Triết Lý, để làm gì ?

Khi ta bế tắc tư tưởng, chân thật công nhận rằng những kiến thức và phương pháp suy luận của ta không cho phép ta sống, tư duy và hành động khớp với khao khát làm người của ta, ngoài vô vàn cách ứng xử khác, ta có thể:

a) Tiếp tục sống, tư duy và hành động như cũ vì, dù sao, ta cũng sống được, không đến nỗi nào

b) Lột áo cũ, khoác áo mới, một tấm áo coi lành lặn đẹp đẽ hơn nhưng cũng hàm hồ không thua gì. Điều ấy luôn luôn khả thi bằng ngôn ngữ.

c) Đi tới cùng bế tắc của chính mình. Nếu không giải quyết được nó, ta ôm nó xuống suối vàng, để lại ở đời chỉ một câu hỏi. Câu hỏi của một con người. Đích thực. Có gì nhục đâu?

Nếu ta tưởng ta đã tìm ra một phần của giải pháp, ít nhất là cho riêng mình, thì cứ viết đi, chẳng cần trích cao nhân nào cả: họ đã là một phần của ta và ta đã phải “vượt” họ để nên mình.

Thế thôi.

(Chungta.com)

Góc nhỏ của Noby Vui Vẻ

Lục lọi, tìm tòi, đọc, cóp nhặt, chia sẻ, ... OK hay không tùy bạn ! ! !

“Nước độc lập mà dân chưa tự do thì độc lập cũng không có ý nghĩa”- Hồ Chí Minh.

2 thg 5, 2011

Tiếp cận lòng yêu nước kiểu Mỹ



Lê Đỗ Huy
Hoa Kỳ là một quốc gia đa dân tộc theo nghĩa rộng nhất. Việc "lượng hóa" lòng yêu nước của người Mỹ cũng chỉ mang tính tương đối. Tuy nhiên, câu chuyện, con số, dữ liệu dưới đây cũng nói lên phần nào cách người Mỹ yêu đất nước của họ.
"This is America" (Đây là nước Mỹ)
Chuyện kể rằng dì Sam (*) cho con mình tham gia chương trình trao đổi văn hoá. Cậu Bill đi sang một đất nước xa lắc xa lơ, ở đó một tháng trong một gia đình bản xứ. Cùng kỳ, con của gia đình ấy thì sang Mỹ, ở nhà vợ chồng dì Sam.
Dì Sam viết thư bằng tiếng Anh cho “đối tác”. Thư có đoạn viết: “Con của ông bà rất ổn, sang đây cả tháng được nói tiếng Anh, được ăn fast food (đồ ăn nhanh), uống Coca, mặc quần jeans, thưởng ngoạn lối sống Mỹ. Con ông bà thật may mắn, bởi vì đây là nước Mỹ (This is America)”.
“Nhưng Bill nhà tôi”, dì Sam viết tiếp, “chắc là khổ sở lắm. Ở bên ấy thấy bảo chẳng ai nói tiếng Anh. Lại cho dùng đồ ăn thức uống cháu không quen, yêu cầu cháu tuân thủ phong tục tập quán xa lạ. Thôi thì trong cái không may cũng có cái tốt. Vì sẽ khơi dậy được lòng yêu nước. Bill chắc là thấy rõ sự khác biệt, rằng bên ấy là một nước khác, còn đây là nước Mỹ (This is America).
Cái nhìn đa chiều
Lòng yêu nước kiểu Mỹ là một khái niệm phức tạp. Các lãnh đạo của Mỹ cũng có những quan điểm rất khác nhau.
Cựu tổng thống Mỹ Theodore Roosevelt cho rằng: “Yêu nước là giúp nước. Điều này không có nghĩa là ủng hộ tổng thống này hay quan chức kia … Yêu nước là ủng hộ tổng thống, hay quan chức đó, bằng đúng mức mà ông ta đã giúp nước.
Sẽ là không yêu nước nếu không phản đối ông ta, cũng ở mức mà ông ta đã tỏ ra thiếu năng lực hoặc thiếu trách nhiệm trong giúp nước. Trong mọi trường hợp, sẽ là không yêu nước nếu không nói sự thật, cho dù nó liên quan đến tổng thống hay ai đi chăng nữa”.
Một trong những người có công dựng nước của Hoa Kỳ là Thomas Jefferson “mặc định”: “Mọi thứ đều đổi thay, trừ những quyền con người, là vốn có và không thể tước đoạt được”.
“Cha đỡ đầu” của trào lưu tân bảo thủ Barry Goldwater từ những năm 1960 khẳng định: “Một chính phủ đủ lớn để cho các bạn tất cả những gì các bạn muốn là một chính phủ đủ mạnh để lấy lại tất cả những gì của các bạn mà nó muốn”.
Để so sánh, có thể dẫn nhà tư tưởng, chính khách thời Phục hưng, Edmund Burke - người sáng lập ra chủ nghĩa bảo thủ: “Tất cả những gì cần thiết để đảm bảo cho chiến thắng của cái ác là những người tốt nhưng vô dụng”.
Địa danh
Theo thống kê của báo The Washington Post, ở Hoa Kỳ có 30 địa danh có chứa từ Liberty (Tự do), 11 địa danh chứa từ Independence (Độc lập), 5 địa danh có từ Freedom (cũng là tự do), và 1 thành phố được gọi là “Người yêu nước”, nằm ở bang Indiana, dân số là 209 người.
Tự hào dân tộc hơn người
Các công trình nghiên cứu của hãng Harris Interactive tiến hành ở phương Tây cho thấy người Mỹ có cảm giác tự hào mình là người Mỹ hơn cảm giác tương tự ở các nước châu Âu.
Ngay sau vụ khủng bố ngày 11/9/2001, có tới 96% người Mỹ tuyên bố họ “tự hào”, hoặc rất tự hào là người Mỹ, số liệu của năm 2009 là 95%[1].
Cứ mười người Mỹ thì có chín người cảm thấy tự hào khi nghe thấy giai điệu của quốc ca. Các quốc hiệu được người Mỹ coi trọng nhất là (thứ tự từ cao xuống thấp): quốc kỳ, tượng thần tự do, quốc ca, tượng thần Tự do, đại bàng đầu trắng trên quốc huy, Nhà trắng, và bài hát Chúa trời phù hộ nước Mỹ, vẫn theo điều tra trên của Hãng Harris Interactive.
Năm 2005 có 72% người Mỹ cho rằng họ tự hào và rất tự hào là người Mỹ, 22% cho rằng họ không tự hào lắm. 5% cho rằng họ không tự hào chút nào, theo số liệu của viện Gallup. Còn đến năm 1999, chỉ có tới 69% là tự hào và “rất tự hào” là người Mỹ. Gần đây, năm 2010 có tới 1/3 người Mỹ cho mình là "yêu nước vô cùng", so với năm 2005 có 26%, và năm 1999 chỉ có 19%[2].
Nghiên cứu của Hãng Ipsos-Reid cho thấy cứ ba người Mỹ thì một người thường xuyên kiểm tra mã số mã vạch của mặt hàng để xác định xuất xứ. Người Mỹ càng nhiều tuổi hơn, càng kiểm tra kỹ hơn.
Trong đó, có 54% công dân Mỹ sẵn lòng mua hàng đắt nhưng có mác "made in USA" hơn là mua hàng của nước khác. 63% người Mỹ trẻ tuổi chỉ nhăm nhăm xem giá, rẻ hơn là mua, bất kể sản xuất ở nước nào. 62 % người Mỹ cao niên chấp nhận trả giá cao để ủng hộ các nhà sản xuất quốc nội.
Các "thể loại" yêu nước phổ biến
Trong sách “Lòng yêu nước, chính trị và cuộc bầu cử tổng thống ở Mỹ 1988”, các tác giả đã sử dụng hệ phương pháp Q ( phân tích nhân tố trên nghiên cứu quan điểm của cộng đồng) để xác định các thể loại của lòng yêu nước.
Theo đó, có thể phân chia “đại trà” lòng yêu nước thành năm thể loại:
1. Yêu nước không có yếu tố thần tượng hoá;
2. Yêu nước qua những biểu tượng - như chào cờ, hát quốc ca, cũng gọi là lòng
yêu nước chính thống, theo nghi thức mà chính phủ phổ cập cho công dân;
3. Yêu nước theo bản năng, đến từ lòng yêu thiên nhiên nơi mình sinh ra;
4. Lòng yêu nước kiểu tư bản.
5. Chủ nghĩa dân tộc (một dạng biến thể của thể loại thứ 2).
Thể loại 3 (chiếm 31% số người được hỏi) cho rằng những ai huỷ hoại thiên nhiên Hoa Kỳ là những kẻ phản bội tổ quốc. Trong khi đó, những ai yêu nước kiểu tư bản (chỉ chiếm 1/2 con số của thể loại 3) cho rằng việc khai thác các nguồn tài nguyên và phát triển tư bản chủ nghĩa là hành vi yêu nước nồng nàn bởi vì chúng đem lại nghề nghiệp và phát đạt cho người Mỹ.
Nhưng theo tác giả Donald Miller trong bài “Lòng yêu nước từ trước đến giờ”, sau vụ khủng bố 11/9, Lòng yêu nước qua những biểu tượng (thể loại 2) đã vỡ oà. Trẻ con Mỹ đến trường lại sang sảng "Lời tuyên thệ của công dân", người lớn treo quốc kỳ lên xe hơi và hát Quốc ca tại các sự kiện, với cảm xúc nồng nàn.

(*) Nước Mỹ còn có một cách gọi thân mật là "Chú Sam" - xuất phát từ cách viết tắt của từ "United State of American" thành "Uncle Sam". "Dì Sam" ở đây được hiểu là "vợ" của "Chú Sam".
Nguồn:  Vietnamnet

Tạo sức bật cho nông dân



Hiện nay, số lớn nông dân vẫn còn nghèo, khó khăn bởi cơ chế, chính sách đôi khi còn cản trở họ. Làm sao tạo sức bật cho nông dân tiến lên làm giàu, xoá đói giảm nghèo? NTNN giới thiệu bài viết của GS Tương Lai như một sự gợi mở, hiến kế giúp người nông dân vượt lên.
Những người làm nên lịch sử
Nếu ai đó từng hình tượng hóa bán đảo hình chữ S này như một lực sĩ gồng vai gánh hai thúng thóc lớn ở hai đầu Bắc - Nam thì lực sĩ đó chính là người nông dân Việt Nam. Trải bao biến thiên của lịch sử, kế thừa truyền thống quật khởi của dân tộc, người nông dân, chủ lực quân của cách mạng và kháng chiến, đã đưa "đất nước từ trong máu lửa, rũ bùn đứng dậy sáng lòa".
Còn ngay trong thời bình, chính người nông dân đã 2 lần cứu đất nước thoát ra khỏi khủng hoảng: Một là vào cuối năm 1980 với sự sụp đổ của Liên Xô và phe xã hội chủ nghĩa, và cuối 1990 với khủng hoảng ở các nước Đông Nam Á. Cả hai lần, sản xuất công nghiệp, có lần cả dịch vụ đều sa sút, có lúc tăng trưởng âm, chỉ nhờ nông dân kiên cường và nhẫn nại trên mặt trận sản xuất, nông nghiệp phát triển, mới cứu được cho cả nền kinh tế đã đứng bên bờ vực.
Thế đó! Nhưng rồi, liệu những gì mà nông dân và nông thôn gặt hái được có tương xứng với những gì mà người nông dân đã dốc cạn sức cho công cuộc giữ nước và dựng xây đất nước?
Để thấm thía hơn với thân phận người nông dân, có lẽ phải ngoái nhìn lại lịch sử. Cày sâu cuốc bẫm, bán lưng cho trời, bán mặt cho đất, hai sương một nắng làm ra thóc gạo và thực phẩm nuôi sống xã hội, song bao đời nay nông dân vẫn là người gánh chịu thân phận thua thiệt, nghèo khổ nhất.
Nghịch lý ấy dai dẳng bám riết lấy thân phận người nông dân. Xin hãy chỉ gợi lên một hình ảnh: Mấy chiến sĩ xe tăng húc đổ cánh cổng sắt "Dinh Độc Lập" trưa ngày 30.4.1975, không ai khác, là những nông dân mặc áo lính. "Năm anh em trên một chiếc xe tăng" ấy lại trở về với "việc cuốc, việc cày, việc bừa, việc cấy tay vốn quen làm" (Nguyễn Đình Chiểu)!
Nhưng rồi, làm ruộng không đủ sống phải đổi nghề đi lái xe lam, một số khác phải bươn chải kiếm sống với nhiều nghề khác nhau. "Lý lịch trích ngang" của "năm anh em" xem ra cũng giống như với bao người nông dân cởi bỏ áo lính trở về nông thôn.
Trong một chuyến khảo sát đã được công bố, người viết bài này đã phác thảo về "nhiều cái nhất" của người nông dân: "Cống hiến nhiều nhất. Hy sinh lớn nhất. Tha thứ cao cả nhất. Thích nghi tài giỏi nhất. Cam chịu lâu dài nhất. Năng động khôn ngoan nhất "nhưng lại "Hưởng thụ ít nhất. Được giúp kém nhất. Chịu thua thiệt nặng nhất". Liệu có còn phải bổ sung, chỉnh sửa thêm?
Làm gì cho nông dân?
Chắc là còn nhiều việc phải làm. Vì rằng, hiện nay nước ta có 14,5 triệu nông hộ với gần 70 triệu mảnh ruộng mà 10% số đó có diện tích mỗi mảnh từ 100m2 trở xuống. Rồi bờ vùng, bờ thửa và đường đi lại giữa các mảnh ruộng manh mún đó đã ngốn bao nhiêu diện tích và thời gian đi lại, chuyên chở sản phẩm.
Một thực tế khác còn gay gắt hơn nhiều với người nông dân đó là vấn đề đất đai. Kinh nghiệm lịch sử, không chỉ ở nước ta, mà ở tất cả các nước, việc sử dụng, phân bổ, quy hoạch và quản lý đất luôn là những vấn đề nhạy cảm bậc nhất, được tranh cãi nhiều nhất và chịu áp lực chính trị nhiều nhất.
Với tổng diện tích khoảng 33 triệu ha với dân số hơn 88 triệu người, diện tích đất nông nghiệp bình quân trên đầu người chưa đến 0,3ha, nước ta là một trong những nước có diện tích bình quân đầu người thấp nhất thế giới! Cho nên, thực nạn mất đất đang là một bức xúc xã hội lớn vì đó là mất cái không bao giờ còn sinh sôi ra được nữa...
Quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa và hiện đại hóa cũng là quá trình diễn ra chuyện mất đất nông nghiệp dường như khó hãm lại. Nhiều cánh đồng màu mỡ đã biến mất, thay vào đó là khu công nghiệp, là sân golf, là các khu "rì dọt"...
Liệu có phải đây là chuyện chẳng đặng đừng không, hay là do thiếu một tầm nhìn xa và ý thức về trách nhiệm đối với nông dân trong cái gọi là "quy hoạch" các khu công nghiệp và đô thị của một số nơi? Được đền bù, nhưng không phải ai cũng biết cách làm cho đống tiền đền bù đó sinh sôi, nảy nở khi mà bao đời nay, họ chỉ biết kiếm sống từ đất. Và thế là, đối với không ít người, đất thì đã mất, đống tiền "đền bù" đã cạn dần vào những chi phí không hợp lý, nhiều gia đình nông dân trở nên điêu đứng, thất cơ lỡ vận.
Trong khi đó sở hữu toàn dân về đất đai và quản lý Nhà nước đối với đất đai đã được quy định nhưng lại không đưa ra hướng dẫn đầy đủ về việc đất sẽ được quản lý như thế nào. Chính điều này đẻ ra những cách giải thích thiếu hợp lý và chỉnh sửa liên tục, tạo ra sự mập mờ và bất định trong quản lý đất đai.
Giá trị của đất bị thu hồi khi chuyển sang mục đích đô thị, thương mại, công nghiệp thường cao hơn hàng trăm lần số tiền đền bù trả cho nông dân. "Lực hút của đất" đã khiến cho không ít cơ quan nhà nước địa phương đẩy mạnh việc thu hồi đất. Điều đó gây bức xúc cho người dân và dẫn đến những tranh chấp và khiếu kiện triền miên.
Tạo hứng thú cho nông dân
Lại nữa, việc hạn chế khả năng chuyển đổi đất lúa sang những mục đích sản xuất nông nghiệp khác cũng làm giảm giá trị của đất. Ấy vậy mà thu nhập từ trồng lúa thường thấp hơn từ 3-5 lần thu nhập từ các sản phẩm mùa khác như rau, hoa quả và thủy sản.
Nhiều cánh đồng màu mỡ đã biến mất, thay vào đó là khu công nghiệp, là sân golf, là các khu "rì dọt"... Liệu có phải đây là chuyện chẳng đặng đừng không, hay là do thiếu một tầm nhìn xa và ý thức về trách nhiệm đối với nông dân?
Cho nên, nếu người nông dân bị ép trồng lúa nghĩa là nông dân đang phải gánh cái gánh rất nặng thực hiện mục tiêu tự cung tự cấp lúa gạo trong chính sách an ninh lương thực quốc gia nhưng họ lại không nhận được sự đền đáp cụ thể và thích đáng cho sự phục vụ lợi ích quốc gia. 30% lợi nhuận (theo chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ) thật ra chỉ được tính dựa vào giá thành sản xuất nên thực tế người dân không được trả công xứng đáng cho những nỗ lực của họ.
Với thu nhập từ trồng lúa chỉ khoảng 28 USD/người/tháng, một nửa số nông dân đang canh tác 4 triệu ha lúa trên cả nước đang kề ngay hoặc gần sát với chuẩn nghèo mới. Và rồi thu nhập thấp cũng đã ngăn cản người trồng lúa tích lũy đất sản xuất. Vì, người nông dân nhận ra nếu họ mở rộng đất đai và khi đất đai bị thu hồi, giá trị đền bù sẽ không phản ánh đúng giá trị thực sự mà họ đã trả khi mua. Đất đai vẫn tiếp tục manh mún!
Thế là, cùng với những thành tựu không thể phủ nhận của những nỗ lực không mệt mỏi của các tầng lớp nhân dân từng ngày từng giờ làm thay đổi diện mạo và vị thế đất nước, trong đó có sự đóng góp lớn lao của người nông dân, cần phải nhìn thẳng vào những khó khăn và dám nói lên sự thật để biết cách tháo gỡ, đưa đất nước đi tới.
Nông dân, nông thôn, nông nghiệp đang đứng trước những thách đố lớn.
GS Tương Lai
Theo Dân Việt

Chelsea: Danh dự nhà vô địch

Chelsea cuối cùng cũng không đầu hàng, nhà ĐKVĐ đã bám đuổi M.U cho tới những hi vọng cuối cùng và giờ đây đã nhìn ra cơ hội bảo vệ danh hiệu của mình một cách rõ rệt...
Khoảng cách với M.U bây giờ chỉ còn 3 điểm và phía trước là cuộc đối đầu trực tiếp với đối thủ, Chelsea vì thế có đầy đủ lý do để tin rằng họ vẫn còn có thể ôm ấp giấc mơ bảo vệ ngai vàng. Những gian khó đã thực sự bị bỏ lại phía sau để giờ đây Chelsea đứng trước một tương lai tươi đẹp.
Nhà vô địch đã bị thử thách quá nhiều ở mùa giải này, hàng loạt những vấn đề nảy sinh từ lực lượng mỏng, phong độ không ổn định suốt từ tháng 11 cho tới cuối tháng 3. Chelsea đã có lúc bị đánh giá rằng chỉ đủ sức tham dự cuộc đua giành vé dự Champions League trong khi ngôi vô địch xứ sương mù của họ thậm chí đã bị nhiều người "phế truất trong tư tưởng" từ rất lâu.
Nhưng vấn đề là Chelsea không chịu tung cờ trắng đầu hàng. Nhà vô địch vẫn chiến đấu và dần tìm lại cảm giác chiến thắng một cách đều đặn. Ancelotti rõ ràng không phải là một HLV tầm thường đến nỗi tự bỏ cuộc để khiến tất cả các học trò không còn tâm lý chiến đấu.
Đứng giữa những làn sóng chỉ trích, Ancelotti vẫn kiên cường và giữ vững mục tiêu của mình. Những vấn đề của Chelsea lần lượt được giải quyết và khi mà người ta thấy vị trí của ông ngày một vững chắc hơn thì cũng là lúc Chelsea ngày càng tiến gần tới ngôi đầu bảng của M.U.
Bây giờ thì Chelsea cần một chiến thắng trong cuộc đọ sức trực tiếp với Quỷ Đỏ để tiếp tục mang thêm về cho mình những cơ hội. Khi điểm số đã được san bằng bằng chiến thắng, đừng ai nói rằng Chelsea không thể vô địch.
Nhà vua đã chính thức trở lại và sẽ thách thức M.U một cách đầy đủ và rõ ràng nhất trong trận đấu cuối tuần sau. Ít ra thì các fan hâm mộ trung lập cũng phải cảm ơn Chelsea vì họ đã không để Premier League sớm kết thúc bằng sự độc tôn của M.U.

Chelsea nếu đánh bại được M.U sẽ nhận thêm được sự kính trọng của rất nhiều người. Đó là điều mà Chelsea xứng đáng nhận được sau những nỗ lực không ngừng nghỉ của họ suốt thời gian vừa qua.
(theo bongda.com.vn)

TB. Lẽ ra mình không nên đăng bài này nhưng là một fan của Chelsea thì tại sao không tràn đầy hy vọng cho được khi khoảng cách 3 điểm có thể san lấp vào cuối tuần này. Chelsea thắng MU phải làm trận bia ăn  mừng mới được. Ha ha ha .

Bin Laden chết vì khinh suất?



Gần 10 năm sau vụ tấn công khủng bố nước Mỹ ngày 11/9/2001, thủ lĩnh mạng lưới Al Qaeda là Osama bin Laden chắc chắn đã nghĩ rằng ông ta đã an toàn.
Bin Laden chuyển nơi ở từ khu vực núi non, hẻo lánh ở vùng biên giới không hiếu khách Afghanistan tới một dinh thự thoải mái trị giá 1 triệu USD tại một trong những thị trấn đẹp nhất và thịnh vượng nhất Pakistan.
Abbottabad - được đặt theo tên James Abbott - vị thị trưởng người Anh thành lập thị trấn này năm 1853, là một nơi có khí hậu dễ chịu, trung tâm thu hút nhiều du khách tới thăm vùng này. Và ngôi nhà cũ của Gurkhas vẫn là một căn cứ quân sự lớn vì vậy người địa phương không có lý do gì để lo sợ.
Đằng sau bức tường của khu nhà rộng lớn cách xa thủ đô Islamabad khoảng 100km về phía bắc, Bin Laden có mọi lý do để tin rằng ông ta nằm ngoài cặp mắt cú vọ của Mỹ.
Tại Abbottabad, Bin Laden được sống cùng người thân trong dinh thự. Ngoài ra, một đội ngũ những người đưa thư có thể đem tới cho Bin Laden bất cứ thứ gì trùm khủng bố này cần từ bên ngoài.
Bin Laden tự tin tới mức nghĩ rằng ngôi nhà 3 tầng đồ sộ mà ông ta đang sống, to gấp 8 lần những ngôi nhà khác trong khu vực, sẽ vẫn là nơi lẩn trốn lý tưởng, ít bị nhòm ngó đối với một tội phạm bị truy nã số 1 thế giới.  
Tuy nhiên, theo nguồn tin tình báo Mỹ, Bin Laden bị tóm trước sự ngạc nhiên của lực lượng đặc biệt, những người đã dành gần một thập niên để truy lùng nhân vật này. Bin Laden đã thoát chết sau 2 cuộc chiến nhằm truy bắt ông ta và những người ủng hộ.
Lần cuối cùng quân Mỹ và Anh tiến gần với Bin Laden - vài tháng sau vụ tấn công nhằm vào New York và Washington, thì thủ lĩnh Al Qaeda lại trốn được. Mãi tới tháng 8 năm ngoái, Tổng thống Mỹ Obama mới được thông báo, có khả năng Bin Laden đang ẩn náu ở Abbottabad. Mỹ và Pakistan mất 8 tháng để xác nhận thông tin trên là chuẩn xác.
Sau nhiều lần điều tra bế tắc, khó tin rằng thủ lĩnh Al Qaeda - Bin Laden lại "trâng tráo" tới mức sống ở một thị trấn vốn là nơi ưa thích của các nhân vật hàng đầu cũng như giới quân sự Pakistan. Tuy nhiên, cách đây một tuần, Obama nhận được bằng chứng hình ảnh vững chắc cho thấy Bin Laden ở đó.
Sáng 29/4, Tổng thống Mỹ quyết định mở chiến dịch tiêu diệt Bin Laden. Trong chiến dịch kéo dài chỉ khoảng 40 phút, kể từ lúc bắt đầu, Bin Laden đã bị bắn vào đầu trong khi cố gắng chạy trốn.
Một quan chức Mỹ giấu tên cho hay, Bin Laden sẽ được chôn ở biển.
  • Hoài Linh (Theo Mail, AP)
Theo Vietnamnet.vn

Tổng thống Mỹ: Bin Laden đã chết



Trùm khủng bố Osama bin Laden đã chết và Mỹ đang nắm giữ thi thể của nhân vật này, Tổng thống Mỹ hôm nay (2/5) thông báo từ Nhà Trắng.
Tổng thống Obama tuyên bố, Osama bin Laden đã bị tiêu diệt trong một chiến dịch của CIA tại Pakistan, chấm dứt cuộc truy lùng thủ lĩnh mạng lưới Al Qaeda - chủ mưu vụ tấn công khủng bố nước Mỹ ngày 11/9/2001, suốt nhiều năm.
"Tối nay, tôi có thể thông báo cho toàn thể nhân dân Mỹ và thế giới rằng Mỹ đã tiến hành một chiến dịch và tiêu diệt Bin Laden, thủ lĩnh mạng lưới Al Qeada, tên khủng bố đã gây ra cái chết của hàng nghìn người vô tội, gồm cả nam, nữ và trẻ em. Công lý đã được thực hiện", Tổng thống Obama tuyên bố. 

Một đám đông tụ tập bên ngoài Nhà Trắng đã hò reo khi thông tin Bin Laden bị tiêu diệt được công bố.
Trong bài phát biểu, Tổng thống Mỹ nói, Bin Laden bị tiêu diệt trong một cuộc đột kích bằng trực thăng của một nhóm nhỏ đặc nhiệm nhỏ thuộc đội SEAL. Thi thể của Bin Laden đã bị thu giữ.
Trước đó, hai quan chức chống khủng bố cấp cao của Mỹ cho biết, Bin Laden đã bị tiêu diệt ở Pakistan hồi tuần trước.
Một người nói, Bin Laden bị giết trong một chiến dịch bộ binh chứ không phải chết trong một cuộc không kích. Tuy nhiên, cả hai đều nói, chiến dịch được tiến hành dựa trên thông tin tình báo và Mỹ hiện nắm giữ thi thể của Bin Laden.

Trước đó, Nhà Trắng cho biết, Tổng thống Obama sẽ có bài phát biểu vào tối muộn (sớm nhất là 10h30 tối 1/5 giờ địa phương - trưa 2/5 giờ Việt Nam) về một nội dung không báo trước. Việc Tổng thống sẽ có bài phát biểu và không tiết lộ chủ đề là một việc rất hiếm.
Nguồn tin của CNN cho biết, Bin Laden bị quân Mỹ tiêu diệt tại một dinh thự nằm ở ngoại ô thủ đô Islamabad của Pakistan cùng các thành viên trong gia đình.
Mỹ luôn cho rằng Bin Laden - tội phạm bị truy nã số 1 thế giới ẩn náu ở vùng núi non, dọc biên giới Afghanistan và Pakistan. 

Hoài Linh (Theo CNN,WP)  

Theo Vietnamnet.vn 

Xung đột lợi ích giữa cá nhân và tổ chức



Cảnh Thái
Lợi ích của cá nhân hay của tổ chức quan trọng hơn? Bất công xảy ra đối với một người là có nguy cơ sẽ xảy ra đối với mọi người!
Báo chí trong nước đưa nhiều tin bài về vụ một huấn luyện viên Taekwondo đi máy bay của Hãng hàng không quốc gia Việt Nam (Vietnam Airlines), và xảy ra va chạm với tiếp viên của hãng hàng không này. Đúng sai thuộc về ai chưa rõ nhưng đây là một điển hình cho xung đột lợi ích hay mâu thuẫn xuất hiện giữa một cá nhân và một tổ chức, hơn nữa, đây là một tổ chức có tính độc quyền về vận chuyển hàng không.
Tin tức khác cho thấy một vài cá nhân ở Hà Nội không đồng ý với quyết định bồi thường di dời căn nhà của mình cho dự án quy hoạch và xây dựng tại khu “đất vàng” của một công ty cổ phần về xây dựng và bất động sản đang thực hiện. Liệu các cá nhân không đồng ý với giá thỏa thuận đền bù có bị “cưỡng chế” giải tỏa để thực hiện dự án cho lợi ích của tổ chức?
Có dư luận cho rằng những người đại diện cho tổ chức như cô tiếp viên của Vietnam Airlines hay lực lượng an ninh hàng không hành động thái quá... Dư luận khác lại ủng hộ “tổ chức” và cho rằng các cá nhân có thể đã hành động “quá đáng”. Vị huấn luyện viên có thể đã “nóng nảy” hay “chống cự”, “bất hợp tác” với nhân viên hàng không... và chủ nhân các ngôi nhà trong dự án quy hoạch có thể đã “quá tham” khi không chấp nhận giá đền bù gần 1 tỉ đồng/mét vuông trong khi đời sống chung của người dân không được như vậy...
Bên cạnh đó, các thông tin phản hồi từ hàng trăm độc giả của các diễn đàn cho thấy có người ủng hộ cá nhân là vị huấn luyện viên không quen biết nọ hay ủng hộ các cá nhân là chủ nhân các ngôi nhà bị quy hoạch giải tỏa ở “khu đất vàng” Hà Nội vì họ ở vị thế yếu, bị “tổ chức” lớn, có tính độc quyền, các dịch vụ được tổ chức đưa ra có tính “không thể không theo hay không sử dụng được”.
Vấn đề đặt ra ở đây là liệu quyền lợi của cá nhân so với tổ chức có công bằng và được đặt ngang nhau? Khi có xung đột lợi ích giữa cá nhân và tổ chức hay tập thể, đặc biệt là các tổ chức có tính độc quyền cao như Vietnam Airlines hay các công ty đầu tư quy hoạch và xây dựng dự án dân cư... thì nên giải quyết trên cơ sở nào?Nếu chúng ta xem nhẹ lợi ích của cá nhân bất chấp các cá nhân này có lý lẽ đúng đắn thì trong tương lai nếu chính chúng ta rơi vào tình cảnh tương tự, ai sẽ bênh vực cho cá nhân chúng ta?
Cơ sở của công lý hay pháp luật là nhằm đảm bảo quyền lợi của cá nhân hay tổ chức? Một số người có thể nhầm tưởng rằng lợi ích của tổ chức luôn phải đặt cao hơn lợi ích của cá nhân. Khi có xung đột thì “cá nhân” đương nhiên phải hy sinh quyền lợi cho “tập thể” hay tổ chức. Điều này dễ dẫn tới xem nhẹ lợi ích của mỗi cá nhân hay cá thể trong cộng đồng mà quên rằng mỗi cá nhân trong cộng đồng là con người của chính mỗi chúng ta, sẽ tạo ra một cộng đồng có mạnh mẽ và phát triển bền vững được hay không, một xã hội có “thượng tôn pháp luật” hay không.
Thử nghĩ một ngày nào đó, nếu vị huấn luyện viên nói trên bị cấm đi máy bay của Vietnam Airlines mà không còn cách nào để di chuyển bằng đường hàng không (Vietnam Airlines đang chiếm thị phần lớn tuyệt đối trong nước) mặc dù có thể ông ta đúng trong xung đột với nhân viên hàng không! Sẽ không còn hành khách nào dám phản đối các hành vi không đúng của cơ quan hàng không, sẽ không ai dám có ý kiến nếu dịch vụ của cơ quan hàng không không tốt, kể cả việc có thể bị đối xử bất công. Lâu dài sẽ ra sao?
Các cá nhân chủ nhà ở Hà Nội nếu bị “cưỡng chế” giải tỏa bất chấp việc pháp luật đất đai có quy định quyền sở hữu nhà ở hợp pháp của người dân và các chủ dự án đầu tư phải thương lượng giá đền bù với người dân (Luật Đất đai 2003) thì bất công có thể xảy ra đối với cá nhân người chủ nhà này có thể sẽ lặp lại với bất kỳ ai. Một ngày nào đó, sẽ có một tổ chức hay công ty nào khác tới quy hoạch và giải tỏa nhà của chính chúng ta hay con em mình đang ở mà không cần thương lượng giá đền bù thỏa đáng (vấn đề giá đền bù thế nào là thỏa đáng là một đề tài khác)!
Con đường dung hòa là “nhất thể hóa” lợi ích của cá nhân và tập thể. Lợi ích của cá nhân chính là lợi ích của tập thể hay cộng đồng. Công lý cho cá nhân chính là công lý cho cộng đồng. Bảo vệ lợi ích cá nhân cũng chính là bảo vệ cộng đồng. Tránh bất công xảy ra đối với cá nhân cũng chính là chống nguy cơ bất công xảy ra đối với tất cả mọi người trong tương lai.
Pháp luật để bảo vệ công lý của mỗi cá nhân và mang lại công bằng cơ hội về lợi ích của cá nhân trong cộng đồng. Nếu lợi ích của cá nhân không được nhìn nhận thích đáng, không được tôn trọng, thì công lý có nguy cơ bị xâm hại và trong trường hợp đó, lợi ích thật sự chưa chắc thuộc về tổ chức hay tập thể, mà chỉ là của những cá nhân khác, tổ chức khác, nhân danh hay ngụy trang “tổ chức” hay “tập thể” để mưu cầu lợi ích khác mà thôi.

KINH TẾ THỊ TRƯỜNG VÀ MÂU THUẪN, XUNG ĐỘT LỢI ÍCH GIỮA NHÓM TRỤC LỢI VÀ NHÓM THIỆT HẠI HIỆN NAY


TS. HỒ BÁ THÂM & TS. NGUYỄN TRẦN DƯƠNG
Từ nghiên cứu mâu thuẫn xung  đột lợi ích  ở TP.HCM, chúng tôi cho rằng về thực chất và nổi bật là mâu thuẫn xung  đột giữa các nhóm trục lợi và nhóm thiệt hại lợi ích. Đây coi như một sự khái quát mới về một cặp mâu thuẫn, xung đột lợi ích hiện nay  ở nước ta và trong đó có TP.HCM.
Sau đây là một số nội dung, chúng tôi muốn trao đổi với bạn đọc.
1. Kinh tế thị trường với sự hình thành nhóm trục lợi và nhóm thiệt hại   
- Nền kinh tế thị trường là nền kinh tế có  đặc điểm chủ yếu như sau:
Đó là nền kinh tế có nhiều chế  độ sở hữu và thành phần kinh tế với nhiều chủ thể lợi ích có xu hướng phân hóa đa dạng khác nhau, có khi đối lập nhau như lợi ich cá  nhân, lợi ích nhóm, lợi ích giai tầng xã hội…, từ đó nảy sinh mâu thuẫn lợi ích.
Nền kinh tế thị trường có bản chất và động lực cơ bản là chạy theo mục đích lợi nhuận, thậm chí có lúc gần như là mục đích duy nhất. 
Nền kinh tế bên cạnh mặt tích cực như: năng động,  đòi hỏi sự minh bạch, tạo cơ hội cho mọi người làm việc và phát triển… nhưng  đồng thời nó cũng có mặt khuyết tật, tiêu cực tạo nên khủng hoảng kinh tế chu kỳ, phân hóa tạo nên những người rất giàu và những người rất nghèo, gây nên xung đột lợi ích.
Nền kinh tế thị trường hiện đại có đặc điểm là gắn với xu hướng công nghệ sạch, thân thiện môi trường, gắn với công bằng xã hội, phúc lợi xã hội, đề cao trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp…. Xu hướng này là tiền  đề của nền kinh tế thị trường XHCN.
Cùng với quá trình  đó là quá trình  đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đô thị hóa đã nảy sinh nhiều vấn đề về lợi ích khác nhau, thậm chí đối lập nhau, nhất là trên lĩnh vực nhà đất, các quan hệ lao động trong các doanh nghiệp và môi trường sống.
Nước ta từ khi chuyển sang thời kỳ  đổi mới, phát triển nền kinh tế thị trường theo  định hướng XHCN, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đô thị hóa nhưng nền kinh tế này còn sơ khai, trình độ thấp, mặc dù có yếu tố  để tiến tới nền kinh tế thị trường hiện  đại, hướng tới kinh tế thị trường hiện đại. Trong thời kỳ mới này những mâu thuẫn, xung đột lợi ích đã và đang diễn ra rất đa dạng và có phần phức tạp.
- Đời sống xã hội.
Đời sống xã hội là toàn bộ không gian xã hội gắn với hoạt động của con người, cộng đồng người với những nhu cầu, lợi ích nhất định. Có nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội: lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội. Đời sống xã hội trong công trình này chủ yếu lĩnh vực kinh tế và lĩnh vực xã hội, nhưng là xét trong quan hệ với các lĩnh vực khác, hoặc bao gồm một phần lĩnh vực khác.
Đời sống xã hội của một quốc gia là tổng thể các mặt kinh tế xã hội tạo nên trong  đó về mặt tổ chức, cộng đồng thì bao gồm nhiều nhóm xã hội, cư dân, các  giai tầng. Các nhóm xã hội, nhóm lợi ích và các giai tầng được phân chia dựa trên một số tiêu chí chung: hoặc chủ yếu về tư liệu sản xuất, hoặc phân công lao  động xã hội hoặc về quyền lực (uy tín). Trong quá trình đáp ứng các nhu cầu của cuộc sống đã nảy sinh những lợi ích khác biệt, mâu thuẫn từ  đó mà ra. Đời sống xã hội luôn luôn vận  động, phát triển làm nảy sinh những mâu thuẫn và thông qua những mâu thuẫn khá phức tạp, nhất là về mặt lợi ích hay quyền lợi.
- Sự hình thành nhóm trục lợi và nhóm thiệt hại.
Từ khi chuyển đổi nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang kinh tế thị trường có sự quản lý của nhà nước, định hướng xã hội chủ nghĩa (1986) cho đến nay, có thể bước  đầu phân quá trình này thành 3 phân kỳ với những đặc điểm khác nhau:
Phân kỳ 1 (1986-1994): giai đoạn chuẩn bị các nhân tố kinh tế, kỹ thuật, xã hội cho việc định lại các phạm vi tác động của hệ thống kế hoạch hóa và quản lý tập trung trong điều kiện thị trường mở, hội nhập khu vực và quốc tế, cũng như tạo những tiền đề mới về cơ sở hạ tầng kỹ thuật, môi trường vĩ mô cho việc phát triển kinh tế hàng hoá – dịch vụ vận hành theo cơ chế thị trường, hình thành và phát triển các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh. Giai  đoạn chuyển đổi này diễn ra nhanh chóng và  đầy kịch tính với những biểu hiện của khủng hoảng (lạm phát 3 con số, biến động giá cả – tiền tệ, sản xuất – kinh doanh trì trệ tại nhiều cơ sở quốc doanh cả trung ương lẫn địa phương…), đồng thời bắt đầu xuất hiện một số nhân tố mới từ đầu thập niên 90 (xuất khẩu gạo, dầu thô; đầu tư nước ngoài và sự có mặt của nhiều văn phòng đại diện công ty nước ngoài và tổ chức quốc tế tại TP.Hồ Chí Minh và Hà Nội). Các nhóm trục lợi  đầu tiên xuất hiện, gây hậu quả lớn  là những nhóm núp bóng tín dụng (Thanh Hương, Anh Đào…), các nhóm buôn bán qua biên giới chủ yếu qua con đường phi hạn ngạch, kinh tế ngầm….
Phân kỳ 2 (1995-2006): giai  đoạn tăng trưởng và phát triển, đặc biệt tập trung vào các tỉnh Vùng kinh tế trọng điểm Phía Nam (TP.Hồ Chí Minh, Bà Rịa-Vũng Tàu -  Đồng Nai – Bình Dương), và từ 2002, lan rộng ra các tỉnh phía bắc sông Hồng của Vùng trọng điểm kinh tế Bắc Bộ (Hà Nội, Bắc Ninh, Hải Dương, Hưng Yên, Hải Phòng, Vĩnh Phúc), cũng như một số tỉnh Vùng kinh tế trọng điểm Trung Bộ (Đà nẵng, Quảng Nam, Quảng Ngãi).… Với sự phát  triển nhanh chóng và quy mô ngày càng lớn đầu tư trong nước và nước ngoài, thị trường hàng hóa, xuất nhập khẩu, thị trường lao động, xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế – xã hội…, cùng với những cải cách kinh tế nhằm thúc đẩy hình thành nhanh chóng và phát triển đồng bộ các nhân tố thị trường theo xu thế toàn cầu hóa và các mục tiêu, định hướng chiến lược quốc gia phát triển nhanh, bền vững…  hàng loạt nhóm trục lợi thuộc nhiều lĩnh vực, nhiều  địa phương, nhiều cấp độ hình thành, âm thầm, kiên trì nhưng nhanh chóng lợi dụng mọi cơ hội, mọi phương thức (hợp pháp, phi pháp, công khai, ngấm ngầm, hình thức, phi hình thức, trong nước, ngoài nước…) để trục lợi ở mọi quy mô, mọi lĩnh vực (tới cả văn hóa, tâm linh…) có thể.  Vì thế, rất cần có nhiều công trình nghiên cứu để nhận dạng đúng đắn, đầy đủ, cũng như những đặc điểm nguồn gốc, mâu thuẫn của các nhóm này  như một loại hiện tượng mới theo những quy luật mới của các nền kinh tế chuyển đổi trong điều kiện bước đầu hình thành nền kinh tế mới toàn cầu hóa. 
Phân kỳ 3 (từ 2007): Làn sóng đầu tư mới sau khi Việt Nam trở thành thành viên chính thức của Tổ chức thương mại thế giới (WTO), những cơ hội và quy mô, tốc  độ lan rộng các nhân tố thị trường ra nhiều tỉnh, thành phố khi cơ sở hạ tầng kỹ thuật ngày càng hoàn thiện, các tuyến giao thông xuyên Á hình thành và hoạt động, có thể dự báo về sự bột phát của nhiều nhóm trục lợi mới (tương tự như sự bột phát của thị trường chứng khoán, thị trường địa ốc 2007).
Trong quá trình đổi mới của kinh tế Việt Nam diễn ra trong khung cảnh đặc biệt của nền kinh tế thế giới giai  đoạn vừa qua – giai  đoạn tái cấu trúc và chuyển hướng về chất, mang tính lịch sử quy mô thiên niên kỷ.
Trước hết,  đó là những chuyển biến  đột phá được dự báo trước (từ những năm 70 của thế kỷ XX) về sự chấm dứt không thể trì hoãn của các mô hình công nghiệp hóa trên nền khai thác cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên, phá vỡ cân bằng sinh thái, thay đổi khí hậu toàn cầu; đó là những tiền đề khoa học và kỹ thuật cho phép loài người từng bước và nhanh chóng chuyển sang một kỷ nguyên mới – kinh tế tri thức và xã hội thông tin – chỉ trong vòng 50 – 60 năm (chứ không phải hàng trăm năm  đối với các cuộc cách mạng công nghiệp, hàng ngàn năm đối với xã hội nông nghiệp – nền kinh tế dựa vào sức người là chính, đồng thời cũng không phải là  đã chuyển hẳn sang kỷ nguyên mới này, mà hiện mới chập chững những bước đầu tiên).
Nhiều mô hình kinh tế đã có một thời kỳ phát triển rực rỡ trong thế kỷ XX (trước 1973) gặp hàng loạt những khó khăn, từng bước đổ vỡ (như mô hình kế hoạch hóa tập trung) hoặc ở ngưỡng của sự đổ vỡ (như mô hình kinh tế Mỹ); mô hình kinh tế Nhật Bản đã thành công trong gần 40 năm sau  đại chiến thế giới lần thứ hai (thành công tới mức: vào cuối những năm 80 của thế kỷ 20, nhiều học giả nổi tiếng, trong đó có cả các học giả Mỹ,  đều từng xác  định nhiều luận cứ về khả năng “nước Nhật mua cả thế giới” vào đầu thế kỷ 21- điều chưa xảy ra và thậm chí còn khó có thể xảy ra). Những gì diễn ra trong 14 –15 năm gần đây là những mâu thuẫn gay gắt mới trong nền kinh tế Nhật Bản trước những thực tiễn mới của hệ thống kinh tế toàn cầu; sự xuất hiện và phát triển đầy kỳ tích của mô hình “đàn sếu bay” của nhiều quốc gia khu vực  Đông Á (Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore, Hồng Công,  Đài Loan, Malaysia, Thái Lan, Inđônêsia, Philippin), trong trên 20 năm (kể từ 1967) tạo nên một loạt các nước “công nghiệp hóa mới – NIC” bỗng chao đảo trong cuộc khủng hoảng trước thềm thiên niên kỷ (khởi đầu từ khủng hoảng tài chính khu vực Đông Nam Á với quy mô và tốc độ lây lan lạ kỳ, chưa từng có – 1996-1999); sự xuất hiện và phát triển của mô hình kinh tế chuyển  đổi thành công một cách đáng khích lệ của Trung Quốc trong 15 năm gần đây (với 3 lần tăng trưởng và tụt dốc của hơn 12 năm trước đó)…
Thực tiễn mới quan trọng cần đặc biệt quan tâm tại Việt Nam là: Hội nhập đầu tiên, trước hết là nông nghiệp (đối với các sản phẩm hàng hóa quy mô lớn đã hình thành: lúa, thủy sản, cà phê, điều, tiêu) sau đó mới là công nghiệp (dầu khí, may, giầy, điện tử, chế biến gỗ…) và dịch vụ. Các nhóm trục lợi luôn bám sát thực tiễn mang tính hệ thống này. Các kịch bản liên kết  động lực thị trường, liên ngành, liên vùng theo sản phẩm – dịch vụ có lợi thế so sánh quy mô chiến lược… cần  được nghiên cứu, phân tích theo sơ đồ cho các hệ thống động và mở. 
-  Nguồn gốc các nhóm trục lợi tại Việt Nam, TP.HCM và những mâu thuẫn mang tính cộng sinh, ký sinh.
Bước  đầu phân tích, nghiên cứu vô số các dữ liệu của công luận và thông tin đại chúng theo sơ đồ hệ thống, có thể thấy rằng các nhóm trục lợi tại Việt nam, TP.HCM có các nguồn gốc khá đa dạng:
Có nguồn gốc thị trường
- Thị trường bất động sản: lợi dụng những kẽ hở pháp lý và chênh lệch rất lớn giữa giá trị  đất  đai trong các bước của quá trình chuyển đổi, xây dựng và phát triển kinh tế thị trường nhiều thành phần, có sự tham gia khôn khéo – thậm chí trắng trợn – của
những phần tử có chức có quyền tha hóa, biến chất.
- Thị trường lao động: lợi dụng nhận thức bảo thủ, lỗi thời về lao động,   quản lý lỏng lẻo các công ty, trung tâm xuất khẩu lao động, giới thiệu việc làm.
- Thị trường hàng nông nghiệp, hải sản,…: lợi dụng các biến động thị trường cung vật tư thiết bị và cầu sản phẩm nông nghiệp,  đặc  điểm tiêu thụ… nhằm trục lợi, dẫn tới nghịch lý “được mùa thua được giá”.
- Thị trường giáo dục, đào tạo soạn và in sách giáo khoa, dạy thêm, học thêm: lợi dụng định hướng cải cách giáo dc sai lầm và kéo dài (theo hướng nhồi nhét kiến thức quá khả năng tâm sinh lý, lấn át các mục tiêu quan trọng khác của giáo dục), lạm dụng sự quan tâm lớn của xã hội và phụ huynh trong đầu tư cho thế hệ tương lai, lạm dụng truyền thống hiếu học… cũng như những ấu trĩ trong định hướng thị trường cung cầu nguồn nhân lực, xã hội hóa….
Có nguồn gốc cơ hội:
-  Lợi dụng sự yếu kém trong quản lý: quy hoạch treo, quy hoạch chưa đạt yêu cầu, kể cả “các mảng còn trắng” trong quy hoạch; hàng giả, hàng nhái, vi phạm quy  định tràn lan; cố tình im lặng, chậm giải quyết các khiếu kiện và phát hiện của công luận, dư luận…
- Lợi dụng sự  ấu trĩ và bảo thủ trong tư duy chiến lược (núp bóng bảo hộ ngành mũi nhọn, trọng điểm,…): lợi dụng chủ trương đầu tư của Nhà nước nhập khẩu trang thiết bị lạc hậu, rẻ tiền (nhà máy đường, xi măng lò  đứng…), linh kiện, vật tư dưới các danh nghĩa nội  địa hóa, bảo hộ sản xuất trong nước để ăn chênh lệch  giá (xe máy từ Trung Quốc, clinhke, phôi thép, rác thải…).
- Lợi dụng sự thoái hóa, biến chất cùa các người có chức, có quyền (lan tới cả các lĩnh vực tòa án, thanh tra, kiểm tra, thuế vụ, hải quan, công an, kiểm lâm…).
Có nguồn gốc khác :
- Kinh tế ngầm xuyên quốc gia: buôn lậu qua biên giới (xăng dầu, vải vóc, thuốc lá, rượu, hàng điện tử, than đá…), trốn thuế.
- Xã hội đen: buôn bán ma túy, phụ nữ, trẻ em; bảo kê; mại dâm trá hình; cờ bạc, số  đề, hụi; bán hàng đa cấp, đầu tư đa cấp, ăn cắp cước viễn thông (sử dụng các phương tiện hiện đại)…
Đặc  điểm mâu thuẫn lợi ích bao trùm của các nhóm trục lợi với những nguồn gốc nêu trên chính là khả năng cộng sinh và ký sinh rất cao: bám chặt vào những thời cơ và kẽ hở, điều kiện thuận lợi, linh hoạt liên kết (hoặc biến dạng), chuyển hướng theo những thời cơ, điều kiện mới nhằm tồn tại và trục lợi, làm hao mòn lòng tin vào chế độ, xâm hại lợi ích chung của cộng đồng. 
2. Mâu thuẫn, xung đột giữa các nhóm trục lợi và nhóm thiệt hại lợi ích – cái nhìn về bản chất chiều sâu các loại nhóm lợi ích trong đời sống xã hội hiện nay. 
Đó là mâu thuẫn, xung đột chính trong đời sống xã hội ta.
Mâu thuẫn trong đời sống xã hội thường có loại mâu thuẫn còn tiềm  ẩn, các chủ thể tạo nên mâu thuẫn còn mờ nhạt, chưa hình thành nhóm rõ nét. Nhưng cũng có loại mâu thuẫn xã hội hình thành và biểu lộ, hiện hữu giữa các nhóm người. Có thể có nhiều các gọi như nhóm xã hội, nhóm lợi ích hay gọi thẳng tên nhóm người cụ thể hơn (nhóm người sử dụng lao  động hay người lao  động, nhóm các nhà đầu tư, nhóm người hưởng lợi, người tiêu dùng). Cách gọi và phân loại này mang tính chất trung tính. Nhưng từ tính chất,  động cơ của các loại nhóm  ấy trong quá trình tương tác cũng có thể phát sinh loại nhóm, theo cách phân loại khác. Cho nên có một cách khái quát khác làm rõ bản chất của loại nhóm này xét ở góc nhìn bản chất lợi ích. Đó là “nhóm trục lợi” (có lúc, chúng tôi gọi là nhóm đầu cơ) và “nhóm thiệt lợi”.
Với cách tiếp cận“nhóm trục lợi”, chúng ta cần làm rõ thêm, vì  đó là một cách nhìn hợp lý  đáng phân tích toàn diện hơn. Chúng ta có thể bàn tiếp về những nhóm có mâu thuẫn liên quan với nhóm trục lợi. Khi đặt ra khái niệm nhóm trục lợi là nhìn nhóm lợi ích trong các loại hình nhóm xã hội – kinh tế theo bản chất xã hội của nó: lợi ích thực tế vì ai, cho ai và bằng cách thức nào.  Nhóm trục lợi là nhóm lợi ích chỉ biết vì bản thân và dùng thủ đoạn bất minh để thu lợi bằng cách làm hại đến lợi ích nhóm khác. Nhưng theo chúng tôi thì không nên đồng nhất nhóm trục lợi với các nhóm lợi ích tư nói chung, như có người quan niệm. Nhưng đồng thời phủ nhận sự tồn tại độc lập của nhóm trục lợi, theo nghĩa trục lợi là bản chất chung của con người là không đúng. Trục lợi chỉ là bản chất của một số người hay nhóm người. Trục lợi khác tư lợi, tư lợi tức quan tâm đến lợi ích tư của mình.
Nhóm trục lợi có thể xuất hiện nhiều  ở các nhóm lợi ích tư và cũng có thể xuất hiện từ các nhóm lợi ích công (bị lợi dụng và biến dạng)1. Các dự án, đề án như dự án – đề án công nghệ thông tin (đề án 112) mấy năm trước là lĩnh vực công nhưng từ đó cũng sinh ra nhóm trục lợi. Nhóm thiệt lợi là nhân dân và nhà nước, nhưng hiện hình thành các nhóm người cụ thể.
Như vậy, xem xét theo tuyến nhóm trục lợi trong quan hệ với nhóm thiệt hại lợi ích, một sự phát hiện và khái quát mới của nhóm  đề tài, phải  được xét trong tương quan tương sinh tương khắc với loại nhóm lợi ích – như mặt đối lập mâu thuẫn của chính
- nhóm thiệt hại lợi ích.  Nhóm thiệt lợi ở đây không chỉ là hiểu theo nghĩa rộng là nhân dân và đất nước mà thực tế đã nảy sinh ra nhóm người cụ thể mà chúng tôi tạm gọi là “nhóm thiệt lợi” (bị thiệt hại về lợi ích).  Còn trong quan hệ với các nhóm trục lợi, là có “nhóm chính lợi” (nhóm theo  đuổi những lợi ích chân chính, hợp pháp). Nhưng từ nhóm chính lợi trong thực tế cũng có thể bị phân hóa  thành một tuyến nhóm trục lợi và nhóm thiệt lợi và đó là một mâu thuẫn nằm  ở chiều sâu các nhóm lợi ích, các nhóm xã hội mâu thuẫn, xung  đột về lợi ích trong thực trạng phát triển kinh tế xã hội hiện nay. Tuy rằng, các nhóm chính lợi  (lợi ích chân chính, hợp pháp) vẫn tồn tại trong tương qnan với nhóm trục lợi. Và khi các nhóm trục lợi hay nhóm thiệt lợi được cải biến, thay đổi theo hướng hợp với luật pháp và mục tiêu chung của đất nước thì cũng có thể trở lại, trở thành nhóm chính lợi. Nhưng ở đây chúng ta chỉ bàn về quan hệ giữa nhóm trục lợi và nhóm thiệt lợi.
Có người cho rằng không có nhóm trục lợi riêng. Thực ra cả nhóm trục lợi và nhóm thiết lợi là tồn tại trong thực tế, có thể đan xen vài các nhóm lợi ích, đến lúc nào đó áp đảo và hình thành nhóm riêng. Chẳng hạn, vụ tiêu cực đất đai ở Gò Vấp hay Hóc Môn, Cần Giờ, quận 2 (TP.HCM) và nhiều nơi khác mà trong đó có cấu kết giữa công chức nhà nước và những người làm ăn trục lợi bên ngoài hết sức phức tạp. Trong lĩnh vực nhà đất, đó chính là nhóm những cò đất cấu kết với cán bộ công chức tha hóa và làm thiệt hại lợi ích của cộng đồng dân cư (diện giải tỏa, đền bù hay mua bán đất bất hợp pháp) và làm thiệt hại cả lợi ích của nhà nước. Báo Người Lao  động ngày 2-4-2008, đã thông tin về tình trạng cán bộ tiếp tay cho “cò” lộng hành trong việc cấp chủ quyền nhà đất tại quận Gò Vấp – TP.HCM. Qua tìm hiểu, chúng tôi còn phát hiện một số doanh nghiệp “chung sức” với cán bộ để biến không thành có, trắng thành đen…, điển hình là sai phạm tại phường 11, quận Gò Vấp2.
Mà không chỉ lĩnh vực nhà  đất, các lĩnh vực khác như trong giáo dục, y tế cũng vậy. Trong lĩnh vực y tế thì đó là nhà sản xuất, kinh doanh thuốc và nhà quản lý, thực hành chức năng nghiệp vụ và người dân gồm người tiêu dùng sử dụng thuốc và các dịch vụ y tế khi khám và chữa bệnh. Những vụ việc về giá thuốc và dịch vụ mua bán thuốc cũng như hoạt  động khám chữa bệnh cũng  đã có móc ngoặc với nhau làm thiệt hại lợi ích bệnh nhân. Hoặc trên lĩnh vực vệ sinh thực phẩm, chúng ta cũng thấy tình tình tương tự đã có sự cấu kết nào đó giữa người quản lý và nhà sản xuất kinh doanh thực phẩm làm ảnh hưởng xấu  đến lợi ích và sức khỏe của người tiêu dùng. Trong lĩnh vực giáo dục thì các nhà sản xuất sách giáo khoa, hay thực hành chức năng giáo dục trong chừng mực đã hình hành nên nhóm vụ lợi hay trục lợi làm thiệt hại lợi ích của học sinh, sinh viên- nhóm thiệt lợi. Trong lĩnh vực doanh nghiệp, ngoài nhóm trục lợi trong việc cổ phần hóa thì khi  các nhà đầu tư, các nhà sản xuất, chủ doanh nghiệp trốn thuế, không đóng bảo hiểm cho người lao động và bớt xén tiền công, và các chế độ khác của người lao động thì đó cũng là một loại trục lợi. Và những người thiệt lợi là những người lao  động – những người công nhân.
Chúng tôi cho rằng, các lĩnh vực này  đã hình thành mâu thuẫn, xung đột  nhóm lợi ích từ ba loại chủ thể, ba loại nhóm chính, như: 1) nhà  đầu tư, nhà thầu, hay nhà sản xuất kinh doanh hay hành nghề nói chung; 2) thứ  đến là nhà nước thông qua chính sách và cán bộ công chức thi hành công vụ; 3) nhóm dân cư hay nhóm những người lao  động, những người tiêu dùng, nói chung là người dân liên quan tới các dự án và thực thi chính sách phát triển. Nhưng trong quá trình tương tác và hoạt  động  đã sinh ra nhóm trục lợi là “nhóm phi pháp lợi” và nhóm thiệt lợi.  Đã hình thành nhóm lợi ích trục lợi mà ta gọi tắt là nhóm trục lợi gồm cò đất và một số cán bộ công chức tha hóa cấu kết với nhau và làm thiệt hại cho những người có đất và thiệt hại cho Nhà nước. Nhóm thiệt lợi từ đó mà ra. Và như vậy là xuất hiện mâu thuẫn xung  đột lợi ích chính giữa 2 lại nhóm này.
Tất nhiên, nhóm thiệt hại được sinh ra có 4 tác nhân chính: 1) Hoặc do chính sách phát triển của nhà nước còn bất cập, hạn chế, chưa đồng bộ chẳng hạn chính sách  đền bù giải tỏa không thỏa  đáng, không theo giá thị trường) nên hình thành nên những người ít hưởng lợi được từ tăng trưởng kinh tế, trái lại bị thiệt hại từ tăng trưởng ấy (khoảng cách giàu nghèo gia tăng, ô nhiễm môi trường, bệnh tật) hoặc từ thiên tai bất thường; 2) Những tác động do cơ chế cạnh tranh của nền kinh tế thị trường, có thể gây thắng lợi của nhóm này và thiệt hại  ở nhóm khác như phá sản trong kinh doanh; 3) Cũng còn tác nhân là do yếu thế hơn từ hoàn cảnh khách/ chủ quan nào gây nên (hậu quả chiến tranh, thiên tai, bệnh tật, trình độ tay nghề…); 4)  Nhưng trực tiếp là do các nhóm trục lợi gây nên như là hệ quả của nó như nói ở trên…  Cần nghiên cứu biểu hiện cụ thể của mâu thuẫn, xung  đột lợi ích giữa nhóm trục lợi và nhóm thiệt hại. 
Nhóm trục lợi thường sử dụng nhiều thủ  đoạn thu lợi bất chính như: 1) Lợi  dụng và lạm dụng quyền lực cả quyền lực kinh tế và quyền lực hành chính, kể cả mua quan bán chức; 2) Lợi dụng sự chênh lệch giá cả thị trường và giá cả nhà nước quy định trong nền kinh tế chuyển  đổi và  đầu cơ, bất chấp thiệt hại cho cộng đồng; 3) Lợi dụng sự bất cập và yếu kém trong quản lý của Nhà nước và sự tha hóa một bộ phận công chức; 4) Thường liên kết những phân tử có động cơ vụ lợi, trục lợi có khi theo kiểu mafia, hoạt động ngầm, dưới hình thức tổ chức phi chính thức theo từng phi vụ làm ăn. 
Khi họ muốn thì có thể có trăm phương ngàn kế để phù phép biến trắng thành đen, biến công thành tư, biến luật pháp thành luật rừng, nghĩa là ai hại mặc ai miễn ta có lợi. Kết cục là nhiều nhóm trục lợi làm giàu bất chính và càng giàu như thế càng thao túng quyền lực của chính quyền; còn hệ quả là càng nhiều các nhóm thiệt lợi, thất thế và nghèo đi. Bất công xã hội và bất bình  đẳng xã hội cũng như phân hóa giàu nghèo, phân hóa giai tầng từ đó mà ra và gia tăng. Nhưng họ- những nhóm thiệt lợi này – phản ứng lại và đấu tranh với nhóm trục lợi và những bất cập, sai lầm trong chính sách của Nhà nước bằng cách nào?   1) Khiếu kiện và khiếu kiện mang tính chất biểu tình kéo dài (lĩnh vực nhà  đất). Họ khiếu kiện  đối với Nhà nước để giúp họ đòi lại công bằng.    2) Đình công, bãi công (trong doanh nghiệp), tức đòi doanh nghiệp, chủ  đầu tư sản xuất phải trả lại công bằng cho họ, trả lại lợi ích hợp pháp mà họ được hưởng bị gian lận và tước đoạt phi pháp. 3) Hoặc họ phản ánh và phản ứng về sự thiệt hại lợi ích của mình – người hưởng các dịch vụ y tế và giáo dục thông qua phương tiện thông tin đại chúng tạo dư luận xã hội (lĩnh vực y tế, giáo dục và nhiều lĩnh vực khác). 4) Bất lực, bất mãn, âm thầm chịu đựng, mất dần niềm tin và hoặc  phản ứng tự phát… (nhiều lĩnh vực). Đó cũng là biểu hiện của xung đột (tranh chấp) lợi ích. Rõ ràng, đã đến lúc phải đặt trên bàn nghị sự để tìm chính xác, nhận thức và giải pháp đấu tranh hạn chế và loại trừ dần, nhưng dứt khoát  đối với các nhóm đầu cơ, trục lợi, đảm bảo lợi ích chính đáng và công bằng cho các nhóm thiệt hại lợi ích (thiệt lợi)./.
Chú thích:
1  Bài Thời sự & suy nghĩ. Báo Tuổi trẻ, Thứ Bảy, 29/03/2008, 08:05 (GMT+7)
2  Vụ cấp chủ quyền nhà đất tại quận Gò Vấp – TP.HCM. Biến không thành có, trắng thành  đen. 03-04-2008
SOURCE: BẢN TIN KINH TẾ VÀ XÃ HỘI CỦA VIỆN NGHIÊN CỨU PHÁT TRIỂN TP.HCM, QUÝ IV, NĂM 2010.
Dẫn theo :

ĐẠI BIỂU HOẶC ĐẠI DIỆN

(Trích chương XV, quyển 3, Cuốn bàn về khế ước xã hội của Jean Jacques Rousseau, Nxb Tp.Hcm, 1992, tr 139-143)

Đến một giai đoạn nhất định, công dân không coi việc phục vụ công cộng là việc chính của mình nữa. Họ thích đem tiền ra thuê người khác làm công vụ thay mình. Đó là lúc nhà nước suy thoái. Nếu phải ra trận, họ thuê người đi lính thay. Nếu phải tham dự hội đồng, họ chọn người đi họp thay. Cuối cùng dựa vào tiền bạc và tính lười biếng, họ sẽ có các đội quân để khống chế tổ quốc và có các đại diện để bán tổ quốc.
Sự rối rắm trong thương mại và nghệ thuật, lòng hám lợi, tính mềm yếu và thích tiện lợi đã chuyển các nghĩa vụ cá nhân thành tiền bạc. Người ta bỏ ra một phần thu nhập để lấy lại nhiều hơn . Hãy bỏ tiền ra, anh sẽ có xiềng xích để trói buộc người! Cái từ "Tài chính" đồng nghĩa với từ "Nô lệ" đấy ? Ngày xưa trong các thành bang người ta không biết đến từ này.
Trong một quốc gia hoàn toàn tự do, mọi công dân làm đủ mọi việc với bàn tay của chính mình, và không dùng đến tiền bạc đẽ thuê người khác làm thay. Chẳng những không thuê mướn, họ còn bỏ tiền ra để được tự mình tham gia làm nghĩa vụ.
Tôi đang đi khá xa ý kiến chung. Tôi cho rằng hình thức diêu dịch ngày xưa ít trái ngược với tự do hơn là hình thức mua bán, thuê mướn ngày nay. Quốc gia càng được tổ chức tốt, người công dân càng quan tâm đến việc chung hơn là việc riêng của họ . Vả lại việc riêng cũng chẳng có bao lăm, vì phúc lợi công cộng đã bảo đảm phần lớn cuộc sống của mỗi cá nhân, nên người công dân không phải lo toan mấy tí cho cá nhân mình.
Trong một thành bang được cai trị tốt, người ta hồ hởi bay đến hội nghị toàn dân; trái lại trong các thành bang cai trị yếu, người ta không muốn cất bước đi họp, vì họ chẳng thích thú gì, chưa họp họ đã biết chắc rằng ý chí chung của nhân dân không được ai tôn trọng. Như vậy, trong thành bang xấu, mọi người đều bị bắt vào việc riêng để chăm lo lấy bản thân mình.
Luật tốt khiến cho các hội nghi toàn dân bàn nên việc tốt. Luật xấu thì hội nghị toàn dân chỉ dẫn đến chỗ tồi tệ.
Một khi có người bàn về việc nước mà nói: "Mặc kệ nó, can gì đến tôi", thì lúc đó có thể coi là đất nước không còn nữa.
Lòng yêu nước nguội dần, lợi ích cá nhân nhao lên, quốc gia bị dàn trải ra, các cuộc chinh phạt, các vụ nhũng lạm của chính phủ, tất cả những cái đó khiến cho người ta nghĩ đến việc chỉ định đại biểu thay mặt dân chúng để dự các hội nghi quốc gia. Ở một số nước, người ta gọi lớp đại biểu dân chúng là "thứ dân". Như vậy lợi ích tư nhân được đặt lên hàng đầu và hàng hai, lợi ích công cộng bị đẩy xuống hàng thứ ba.
Chủ quyền tối cao của toàn dân là không thể dùng người đại diện được, do đó nó cũng không thể bị xóa bỏ; nó nằm ngay trong ý chí của toàn dân, là ý chí chung thì không ai nói thay được. Nó là thế này, hay là thế khác chứ không chế ở dạng trung gian. Các đại diện nhàn dân không phải và không thể là người thay mặt nhân dân được; họ chỉ có thể là những ủy viên chấp hành, chứ không thể thay mặt nhân dân để kết luận một vấn đề gì dứt khoát. Mọi đạo luật mà dân chúng chưa trực tiếp thông qua đều vô giá trị, không thể gọi là luật được.
Nhân dân Anh tưởng mình là tự do; thật ra họ lầm to. Họ chỉ tự do trong khi đi bầu các đại biểu nghị viện mà thôi; bầu xong đại biểu họ trở lại là nô lệ, không còn là cái thá gì nữa. Trong những ngày tự do ngắn ngủi đó, cái quyền tự do họ được dùng thật xứng với cái mất tự do phải chịu sau đó.
Tư tưởng "đại biểu' là tư tưởng hiện đại, nó nảy sinh từ chính phủ phong kiến, một thứ chính phủ bất công, mơ hồ, trong đó tính cách con người bị thoái hóa, danh hiệu con người bị xỉ vả.
Trong các nền cộng hòa cổ xưa, ngay chế độ quí tộc cũng thế, không bao giờ nhân dân phải dùng đại biểu; người ta không hề biết đến cái từ ngữ "đại biểu" ấy.
Ở La Mã, các hộ dân quan được coi trọng một cách thiêng liêng. Không ai nghĩ rằng họ dám xâm phạm chức năng của dân chúng. Ngay trong đám đông ít người có thể nhận mặt họ, họ cũng không bao giờ bỏ qua một cuộc biểu quyết toàn dân. Chỉ đến thời anh em Gracques người ta mới phê phán các hộ dân quan. Thời ấy dân chúng thường huyên náo , gây lúng túng cho các hộ dân quan, có khi một số công dân leo lên cả mái nhà để bỏ phiếu cho bằng được.
Ở đâu luật pháp và tự do được đặt lên trên hết thì ở đấy không gặp trở ngại gì, mọi việc đều diễn ra đúng mức. Ở những nơi này, nhân dân có thể để cho các võ quan cận vệ làm những việc mà hộ dân quan không dám làm, vì dân chúng không sợ rằng các võ quan đó sẽ đại diện họ.
Tuy nhiên, cũng có lúc các hộ dân quan đại diện cho dân chúng. Muốn hiểu điều này chỉ cần liên tưởng đến trường hợp chính phủ đại diện cho cơ quan quyền lực tối cao.
Luật chỉ là sự công bố của ý chí toàn dân, cho nên trong quyền lực lập pháp không ai có thể đứng ra thay mặt toàn dân để làm ra luật. Nhưng trong quyền lực hành pháp thì có thể và phải có người đại diện cho dân chúng: vì quyền hành pháp chỉ là sự ứng dụng luật mà thôi.
Xem thế đủ biết rằng, nếu phân tích kỹ mọi việc, ta sẽ thấy rất ít quốc gia có luật chân chính. Thời cổ La Mã, các hộ dân quan không có quyền hành pháp, không bao giờ được đại diện cho dân chúng với quyền hạn của chức vụ mình. Chỉ khi nào hộ dân quan nắm lấy một phần chức vụ của chủ tịch viện nguyên lão thì mới có thể đại diện cho dân .
Ở Hi Lạp, việc nào dân chúng phải giải quyết thì dân chúng tự làm lấy hết. Dân thường họp luôn trên quảng trường. Ở đây khí hậu dịu mát, con người không tham lam, các nô lệ làm việc của họ; việc chính của công dân là thực hiện tự do của mình, không có lợi thế ngang nhau làm sao nô lệ và công dân có thể hưởng quyền ngang nhau được ?
Nước nào khí hậu khắc nghiệt thì phải có nhiều nhu cầu hơn[1*]. Ở xứ lạnh mỗi năm mất sáu tháng không dùng được quảng trường để hội họp. Tiếng nói khàn khàn của dân xứ lạnh khó mà vang lên ở ngoài trời cho nên người ta quan tâm nhiều đến thu nhập hơn là tự do, người ta sợ túng thiếu hơn là sợ cảnh nô lệ.
Thế nào? chỉ có thể duy trì được tự do nhờ vào sự hầu hạ của nô lệ ư? Có lẽ thế. Hai cái thái quá gặp nhau mà! Trên đời này cái gì mà không có trở ngại; và xã hội dân sự là nơi có nhiều trở ngại nhất. Có những cảnh ngộ mà người ta muốn bảo vệ tự do của mình thì phải xâm phạm tự do của người khác. Người công dân được hoàn toàn tự do thì người nô lệ phải hoàn toàn nô lệ. Đó là cảnh huống của thành bang Sparte. Ngày nay, ở các dân tộc hiện dại, các bạn không có nô lệ thì các bạn phải làm nô lệ; các bạn phải đem tự do của mình bù vào cho người nô lệ mà bạn thiếu. Khoe khoang cái hay của các bạn ngày nay là không dùng nô lệ cũng chẳng ích gì; tôi thấy đó chẳng phải là nhân đạo mà là hèn nhát!
Nói như trên, không phải tôi nghĩ rằng cần có người nô lệ, hoặc tôi cho chế độ nô lệ là thỏa đáng đâu. Tôi đã từng chứng minh điều ngược lại. Ở đây tôi chỉ phân tích vì sao các dân tộc hiện đại tưởng mình là dân tộc tự do thì có chế độ đại diện, mà các dân tộc cổ xưa lại không cần đến người đại diện. Dù sao, khi một dân tộc tự đặt cho mình là những người đại diện thì dân tộc ấy đã hết tự do, không còn tự do nữa.
Xem xét kỹ các vấn đề trên, tôi thấy rằng từ nay về sau, muốn cho cơ quan quyền lực phát huy được tác dụng thì thành bang phải thật là nhỏ bé. Nhưng nếu thành bang quá nhỏ thì nó sẽ bị thôn tính mất thôi.
Sau đây tôi sẽ trình bày[2*] muốn kết hợp sức mạnh bề ngoài của một dân tộc lớn với chính sách dễ dãi và trật tự hoàn hảo của một quốc gia nhỏ bé thì phải làm như thế nào.

[1*]. Ở xứ lạnh mà dùng những thứ xa hoa, mềm mại của xứ nóng phương Đông thì chẳng khác nào đeo xiềng xích; lại còn bị lệ thuộc hơn người phương Đông nữa kia.
[2*]. Đây là vấn đề mà tôi định nghiên cứu trong phần sau của tác phẩm này. Khi phân tích các mối quan hệ bên ngoài tôi sẽ phải bàn tới hình thức liên bang. Đó là một vấn đề mới mà các nguyên lý chưa được vạch sẵn.

Nguồn : Kienhoxuan.blogspot.com


Tổng số lượt xem trang

free counters