn nếu ta muốn tạo lại hăng say ban
đầu.
Xúc động
này có thể do âm nhạc tuyệt diệu hay một biến cố sôi nổi tiếp diễn
trước mặt đám đông, nhưng lời nói của một nhà hùng biện dễ quyến
rũ đám đông nhất. Vậy một yếu tố quan trọng trong quyền lãnh
tụ là khả năng ăn nói hấp dẫn. Nhà lãnh tụ không cần phải
chia xẻ những cảm xúc do ông gây ra. Ông ta có thể tự nhủ như lời lẽ
của
Antony[12] (trong
kịch bản của Shakespeare) như sau:
Hỡi sức mạnh hãy mặc sức hoành
hành
Đám đông kia nào đáng kể băn
khoăn.
Người lãnh
tụ khó mà thành công nếu ông không có tâm lý sài sễ,
hành hạ những kẻ theo mình. Ông ta sẽ thích một loại hoàn cảnh, một
loại đám đông nào đó dễ đưa thành công lại cho ông. Hoàn cảnh
tốt nhất là một nỗi nguy hiểm đủ trầm trọng khiến người ta muốn tòng
quân cứu nước nhưng đừng khủng khiếp tới độ làm người ta sợ hãi chẳng
hạn như chiến tranh bùng nổ với một kẻ thù đáng ngại nhưng
không hẳn đã là vô địch. Muốn khích động lòng hiếu chiến,
nhà hùng biện ráng gây nên hai lớp tin tưởng: bề ngoài ông bảo
họ rằng kẻ thù rất mạnh nên ta phải có nhiều can đảm: sâu
hơn ông đoán chắc là họ sẽ chiến thắng. Nói nhẹ nhàng
thì ta có thể dùng những biểu ngữ đại loại như: “Công
lý thắng cường quyền”, hay những câu bất hủ như:
Ta nhất định thắng
Địch nhất định thua.
Đám đông lý
tưởng của nhà hùng biện là loại dễ bị xúc động lôi cuốn hơn là suy tư, dễ sợ
hãi, dễ căm thù, không thích những biện pháp đúng đắn nhưng chậm chạp, dễ tuyệt
vọng nhưng cùng lúc lại tràn đầy hy vọng. Nếu chẳng phải là một kẻ quá quay
quắt, nhá hùng biện sẽ ráng kiếm một số tin tưởng biện minh cho việc ông làm.
Ông cho rằng người ta nên hành động theo cảm xúc hơn là theo lý trí, rằng mọi ý
kiến nên xuất phát từ con tim hơn là do não tủy, và những yếu tố tốt đẹp nhất
trong con người có tính cách tập thể hơn là cá nhân. Nếu ông ta có quyền, ông
sẽ biến giáo dục thành một cuộc tập luyện xen lẫn với việc nhồi sọ tập thể, và
trí thức cũng như phán đoán chỉ giữ vai trò hết sức thứ yếu.
Tuy nhiên
không phải mọi cá nhân yêu thích quyền lực đều thuộc loại người hùng
biện. Có hạng người mà lòng yêu thích quyền lực là do kiểm
soát được cơ động. Chúng ta hãy nghe Bruno Mussolini mô tả những
chiến công của mình trong trận chiến tranh Abyssinia:
“Chúng ta phải
đốt cháy những ngọn đồi rậm rạp, những cánh đồng, và những đồi nhỏ bé kia… thú
vị thật… những trái bom chưa chạm đất đã nổ tung thành những đám khói trắng và
một ngọn lửa cực lớn và cỏ khô bắt đầu cháy. Tôi nghĩ đến những con vật:
Chúa ơi! Chúng chạy cuống cuồng… sau khi các máng bom đã hết, tôi bắt đầu ném
bom bằng tay… thích thú quá chừng: một zariba lớn bao bọc bởi những tàn cây
không dễ chi đụng tới được. Tôi phải nhắm vào mái rơm kia cho cẩn thận và chỉ
ném trúng với cú thứ ba. Những tên khốn khổ bên trong thấy mái rơm cháy, vụt
nhảy ra và chạy như điên.”
“Bị vòng lửa
bao vây, khoảng năm ngàn tên Abyssinians tới bước đường cùng. Chẳng khác
gì địa ngục vậy”.
Nhà hùng
biện phải sử dụng tới thứ tâm lý trực giác mới mong thành công.
Tên phi công thuộc loại Bruno Mussolini thấy thống khoái đâu có cần
biết chết cháy chẳng thú vị gì. Nhà hùng biện thuộc mẫu người xưa:
mẫu người dựa vào cơ động mới chỉ có đây. Thực ra không phải
hoàn toàn như vậy. Chẳng hạn chúng ta hãy đọc lại những trang
sử chép về cuối trận đánh Punic thứ nhất khi ở thành
Carthage người ta đã dùng những con voi dày xéo những kẻ đánh
thuê cho tới chết, chúng ta thấy cùng một thứ khoái lạc thú vật
như của Bruno Mussolini, dẫu rằng một bên thì dùng voi, đằng khác
dùng khoa học tân tiến. Nói một cách tương đối, quyền lực cơ động tiêu biểu cho
thời đại chúng ta hơn bất kỳ thời đại nào trước đây.
Người ta chưa
hề mô tả cặn kẽ tâm lý một kẻ chủ trương độc
quyền chính trị dựa vào quyền lực cơ khí. Mà đây là một
sự kiện khả hữu chứ không phải viễn vông đâu. Bằng việc kiểm
soát phi cơ, tàu bè, nhà máy điện, các phương tiện chuyển
vận… một nhóm thiểu số có huấn luyện kỹ thuật
có thể thiết lập một nền độc tài tuyệt đối
mà kẻ bị trị chỉ có quyền răm rắp tuân lệnh. Đế
quốc Laputa được duy trì vì có khả năng ngăn chặn mặt trời
chiếu vào một khu vực nổi dậy; vậy thì một tập đoàn các kỹ thuật gia
khoa học có thể thi hành một biện pháp ít ra là như thế.
Họ có thể bỏ đói một vùng bất trị, cúp ánh sáng, cúp
hơi nóng, cúp điện lực sau khi làm cho những vùng này quen với các tiện
nghi tối tân trên. Họ có thể phun hơi độc và vi trùng.
Trong trường hợp này chống cự hoàn toàn vô ích. Và vì được
huấn luyện cẩn thận về cơ động những người nắm quyền sinh sát
sẽ nhìn con người chẳng khác gì máy móc, nghĩa là những vật
vô tri giác bị chi phối bởi những luật lệ nằm trong tay họ. Một
chế độ như thế phi nhân hơn bất kỳ một chế độ khắc nghiệt
nào từ trước tới giờ.
Đề tài của tôi trong
cuốn này là quyền lực trên con người chứ không phải quyền lực trên vật chất.
Thế nhưng tôi vẫn đôi khi phải nói tới quyền lực trên vật chất vì hiện nay
người ta có thể tạo được một quyền lực kỹ thuật lý học (a technicological
power) trên con người, đặt căn bản của quyền lực trên vật chất. Những kẻ có
thói quen kiểm soát những cơ động mạnh mẽ, và qua sự kiểm soát này thành
ra có quyền lực đối với con người sẽ nhìn con người một cách khác hẳn lối nhìn
của những kẻ dựa trên thuyết phục, dẫu chỉ là lối thuyết phục láo khoét. Đã có
khi nhiều người trong chúng ta ra tay đập nát một tổ kiến và khoái trá nhìn
kiến vỡ tổ. Khi ta nhìn xuống đường phố Nữu – Ước từ nóc một tòa nhà chọc
trời, những người ở dưới trông không còn vẻ người, và trở nên như con sâu cái
kiến vậy. Giả dụ ta có mang một lưỡi tầm sét như anh chàng Jove
[13]có lẽ ta sẽ
khoái quật vào đám đông, vì cùng thứ nguyên động lực đã làm ta ngứa tay phá tổ
kiến chơi. Đây cũng là cảm nghĩ của chàng phi công Bruno Mussolini khi anh ta
ngồi trên máy bay nhìn đám dân Abyssinians khiếp đảm. Hãy tưởng tượng một chính
phủ khoa học, vì sợ bị ám sát, nên lúc nào cũng sống trên phi cơ, lâu lâu
mới đáp xuống bãi đậu trên các đỉnh tháp cao hay các chiếc bè neo ngoài khơi.
Một chính phủ như vậy có thể nào có chút lưu tâm đến hạnh phúc của dân chúng
chăng? Chắc là không rồi. Trái lại gần như chắc chắn chính phủ này sẽ nhìn dân
chúng chẳng khác máy móc khi mọi chuyện êm đẹp. Nhưng khi có gì chứng tỏ rằng
đám đông không hẳn là máy móc, thì chính phủ này hẳn sẽ nổi điên và lập tức ra
lệnh dập tắt mọi chống đối một cách quyết liệt, tàn nhẫn.
Bạn đọc
có thể cho tôi là mê hoảng rồi. Tôi mong rằng quả thực
tôi đã quá bi quan. Nhưng tôi tin chắc quyền lực
cơ khí có khuynh hướng tạo nên một tâm thức mới, cho
nên điều cần thiết là phải tìm mọi cách kiểm soát các chính phủ. Nền dân
chủ có thể trở nên khó khăn hơn vì các tiến
bộ kỹ thuật, nhưng nó cũng trở nên quan trọng hơn. Kẻ nào
có quyền lực cơ khí lớn lao mà không bị kiểm soát sẽ cho
mình là một vị thần không phải là vị thần của tình yêu, nhưng
là ác thần Thor
[14]hay Vulcan
[15].
Leopardi
[16]
đã mô tả cảnh núi lửa hoành hành trên ngọn Vesuvius với những dòng
thơ bi thiết:
Những giải đất ngổn ngang
bọt đá khô ran
Những giải đất tràn ngập
giòng phún thạch kết tinh
Reo vang dưới gót chân
kẻ hành hương cô độc
Kìa con rắn cuộn tròn trong
tô dưới mặt trời chói bỏng
Kìa con thỏ vội về hang
trong khe hông tảng đá
Ngọn núi bất trị đã tuôn trào
trăm giòng thác lửa
Nơi xưa kia có nông trại
hạnh phúc
Có giải đất
phì nhiêu, có mùa lúa chín vàng
Và tiếng kêu của bầy
thú vật
Nơi có vườn tược,
có lâu đài
Nơi ẩn trú mến yêu của
những lãnh chúa đầy uy quyền
Nơi có những thành
phố hoa lệ
Ngọn núi bất trị đã tuôn trào
trăm giòng thác lửa
Thiêu đốt tất cả và tàn
sát dân cư
Ôi! Nơi đây chỉ còn hoang tàn đỗ
nát.
Sức tàn
phá của con người khốc hại không kém. Ta hãy nhớ lại những bi
thảm ở
Guernica[17].
Có thể chẳng bao lâu nữa sẽ tới kinh thành Luân Đôn. Ta
có thể hòng mong những gì ở những kẻ đã leo lên
tới địa vị thống trị bằng những tàn phá như thế?
Và nếu cho là các thành phố thù nghịch Bá Linh
và La-Mã (chứ không phải Luân Đôn hay Ba-lê) bị các vị thần
mới dùng lưỡi tầm sét triệt hạ, liệu có còn chút tình nhân loại nào nơi
những kẻ tàn phá sau hành động tệ hại đó chăng? Liệu những
kẻ còn chút tình người có tránh khỏi điên dại vì lòng
trắc ẩn bất lực, và trở nên xấu xa hơn những kẻ chẳng cần
phải đè nén lòng thương xót (vì chúng không có) hay không?
Ngày xưa con
người bán linh hồn cho quỷ để đạt tới những quyền lực ma thuật. Ngày
nay khoa học cho họ quyền lực và họ thấy bị bắt buộc phải
trở thành quỷ dữ. Nhân loại không còn hy vọng nào trừ khi quyền
lực được thuần hóa, và được sử dụng vào việc phụng sự, không
phải phụng sự bọn bạo chúa này hay bọn bạo chúa khác nhưng phụng sự cho
cả nhân loại vì khoa học ngày nay đã đưa chúng ta tới tình trạng
hoặc tất cả được sống hoặc tất cả phải chết.
[1] Xerxes: Vua Ba Tư từ 456 đến 485 trước Tây lịch.
[2] Newton:
triết gia khoa học Anh (1612-1727) phát kiến những luật động lực học.
[3] Thánh Francis (1181?-1226) sáng lập dòng Franciscan
vào khoảng năm 1209.
[4] Thánh Ignatius Loyola (1491 – 1556) sáng lập dòng Jesuit.
[5] Milton(1608-74)
thi hào Anh tác giả “Paradise Lost” paradise Regained và nhiều thi bản khác.
[6] Nietzsche (1844-1900). Triết gia Đức, cha đẻ của thuyết
siêu nhân.
[7] PanKhurs (1858-1928) lãnh tụ phong trào đòi quyền bầu cử
cho phụ nữ.
[8] Lioy George (1863-1945) chính trị gia tự do Anh, làm thủ
tướng từ 1916-1922.
[9] Austerlitz. Nơi Napoleon
đánh bại quân Áo và Nga năm 1805.
[10] Elizabels I
(1533-1603) Nữ hoàng Anh trị vì từ năm 1558 đến 1603.
[11] Oliver
Cromwell (1599-1658) lãnh đạo Anh quốc từ 1653 đến 1658.
[12] Antony (khoảng 82-30
trước Tây lịch) bị Cleopatra quyến rũ, mất hết quyền bính và sau đó tự tử chết.
[13] Thần chiến
thắng Jupiter.
[14] Thần sấm sét,
chiến tranh.
[15] Thần chiến
thắng Jupiter.
[16] Giacomo
Leopardi (1798-1837) Thi sĩ Ý đại lợi, cũng là một học giả.
[17] Địa danh nổi
tiếng trong cuộc nội chiến Tây Ban Nha. Đây cũng chính là tên mà Picasso đã
dùng để chỉ bức họa ông mô tả nỗi rợn người của cuộc chiến tranh thảm khốc này.
Nguồn: Bertrand
Russell. Quyền lực. Nguyễn Vương Chấn – Đàm Xuân Cận dịch, Nxb Hiện đại,
1972. Bản điện tử do triethoc.edu.vn thực hiện.
Dẫn theo: triethoc.edu.vn
(còn nữa)