Triết Lý, để làm gì ?

Khi ta bế tắc tư tưởng, chân thật công nhận rằng những kiến thức và phương pháp suy luận của ta không cho phép ta sống, tư duy và hành động khớp với khao khát làm người của ta, ngoài vô vàn cách ứng xử khác, ta có thể:

a) Tiếp tục sống, tư duy và hành động như cũ vì, dù sao, ta cũng sống được, không đến nỗi nào

b) Lột áo cũ, khoác áo mới, một tấm áo coi lành lặn đẹp đẽ hơn nhưng cũng hàm hồ không thua gì. Điều ấy luôn luôn khả thi bằng ngôn ngữ.

c) Đi tới cùng bế tắc của chính mình. Nếu không giải quyết được nó, ta ôm nó xuống suối vàng, để lại ở đời chỉ một câu hỏi. Câu hỏi của một con người. Đích thực. Có gì nhục đâu?

Nếu ta tưởng ta đã tìm ra một phần của giải pháp, ít nhất là cho riêng mình, thì cứ viết đi, chẳng cần trích cao nhân nào cả: họ đã là một phần của ta và ta đã phải “vượt” họ để nên mình.

Thế thôi.

(Chungta.com)

Góc nhỏ của Noby Vui Vẻ

Lục lọi, tìm tòi, đọc, cóp nhặt, chia sẻ, ... OK hay không tùy bạn ! ! !

“Nước độc lập mà dân chưa tự do thì độc lập cũng không có ý nghĩa”- Hồ Chí Minh.

26 thg 9, 2011

Tin khẩn về bão số 4


Bão số 4 đến, trong khi các tàu đánh cá của ngư dân lánh ở Hoàng Sa bị “tàu lạ”  tấn công thì mấy ông quan nhà ta vẫn say sưa nhậu nhẹt.

Theo NXD-blog đưa tin:
Tránh bão ở Hoàng Sa, 2 tàu cá bị tàu chiến lạ tấn công
Thứ Hai, 26/09/2011 10:57
(NLĐO)- Ngày 26-9, Trạm Biên phòng cảng Sa Kỳ (Quảng Ngãi), cho biết lúc 13 giờ ngày 24-9, Trạm ICom thôn Châu Thuận, xã Bình Châu, huyện Bình Sơn đã nhận được thông tin 2 tàu cá của ngư dân Quảng Ngãi bị tàu nước ngoài tấn công. 
Hai tàu cá đó là QNg 95337TS do ông Trương Văn Đức làm thuyền trưởng kiêm chủ tàu và QNg 95850 TS do ông Trương Tài làm chủ. 
Được biết, hai tàu cá trên chạy vào trú bão tại đảo Trụ Cẩu (khu vực quần đảo Hoàng Sa Việt Nam) đã bị một tàu chiến nước ngoài xua đuổi, buộc 2 thuyền trưởng phải cho tàu chạy ra khỏi khu vực đảo Trụ Cẩu. 
Khi chạy được 30 hải lý thì tàu chiến này tiếp tục đuổi theo, đâm vào thân tàu cá, bơm nước vào tàu, bắn đạn qua tàu cá làm cháy cabin, cháy bộ đàm… 
Hiện nay, 2 tàu cá trên đang chạy vào đất liền tránh bão số 4.
V.Mịnh

Và một bài trên web Dân trí

Hà Tĩnh: Bão đến gần, quan chức vẫn… lai rai nhậu

(Dân Trí) - Trong khi cả tỉnh Hà Tĩnh đang khẩn trương triển khai các biện pháp đối phó với bão số 4 thì trưa 26/9 nhiều quan chức tại huyện Hương Sơn vẫn ung dung ngồi nhậu với lãnh đạo doanh nghiệp tại một quán gà đồi.
Sau khi nhận được thông tin chúng tôi đã có mặt tại quán gà đồi T.Q. ở xã Sơn Lễ nằm trên tuyến đường mòn Hồ Chí Minh. Lúc chúng tôi tới nơi, quán gà đồi này chật kín ô tô. Một nhân viên của quán cho hay, những chiếc xe nói trên là của cán bộ huyện Hương Sơn và một vài nhà thầu xây dựng trên địa bàn. Họ đậu xe và ăn uống ở quán được chừng hơn 40 phút.
Đi vào trong quán, hơn chục người đang ngồi ăn nhậu đặc sản như bão số 4 chưa sắp áp sát biển Hà Tĩnh và các tỉnh miền Trung.

Bão số 4 đang áp sát bờ, tỉnh Hà Tĩnh cũng đang khẩn cấp đối phó mưa bão, nhưng một số quan chức huyện Hương Sơn vẫn bình chân như vại (ảnh cắt từ video clip)

Cảnh tượng chúc tụng, đùa cợt giữa các cán bộ huyện, giữa cán bộ huyện với Giám đốc doanh nghiệp xây dựng nọ liên tục rôm rả. Thậm chí, trong lúc cao hứng những cán bộ huyện này còn yêu cầu một số nhân viên nữ đi vòng quanh bàn lần lượt chúc mỗi cán bộ một chén để làm vui.
Được chừng hơn 30 phút tính từ thời điểm nhóm PV vào quán nhậu đặc sản này, nhóm nhân viên nữ ăn uống xong rời khỏi bàn nhậu ngồi chờ, còn các quan chức và nhà thầu tiếp tục ngồi lai rai, chúc tụng lẫn nhau. Cảnh chúc tụng lại diễn ra, hết uống “chéo cánh”, lại uống“hội đồng”.
Cuộc nhậu kéo dài cho tới lúc một trong số những cán bộ ngồi nhậu bất ngờ phát hiện máy quay của phóng viên. Lập tức, các quan chức này rỉ tai nhau và nhanh chóng rời khỏi bàn nhậu. Nhiều quan chức đi ra ngoài mặt đỏ phừng phừng, nói năng sặc mùi rượu...
Theo xác minh nhanh, trong cuộc nhậu kéo dài vào trưa nay của nhiều quan chức huyện Hương Sơn có Phó Chủ tịch Phạm Xuân Cảnh, Trưởng phòng Tài nguyên môi trường huyện Nguyễn Đình Công, Trưởng Ban Xây dựng cơ bản huyện Dương Văn Bình, nữ kế toán của ban này được những người trong mâm nhậu gọi tên Thủy; còn người nhậu cùng quan chức huyện Hương Sơn là ông N.T.N, Giám đốc một doanh nghiệp xây dựng trên địa bàn.  

Hai người ngồi giữa đang trò chuỵên trong mâm nhậu này là Phó Chủ tịch Phạm Xuân Cảnh (bên trái), và Trưởng phòng Tài nguyên môi trường huyện Nguyễn Đình Công (bên phải). (ảnh cắt từ video clip)

Trong khi cơn bão số 4 rất mạnh, đã áp sát đất liền, UBND tỉnh Hà Tĩnh cũng đang khẩn cấp chỉ đạo các địa phương khẩn trương phòng chống bão, đồng thời cắt cử cán bộ chủ chốt về các địa phương phối hợp, chỉ đạo công tác đối phó mưa bão, thì quan chức huyện Hương Sơn vẫn thản nhiên chúc tụng, ăn nhậu như vậy!.
Trao đổi nhanh với PV Dân Trí vào đầu giờ chiều nay, ông Nguyễn Duy Trinh - Chủ tịch UBND huyện Hương Sơn hết sức bất ngờ trước sự việc nêu trên vì như ông cho biết, tất cả cán bộ huyện đã được cắt cử về địa phương, chỉ đạo công tác đối phó với bão số 4.
Ông Trinh khẳng định, sẽ cho kiểm tra ngay vụ việc này.   

Văn Dũng - Huy Thái 


Bertrand Russell - QUYỀN LỰC (Phần III)


CHƯƠNG IV

QUYỀN LỰC TU SĨ


    Trong chương này và chương kế tiếp chúng ta sẽ xét hai hình thái quyền lực cổ truyền quan trọng nhất vào các thời đại trước: nói rõ hơn quyền lực tu sĩ và quyền lực vua chúa. Giờ đây cả hai hình thức quyền lực này đang suy tàn nên chúng ta có thể nghiên cứu một cách khá cặn kẽ hơn khi chúng ta còn thịnh hành; tuy nhiên chúng ta cho rằng những hình thức này sẽ mất đi luôn thì hơi quá đáng.

    Tu sĩ và vua chúa đã từng xuất hiện trong những xã hội cổ xưa nhất dưới những hình thức rất thô sơ. Đôi khi cùng một người nắm giữ cả hai nhiệm vụ. Điều này ta thấy xảy ra không những nơi các bộ lạc man rợ mà còn có ở nơi những quốc gia có trình độ văn minh khá cao. Angustus là giáo hoàng ở La Mã, đồng thời là một vị thần ở các tỉnh. Thầy cả tế là chủ tế đạo Hồi và quốc gia. Thiên hoàng Nhật ngày nay có địa vị tương đương trong Thần đạo. Tuy nhiên có rất nhiều vua chúa bỏ rơi nhiệm vụ thế tục của mình để trở thành tu sĩ. Nhưng ở nhiều nơi và nhiều lúc, sự khác biệt giữa tu sĩ và vua chúa rất rõ rệt và dứt khoát.

    Hình thức tối sơ của tu sĩ là y sư, người có hai thứ quyền lực mà các nhà nhân chủng học gọi là quyền lực pháp thuật và tôn giáo. Quyền tôn giáo dựa vào sự phù trợ của các đấng siêu nhiên trong khi quyền pháp thuật được coi là tự nhiên. Tuy nhiên sự phân biệt này đối với chúng ta không mấy quan trọng. Điều đáng kể là ai cũng nghĩ y sư có thể mang lại họa phúc cho người khác hoặc do pháp thuật hoặc do tôn giáo và chẳng phải ai cũng làm như ông ta được đâu. Người thường có thể thi hành một phần pháp thuật nào đó nhưng y sư cao cường hơn. Khi chứng kiến một người ngã bệnh hay bị tai nạn người ta thường cho căn do là pháp thuật độc hại của kẻ thù. Tuy nhiên y sư là người biết cách xua đuổi tà ma. Ở đảo Duko of York sau khi bối ra căn bệnh của người ốm, y sư lấy ra một giỏ vôi rồi lẩm nhẩm những câu thần chú sau:

“Vôi trừ tà. Ta xua đuổi con mực ma: ta xua đuổi con rắn to: ta xua đuổi vía hột kín Ingiet; ta xua đuổi con cua; ta xua đuổi con rắn nước; ta xua đuổi con rắn balivo; ta xua đuổi con trăn; ta xua đuổi chó kaia. Vôi trừ tà. Ta xua đuổi chất nước nhày; ta xua đuổi day leo kete; ta xua đuổi To Pilama; ta xua đuổi To Wuwu-Tawur; ta xua đuổi Turnbal. Có người đã dìm chúng xuống biển. Hơi sẽ bay lên giữ chúng ở xa; chúng sẽ chìm xuống đáy biển sâu”[1].

    Ta đừng tưởng những câu thần chú không có hiệu lực đâu. Những kẻ man rợ bị ám thị nhiều hơn người văn minh có thể gây nên bệnh hoạn cũng như có thể chữa được bệnh.

    Theo Rivers thì ở nhiều nơi thuộc Melanesia người chữa bệnh là phù thủy hay thầy tu. Người ta không sao phân biệt được y sư với người khác một cách rõ ràng và ai cũng có thể sử dụng một số phương thuốc giản dị. Nhưng những người kết hợp việc hành nghề chữa bệnh với những nghi thức pháp thuật hay tôn giáo thường học nghề theo một tiến trình đặc biệt hoặc do bí truyền hoặc do học tập. Ở Melanesia người ta phải bỏ tiền mới học được nghề. Và khi nào môn sinh nạp tiền ông thầy mới tận tâm chỉ bảo đến nơi đến chốn và môn sinh mới mong hành nghề.

    Như vậy không lạ gì một đẳng cấp tu sĩ rõ rệt đã dần dà thành hình để giữ độc quyền năng tôn giáo và pháp thuật quan trọng. Và dĩ nhiên là họ tạo được uy quyền lớn lao đối với cộng đồng của họ. Ở Ai cập và Bablonia tu sĩ lấn át vua chúa khi đôi bên tranh chấp. Họ đã đánh bại nhà vô thần Pharaoh Ikhaton và hình như họ đã trở mặt giúp Cyrus chinh phục Babylon chỉ vì vua nước họ tỏ ra chống báng giáo quyền.

    Hi lạp và La Mã nổi bật trong cổ thời vì hầu như không có quyền lực tu sĩ. Ở Hi lạp quyền lực tu sĩ chính yếu tập trung trong các đền thánh nhất là đền thờ Apollo ở Delphi[2], nơi bà đồng nhập đồng và phán những lời do thần Apollo gợi hứng. Tuy nhiên đến thời Herodotus người ta biết là đền thánh có thể bị mua chuộc. Cả Herodotus lẫn Aristotle đều kể lại rằng họ Alemaeonidae, một gia đình quan trọng ở Athenes bị Peisistratus (chết năm 527 trước Tây lịch) lưu đầy, đã khéo lo lót nên Thần ở Delphi đã chống lại con Peisistratus. Điều Herodotus kể thật ly kỳ: Nếu ta tin được những người dân Nhã điển thì họ Alemaeonidae đã đút lót cho bà đồng để bà ta bảo với những người Spartans rằng họ có nhiệm vụ phải giải phóng Athenes khỏi ách đô hộ của bọn Peisistratidae mỗi khi có người trong bọn họ đến đền thánh hỏi chuyện gia đạo hay quốc sự. Những người Lacedaemonian nghe riết rồi cũng phải tin nên đã cử Anchimolius, con trai Aster một công dân có tiếng tăm của họ chỉ huy tiến đánh Athenes với lệnh đuổi họ Peisistatidae cho kỳ được, dẫu rằng giữa họ đã có những liên hệ thân hữu chặt chẽ nhất, chính vì họ đã coi trọng những chuyện trên trời hơn những sự vật trần gian.

   Anchimolius bị đánh bại nhưng cuộc viễn chinh thứ hai thành công. Họ Alcmaeonidae và những kẻ lưu vong khác khôi phục được quyền lực và Athenes lại được hưởng tự do.

    Truyện này có nhiều điểm đáng chú ý. Herodotues[3] là người sùng tín, hoàn toàn không có tật châm biếm và ông cho người Spartan nghe lời đền thánh là phải. Nhưng ông coi trọng Athenes hơn Spartan và trong những việc liên quan đến Athenes ông chống lại họ Peisistratidae. Tuy chính những người Athenes đã lo lót nhưng mà họ và bà đồng chẳng hề hấn chi hết. Dòng họ Alcmaeonidae vẫn còn nổi tiếng vào thời Herodotus.

    Trong cuốn Hiến Chế Athenes, Aristotle còn khui nhiều điều xấu hơn trong câu chuyện rắc rối này. Đền Delphi bị hỏa thiêu năm 548 trước Thiên Chúa, và họ Alcmaconidae đứng ra quyên tiền khắp Hi Lạp lập quỹ tái thiết. Theo Aristole họ dùng một phần tiền lo lót bà đồng, và đặt điều kiện là muốn tiêu số tiền còn lại thì trước tiên phải lật đổ con trai của Peisistatus là Hippias đã. Vì âm mưu quỷ quyệt này mà thần Apollo[4]cũng bị mua đứt. Mặc dù đền thánh đã dung dưỡng những chuyện lem nhem, bỉ ổi như thế nhưng việc kiểm soát đền thánh có tầm mức chính trị quan trọng đến nổi gây nên một trận đánh quan trọng mà chúng ta gọi là Chiến Tranh Thần Thánh vì nó có liên hệ đến tôn giáo. Nhưng càng về sau này việc chấp nhận sự thật đền thánh bị chính trị chi phối hẳn đã khích lệ sự bành trướng tự do tư tưởng và cuối cùng người La Mã đã chiếm hết của cải cũng như quyền hành của đền thánh Hy Lạp mà không ai cho rằng là thánh hết. Đa số những định chế tôn giáo sớm muộn gì cũng bị những tên bạo tợn sử dụng vào những mục tiêu trần tục và làm mất đi lòng tôn kính vốn là căn bản cho các định chế loại này. Trong thế giới La Hy chuyện này xảy ra êm thấm, ít xáo trộn hơn ở bất cứ nơi nào khác, vì tôn giáo chẳng bao giờ có đươc sức mạnh đáng kể như ở Á Châu, Phi Châu và Âu châu thời Trung cổ. Trung Hoa là quốc gia duy nhất giống Hy Lạp và La Mã về phương diện này.

    Cho tới đây chúng ta chỉ mới lưu tâm tới những tôn giáo phát sinh từ thời tối sơ, nhưng ở khắp nơi những tôngiáo loại này đã bị những tôn giáo có giáo chủ vượt qua. Chỉ có thần đạo Nhật Bản và Bà la môn giáo là vẫn còn tồn tại. Nguồn gốc của những tôn giáo xưa (như tôn giáo mà các nhà nhân chủng học tìm thấy nơi những bộ tộc man rợ còn sống sót tới nay) vẫn còn hoàn toàn mù mờ. Chúng ta đã thấy nơi những kẻ man rợ không có một đẳng cấp tu sĩ rõ ràng; có lẽ lúc đầu việc cúng tế là đặc quyền của những người già vì tuổi tác được coi là biểu tượng của sự khôn ngoan và đôi khi đồng nghĩa với khả năng pháp thuật cao cường. Cùng với tiến hóa lịch sử, các tu sĩ ngày càng tách khỏi quần chúng và có nhiều quyền lực hơn, nhưng vì họ là những kẻ bảo vệ một truyền thống cũ, họ là những kẻ rất bảo thủ, họ có của cải, quyền lực nên họ có khuynh hướng trở nên thờ ơ hay thù ghét tín ngưỡng cá nhân. Nhưng chẳng chóng thì chầy hệ thống của họ sẽ bị những nhà tiên tri cách mạng lật nhào, Phật, Chúa và Mohammed là ba nhà tiên tri lớn nhất trong lịch sử. Quyền lực của các đồ đệ lúc đầu có tính chất cách mạng sau dần dần biến thành truyền thống. Trong tiến trình ấy, họ thường giữ lại phần lớn truyền thống cũ mà chính họ lật đổ (trên danh từ).

    Cả những kẻ canh tân đạo và đời (ít ra là những kẻ đạt được thành công lâu dài) đều phải kêu gọi đến truyền thống (đến mức độ có thể được) và làm mọi cách để giảm thiểu những yếu tố mới mẻ trong hệ thống của họ. Kế hoạch thường thấy nhất là tạo ra một quá khứ vàng son với ít nhiều tưởng tượng rồi giả bộ muốn tái lập những định chế đã “vang bóng một thời”. Chúng ta đọc thấy trong cuốn các vua (sách thứ nhất trong đoạn XXII) trường hợp các tu sĩ đã tìm thấy cuốn Luật Lệ Thư (Book of the Law) và nhà vua đòi phải tuân giữ những lề luật trong sách này. Tân Ước viện dẫn quyền uy của những Tiên tri; những người theo Tá Tẩy Lễ Giáo Phái viện dẫn Tân Ước; những tín đồ Thanh giáo Anh dựa vào những định chế giả định của Anh quốc từ trước khi có cuộc Chinh Phục trong các vấn đề thế tục. Năm 645 người Nhật khôi phục quyền lực của Thiên Hoàng: năm 1868 họ phục hồi “hiến chế” năm 645. Một lô những tay phản loạn trong suốt thời kỳ Trung cổ cho đến ngày 18 Brumaire đã “khôi phục lại những thể chế cộng hòa” của La Mã. Napoleon đã “khôi phục” đế quốc Charlemagne, nhưng điều này khôi hài quá sức nên chẳng ai thích thú ngay cả trong thời đại ưa chuộng những lời đao to búa lớn. Tôi chỉ đưa ra một số trường hợp lộn xộn để chứng tỏ ngay cả những kẻ canh tân lớn nhất vẫn kính trọng quyền lực của truyền thống.

    Tổ chức tu sĩ nhiều quyền lực nhất và quan trọng nhất là Giáo Hội Công Giáo. Trong chương sách này tôi chỉ xét quyền lực tu sĩ khi nó đã trở thành truyền thống vững vàng; vì vậy tôi sẽ không bàn tới quyền lực tu sĩ vào thời kỳ sơ khai khi mà quyền lực của Giáo Hội có tính chất cách mạng. Sau khi đế quốc La Mã sụp đổ, Giáo hội có may mắn đại diện cho hai truyền thống: truyền thống Thiên chúa giáo và truyền thống La Mã. Những dân man di mọi rợ vào thời trung cổ có quyền lực gươm giáo khi xâm lăng các quốc gia phía Nam Châu Âu, nhưng Giáo hội có một nền văn minh cao hơn, một nền giáo dục cao hơn và những mục đích siêu việt như là phương tiện mời gọi những hy vọng tôn giáo và sợ hãy mê tín, và trên hết giáo hội là tổ chức duy nhất bành trướng khắp Tây Âu. Giáo hội phải đối đầu với những đế quốc tương đối ổn định là Constantinople và Moscow, nên đã hoàn toàn bị lệ thuộc vào Nhà nước; nhưng ở phía Tây cuộc chiến đấu tiếp diễn dai dẳng tới Thời Cải Cách và mãi đến tận ngày nay vẫn chưa chấm dứt ở Đức, Mễ tây cơ và Tây Ban Nha.

    Suốt sáu thế kỷ đầu sau những cuộc xâm lăng của rợ. Giá hội Tây Âu không thể tranh chấp ngang ngửa với các vua Nhật nhĩ man cuồng bạo, nhiệt thành đang cai trị Anh, Pháp, Bắc Ý và Tây Ban Nha chịu ảnh hưởng của Thiên chúa giáo. Tình trạng này do nhiều nguyên nhân đưa tới. Những cuộc chinh phục của Justinian ở Ý đã khiến cho ảnh hưởng của Giáo hoàng lan rộng trong phạm vi đế quốc Byzantin nhưng cũng đã khiến cho Giáo hoàng mất đi nhiều ảnh hưởng ở phía Tây. Trừ một vài biệt lệ các giáo sĩ cao cấp phần lớn xuất thân từ những nhóm quý tộc phong kiến nên đã gây cảm tình hơn một giáo hoàng vừa ở xa vừa khác giống lại vừa gây nên những chuyện rắc rối. Những giáo sĩ cấp thấp thì dốt nát, phần lớn lại có vợ con nên kết quả là họ lo chuyển đạt quyền lợi mà họ được hưởng hơn là chiến đấu cho Giáo hội. Việc giao thông khó khăn đến nổi mà quyền bính La Mã không thi hành nổi ở những vương quốc xa xôi. Chính quyền đầu tiên có thể cai trị hữu hiệu một vùng rộng lớn không phải của Giáo hoàng mà là của Charlemagne. Những kẻ đương thời đều cho Charlemagne giỏi hơn hẳn giáo hoàng.

    Sau năm 1000 người ta thấy ngày tận thế mà nhiều người tiên đoán đã không xảy ra. Văn minh nhờ vậy mà tiến bộ mau chóng. Những tiếp xúc với người Moors Ở Tây Ban Nha và Sicily khiến triết học kinh viện phát triển rất nhanh. Sau bao nhiêu thế kỷ làm thảo khấu, dân Normans lột xác toàn diện. Ở Pháp và Sicily họ thâu nhận tất cả các học thuật của khắp nơi và trở nên một lực lượng của trật tự và tôn giáo thay vì là những nhóm gây hấn, tàn phá. Ngoài ra họ còn nhận thấy là phải nhờ đến giáo hoàng trong các nghi thức hợp thức hóa các cuộc chinh phục. Lần đầu tiên nhờ họ mà giáo quyền Anh đã có lúc bị dưới sự giám quản của La Mã. Trong khi đó cả hoàng đế và vua Pháp đều khốn đốn mới kiểm soát được các chư hầu. Chính trong những hoàn cảnh này mà Gregory VII (tức Hildebrand) đã dùng tài ngoại giao và năng lực của giáo hoàng và đã kéo dài suốt hai thế kỷ đó.

    Sự thăng trầm của quyền giáo hoàng thật đáng là đề tài để nghiên cứu cho những ai muốn tìm hiểu sự thâu đoạt quyền lực bằng tuyên truyền. Bảo rằng con người mê tín và tin vào quyền Giáo hoàng không đủ. Suốt thời Trung Quốc cổ có bao nhiêu dị giáo hẳn đã có thể bành trướng mau lệ như Tân giáo nếu như các vị giáo hoàng nói chung không đáng tôn trọng. Các nhà cai trị thế tục đã nỗ lực buộc Giáo hội lệ thuộc Nhà Nước. Họ đã thất bại ở phía Tây nhưng thành công ở phía Đông. Chúng ta có thể giải thích được hiện tượng này bằng nhiều lý do: trước tiên quyền lực giáo hoàng không phải là quyền lực cha truyền con nối nên ít bị xáo trộn bởi những nhóm tham quyền cố vị như trong các vương quốc thế tục. Một người không dễ leo lên chỗ cao trong Giáo hội nếu không có lòng thành kính, kiến thức rộng, hay tài kinh bang tế thế; các giáo hoàng đều hơn người thường chẳng ít thì nhiều, trong khi đó các vua chúa thế tục thì thường tồi tệ, kém cỏi; ngoài ra họ không kiềm chế được dục vọng như các tu sĩ. Nhiều vua chúa từng muốn ly dị nhưng vấn đề này lại thuộc thẩm quyền giáo hoàng nên nhiều khi họ phải hạ mình trước giáo hoàng. Đôi khi có kẻ coi nhẹ Giáo hoàng như Henry XIII, song làm vậy thì thần dân bất bình, các chư hầu bội ước và cuối cùng phải chịu thần phục Giáo hoàng hay mất ngôi.

    Một sức mạnh lớn lao là sự liên tục trong các nhiệm vụ siêu nhiên cao cả, Giáo hoàng này có mất đi thì có giáo hoàng khác kế tiếp những truyền thống siêu nhiên cũ. Do đó Giáo hoàng vẫn tồn tại một cách mãnh liệt. Giáo hội còn có cả một học thuyết và một truyền thống lãnh đạo chứ các vua chúa thì chẳng có gì. Sau này nhờ vào chủ nghĩa quốc gia lớn mạnh mà các chính quyền thế tục mới đạt được sự liên tục tương đối.

    Vào các thế kỷ 11,12,13 các vua chúa thường dốt nát trong khi phần lớn các giáo hoàng vừa có  học vừa lại thức thời. Ngoài ra các vua còn bị hệ thống phong kiến trói buộc. Hệ thống phong kiến này cồng kềnh thường xuyên bị nguy cơ vô chính phủ đe dọa, và kình nghịch với các lực lượng kinh tế mới. Nói chung Giáo hội tiêu biểu cho một nền văn minh cao hơn Nhà Nước trong ba thế kỷ này.

    Nhưng sức mạnh lớn nhất của giáo hội nằm trong lòng tôn kính Giáo hội đã gây dựng được. Giáo hội thừa hưởng vinh quang của các thời kỳ cấm đạo trước đây. Các chiến thắng của Giáo hội đã liên kết với lối sống độc thân, và vào thời Trung cổ lối sống này rất được kính trọng. Biết bao giáo sĩ kể cả Giáo hoàng chẳng thà cắn răng chịu khổ còn hơn là nhượng bộ một điểm về nguyên tắc. Làm sao không kính phục cho được những nhân vật xuất chúng của giáo hội đã bỏ tất cả để sống cho những mục đích cao cả, trong cái thế giới ô trọc, phóng đãng và ham danh này? Trong nhiều thế kỷ liên tiếp, những người thánh thiện như Hildebrand[5], thánh Bernard, thánh Françis đã làm công luận tán thưởng hết mình và ngăn được sư khinh khi luân lý vì các kẻ khác cũng trong giới tu hành mà  lại phạm nhiều tội tầy trời.

    Nhưng đối với một tổ chức có cứu cánh lý tưởng và do đó biện minh được lòng ham chuộng quyền lực, lòng hiu hiu tự đắc rất nguy hiểm và chắc chắn sau này sẽ đưa tới những hành động tàn nhẫn vô nhân đạo. Giáo hội rao giảng lòng miệt thị các sự vật trần thế nhưng chính nhờ vào sự khinh bỉ vật chất mà Giáo hội kiểm soát được các vua chúa. Lời phát thệ sống nghèo nàn của dòng friar khiến mọi người khâm phục, mà nhờ vậy mà gia tăng tài sản kếch sù của giáo hội. Thánh Françis truyền giảng tình huynh đệ mà oái oăm thay chính điều này khiến người ta đủ sức theo đuổi một cuộc chiến tranh khốc liệt đưa đến chiến thắng. Nhưng sau cùng thì giáo hội Trung cổ đánh mất tất cả những mục tiêu luân lý, nhờ vào đó họ có được của cải quyền lực và cuộc Cải Cách thật cần thiết để Giáo hội hồi sinh.

    Những tệ hại không sao tránh khỏi khi người ta dùng đức tính lam phương tiện chiếm bạo lực cho một tổ chức.

    Từ trường hợp ngoại xâm, quyền lực cổ truyền bị sụp đổ vì nó bị lạm dụng bởi những kẻ tin rằng (như Machiavelli đã tin) nó khống chế tâm trí con người đến nỗi chẳng có gì lay chuyển nỗi nó cả ngay cả những tội ác tầy trời.

    Dân Hy Lạp tôn kính đền thánh, dân thời Trung cổ tôn kính Giáo hoàng như thế nào, dân Mỹ hiện nay tôn kính Tối Cao Pháp Viện như vậy. Những ai nghiên cứu Hiến Pháp Hoa kỳ biết rằng Tối Cao Pháp Viện là trong những sức mạnh bảo vệ đám phú hào. Trong những hiểu biết như vậy, có kẻ ở phe phú hào nên không muốn tuyên bố gì cả, còn những kẻ nhận ra điều đó và thông báo kẻ khác biết thì bị chụp mũ là Bôn xê vích hay phản loạn! Như thế liệu ai còn dám tin nữa!

    Thần quyền ít bị ảnh hưởng bởi việc bại trận hơn là thế quyền.Sau thế chiến thứ nhất. Nga xô và Thổ nhĩ kỳ đã trải qua một cuộc cách mạng chính trị cũng như thần học, nhưng ở cả hai nước này tôn giáo cổ truyền có liên hệ thân thiết với nhà nước. Việc Giáo hội chiến thắng dân rợ vào thế kỷ thứ năm cho thấy là thần học có thể dùng sau cuộc thất trận. Trong cuốn City of God (cảm hứng bởi việc La mã bị cướp bóc) thánh Augustine giải thích rằng quyền lực đời này không phải là điều đã được hứa hẹn với người thật lòng tin yêu chúa, và do vậy chẳng có gì đáng quan tâm cả. Những kẻ vô đạo sống sốt trong đế quốc lập luận rằng La mã bị đánh bại vì đã bỏ những thần linh. Nhưng mặc dù dầu lập luận này có hợp lý, đa số quần chúng không ủng hộ. Văn minh cao hơn của những kẻ chiến bại đã bành trướng giữa những kẻ mọi rợ; trong những kẻ mọi rợ này Hitler là người đầu tiên đã lay chuyển truyền thống văn hóa cổ đến tận gốc rễ.
  


[1]
 Rivers.Medecine, Magic, and Religion/ Y thuật, Pháp thuật và Tôn giáo, trang 16.

[2] Thành phố Hy lạp cổ trên sườn núi Parnassus có đền thần Apollo.

[3] Herodotus (thế kỷ 5 trước Tây lịch); sử gia Hy Lạp đã viết 9 cuốn Sử Ký nổi tiếng.

[4] Apollo là vị thần thi ca, âm nhạc; có tài tiên tri.

[5] Hildebrand: tức Giáo hoàng Gregory VII, sinh ở Soano (torcan) vào khoảng 1015-1020. Làm Giáo hoàng từ 1073-1085, nổi tiếng vì đã chống lại Hoàng Đế Tây Phương Henri IV, Henri IV đã chịu tạ lỗi sa những tranh chấp.

Nguồn: Bertrand Russell. Quyền lực. Nguyễn Vương Chấn – Đàm Xuân Cận dịch, Nxb Hiện đại, 1972. Bản điện tử do triethoc.edu.vn thực hiện.

Dẫn theo: triethoc.edu.vn 

(còn nữa)

Bertrand Russell - QUYỀN LỰC (Phần II)


Chương III

CÁC HÌNH THỨC CỦA QUYỀN LỰC


    Ta có thể coi quyền lực là sản phẩm của những hiệu quả có chủ ý. Định nghĩa này là một ý niệm định lượng. Giả dụ có hai người với những ham muốn tương tự nếu một người hoàn thành được mọi ham muốn như người kia cộng thêm một số khác nữa, anh ta là người có nhiều quyền lực hơn. Nhưng ta không có cách nào để so sánh hai người đạt được những ham muốn thuộc hai loại khác nhau. Thí dụ có hai họa sĩ (cả hai đều muốn vẽ tranh đẹp và trở nên giàu có), một người vẽ tranh đẹp và người kia trở nên giàu có chẳng hạn. Tuy nhiên, nói một cách đại khái thì A có quyền lực hơn B nếu A hoàn thành nhiều hiệu quả có chủ ý hơn B.

    Có nhiều cách sắp loại các hình thức của quyền lực, mỗi cách có ích lợi riêng. Trước tiên ta phân biệt quyền lực trên con người và quyền lực trên vật chất hay những hình thứcsinh hoạt ngoài con người. Tôi sẽ chỉ lưu ý tới quyền lực trên con người, nhưng ta cần nhớ rằng quyền lực gia tăng trên vật chất nhờ khoa học là nguyên nhân chính của mọi sự biến đổi trong thế giới hiện tại.

    Ta có thể sắp loại quyền lực trên con người theo cách nó ảnh hưởng tới các cá nhân hay theo loại tổ chức liên hệ.

    Một cá nhân có thể chịu ảnh hưởng của: A; quyền lực vật lý trực tiếp trên thân thể, thí dụ như bị cầm tù hay bị giết, B, thưởng hay phạt, thí dụ được tuyển dụng hay mất việc, C, ảnh hưởng trên dư luận, thí dụ như tuyên truyền hiểu theo nghĩa rộng nhất. Ở mục C tôi muốn kể thêm cơ hội tạo ra thói quen nơi người khác, thí dụ như bằng việc huấn luyện quân sự.

    Những hình thức của quyền lực này được phơi bày trắng trợn và giản dị nhất khi ta đối xử với loài vật vì trong trường hợp này chúng ta không cần giả vờ hay che giấu gì hết. Khi ta thòng dây qua bụng con heo và lôi nó lên tàu, nó đau và kêu eng éc; con heo chịu quyền lực vật lý trên chính thân xác nó. Mặt khác khi chú lừa theo sau củ cà rốt trong truyện ngụ ngôn, ta xúi giục con lừa làm theo ý ta bằng cách thuyết phục nó rằng chính là vì lợi của nó. Các thú vật làm xiếc là trường hợp ở giữa hai trường hợp trên, ta tạo cho chúng các thói quen bằng thưởng và phạt; cũng cần kể tới bầy cừu bị quyến dụ lên tàu, khi con đầu đàn bị lôi kéo lên tàu bằng sức mạnh, rồi các con khác tự ý chạy theo.

    Tất cả những hình thức này có nơi con người.

    Trường hợp con heo chứng tỏ quyền lực quân sự và cảnh sát.

    Con lừa với củ cà rốt điển hình cho quyền lực của tuyên truyền.

    Những thú vật làm xiếc cho thấy quyền lực của giáo dục.

    Đàn cừu riu ríu theo con đầu đàn bất đắc dĩ của chúng là hình ảnh của chính trị đảng phái mỗi khi một vị lãnh tụ khả kính phải miễn cưỡng hành động theo ý của một phe nhóm hay các tay tổ trong đảng.

    Chúng ta hãy mang những thí dụ mượn của Aesop này ra để giải thích việc nắm quyền của Hitler[1]. Củ cà rốt là chương trình của đảng Quốc xã (bao gồm việc bãi bỏ tiền lãi chẳng hạn): con lừa là giai cấp hạ trung lưu. Bầy cừu và con đầu đàn là những đảng viên Dân Chủ Xã Hội và Hindenburg[2] những con heo (ở đây chỉ nói tới những bất hạnh của chúng) là những nạn nhân trong trại tập trung, và những thú vật làm xiếc là hàng triệu đảng viên quốc xã.

    Các loại tổ chức quan trọng nhất khác nhau tùy loại quyền lực chúng hành xử. Quân đội và cảnh sát dùng quyền lực áp chế trên thân xác các tổ chức kinh tế chính yếu dùng phần thưởng và hình phạt làm phương tiện khuyến khích hay ngăn chặn, nhà trường, nhà thờ và đảng chính trị nhằm gây ảnh hưởng với dư luận. Nhưng những phân biệt này không rõ ràng hoàn toàn vì mỗi tổ chức có thể dùng nhiều hình thức quyền lực ngoài hình thức điển hình nhất.

    Quyền lực của luật pháp sẽ minh dẫn những phức tạp này. Quyền lực tối hậu của luật pháp là quyền lực cưỡng chế Nhà Nước. Đặc tính của những cộng đồng văn minh nằm trong sự cưỡng chế vật lý trực tiếp là độc quyền của Nhà Nước và luật pháp chính là một bộ luật theo đó Nhà Nước hành xử quyền này trong khi giao tiếp với công dân. Nhưng luật pháp dùng trừng phạt không nhằm cấm chỉ hẳn những hành động xấu xa mà còn để dẫn dụ, thí dụ một hình phạt vi cảnh không khiến một hành động chẳngthể xảy ra, mà chỉ làm cho nó trở nên ít hấp dẫn hơn. Hơn nữa và đây còn là điều thật quan trọng luật pháp hầu như bất lực khi nó không được lòng dân, như ta thấy ở Hoa Kỳ vào thời kỳ cấm rượu hay ở Ái Nhĩ Lan vào những năm 80 khi những kẻ khủng bố chiếm được nhiều cảm tình của đa số dân chúng. Muốn hữu hiệu, luật pháp phải nhờ vào dư luận và tình cảm còn hơn là trông cậy ở cảnh sát. Mức độ cảm tình tán thành luật pháp là một trong những đặc tính quan trọng nhất của cộng đồng.

    Tới đây chúng ta hãy phân biệt quyền lực cổ truyền với quyền lực mới thủ đắc. Quyền lực cổ truyền được thói quen tăng cường; người ta không cần phải bênh vực nó hoài hủy, cũng không cần phải bô bô tuyên bố là mọi chống đối đều vô ích. Hơn nữa quyền lực này luôn luôn liên kết với những tin tưởng tôn giáo vốn đã phá mọi thứ chống đối. Thường thì công luận hỗ trợ quyền lực cổ truyền nhiều hơn quyền lực cách mạng hay thoán đoạt. Sự kiện này đưa đến hai hậu quả mâu thuẫn ít nhiều: một mặt quyền lực cổ truyền không cần phải rình mò theo dõi những kẻ phản bội và đã được an toàn, và không muốn có nhiều hành động chính trị bạo ngược; mặt khác, ở những nơi còn những định chế xưa tập quán chấp nhận những hành động bất công mà các kẻ cầm quyền hay phạm phải nên những bất công này sẽ  trắng trợn hơn là nếu có một hình thức chính quyền mới, vì chính quyền mới này còn cần lưu tâm tranh thủ sự ủng hộ của dân chúng.

    Tôi gọi quyền lực không đặt căn bản trên truyền thống hay đồng tình là bạo lực. Bạo lực có những đặt tính khác xa quyền lực cổ truyền. Và nơi nào quyền lực cổ truyền còn tồn tại, tính chất của chế độ gần như hoàn toàn tùy thuộc vào việc chế độ bền vững hay lung lay.

    Bạo lực thường là quyền lực quân sự thể hiện hoặc trong hình thức chuyên chế quốc hội hay chinh phục quốc ngoại. Quyền lực quân sự có tầm mức quan trọng rất lớn, hơn là các sử gia khoa học hiện đại chấp nhận. Những chiến công hiển hách của Alexander the Great[3]và Julius Caesar[4] đã thay đổi hẳn dòng lịch sử. Nếu không có Alexander the Great người ta hẳn đã không dùng tiếng Hy lạp mà chép Phúc âm, và không rao giảng Thiên Chúa giáo khắp đế quốc La Mã. Không có Julius Caesar hẳn người Pháp đã không nói một thứ tiếng bắt nguồn từ tiếng La Tinh và giáo hội Công giáo khó mà thành hình. Ưu thế quân sự của người da trắng đối với người da đỏ Mỹ châu là bằng chứng hùng hồn của thứ quyền lực gươm giáo hơn bất cứ thứ nào khác trong lịch sử loài người. Tuy vậy, trong hầu hết các trường hợp quyền lực quân sự dựa trên một hình thức quyền lực khác, chẳng hạn như tài sản, kiến thức, kỹ thuật hay một chủ thuyết cuồng tín. Dĩ nhiên không phải lúc nào cũng vậy, thí dụ như trong trận chiến Thừa kế Tây Ban Nha, thiên tài Marlborough là yếu tố quyết định thắng bại. Nhưng đây chỉ là trường hợp đơn lẻ.

    Khi một hình thức quyền lực cổ truyền chấm dứt, hình thức kế tiếp có thể không là bạo lực mà là một quyền lực cách mạng có sự thuận tình của đa số hay một thiểu số dân chúng đáng kể. Chúng ta hãy đọc lại lịch sử cuộc chiến tranh độc lập tại Hoa Kỳ. Quyền hành của Hoa thịnh đốn đãkhông có đặc tính nào của bạo lực. Trong cuộc cải cách nhiều giáo hội mới được thành lập để thế chỗ Giáo hội Công giáo đã thành công nhờ vào thuyết phục hơn là áp chế. Một chính quyền cách mạng muốn cũng cố địa vị mà không cần bạo lực phải có sự hỗ trợ của quần chúng mạnh mẽ hơn một chính quyền truyền thống rất nhiều. Khi Cộng hòa Trung Hoa được khai sinh vào năm 1911, những người hấp thụ giáo dục Tây phương đã biểu quyết chấp thuận một hiến pháp đại nghị, nhưng vì quần chúng quá thụ động nên chẳng bao lâu chế độ trở thành một chế độ bạo lực gồm các sứ quân xâu xé tranh giành nhau. Công cuộc thống nhất do Quốc Dân đảng hoàn thành tùy thuộc vào chủ nghĩa quốc gia, chứ không phải là nhờ vào chế độ đại nghị. Tình trạng này thường thấy ở những quốc gia châu Mỹ Latinh. Trong những trường hợp có lẽ các quốc hội đã làm cách mạng nếu quần chúng hỗ trợ đầy đủ; nhưng quyền lực quân sự thuần túy chiến thắng chỉ là bạo lực.

    Sự phân biệt quyền lực cổ truyền, quyền lực cách mạng và bạo lực có tính tâm lý thôi. Tôi không coi một thứ quyền lực là cổ truyền chỉ bởi nó mang những hình thức cổ; nó cũng được coi trọng còn vì tập quán nữa. Khi lòng kính trọng này không còn, quyền lực cổ truyền dần dần biến thành bạo lực. Ta thấy tiến trình này ở Nga khi phong trào cách mạng tiến tới thành công vào năm 1917.

    Tôi coi quyền lực là quyền lực cách mạng khi nó tùy thuộc vào một nhóm lớn nắm được quyền lực nhờ vào một tín niệm mới, một chương trình hoạt động mới, hay một tình cảm mới kết hợp như Tôn giáo hay Chủ nghĩa cộng sản, hay lòng khao khát thống nhất quốc gia. Tôi coi quyền lực là bạo lực khi nó chỉ bắt nguồn từ những khuynh hướng ham muốn quyền lực của các cá nhân hay các nhómvà chỉ được người ta tuân theo vì sợ hãi chứ không có sự cộng tác thành thật nào. Thực ra mức độ bạo lực của quyền lực chỉ là vấn đề cấp độ. Trong một xứ dân chủ chính phủ không dùng bạo lực với các đảng phái chính trị đối lập nhưng bắt buộc phải nặng tay với một tên vô chính phủ bất trị. Giáo hội dùng bạo lực khi xử trí với các kẻ rối đạo nhưng ôn hòa với các tín đồ phạm tội của mình.

    Chúng ta hãy xét tới quyền lực của tổ chức và quyền lực của cá nhân. Cách thủ đắc quyền lực của một tổ chức không giống như cách một cá nhân thủ đắc quyền lực trong phạm vi một tổ chức. Dĩ nhiên hai cách này có liên hệ nhau. Nếu bạn muốn làm thủ tướng Anh, bạn phải có thế lực trong đảng của bạn và đảng của bạn phải có quyền hành trong quốc gia. Nhưng nếu bạn sống vào thời kỳ mà nguyên tắt thế tập còn duy trì, bạn phải là kẻ thừa kế một ông vua mới hòng chiếm được quyền lãnh đạo chính trị một quốc gia.Tuy nhiên điều này chưa chắc giúp bạn chinh phục được các quốc gia khác vì bạn cần có những đức tính mà con cái các vua thường không có. Hiện nay tình trạng này cũng xảy ra trong lãnh vực kinh tế, vì cảnh cha truyền con nối vẫn tiếp tục. Các đảng viên xã hội Pháp vẫn tiếp tục sách động chống lại khoảng hai trăm gia đình phú hào ở Pháp. Những triều đại các phú hào thường không bền vững như các triều đại và cảnh thất thế rất thường. [Người] Việt Nam có câu(a): “Không ai giàu ba họ, không ai khó ba đời”.

    Tùy theo mỗi loại tổ chức mà một loại người nào đó tiến đến hàng lãnh đạo và các trạng thái xã hội cũng đưa đẩy một hạng người tới chỗ nắm được quyền lực. Một thời đại nổi bật hẳn lên trong lịch sử qua những cá nhânxuất chúng, và mặc lấy những tính chất tổng quát của thời đại do cá tính của những nhân vật này, như ta thường thấy nơi câu nói: “Anh hùng tạo thời thế”. Và bởi vì những đức tính này thay đổi tùy theo hoàn cảnh lịch sử nên các cá nhân xuất chúng cũng thay đổi về phương diện cá tính. Có lẽ đãcó những người như Lenin[5] vào thế kỷ 12 và những người như Richard Coeur De Lion[6] vào thời  đại chúng ta nhưng lịch sửđã không biết đến họ chỉ vì họ đã đầu thay nhằm thế kỷ. Chúng ta hãy xét những loại cá nhân do những loại quyền lực khác nhau tạo nên.

    Quyền lực thế tập đã đưa ra những tiêu chuẩn về con người quân tử. Đây là hình thức biến cải của một quan niệm đã có từ lâu đời, từ những khả năng pháp luật của các thủ lãnh, qua tính cách thần thánh của các vua chúa, cho tới tinh thần mã thượng và nhà quý tộc. Nơi nào có quyền lực truyền tập những đức tính đáng trọng là sự khoan thai nhàn hạ và ưu thế gia đình rõ rệt. Nơi có quyền lực quí (hơn là hoàng tộc) lề lối cư xử đúng đắn là phong cách lịch lãm đối với kẻ ngang hàng và thái độ kẻ cả đối xử với người dưới. Mặc dầu quan niệm về phép xử thế thay đổi ra sao thì ta cũng chỉ xét người qua phong thái ở những nơi còn quyền lực truyền tập. Kẻ trưởng giả học làm sang chỉ đáng chê cười khi hắn len lỏi vào cái thế giới đàn ông, đàn bà chỉ biết làm bộ làm tịch. Một kẻ đóng vai một người quân tử nếu anh ta được hưởng gia tài đồ sộ. Nhưng anh tasẽ bị khinh khi ngay khi gia đình suy sụp, và khi đó anh sẽ lộ rõ vẻ rách rưới thê thảm ngay. Cháy nhà ra mặt chuột mà.

    Ta lại thấy một mẫu người rất khác ở nơi nào quyền lực dành cho những người thông thái hay khôn ngoan, tạm cho là thế, chẳng hạn như ở Trung Hoa cổ thời và Giáo hội Công giáo. Trong thế giới ngày nay thứ quyền lực hiền triết chẳng còn bao nhiêu so với các thời đại lịch. Thật lạ lùng là những cộng đồng man rợ nhất lại coi trọng kẻ sĩ hơn hẳn những xã hội văn minh. Tôi dùng chữ học vấn theo nghĩa rộng, gồm cả cái học của những nhà ma thuật và thầy thuốc. Phải mất hai mươi năm học mới lấy nổi văn bằng tiến sĩ của đại học Lhasa, cần để đảm nhiệm những chức vụ cao quý, chỉ trừ có đức Đạt Lai LạtMa. Ta cũng nên nhớ lại tình trạng Âu châu vào năm 1000 Giáo hoàng Silvester II nổi tiếng là một nhà pháp thuật vì ông chịu sưu tầm sách vở nên sau đó đã gia tăng quyền lực của Giáo hội rất nhiều bằng cách tạo nên những khủng khiếp siêu hình.

    Người trí thức là hậu duệ trí thức của nhà tu, nhưng giáo dục càng ngày càng lan tràn làm ông mất quyền. Khi xưa quyền lực của nhà trí thức lớn lao là vì dân chúng còn mê tín: họ thường tôn sùng thần chú hay sách thánh. Điều này còn di tích trong thái độ của người Anh đối với lễ Đăng quang và lòng tôn sùng Hiến pháp của người Mỹ; cho nên vị Tổng giám mục thành Canterbury và các thẩm phán Tối cao Pháp Viện Hoa kỳ còn được hưởng phần nào quyền lợi truyền thống của người trí thức. Quyền lợi của các giáo sĩ Ai Cập hay của những nhà nho Trung Hoa ngày nay thì cũng đã tiêu ma mất rồi.

    Đặc tính điều hành của người quân tử là danh dự, còn đức tính của con người đạt tới quyền lực do sở học là sự khôn ngoan. Để được tiếng khôn ngoan, một người phải tinh khôn kinh nghiệm xử thế. Ngay tuổi tác cũng là điều đáng trọng. Những tiếng ‘presbyter’, ‘seigneur’, ‘alderman’, và ‘elder’dùng để chỉ lòng kính trọng ở trung hoa một kẻ hành khất thường van xin những người qua lại bằng tiếng: “lạy ông già cao trọng”. Nhưng ở nơi nào quyền lực của kẻ không ngoan được tổ chức hẳn hoi, thì các tu sĩ và những nhà trí thức thường kết tập với nhau, và sự khôn ngoan được người đời coi là ngưng tụ nơi họ, nhà hiền triết rất khác mẫu người hiệp sĩ, và xã hội dưới ảnh hưởng của họ cũng khác hẳn. Trung hoa cho ta một thí du khác hẳn Nhật bản.

    Chúng ta đã lưu tâm đến một việc khá kỳ quặc là dù rằng vai trò của trí thức hiện nay lớn hơn bất cứ thời nào trước đây, nhưng xem ra kẻ có trí thức mới chẳng thấy quyền lực của mình gia tăng cách tương xứng. Dẫu cho người thợ điện hay người thợ sửa điện thoại có thể làm nổi những công việc khá ly kỳ, chúng ta vẫn không coi họ là thầy thuốc xưa, hay tưởng tượng rằng họ có thể tạo nên sắm chớp nếu ta quấy rấy họ. Lý do là trí thức khoa học dù có khó khăn tới đâu chăng nữa cũng chẳng có gì là bí hiểm và ai cũng có thể biết dược nếu chịu khó. Cho nên người tri thức hiện tại chẳng làm cho ai ngán sợ mà chỉ là một kẻ làm công không hơn không kém. Trường hợp tổng giám mục thành Canterbury khá đặc biệt, ông vừa là một tiến sĩ thông thái vừa là một nhà lãnh đạo uy quyền.

    Sự thực là người có học được kính trọng không phải là vì sở học mà vì người ta e ngại ông ta có quyền lực pháp thuật. Khoa học làm mất miền tin vào pháp thuật, làm mấtcả người tri thức. Và dù rằng các phát minh cũng như các phát kiến của họ đã có những ảnh hưởng khó lường đối với lịch sử, nhưng đứng riêng lẻ như những cá nhân, người ta coi họ không bằng một pháp sư trần trụi ở Ấn Độ hay một thầy thuốc ở Châu Đại Dương. Các nhà tri thức trở nên bất mãn với thế giới mới vì chính những công việc họ làm đã lấy đi quyền năng của họ. Những người ít bất mãn hơn xoay qua chủ nghĩa cộng sản; những kẻ thất chí nhiều tự khép mình trong tháp ngà. 

    Sự lớn mạnh của những tổ chức kinh tế to tát đã tạo ra một loài người đầy quyền năng mới: nhà quản trị như danh hiệu họ thường gọi tại Hoa Kỳ. Nhà quản trị điển hình(b)là người có quyết định mau lẹ, nhìn thấy rõ vấn đề và có ý trí sắt đá: ông là người cương nghị, môi luôn mím chặt và có lời nói tắt rạch ròi. Ông vừa phải có những đức tính của một viên tướng tài lại đồng thời có đức tính của một nhà ngoại giao lỗi lạc: quyết liệt khi xung trận, mềm dẻo khi thương thuyết. Nhờ những đức tính đó mà họ kiểm soát những tổ chức kinh tế quan trọng.

    Quyền lực chính trị trong một nền dân chủ có khuynh hướng khác với mấy mẫu vừa kể. Muốn thành công, một chính trị gia phải chiếm được tín nhiệm nơi guồng máy của ông và tạo được hứng khởi nào đó nơi đa số cử tri. Hai đoạn đường đưa tới quyền lực này đòi hỏi những đức tính không hẳn y hệt nhau, nên có chính trị gia chỉ thành công ở một giai đoạn thôi. Nhiều ứng cử viên vào chức vị Tổng Thống ở Hoa Kỳ không sao lôi cuốn nổi quần chúng dẫu rằng họ có thừa tài lấy lòng những tay tổ đảng phái. Những người này thường bị đánh bại, trái với những ước đoán củanhững tay điều hành guồng máy đảng. Tuy nhiên, đôi khi guồng máy có thể đem lại thắng lợi cho một ứng cử viên xoàng xĩnh, và một người như vậy chẳng bao giờ có thực quyền vì luôn luôn chịu sự khống chế của guồng máy đảng.Trái lại cũng có khi một người có thể tạo nên guồng máy cho chính mình, thí dụ như Napoleon III, Mussolini và Hitler. Thường hơn cả là trường hợp một chính trị gia có thực tài thì mặc dù ông ta sử dụng một nguồn máy đã có sẵn nhưng rồi ông cũng sẽ làm chủ thực sự.

    Tính chất của mỗi thời đại cũng làm thay đổi những đức tính của những chính trị gia. Thời đại hòa bình khác với thời buổi chiến tranh hay cách mạng. Vào thời bình một người tài đức thường thôi cũng đã đủ thành công, nhưng vào thời loạn cần có nhiều đảm lược hơn. Vào lúc đó cần có người ăn nói giỏi (không cần hùng biện theo nghĩa thông thường) vì ngay cả Robespierre và Lenin cũng không cần hùng biện theo nghĩa này) nhưng cương quyết say mê và nồng nhiệt. Những lúc tình thế sôi nổi chính trị gia không cần lý luận, cũng chẳng cần tỏ ra mình khôn ngoan. Ông chỉ cần có khả năng thuyết phục đám đông rằng điều họ ham muốn mãnh liệt có thể đạt được và chính ông ta là người đủ sức làm việc đó.

    Những chính khách dân chủ thành công nhất là những kẻ bãi bỏ dân chủ và trở nên độc tài. Dĩ nhiên, điều này chỉ xảy ra trong một số trường hợp; không ai thành công ở Anh vào thế kỷ 19. Nhưng có điều chắc đây là chuyện có thể nằm trong tầm tay của các chính trị gia dân chủ có ít nhiều tài năng. Lenin, Hitler và Mussolini đã nhờ vào dân chủ mà thắng lợi.

    Một khi chế độ độc tài đã vững, kẻ kế vị phải có những đức tính khác hẳn kẻ khai sinh độc tài. Khi quyền thế tập bị gián đoạn, những phương pháp quan trọng nhất là những trò giật dây, âm mưu và ân sủng hoàng gia. Vì lý do này, nền độc tài sẽ thay đổi rất nhiều sau cái chết của kẻ sáng lập. Và cũng vì những kẻ kế vị thường thiếu bản lĩnh nên đã nảy sinh tình trạng bất ổn, bạo động, đảo chính, chỉnh lý để sau hết lại có một hệ thống mới nảy sinh. Tuy nhiên ta có thể tin tưởng là những phương pháp tuyên truyền tân tiến sẽ làm cho một vị quốc trưởng gần gũi với dân chúng hơn dù trong thực tế không mấy dễ dàng và tự nhiên với đám đông. Có điều ta chưa thể tiên đoán xem những phương pháp này sẽ thàng công tới đâu.

    Còn một hình thức quyền lực cá nhân nữa là quyền lực hậu trường: quyền lực của những công nhân, những gián điệp và những kẻ giật dây. Trong bất kỳ một tổ chức lớn nào mà những kẻ cầm đầu có quyền lực đáng kể, ta thấy có những người khác ít tài hơn dùng tới những phương pháp cá nhân để gây ảnh hưởng với những người lãnh đạo. Những kẻ giật dây và những tay tổ đảng phái thuộc về một loại, dù họ sử dụng những kỹ thuật khác nhau. Họ âm thầm gài bạn bè vào những địa vị then chốt và sẽ nắm được tổ chức khi thời cơ đến. Trong một nền độc tài không thế tập những kẻ này có thể kế vị nhà độc tài khi ông mất đi, nhưng nói chung thì họ không ham hoạt động công khai. Họ vốn yêu thích quyền lực hơn danh vọng; họ có thể kém xã giao lắm. Nhiều khi họ chỉ là những tên hoạn quan hoặc các ái phi của nhà vua. Nơi nào quyền lực là thế tập ảnh hưởng của họ lớn nhất, và nơi quyền lực chỉ dành cho những kẻ có thực tài quyền lực của họ nhỏ nhất. Tuy nhiên ngay cả trong những lĩnh vực chính quyền mới mẽ nhất, những người này thường có quyền lực đáng kể ở nhữngchỗ có vẻ huyền bí đối với người thường như trong lãnh vực tài chánh hoặc ngoại giao. Vào thời William II, huân trước Holstein (người cầm đầu thường trực bộ ngoại giao Đức) có quyền lực vô biên dù không bao giờ ông xuất hiện công khai. Bây giờ chúng ta còn mù mịt đối với những gì xảy ra trong bộ ngoại giao Anh; mai này con cháu chúng ta mới được để mắt tới những tài liệu cần thiết ấy.

    Tuy nhiên những đức tính cần cho quyền lực hậu trường rất khác với những đức tính cần cho những loại khác, và chúng thường là những đức tính không đáng chuộng. Một hệ thống quyền lực nay nhiều quyền hành vào tay những cung nhân hay những kẻ giật dây, nói chung không phải là một hệ thống phụng sự công ích.




[1]
 Adolf Hitler (1889-1945) Lãnh tụ đảng Quốc xã Đức. Cầm quyền từ 1934-1945.

[2] Paul von Hindenburg (1847 – 1934) Tổng thống Cộng Hòa Đức từ 1925 – 1934.

[3] Alexander the Great (356 – 323 trước Tây lịch) Vua xứ Macedon, một nhà chinh phục nổi tiếng.

[4] Julius Caesar (khoảng 101 -44 trước Tây lịch) nhà độc tài La Mã, tác giả De Bello Gallico và De Bello Civili bị ám sát ngày Ides of March 44.

(a) Nguyên văn trong bản dịch là : “Việt Nam ta có câu”, chúng tôi đã sửa lại (chú thích của triethoc.edu.vn).

[5] Vladimir Lenin (1870 – 1924) lý thuyết gia, cha đẻ cách mạng 1917 thành công.

[6] Richard I (cũng gọi là Richard Coeur de Lion) (1157 – 99) trị vì từ 1189 -99.

(b) Nguyên văn trong bản dịch là “điển hình”, chúng tôi đã sửa lại (chú thích của triethoc.edu.vn)

Nguồn: Bertrand Russell. Quyền lực. Nguyễn Vương Chấn – Đàm Xuân Cận dịch, Nxb Hiện đại, 1972. Bản điện tử do triethoc.edu.vn thực hiện.

Dẫn theo: triethoc.edu.vn

(còn nữa) 

Bertrand Russell - Quyền Lực (Phần I)

Về Bertrand Russell:


Bertrand Arthur William Russell, Bá tước Russell III, OMFRS (18 tháng 5 năm 1872 – 2 tháng 2 năm 1970), là một triết gianhà lôgic họcnhà toán học người Anh của thế kỷ 20. Là một tác giả có nhiều tác phẩm, ông còn là người mang triết học đến với đại chúng và là một nhà bình luận đối với nhiều chủ đề đa dạng, từ các vấn đề rất nghiêm túc cho đến những điều trần tục. Nối tiếp truyền thống gia đình trong lĩnh vực chính trị, ông là một người theo chủ nghĩa tự do với vị thế nổi bật, ông còn là một người dân chủ xã hội (socialist) và người hoạt động chống chiến tranh trong phần lớn cuộc đời dài của mình. Hàng triệu người coi ông như là một nhà tiên tri của cuộc sống sáng tạo và duy lý; đồng thời, quan điểm của ông về nhiều chủ đề đã gây nên rất nhiều tranh cãi.
Russell sinh ra vào thời đỉnh cao của nền kinh tế và uy thế chính trị của nước Anh. Sau đó gần một thế kỷ, ông qua đời vì bệnh cúm, khi Đế quốc Anh đã biến mất, sức mạnh của nó đã bị hao mòn bởi hai cuộc chiến tranh thế giới. Là một trong những trí thức nổi tiếng nhất của thế giới, tiếng nói của Russel mang một quyền lực đạo đức, thậm chí cả khi ông đã vào tuổi 90. Trong các hoạt động chính trị của ông, Russell là một người kêu gọi đầy nhiệt huyết cho việc giải trừ vũ khí hạt nhân và một người phê phán mạnh mẽ chế độ toàn trị tại Liên bang Xô viết và sự can thiệp của quân đội Hoa Kỳ trong Chiến tranh Việt Nam.
Năm 1950, Russel được tặng Giải Nobel Văn học, "để ghi nhận các tác phẩm đầy ý nghĩa mà trong đó ông đã đề cao các tư tưởng nhân đạo và tự do về tư tưởng".
Dưới đây là tác phẩm Quyền Lực của ông. 


Bertrand Russell
QUYỀN LỰC
Nguyễn Vương Chấn & Đàm Xuân Cận dịch
Nxb. Hiện đại, 1972
--- o0o ---


Chương I

SỰ THÔI THÚC CỦA QUYỀN LỰC


    Giữa con người và thú vật có nhiều dị biệt hoặc về phương diện trí năng hoặc về phương diện cảm xúc. Khác với thú vật, con người có một số ham muốn tự bản chất đã vô hạn nên không thể được thỏa mãn hoàn toàn. Khi no mồi con trăn ngủ yên cho tới lúc cơn thèm đói mới thức giấc; nếu những con thú khác không ngủ sau bữa ăn chính là vì chúng chưa đủ no hay chúng sợ kẻ thù. Các hoạt động của loài vật bắt nguồn từ những nhu cầu về tồn sinh và truyền sinh, và không những đòi hỏi của những nhu cầu này – ngoại trừ một vài biệt lệ hiếm hoi.

    Với loài người vấn đề khác hẳn. Thật tình mà nói, đa số nhân loại phải làm việc vất vả để kiếm miếng ăn đến nỗi chỉ còn ít năng lực dành cho những mục đích khác: nhưng những kẻ có đời sống bảo đảm cũng vẫn không ngừng hoạt động. Xerxes[1]không thiếu thực phẩm hoặc cung tần mỹ nữ vào lúc ông ta lên đường viễn chinh Athenes. Từ khi được bổ nhiệm chức giảng sư Trinity, Newton[2]chắc chắn được hưởng đầy đủ tiện nghi vật chất, nhưng sau này ông mới viết cuốn Principia nổi tiếng. Thánh Francis[3]và Ignatius Loyola[4]không cần lập dòng tu để thoát khỏi cảnh túng bấn. Những vị vừa kể là những nhân vật phi thường, nhưng ta thấy mọi người đều có đặc tính hiếu động ở những cấp độ khác nhau, ngoại trừ một thiểu số u mê, đần độn rất nhỏ. Nếu chẳng phải làm việc, bà A sẽ cố sao ăn mặc lịch sự hơn bà B mới được. Có lẽ bà A muốn chồng bà có ngày được vào quốc hội. Mỗi người chúng ta đều có quyền mơ tới những vinh quang chiến thắng bất tận, và nếu như ta có thể thực hiện được bất kỳ giấc mơ nào, hẳn ta sẽ không ngại nhọc mệt mà cố gắng làm việc.

    Tưởng tượng chính là kích thích tố thúc đẩy con người vào những hoạt động không ngừng sau khi những nhu cầu căn bản đã được thỏa mãn. Phần lớn chúng ta rất hiếm khi có được những phút giây thực sự hạnh phúc:

Nếu ta phải chết lúc này
Ta vui vẻ sẵn sàng
Ôi ta sợ
Hồn ta chẳng còn khi nào hoan lạc như bây giờ.

    Và thật tự nhiên nếu trong những giây phút được hưởng hạnh phúc toàn vẹn ta ước mơ nỗi chết giống như Othello, vì ta biết sự thỏa mãn không thế kéo dài. Chỉ có  Thượng Đế mới có hạnh phúc tuyệt đối với chính ngài “là Thiên quốc, là quyền năng, là vinh quang”. Các vương quốc trần gian bị giới hạn những vương quốc khác; quyền lực trần gian bị chấm dứt bởi sự chết; danh vọng trần thế phai tàn với thời gian cho dù ta có xây kim tự tháp hay được lời thơ bất diệt xưng tụng. Những ai chỉ có một ít quyền lực và danh vọng thường hay nghĩ là được thêm chút nữa họ sẽ thỏa mãn, nhưng họ đã lầm: những ước muốn này vô hạn và chỉ trong vô cùng của Thượng Đế họ mới được nơi an nghỉ.

    Trong khi thú vật  thỏa mãn tồn sinh và truyền sinh. Con người muốn được bành trướng, và những ước muốn về phương diện này bị giới hạn bởi những gì mà tưởng tượng đã gợi ra. Mỗi người đều muốn làm Thượng Đế nếu như điều này có thể  xảy ra được; một số người không chịu chấp nhận lý do họ không thể trở thành Thượng Đế. Hẳn đây là những kẻ tạo dựng theo khuôn mẫu Santan trong tác phẩm của Milton [5]nên không thừa nhận giới hạn cho quyền lực con người. Nơi đó họ có cả những yếu tố cao cả lẫn lòng bất kính. Sự kết hợp này dễ nhận thấy nơi các nhà chinh phục lừng danh, nhưng còn hiện diện cách mờ nhạt nơi tất cả mọi người. Chính điều này làm cho sự hợp tác xã hội trở nên khó khăn vì mỗi người chúng ta thường thích quan niệm nó theo mẫu mực của sự hợp tác giữa Thượng Đế và các kẻ tôn kính Ngài, và chúng ta ở vào vị thế của Thượng Đế. Từ đó nảy sinh cạnh tranh, sự cần thiết của thỏa hiệp và chính quyền, khuynh hướng nổi loạn, sự bất ổn định và bạo động. Và chúng ta thấy có đạo đức để kìm hãm những hành động vô chính phủ.

    Lòng đam mê quyền lực và danh vọng là những ước muốn vô hạn chính của con người. Hai đam mê này không hoàn toàn giống nhau dù chúng liên kết chặt chẽ với nhau. Thủ tướng có nhiều quyền lực hơn danh vọng, nhưng Vua Anh có nhiều danh vọng hơn quyền lực. Thường thường cách dễ nhất để có danh vọng là đoạt được quyền lực, nhất là đối với những người hoạt động trong đời sống công cộng. Do đó tác động của lòng ham muốn danh vọng gần giống như ở lòng ham muốn quyền lực. Ta có thể coi hai động lực là một trong thực tế.

    Những kinh tế gia chính thống (Marx đồng ý với họ về điểm này) thật đã lầm lẫn khi cho rằng quyền lợi kinh tế có thể coi là động lực căn bản trong những khoa học xã hội. Những ước muốn vật chất khi tách khỏi quyền lực và danh vọng thì hữu hạn và có thể thỏa mãn hoàn toàn với một khả năng vừa phải. Lòng yêu thích tiện nghi vật chất không tạo nên những tham vọng thật sự (tốn kém). Người ta muốn có chẳng hạn một quốc hội gia nô hay một phòng trưng bày những danh tác của những bậc thầy hội họa là để thỏa mãn quyền lực hay danh vọng, chứ không phải vì muốn kiếm chỗ nghỉ ngơi thoải mái. Khi đã có một đời sống tiện nghi vừa phải, cả cá nhân lẫn cộng đồng sẽ theo đuổi quyền lực hơn là muốn làm giàu: dĩ nhiên người ta có thể kiếm giàu có vì giàu có là phương tiện đưa tới quyền lực, hay làm giàu thêm để có thêm quyền lực. Nhưng ta cần nhìn rõ là trong cả hai trường hợp động lực nền tảng không phải là động lực kinh tế.

    Chúng ta nêu ra sai lầm căn bản này trong kinh tế chính thống và Mácxít không phải là nói chuyện lý thuyết cho vui, nó  đã khiến chúng ta hiểu sai một số biến cố chính yếu trong thời gian gần đây. Chỉ khi nào nhận ra rằng lòng yêu quyền lực là căn do của những hoạt  động xã hội quan trọng ta mới có thể giải thích lịch sử xưa nay một cách đứng đắn.

    Tôi sẽ cố gắng chứng tỏ quyền lực là ý niệm căn bản trong khoa học xã hội, cũng như ý niệm năng lực trong khoa vật lý. Giống như năng lực, quyền lực có  nhiều hình thức, chẳng hạn như tài sản, vũ khí, thẩm quyền dân sự, ảnh hưởng trên dư luận. Không một hình thức nào có thể bị coi là  phụ thuộc vào hình thức khác, mà cũng không hình thức nào gây ra hình thức còn lại. Toan tính xét một hình thức quyền lực (chẳng hạn như tài sản) một cách riêng rẽ chỉ có thể thành công một phần, đúng như việc nghiên cứu một dạng của năng lực sẽ khiếm khuyết ở một số điểm, trừ khi ta xét nó trong tương quan với các dạng quyền lực khác. Tài sản có thể là kết quả của quyền lực dân sự hay do ảnh hưởng trên dư luận mà nói quyền lực quân sự hay ảnh hưởng trên dư luận do tài sản mà có cũng không sai. Ta chỉ có thể trình bài các luật của động lực học xã hội (social dynamics) theo tác dụng của quyền lực. Thời xưa, quyền lực quân sự đứng biệt lập nên thắng bại có vẻ như do tài năng của viên tướng. Bây giờ người ta thường coi quyền lực kinh tế là nguồn gốc của mọi loại quyền lực khác. Đây cũng là một lầm lẫn không kém lầm lẫn của các sử gia quân sự thuần túy. Lại còn có những người coi tuyên truyền là hình thức quyền lực căn bản. Ý kiến này thật ra không mới mẻ gì. Nó được thể hiện trong những thành ngữ cổ như “magna est veritas et prevalebit”(sự thực vĩ đại sẽ thắng) và “máu của các thánh tử đạo là hạt giống của giáo hội”. Quan điểm tuyên truyền cũng có phần sai, phần đúng như quan điểm quân sự hay quan điểm kinh tế. Nếu tuyên truyền gây nên được một dư luận đồng tình, nó tạo ra một truyền lực bất khả kháng; những người có quyền lực quân sự hay kinh tế có thể dùng nó vào mục đích tuyên truyền. Trở lại luận cứ vật lý học, ta thấy quyền lực giống như năng lực, có thể liên tục chuyển từ hình thức này sang hình thức khác, và khoa học xã hội có nhiệm vụ tìm kiếm những luật chi phối những chuyển dạng này. Toan tính cô lập bất kì hình thức quyền lực nào (hiện nay là quyền lực kinh tế) là một sai lầm nghiêm trọng.

    Những xã hội hành xử quyền lực theo nhiều cách khác nhau. Trước hết là mức độ quyền lực trong tay cá nhân hay tổ chức, rõ ràng bây giờ Nhà Nước có  nhiều quyền hành hơn thời trước vì guồng máy tinh vi hơn. Mỗi xã hội lại có một tổ chức riêng: chế độ độc tài quân sự, thần quyền, tộc quyền rất khác nhau. Chúng cũng khác biệt về những phương thế thủ đắc quyền lực: việc vua chúa cha truyền con nối đưa ra một loại người ưu tú, không giống như loại người của dân chủ, hay chiến tranh chẳng hạn.

    Nơi không có định chế xã hội nào (thí dụ chế độ quý tộc hay chế độ tập ấm) giới hạn số người nắm quyền thì nói đại khái ai ham quyền nhất chắc sẽ có quyền. Ta suy ra những kẻ làm lớn trong một xã hội cởi mở thường là những kẻ ham quyền khác hẳn người thường. Dù là một trong những động lực mạnh nhất của nhân loại, lòng yêu quyền lực được phân phối rất không đồng đều, vì bị giới hạn bởi nhiều động lực khác như lòng ham tiện nghi, lòng ham khoái lạc, và đôi khi lòng ham đồng ý. Nó được ngụy trang nơi những kẻ rụt rè thành khuynh hướng phục tùng khiến cho những kẻ bạo tợn càng khoái nắm đầu thiên hạ. Ít khi những người của thời thế lại là những người không ham quyền lực cho lắm. Những kẻ thay đổi xã hội thường là những kẻ nhiều đam mê. Do đó lòng yêu quyền lực là đặc tính của những kẻ quan trọng. Dĩ nhiên ta sai lầm nếu coi lòng yêu quyền lực là động lực duy nhất của con người, nhưng cho dù ta có nghĩ vậy thì cũng không có gì nghiêm trọng lắm. Tôi nhấn mạnh lòng yêu quyền lực là động lực chính yếu tạo nên những thay đổi mà khoa học xã hội phải coi là đối tượng nghiên cứu.

    Tôi sẽ chứng tỏ người ta chỉ có thể trình bày những luật động lực học xã hội theo tác dụng của quyền lực dưới các hình thức khác nhau của nó. Muốn khám phá những luật này, trước hết cần phải phân loại các hình thức quyền lực rồi xét tới cách gây ảnh hưởng trên đời sống tha nhân của các tổ chức và  cá nhân trong lịch sử.

    Tôi có hai mục đích rõ ràng. Mục đích thứ nhất là trình bày một lối phân tích những thay đổi xã hội nói chung theo tôi thỏa đáng hơn phương pháp của các kinh tế gia. Mục đích thứ hai là giúp cho những người còn bị ám ảnh bởi các thế kỷ mười tám vá mười chín có thể hiểu thời hiện tại và tương lai gần đây rõ ràng hơn. Những thế kỷ này đặc sắc về nhiều phương diện và dường như chúng ta đang trở lại một số lề thói sinh hoạt và tư tưởng quen thuộc của thời đại cũ.

    Phải nghiên cứu lịch sử thượng cổ và lịch sử trung cổ để hiểu thời đại của chúng ta và các nhu cầu của nó. Chỉ có làm như vậy chúng ta mới  đạt được một tiến bộ khả quan không bị các định đề của thế kỷ mười chín chế  ngự quá đáng.


ChươngII

NGƯỜI LÃNH TỤ  VÀ KẺ TUÂN HÀNH


    Sự thôi thúc của quyền lực hiển nhiên nơi những lãnh tụ và những ẩn tàng nơi những kẻ tuân hành. Người ta theo một lãnh tụ là để chiếm quyền cho phe nhóm mình và  để chia sẻ các chiến thắng của lãnh tụ mình. Số đông người cảm thấy thiếu khả năng lãnh đạo kẻ khác nên mới tìm tới một lãnh tụ xem ra có đủ đảm lược đem lại chiến thắng. Ngay trong tôn giáo cũng vậy. Nietszche[6]kết án Thiên chúa giáo rao giảng một nền luân lý nô lệ, những người nô lệ này cũng tìm tới chiến thắng cuối cùng. “Phúc thay cho những kẻ vâng lời vì trái  đất sẽ là của họ”. Hay một bản thánh ca nổi tiếng đã minh thị:

Xông pha thời chinh chiến
Tìm kiếm ánh quang vinh
Dưới lá cờ  hoen máu
Quyết một lòng tiến lên
Ta hãy quên thống khổ
Và nén tiếng thở  dài
Đưa thập giá lên vai
Vui trên đường phụng sự.

    Nếu là một thứ nô lệ thì ta phải coi người lính nghề  đã từng chịu đựng gian khổ nơi chiến trường và các chính trị gia “cầm cờ” làm việc cực nhọc trong mùa tranh cử là những kẻ nô lệ. Nhưng về phương diện tâm lý kẻ tuân hành không là nô lệ hơn người lãnh tụ trong bất kỳ một cuộc hợp tác thành thật nào.

    Chính điều này khiến cho các bất bình đẳng về quyền lực phải có trong một tổ chức vẫn tồn tại được và có khuynh hướng gia tăng hơn là giảm đi khi xã hội trở nên ngày càng phức tạp.

    Chúng ta thấy việc phân phối quyền lực không đều luôn luôn tồn tại trong các cộng đồng nhân loại. Đó là do nhu cầu ngoại tại một phần và cũng vì những căn nguyên nằm sẵn trong nhân tính. Ta chỉ có thể thực hiện được phần lớn các công tác tập thể nếu có một ban quản đốc điều hành công việc, nếu xe lửa chạy điều hòa thì thời biểu không thể cho các tài xế đầu máy quyết định; nếu ta muốn xây một căn nhà hẳn phải có người quyết định chọn đồ án; nếu muốn đắp một con đường ta phải xác nhận lộ trình trước đã. Một chính phủ có bầu cử đàng hoàng vẫn là một chính phủ. Do đó phải có kẻ chỉ huy và những người tuân hành nếu các công tác tập thể muốn thành tựu vì những lý do không liên hệ chi tới tâm lý học cả. Nhưng khi giải thích ta phải dùng tâm lý học và sinh lý học cá nhân. Một số người có những đức tính khiến họ luôn luôn ở vào cương vị chỉ huy trong khi những kẻ khác phải vâng lời; giữa hai thái cực này là khối đông đảo quần chúng thích chỉ huy trong vài trường hợp nhưng lại muốn phục tùng trong những trường hợp khác.

    Trong cuốn Tìm Hiểu Nhân Tính (Understanding Human Nature), Adler phân biệt mẫu người phục tùng và mẫu người hiên ngang. Ông viết: “Kẻ phục tùng sống theo lề lối và luật lệ của kẻ khác, và hầu như bị thôi thúc tìm tới một địa vị tuân hành. Trái lại kẻ hiên ngang luôn luôn tự hỏi phải làm thế nào để hơn người khác.”Mẫu người hiên ngang chỉ có thể giữ những chức vụ quan trọng và leo tới tột đỉnh trong các cuộc biến động. Theo Adler cả hai mẫu người này đều xấu (ít nhất là ở những hình thức cực đoan) và đều là sản phẩm của giáo dục. Bất lợi lớn nhất của một nền giáo dục độc đoán là đào tạo cả mẫu người nô lệ lẫn độc tài vì theo nền giáo dục này chỉ có kẻ ra lệnh và kẻ tuân lệnh hợp tác với nhau được.

    Lòng yêu thích quyền lực dưới nhiều hình thức gần như phổ quát, nhưng hình thức tuyệt đối của nó rất hiếm. Một người đàn bà thích ăn hiếp chồng con chưa chắc đã muốn ra làm việc nước; trái lại Abraham Lincoln không ngán cai trị Hiệp chủng quốc lại rất sợ cảnh lục đục gia đình. Nếu chiếc Bellerophon bị đắm có lẽ Napoleon đã ngoan ngoãn tuân lệnh các viên sĩ quan người Anh thoát lên thuyền cấp cứu. Con người ưa thích quyền lực chừng nào có đủ tự tin, nếu không họ thích theo một lãnh tụ cho chắc ăn hơn.

    Khuynh hướng phục tùng cũng còn bắt nguồn từ nỗi sợ hãi. Trong trường hợp nguy cấp như trong một trận hỏa tai đám trẻ còn ngỗ nghịch nhất sẵn sàng nghe theo một người lớn đủ uy quyền, khi thế chiến thứ nhất bùng nổ, những phụ nữ thuộc phong trào Pankhurst[7]làm hòa với thủ tướng Lloyd George[8]. Mỗi khi có nguy cơ thật sự, phần đông sẵn sàng đặt mình dưới sự che chở và sử dụng của nhà cầm quyền; những lúc này ít ai mơ tưởng tới cách mạng. Nếu chiến tranh bùng nổ, chính phủ sẽ lên chân vì dân chúng tự nhiên bớt cứng đầu cứng cổ hơn thường lệ.

    Chỉ có một số ít tổ chức được đặt ra là nhằm vào việc đối phó với những nỗi nguy hiểm. Một tổ chức kinh tế như nghiệp đoàn công nhân mỏ than có thể gặp nguy hiểm, nhưng chỉ khi có tai nạn mà thôi.

    Nếu loại trừ được các nguy hiểm, các tổ chức kinh tế sẽ phát triển tốt đẹp hơn. Nói chung đối phó với những nguy hiểm không hề là mục đích chính yếu của các tổ chức kinh tế hay những cơ quan công quyền đặc trách nội vụ. Nhưng chắc chắn người ta đóng thuyền cấp cứu, tổ chức đội nón đồng cứu hỏa, lục quân và hải quân để đương đầu với nguy hiểm. Điều này cũng đúng nơi các đoàn thể tôn giáo, vì chúng tồn tại phần nào nhằm giải tỏa những lo âu siêu hình ẩn sâu nơi bản tính chúng ta. Ai nghi ngờ xin đọc lại bản thánh ca sau đây:

Hỡi tảng đá thiên thu
Hãy cho ta trú ngụ

    Hay:

Chúa Jêsu yêu mến
Xin đón con vào lòng
Mặc biển đời bão tố
Và gió gào sóng dâng.

    Trong niềm tuân phục Thánh Ý có hàm chứa niềm an toàn sau cùng khiến nhiều quân vương trở nên sùng đạo dẫu họ không thể hạ mình trước bất cứ hiện diện trần thế nào. Lòng tuân phục trong trường hợp này bắt rễ từ nỗi lo sợ dù rằng kẻ được tuân phục là người trần hay thần thánh.

    Nhiều người cho rằng tính hiếu thắng cũng bắt rễ từ nỗi lo sợ. Tôi nghĩ thuyết này đi quá xa. Có thể nó đúng với một loại tính hiếu thắng nào đó, như của D.H.Lawrence chẳng hạn; nhưng tôi không tin những người trở thành trùm thảo khấu lại sợ cha như cọp dữ hay Napoleon thực sự buồn phiền vì mẫu hậu lúc ở Austerlitz[9]. Tôi mù tịt về bà mẹ của Anila nhưng tôi ngờ rằng bà đã quá nuông chiều đứa con yêu dấu của bà nên khi lớn lên Anila không thấy hài lòng với thế giới lắm vì nhiều khi dám làm nghịch lại ý muốn của hắn. Tính hiếu thắng do nhát sợ không tạo nên những lãnh tụ vĩ đại. Nói cho rõ, những lãnh tụ vĩ đại phải có lòng tự tin phi thường, không phải chỉ hời hợt bên ngoài mà còn ăn sâu vào tiềm thức.

    Lòng tự tin cần thiết cho một lãnh tụ có thể được tại nên do nhiều đường lối khác nhau. Theo lịch sử, lối thông thường nhất là có địa vị chỉ huy thế tập. Ta hãy đọc câu ca dao Việt Nam sau đây:

Con vua thì lại làm vua
Con sãi ở chùa lại quét lá đa.

    Ta cũng hãy đọc lại các diễn văn của nữ hoàng Elizabeth [10] trong các thời kỳ khủng hoảng, bạn sẽ thấy con người quân vương lấn át bản tính phụ nữ và Nữ hoàng biết phải làm gì để cứu nước. Quyền lợi của quốc gia và quyền lợi của Nữ Hoàng là một. Đây là lý do khiến Nữ hoàng được tôn xưng là “Nữ Hoàng Đáng Tôn Kính”. Bà có thể tán dương phụ thân mình mà không khiến ai khó chịu hết. Chắc chắn thói quen ra lệnh khiến ta dễ nhận trách nhiệm và đưa ra các quyết định mau lẹ. Một bộ lạc theo vị lãnh tụ thế tập chắc là hăng hái hơn khi vị lãnh tụ được chọn bằng cách rút thăm. Mặt khác khi một đoàn thể như Giáo hội thời trung cổ chọn lựa lãnh tụ theo tài đức (thường là trong số những người đã có kinh nghiệm cai trị) thì đoàn thể này gặt hái nhiều kết quả tốt đẹp hơn là các nền quân chủ thế tập trong cùng một thời kỳ.

    Đọc lịch sử ta thấy một số lãnh tụ lỗi lạc nhất đã bắt đầu sự nghiệp trong những hoàn cảnh biến động. Ta hãy xét các đức tính đã mang lại thành công cho Cromwell[11], Napoleon, Lênin. Cả ba đã làm chủ xứ sở của họ vào những thời kỳ khó khăn và dùng được những kẻ có khả năng nhưng chưa chắc dễ bị sai khiến. Cả ba đều can đảm và tự tin vô biên, thêm vào óc phán đoán mẫn tiệp vào những giây phút khó khăn. Tuy nhiên họ không giống nhau. Cromwell và Lênin thuộc cùng một loại, còn Napoleon thì ở loại khác. Cromwell và Lenin bị nung nấu bởi lòng tin mãnh liệt vì họ tự coi được giao phó sứ mạng siêu nhân. Họ cho những thúc đẩy quyền lực nơi họ là chính đáng. Họ chẳng màng tưởng những phần thưởng vật chất như một cuộc đời xa hoa nhàn hạ, vốn là những điều tầm thường khó mà hòa điệu với các mục đích siêu phàm. Điều này đặc biệt đúng trong trường hợp Lênin, còn Cromwell đã ý thức sa ngã của mình vào những năm cuối đời. Dẫu sao sự phối hợp giữa niềm tin và tài năng xuất chúng đã giúp cả hai có thừa tự tin và gây được tin tưởng nơi kẻ dưới.

    Trái với Cromwell và Lenin, Napoleon là điển hình của lính nghề. Ông hưởng ứng cuộc cách mạng vì nó giúp ông cơ hội thi thố tài năng mà thôi, chứ  thực ra thì ông rất thờ ơ. Dẫu rằng ông cảm  thông với lòng ái quốc Pháp đối với ông chỉ là một cơ hội không hơn không kém. Lúc còn trẻ ông từng có ý tưởng sẽ chiến đấu cho Corsica chống lại nước Pháp. Ông thành công không hẳn do những đức tính đặc biệt mà vì ông thấu đáo kỹ thuật chiến tranh: ông đã chiến thắng trong nhiều trường hợp kẻ khác nắm chắc thất bại. Vào những giây phút quyết định như ngày 18 Brumaire và Marengo ông biết chớp thời cơ cướp đoạt công lao của kẻ khác. Ta cũng nên nhớ quân đội Pháp lúc đó có nhiều người trẻ tuổi nhiều tham vọng. Những chiến thắng liên tiếp khiến ông tin tưởng vào số mệnh, nhưng trớ trêu thay sự tin tưởng thái quá này đã đưa ông tới thất bại ê chề vào lúc chung cuộc.

    Ta phải xếp Hitler vào một loại với Lenin và Cromwell, Mussolini với Napoleon về phương diện tâm lý. Thực ra tên lính nghề hoặc trùm thảo khấu là loại người quan trọng trong lịch sử hơn là những sử gia khoa học thường tưởng. Một đôi khi hắn may mắn trở thành lãnh tụ của những tổ chức mục đích phần nào vượt khỏi cá nhân, giống như Napoleon. Có nhiều người tin đạo quân cách mạng Pháp là những kẻ giải phóng Âu châu, nhưng chính Napoleon lại chỉ nghĩ tới việc giải phóng khi nào cần tăng uy tín cho cá nhân mình. Rất nhiều khi người ta chẳng cần giả vờ mang một mục đích cao cả nào hết. Có lẽ Alexander cho rằng ông đã bắt tay vào việc Hy Lạp hóa phương Đông, nhưng những người lính Macedonians của ông chẳng quan tâm tới khía cạnh này làm chi. Trong thế kỷ cuối cùng của nền Cộng hòa những viên tướng La Mã chỉ đánh giặc vì tiền và mua chuộc lòng trung thành của thuộc hạ bằng đất đai, của cải Cecil Rhodes bày tỏ lòng tin tưởng thần bí của đế quốc Anh nhưng chính niềm tin tưởng này đã mang lại nhiều lợi lộc. Ông ta dùng tiền bạc để khuyến dụ các binh sỹ theo ông trong cuộc chinh phục Matabeleland. Lòng tham lợi, dù được che đậy hay không, đóng vai trò quan trọng vào những cuộc chiến tranh trên thế giới.

    Có thể rằng một công dân bình lặng phục tùng một lãnh tụ do sợ sệt nhưng điều này không đúng với bọn thảo khấu, trừ khi chúng bị bắt buộc đi ăn cướp. Một khi quyền lợi của một lãnh tụ đã được xác định đàng hoàng, ông ta có thể khiến cho những cá nhân lộn xộn khiếp sợ, nhưng trước khi trở nên lãnh tụ và được đa số công nhận ông ta không làm cho ai ngán cả. Muốn trở thành lãnh tụ, ông ta phải có đầy đủ lòng tự tin, quyết đoán mau lẹ và chọn những biện pháp đúng. Tuy vậy, quyền lãnh đạo chỉ tương đối. Ceasar là người duy nhất có thể sai khiến Antony. Đa số người thấy sinh hoạt chính trị khó khăn và tốt hơn cả là theo một lãnh tụ như thể những con chó có nghĩa với chủ. Không vậy thì làm sao quan niệm hành động chính trị tập thể được.

    Vậy thì lòng yêu quyền lực (coi như một nguyên động lực) và  cả ý muốn tự chỉ huy bị hạn chế bởi tính nhút nhát. Vì quyền lực giúp ta thực hiện nhiều tham vọng và khiến kẻ khác trọng nể ta, tự nhiên chúng ta mong muốn quyền lực đến một mức độ nào đó. Quá độ mức độ này, tính nhút nhát sẽ can thiệp. Tính nhút nhát sẽ giảm bớt nếu ta quen nhận lãnh trách nhiệm có khuynh hướng muốn gia tăng ước muốn quyền lực. Kinh nghiệm về sự tàn ác và bất thân thiện có thể làm cho những kẻ nhát sợ tha mình vào một chỗ trong khi những kẻ bạo tợn thì ráng kiếm những việc hành hạ kẻ khác.

    Sau tình trạng vô chính phủ gần như chắc chắn đối có chế độ độc tài vì thiên hạ đã làm quen với lề thống trị và bị trị ở trong gia đình quốc gia hay lĩnh vực kinh doanh. Sự hợp tác bình đẳng khó hơn là độc tài và không dính dấp tới bản năng (chỉ huy và tuân phục). Trong một cuộc hợp tác bình đẳng người ta phải tự chủ hoàn toàn không được để lộ ý muốn phục tùng. Mỗi bên đều phải trung thành với một điều thiêng liêng nào đó. Ở Trung Hoa những công việc kinh doanh trong gia đình thường thành công nhờ lòng trung thành gia đình đúng theo truyền thống Khổng Mạnh, nhưng những công ty tổ hợp xem chừng không hoạt động được bởi chẳng có lý do gì bắt buộc kẻ này phải đối xử thân thiện đối với người góp vốn khác. Muốn cho một chính quyền do bầu cử làm việc người ta phải tôn trọng luật pháp hay chính quyền hoặc một nguyên tắc chung nào đó được mọi người chấp nhận. Hội Liên Hữu không tổ chức bầu cử. Khi có vấn đề nào khó xử, họ thảo luận bàn cải cho đến khi đạt tới “thực chất” của cuộc họp, tin là do Chúa Thánh thần mặc khải. Dĩ nhiên Hội Liên Hữu là một cộng đồng nhất khác thường. Nhưng nếu thiếu một dức độ đồng nhất nào đó không thể cai trị bằng thảo luận được.

    Một gia đình như họ Fuggers hoặc họ Rothchilds, một tổ chức như nhóm Thanh giáo, một bộ lạc man rợ hay một quốc gia lâm chiến hoặc sắp lâm chiến thường có  một tình liên đới đủ mạnh để thảo luận mọi vấn  đề mà khỏi phải dùng các biện pháp cực đoan. Nhưng ta nên nhớ cần có áp lực từ bên ngoài: các hội viên bám lấy nhau vì sợ phải đứng một mình. Một cơn nguy biến chung là cách dễ nhất để tạo ra sự đồng nhất. Tuy nhiên đây không phải là giải pháp cho vấn đề quyền lực cho toàn thế giới. Hiển nhiên là chúng ta ngăn ngừa những hiểm họa như chiến tranh chẳng hạn, nhưng vấn đề này khó khăn về phương diện tâm lý cũng như chính trị và chúng ta thấy có lẽ chỉ có thể giải quyết nổi nếu có một nền độc tài chuyên chính ở một quốc gia nào đó. Việc các quốc gia hợp tác với nhau cũng khó giống như đám quý tộc Ba Lan trước khi phân ly. Nhân loại cần có tổ chức chính quyền, nhưng ở những nơi mà trước kia tình trạng vô chính phủ đã từng chế ngự, lúc đầu người ta chỉ thuần phục chế độ chuyên chế. Do đó, việc đầu tiên là phải nắm vững chính quyền, dù là một chính quyền chuyên chế, và chỉ khi nào chính quyền này trở nên quen thuộc ta mới mong biến nó thành chính quyền dân chủ một cách êm thấm. Quyền lực tuyệt đối hữu ích trong việc xây dựng tổ chức. Tuy áp lực xã hội đòi hỏi rằng quyền lực phải phục vụ mọi người liên hệ phát triển chậm hơn nhưng cũng không kém chắc chắn. Áp lực này thường xuyên trong lịch sử giáo quyền và lịch sử chính trị đã xuất hiện trong phạm vi kinh tế.

    Tôi đã nói về những kẻ chỉ huy và những kẻ tuân hành, nhưng còn phải nói về kẻ thứ ba: những kẻ đứng bên lề. Nhiều người có can đảm từ chối tuân lệnh kẻ khác, nhưng cũng không thích chỉ huy. Họ đứng bên lề xã hội và tìm nơi trú ẩn mà họ có thể hưởng một thứ tự do phần nào cô độc, nhiều lúc loại người này rất quan trọng; chẳng hạn những tín đồ Thiên chúa giáo thời sơ khai hay các kẻ tiền phong ở  Hoa Kỳ. Nơi trú ẩn có thể là tinh thần, có thể là thân xác, có khi là một sự cô đơn hoàn toàn của một nơi ẩn dật, có khi là sự cô đơn tập thể của một tu viện. Trong số những kẻ trú ẩn về phương diện tinh thần, có những ẩn sĩ, những kẻ thích thú những đam mê vô hại, những kẻ ám ảnh bởi những hình thức bí hiểm và không mấy quan trọng của ti thức. Trong số những kẻ trú ẩn về phương diện thân xác là những kẻ đi tìm biên cương văn minh và những nhà thám hiểm, ví dụ như Bates nhà vạn vật học của vùng Amazon, kẻ đã sống sung sướng suốt mười lăm năm chỉ bầu bạn với người da đỏ. Kẻ ẩn dật cũng có một số đức tính có thể khiến họ tạo dựng những công trình tuyệt hảo vì họ cặm cụi làm việc mà chẳng màn danh lợi, mặc cho thiên hạ lãnh đạm hay đả kích. Họ là những kẻ dám có những ý kiến nghịch đời.

    Một số kẻ đứng ngoài không hẳn là thờ ơ với quyền lực, nhưng chỉ vì họ không thể chiếm được quyền lực theo phương thức thông thường. Những người này có thể nên thánh hay trở thành những tư tưởng gia tiên phong, kẻ sáng lập dòng tu hay trường phái văn chương nghệ thuật. Họ thâu nhận những đệ tử vừa có khuynh hướng phục tùng, vừa có khuynh hướng phản kháng, những kẻ không theo chính thống và chấp nhận cái mới. Ta còn nhớ trường hợp Tolstoy và các môn đệ của ông. Loại cô đơn hoàn toàn thì khác. Tên hầu cận rầu rỉ sẵn sàng chia sẽ đời sống lưu đày với tướng công tốt lòng của mình và dù sao này vị tướng công có đổi tính đổi nết đi chăng nữa, hắn vẫn sẵn lòng ở lại rừng xanh hơn là về với triều đình. Ta cũng đã biết nhiều tên khai phá tiền phong Hoa Kỳ đã bán trang trại của họ và lên đường tây tiến trước khi bị văn minh bắt kịp. Với họ, thế giới ngày càng khan hiếm cơ hội. Một số nhúng tay vào tội ác, một số trở buồn phiền chán đời. Tiếp xúc với người đồng loại nhiều quá khiến họ chán chường đến độ nếu không sống cô đơn được thì họ bạo động chém giết.

    Tổ chức được tăng cường vì những người nhút nhát dễ tuân phục lãnh tụ và cảm thấy an tâm được thuộc về một đám đông có cảm nghĩ giống nhau. Trong một buổi họp công cộng hào hứng, ta thấy sảng khoái, pha lẫn ấm cúng và an tâm; cảm xúc được chia sẽ càng lúc trở nên càng mạnh mẽ đến khi nó lấn át mọi cảm nghĩ khác trừ ý thức quyền lực sôi nổi do sự gia tăng bản ngã. Khích động tập thể chính là một nhiễm độc ngọt ngào dễ dàng làm quen sự tỉnh táo, lòng nhân đạo và ngay cả bản năng sinh tồn. Những đám đông bị kích động dễ dàng phạm tội tàn sát ghê tởm hay chịu hy sinh anh hùng. Loại nhiễm độc này, như những loại khác, thật khó cưỡng lại khi ta đã một lần nếm mùi. Nhưng cuối cùng cũng chỉ là nỗi chán chường hờ hững, để rồi phải có liều kích thích tố ngày càng mạnh hơn nếu ta muốn tạo lại hăng say ban đầu.

    Xúc động này có thể do âm nhạc tuyệt diệu hay một biến cố sôi nổi tiếp diễn trước mặt đám đông, nhưng lời nói của một nhà hùng biện dễ quyến rũ đám đông nhất. Vậy một yếu tố quan trọng trong quyền lãnh tụ là khả năng ăn nói hấp dẫn. Nhà lãnh tụ không cần phải chia xẻ những cảm xúc do ông gây ra. Ông ta có thể tự nhủ như lời lẽ của Antony[12] (trong kịch bản của Shakespeare) như sau:

Hỡi sức mạnh hãy mặc sức hoành hành
Đám đông kia nào đáng kể băn khoăn.

    Người lãnh tụ khó mà thành công nếu ông không có tâm lý sài sễ, hành hạ những kẻ theo mình. Ông ta sẽ thích một loại hoàn cảnh, một loại đám đông nào đó dễ đưa thành công lại cho ông. Hoàn cảnh tốt nhất là một nỗi nguy hiểm đủ trầm trọng khiến người ta muốn tòng quân cứu nước nhưng đừng khủng khiếp tới độ làm người ta sợ hãi chẳng hạn như chiến tranh bùng nổ với một kẻ thù đáng ngại nhưng không hẳn đã là vô địch. Muốn khích động lòng hiếu chiến, nhà hùng biện ráng gây nên hai lớp tin tưởng: bề ngoài ông bảo họ rằng kẻ thù rất mạnh nên ta phải có nhiều can đảm: sâu hơn ông đoán chắc là họ sẽ chiến thắng. Nói nhẹ nhàng thì ta có thể dùng những biểu ngữ đại loại như: “Công lý thắng cường quyền”, hay những câu bất hủ như:

Ta nhất định thắng
Địch nhất định thua.

    Đám đông lý tưởng của nhà hùng biện là loại dễ bị xúc động lôi cuốn hơn là suy tư, dễ sợ hãi, dễ căm thù, không thích những biện pháp đúng đắn nhưng chậm chạp, dễ tuyệt vọng nhưng cùng lúc lại tràn đầy hy vọng. Nếu chẳng phải là một kẻ quá quay quắt, nhá hùng biện sẽ ráng kiếm một số tin tưởng biện minh cho việc ông làm. Ông cho rằng người ta nên hành động theo cảm xúc hơn là theo lý trí, rằng mọi ý kiến nên xuất phát từ con tim hơn là do não tủy, và những yếu tố tốt đẹp nhất trong con người có tính cách tập thể hơn là cá nhân. Nếu ông ta có quyền, ông sẽ biến giáo dục thành một cuộc tập luyện xen lẫn với việc nhồi sọ tập thể, và trí thức cũng như phán đoán chỉ giữ vai trò hết sức thứ yếu.

    Tuy nhiên không phải mọi cá nhân yêu thích quyền lực đều thuộc loại người hùng biện. Có hạng người mà lòng yêu thích quyền lực là do kiểm soát được cơ động. Chúng ta hãy nghe Bruno Mussolini mô tả những chiến công của mình trong trận chiến tranh Abyssinia:

    “Chúng ta phải đốt cháy những ngọn đồi rậm rạp, những cánh đồng, và những đồi nhỏ bé kia… thú vị thật… những trái bom chưa chạm đất đã nổ tung thành những đám khói trắng và một ngọn lửa cực lớn và cỏ khô bắt đầu cháy. Tôi nghĩ đến những con vật: Chúa ơi! Chúng chạy cuống cuồng… sau khi các máng bom đã hết, tôi bắt đầu ném bom bằng tay… thích thú quá chừng: một zariba lớn bao bọc bởi những tàn cây không dễ chi đụng tới được. Tôi phải nhắm vào mái rơm kia cho cẩn thận và chỉ ném trúng với cú thứ ba. Những tên khốn khổ bên trong thấy mái rơm cháy, vụt nhảy ra và chạy như điên.”

    “Bị vòng lửa bao vây, khoảng năm ngàn tên Abyssinians tới bước đường cùng. Chẳng khác gì địa ngục vậy”.

    Nhà hùng biện phải sử dụng tới thứ tâm lý trực giác mới mong thành công. Tên phi công thuộc loại Bruno Mussolini thấy thống khoái đâu có cần biết chết cháy chẳng thú vị gì. Nhà hùng biện thuộc mẫu người xưa: mẫu người dựa vào cơ động mới chỉ có đây. Thực ra không phải hoàn toàn như vậy. Chẳng hạn chúng ta hãy đọc lại những trang sử chép về cuối trận đánh Punic thứ nhất khi ở thành Carthage người ta đã dùng những con voi dày xéo những kẻ đánh thuê cho tới chết, chúng ta thấy cùng một thứ khoái lạc thú vật như của Bruno Mussolini, dẫu rằng một bên thì dùng voi, đằng khác dùng khoa học tân tiến. Nói một cách tương đối, quyền lực cơ động tiêu biểu cho thời đại chúng ta hơn bất kỳ thời đại nào trước đây.

    Người ta chưa hề mô tả cặn kẽ tâm lý một kẻ chủ trương độc quyền chính trị dựa vào quyền lực cơ khí. Mà đây là một sự kiện khả hữu chứ không phải viễn vông đâu. Bằng việc kiểm soát phi cơ, tàu bè, nhà máy điện, các phương tiện chuyển vận… một nhóm thiểu số có huấn luyện kỹ thuật có thể thiết lập một nền độc tài tuyệt đối mà kẻ bị trị chỉ có quyền răm rắp tuân lệnh. Đế quốc Laputa được duy trì vì có khả năng ngăn chặn mặt trời chiếu vào một khu vực nổi dậy; vậy thì một tập đoàn các kỹ thuật gia khoa học có thể thi hành một biện pháp ít ra là như thế. Họ có thể bỏ đói một vùng bất trị, cúp ánh sáng, cúp hơi nóng, cúp điện lực sau khi làm cho những vùng này quen với các tiện nghi tối tân trên. Họ có thể phun hơi độc và vi trùng. Trong trường hợp này chống cự hoàn toàn vô ích. Và vì được huấn luyện cẩn thận về cơ động những người nắm quyền sinh sát sẽ nhìn con người chẳng khác gì máy móc, nghĩa là những vật vô tri giác bị chi phối bởi những luật lệ nằm trong tay họ. Một chế độ như thế phi nhân hơn bất kỳ một chế độ khắc nghiệt nào từ trước tới giờ.

   Đề tài của tôi trong cuốn này là quyền lực trên con người chứ không phải quyền lực trên vật chất. Thế nhưng tôi vẫn đôi khi phải nói tới quyền lực trên vật chất vì hiện nay người ta có thể tạo được một quyền lực kỹ thuật lý học (a technicological power) trên con người, đặt căn bản của quyền lực trên vật chất. Những kẻ có thói quen kiểm soát những cơ động mạnh mẽ, và qua sự kiểm soát này thành ra có quyền lực đối với con người sẽ nhìn con người một cách khác hẳn lối nhìn của những kẻ dựa trên thuyết phục, dẫu chỉ là lối thuyết phục láo khoét. Đã có khi nhiều người trong chúng ta ra tay đập nát một tổ kiến và khoái trá nhìn kiến vỡ tổ. Khi ta nhìn xuống đường phố Nữu – Ước từ nóc một tòa nhà chọc trời, những người ở dưới trông không còn vẻ người, và trở nên như con sâu cái kiến vậy. Giả dụ ta có mang một lưỡi tầm sét như anh chàng Jove[13]có lẽ ta sẽ khoái quật vào đám đông, vì cùng thứ nguyên động lực đã làm ta ngứa tay phá tổ kiến chơi. Đây cũng là cảm nghĩ của chàng phi công Bruno Mussolini khi anh ta ngồi trên máy bay nhìn đám dân Abyssinians khiếp đảm. Hãy tưởng tượng một chính phủ khoa học, vì sợ bị ám sát, nên lúc nào cũng sống trên phi cơ, lâu lâu mới đáp xuống bãi đậu trên các đỉnh tháp cao hay các chiếc bè neo ngoài khơi. Một chính phủ như vậy có thể nào có chút lưu tâm đến hạnh phúc của dân chúng chăng? Chắc là không rồi. Trái lại gần như chắc chắn chính phủ này sẽ nhìn dân chúng chẳng khác máy móc khi mọi chuyện êm đẹp. Nhưng khi có gì chứng tỏ rằng đám đông không hẳn là máy móc, thì chính phủ này hẳn sẽ nổi điên và lập tức ra lệnh dập tắt mọi chống đối một cách quyết liệt, tàn nhẫn.

    Bạn đọc có thể cho tôi là mê hoảng rồi. Tôi mong rằng quả thực tôi đã quá bi quan. Nhưng tôi tin chắc quyền lực cơ khí có khuynh hướng tạo nên một tâm thức mới, cho nên điều cần thiết là phải tìm mọi cách kiểm soát các chính phủ. Nền dân chủ có thể trở nên khó khăn hơn vì các tiến bộ kỹ thuật, nhưng nó cũng trở nên quan trọng hơn. Kẻ nào có quyền lực cơ khí lớn lao mà không bị kiểm soát sẽ cho mình là một vị thần không phải là vị thần của tình yêu, nhưng là ác thần Thor[14]hay Vulcan[15].

    Leopardi [16] đã mô tả  cảnh núi lửa hoành hành trên ngọn Vesuvius với những dòng thơ bi thiết:

Những giải đất ngổn ngang bọt đá khô ran
Những giải đất tràn ngập giòng phún thạch kết tinh
Reo vang dưới gót chân kẻ hành hương cô độc
Kìa con rắn cuộn tròn trong tô dưới mặt trời chói bỏng
Kìa con thỏ vội về hang trong khe hông tảng đá
Ngọn núi bất trị đã tuôn trào trăm giòng thác lửa
Nơi xưa kia có nông trại hạnh phúc
Có giải đất phì nhiêu, có mùa lúa chín vàng
Và tiếng kêu của bầy thú vật
Nơi có vườn tược, có lâu đài
Nơi ẩn trú mến yêu của những lãnh chúa đầy uy quyền
Nơi có những thành phố hoa lệ
Ngọn núi bất trị đã tuôn trào trăm giòng thác lửa
Thiêu đốt tất cả và tàn sát dân cư
Ôi! Nơi đây chỉ còn hoang tàn đỗ nát.

    Sức tàn phá của con người khốc hại không kém. Ta hãy nhớ lại những bi thảm ở Guernica[17]. Có thể chẳng bao lâu nữa sẽ tới kinh thành Luân Đôn. Ta có thể hòng mong những gì ở những kẻ đã leo lên tới địa vị thống trị bằng những tàn phá như thế? Và nếu cho là các thành phố  thù nghịch Bá Linh và La-Mã (chứ không phải Luân Đôn hay Ba-lê) bị các vị thần mới dùng lưỡi tầm sét triệt hạ, liệu có còn chút tình nhân loại nào nơi những kẻ tàn phá sau hành động tệ hại đó chăng? Liệu những kẻ còn chút tình người có tránh khỏi điên dại vì lòng trắc ẩn bất lực, và trở nên xấu xa hơn những kẻ chẳng cần phải đè nén lòng thương xót (vì chúng không có) hay không?

    Ngày xưa con người bán linh hồn cho quỷ để đạt tới những quyền lực ma thuật. Ngày nay khoa học cho họ quyền lực và họ thấy bị bắt buộc phải trở thành quỷ dữ. Nhân loại không còn hy vọng nào trừ khi quyền lực được thuần hóa, và được sử dụng vào việc phụng sự, không phải phụng sự bọn bạo chúa này hay bọn bạo chúa khác nhưng phụng sự cho cả nhân loại vì khoa học ngày nay đã đưa chúng ta tới tình trạng hoặc tất cả được sống hoặc tất cả phải chết.




[1]
 Xerxes: Vua Ba Tư từ 456 đến 485 trước Tây lịch.

[2] Newton: triết gia khoa học Anh (1612-1727) phát kiến những luật động lực học.

[3]  Thánh Francis (1181?-1226) sáng lập dòng Franciscan vào khoảng năm 1209.

[4] Thánh Ignatius Loyola (1491 – 1556) sáng lập dòng Jesuit.

[5] Milton(1608-74) thi hào Anh tác giả “Paradise Lost” paradise Regained và nhiều thi bản khác.

[6] Nietzsche (1844-1900). Triết gia Đức, cha đẻ của thuyết siêu nhân.

[7] PanKhurs (1858-1928) lãnh tụ phong trào đòi quyền bầu cử cho phụ nữ.

[8] Lioy George (1863-1945) chính trị gia tự do Anh, làm thủ tướng từ 1916-1922.

[9] Austerlitz. Nơi Napoleon đánh bại quân Áo và Nga năm 1805.

[10] Elizabels I (1533-1603) Nữ hoàng Anh trị vì từ năm 1558 đến 1603.

[11] Oliver Cromwell (1599-1658) lãnh đạo Anh quốc từ 1653 đến 1658.

[12] Antony (khoảng 82-30 trước Tây lịch) bị Cleopatra quyến rũ, mất hết quyền bính và sau đó tự tử chết.

[13] Thần chiến thắng Jupiter.

[14] Thần sấm sét, chiến tranh.

[15] Thần chiến thắng Jupiter.

[16] Giacomo Leopardi (1798-1837) Thi sĩ Ý đại lợi, cũng là một học giả.

[17] Địa danh nổi tiếng trong cuộc nội chiến Tây Ban Nha. Đây cũng chính là tên mà Picasso đã dùng để chỉ bức họa ông mô tả nỗi rợn người của cuộc chiến tranh thảm khốc này.

Nguồn: Bertrand Russell. Quyền lực. Nguyễn Vương Chấn – Đàm Xuân Cận dịch, Nxb Hiện đại, 1972. Bản điện tử do triethoc.edu.vn thực hiện.

Dẫn theo: triethoc.edu.vn 

(còn nữa)

Tổng số lượt xem trang

free counters