Khác với quyền
lực quân sự, quyền lực kinh tế không phải là quyền lực bản nguyên
mà là quyền lực phái sinh. Trong phạm vi một quốc gia quyền lực này
tùy thuộc vào pháp luật; trên trường quốc tế chỉ có những giao dịch
nhỏ là tùy thuộc vào pháp luật, còn khi chuyện lớn người ta
nhờ vào chiến tranh hay đe dọa chiến tranh giải quyết. Nhiều người có thói
quen chấp nhận quyền lực kinh tế mà không cần phân tích, nên vào thời
hiện đại, người ta đã nhấn mạnh kinh tế quá mức (mà không
chú ý nhiều đến chiến tranh và tuyên truyền) trong khi
giải đoán nguyên do lịch sử.
Hãy
tạm đặt qua một bên quyền lực kinh tế của lao động, chúng ta
thấy sau khi phân tích đến cùng thì mọi quyền lực kinh tế khác
nằm ở việc quyết định ai có toàn quyền đối với mảnh
đất (ngay cả khi phải dùng tới vũ lực). Điều này hiển nhiên trong một
số trường hợp. Dầu hỏa miền Nam Ba Tư thuộc về công ty Anh-Ba
tư vì chính phủ Anh đã quy định không ai được mó tới
nó và có đủ sức mạnh hỗ trợ ý chí của mình; nhưng nếu
Anh quốc thất trận thì dĩ nhiên quyền sở hữu sẽ thuộc vào
tay kẻ khác. Các mỏ vàng xứ Rhodesia của một số tài
phiệt vì chính phủ Anh sẵn sàng lâm chiến và tù trưởng
Lobengula. Luật pháp Hoa Kỳ chuẩn nhận quyền sở hữu dầu hỏa thuộc
về một số công ty và quân đội Hoa kỳ sẵn sàng bảo
vệ luật pháp này. Tuy người da đỏ là chủ nhân ông nguyên thủy
của những mỏ dầu đó nhưng họ đã mất quyền vì thua trận.
Mỏ sắt ở Lorraine
tùy thuộc Anh và Pháp tùy ở kết quả trận chiến mới nhất…
Nhưng lối phân
tính này cũng áp dụng được trong trong những trường hợp kém cỏi rõ ràng
hơn. Tại sao một tá điền phải trả địa tô và tại sao ông ta có thể bán lúa?
Ông ta phải trả địa tô vì đất thuộc về địa chủ. Địa
chủ đã sở hữu đất đai vì đã mua hay thừa hưởng từ một
kẻ khác. Ngược dòng thời gian kẻ sở hữu đầu tiên đã
chiếm đất bằng võ lực chẳng hạn như một ông vua
lấy đất cho bầy tôi hay những cuộc chiếm đất đai quy mô của dân
Saxons và Normans.
Sau đó Nhà nước đã dùng quyền để đảm bảo rằng sự sở hữu
phải theo luật pháp. Và quyền sở hữu đất đai là quyền cho phép
kẻ nào sử dụng đất đai. Để được phép này tá điền phải
trả địa tô và nhờ vậy ông ta có quyền bán lúa.
Quyền lực của
nhà kỹ nghệ thuộc cùng một loại; phân tích cho cùng
nó nằm ở việc chủ nhân ông một xưởng máy
có thể nhờ tới lực lượng Nhà nước ngăn cấm những người
không phận sự vào xưởng. Đôi khi nhà nước có thể không dám
quá mạnh tay. Hậu quả là có những cuộc đình công trong vòng
rào xưởng. Ngay khi Nhà nước châm chước cho những cuộc đình công
thì quyền sở hữu không còn tập trung ở chủ nhân nữa mà và
bắt đầu chia xớt phần nào cho những công nhân.
Tín dụng xem
như ra còn là một quyền lực kinh tế trừu tượng hơn cả, nhưng
nó không khác biệt xét về phương diện bản chất. Nó tùy thuộc vào
quyền hợp pháp chuyển một khoản, dư những vật dụng từ những người đã
sản xuất đến tay những người đang làm việc nhưng không trực tiếp tạo
ra .Trong trường hợp cá nhân hay công ty vay tiền thì luật pháp
quy định mọi nghĩa vụ, nhưng trong trường hợp một chính
phủ thì chế tài tối hậu chính là sức mạnh quân sự của
các chính phủ khác. Chế tài này có thể thất bại như nước
Nga sau cách mạng; khi nó thất bại thì kẻ vay
nợ cứ từ từ chiếm đoạt tài sảncủa kẻ cho vay.
Chính phủ Sô Viết chứ không phải các cổ đông thời tiền
chiến có quyền quyết định ai được đụng đến các mỏ vàng
ở Lena (vì chính phủ đã đoạt
quyền). Như vậy quyền lực kinh tế của các tư nhân tùy thuộc vào
quyết định của chính quyền sử dụng quân lực khi cần thiết theo một số
luật lệ cho phép kẻ nào được làm chủ đất đai, trong khi quyền
lực kinh tế của chính phủ một phần tùy ở quân lực và một
phần ở sự tôn trọng những hiệp ước và công pháp quốc tế của
các chính phủ khác.
Mối liên
hệ giữa quyền lực kinh tế và chính quyền có tính cách
hỗ tương phần nào; nghĩa là một nhóm người phức hợp
nào đó đoạt được quyền lực quân sự và sau đó
chiếm được được quyền lực kinh tế. Trong thực tế có thể là động
lực kinh tế khiến họ kết hợp với nhau. Ta có thể xét trường
hợp gần như vô chính phủ trong cuộc đổ xô đi tìm vàng ở California
vào năm 1849 hoặc ở Victoria
vài năm sau đó. Một người có vàng (do chính tay mình kiếm được) không thể coi
là có quyền lực kinh tế cho tới khi anh ta kí thác vàng vào ngân hàng. Cho tới
khi gửi vào ngân hàng anh ta có thể bị ăn trộm hoặc hay bị cướp giết chết.
Trong một số tình trạng vô chính phủ hoàn toàn (mà mọi người phải chống cự lẫn
nhau), vàng vô dụng trừ ra với một kẻ bắn nhanh như chớp có thể đốn ngã bất cứ
kẻ xâm phạm nào; và đối với anh ta vàng chỉ vui mắt thôi vì anh ta có thể thỏa
mãn mọi nhu cầu của mình với tài bắn nhanh, bắn trúng chứ khỏi cần trả tiền làm
chi. Dĩ nhiên tình trạng này tạo ra nhiều rắc rối và không thể kéo dài được.
Vườn ruộng cũng vô phương canh tác nếu người ta không thể ngăn chặn được kẻ xâm
phạm đất đai và mùa màng. Hiển nhiên là tới lúc một cộng đồng vô chính phủ phải
tìm cách thiết lập một chính quyền nào đó (chẳng hạn như Ủy Ban Bảo vệ ở
Vigilantes), họ có thể làm bảo tiêu. Trong những xã hội văn minh hơn ta đóng
thuế lợi tức. Ngay khi có những luật lệ quy định dịch vụ chechở, sức mạnh quân
sự được ngụy trang dưới lớp áo luật pháp và tình trạng vô chính phủ cáo chung.
Những căn bản tối hậu của luật pháp và của các tương giao kinh tế vẫn còn là
sức mạnh quân sự của các đoàn viên Uỷ ban Bảo vệ.
Dĩ nhiên diễn
tiến lịch sử không giống như những việc trên
mà nó đã tiếp diễn tuần tự và tùy thuộc vào những
kẻ ngang ngược ít quen thuộc với những định chế này kia rắc rối. Tuy
vậy tình trạng tương tự cũng đã xảy ra mỗi khi có cuộc viễn chinh
nhất là khi các kẻ chinh phục là một nhóm nhỏ; ta
có thể truy nguyên quyền sở hữu đất đai (đến những cuộc
chinh phục). Chúng ta thấy các tương giao kinh tế quốc tế hãy còn ở tình
trạng bán khai, nước mạnh ăn hiếp nước yếu để bóc lột tài nguyên, nhân lực
cũng như vật lực. Hãy đọc những điều khoản bồi thường trong hiệp ước
Versailes. Bất kể các luật lệ kinh tế ra sao, ta thấy ở căn
bản vẫn cần sức mạnh quân sự.
Trong trường
hợp các tư nhân, những luật lệ nhà nước soạn thảo là một phần
quan trọng của Luật. Phần luật pháp này chỉ sở hữu khi được công luận
hỗ trợ. Công luận (theo như điều răn thứ tám) kết án trộm
cắp, và định nghĩa trộm cắp là lấy đi tài sản theo như cách
bị luật pháp kết án. Như vậy quyền lực kinh tế tư nhân được
củng cố do sự kết án trộm cướp về phương diện luân lý,
và định nghĩa trộm cướp ra sao. […].
Quyền lực kinh
tế trong một quốc gia dẫu rằng phái sinh từ luật pháp và công luận,
có thể chiếm được phần nào độc lập.
Nó có thể dùng nén bạc “đâm toạc luật
pháp” và mua chuộc dư luận với những thủ đoạn tuyên truyền.
Nó cũng có thể trói tay các chính trị gia bằng cách gây nên
những khủng hoảng tài chính. Nhưng quyền lực kinh tế cũng bị những
giới hạn. Những chủ nợ của Caesar đưa ông lên nắm quyền vì họ chỉ có thể lấy được
nợ nếu Caesar lên ngôi; nhưng khi thànhcông Caeser liền trở mặt. Charles V vay
tiền họ Fuggers để mua ngai vàng, nhưng yên vị rồi thì ông
vỗ nợ. Gần đây Thyssen
[1] giúp Hitler chiếm quyền mà chẳng được đền bù.
Bây
giờ ta hãy xét quyền lực của một đám phú hào trong một nước dân chủ.
Họ đã không thể mướn nhân công Á châu vào làm việc ở California hay Úc châu.
Họ không bãi bỏ nổi nghiệp đoàn. Họ bị đánh
thuế nặng ở Anh Quốc. Họ cũng không thể ngăn cấm việc tuyên
truyền chủ nghĩa xã hội. Trái lại họ có thể ngăn một
chính phủ gồm những đảng viên xã hội mang chủ nghĩa xã hội ra áp
dụng; nếu quyết tâm họ có thể lật đổ chính phủ bằng cách
gây ra khủng hoảng; nếu cần họ có thể gây ra nội chiến. Khi vấn
đề giản dị và công luận cứng rắn, đám phú hào chẳng có sức mạnh
gì; khi công luận yếu thì đám phú hào có ảnh hưởng chính trị
quan trọng.
Quyền lực của
nghiệp đoàn là nghịch đảo quyền lực của đám phú hào. Các
nghiệp đoàn có từ chối nhận thợ da màu, tiếp tục đứng vững và
tuyên truyền thả dàn, nhưng cho đến nay họ đã thất bại trong
việc áp dụng chủ nghĩa xã hội và không duy trì nổi các chính quyền họ
thích (nhưng đa số dân chúng bất tín nhiệm) tại vị lâu dài.
Như vậy, công
luận giới hạn ảnh hưởng chính trị của các tổ chức kinh tế. Nhiều khi
công luận rất là cố chấp chứ không dễ lay chuyển đâu. Dân
chủ là một thực thể có giá trị chứ không phải
là một viễn tượng như nhiều người lầm tưởng.
Dẫu rằng quyền
lực kinh tế (thứ quyền lực trong vòng hợp pháp) có căn bản
là quyền sở hữu đất đai nhưng những địachủ đã mất địa
vị ăn trên ngồi chốc trong những cộng đồng thời nay. Vào thời phong kiến
hễ làm chủ đất đai là có quyền lực; địa chủ mặc quyền thao túng
tá điền. Nhưng ở những nơi kỹ nghệ đã phát triển tín dụng
mạnh hơn quyền sở hữu đất đai. Các địa chủ cần vay tiền
để phát triển nên lệ thuộc vào ngân hàng. Nơi nào pháp luật suy yếu con nợ
thường giết chết chủ nợ và đốt mọi tài liệu chứng tích. Bất
cứ ai có liên hệ tới đất đai (từ ông hoàng cho tới
nông dân) đều có thói mượn tiền thật nhiều; nhưng chỉ ở những
nơi có pháp luật, con nợ mới chịu è lưng trả lãi cho tới
khi khánh tận. Quyền lực kinh tế phái sinh từ đất đai đã chuyển
từ con nợ sang tay chủ nợ. Trong một cộng đồng mới đây,
chủ nợ thường là ngân hàng.
Trong một
tổ hợp tân tiến lớn lao, làm chủ chưa chắc đã có quyền
và ngược lại. Berle và Means viết về vấn đề
này ở Mỹ một cách cặn kẽ trong một tác phẩm quan
trọng The Modern Corporation and Private Property (Tổ hợp
hiện đại và tư sản) xuất bản năm 1932. Họ cho rằng dù
sở hữu quyền có khuynh hướng ly tâm quyền lực có khuynh hướng hướng
tâm. Qua một cuộc điều tra tường tận, họ đi tới kết luận là hai ngàn
cá nhân nắm quyền kiểm soát một nửa nền kỹ nghệ Hoa Kỳ (trang
33). Họ coi viên giám đốc xí nghiệp thời đại mới có quyền
uy chẳng khác những quân vương và giáo hoàng khi xưa. Họ lý luận
là sự tập trung quyền lực trong các tổ chức kinh tế lớn
tương tự như Giáo hội thời Trung cổ hay Nhà nước quốc gia nên
các tổ hợp có thể cạnh tranh ngang ngửa với nhà nước.
Sự tập trung quyền lực rất dễ hiểu. Thí dụ như một cổ
đông thường trong một công ty hỏa xa không có tiếng nói trong
việc điều hành công ty. Quyền lực kinh tế của hỏa xa nằm trong tay một
số ít người. Ở Hoa Kỳ, trong tay một người.Ở bất cứ một
quốc gia phát triển nào, phần lớn quyền lực kinh tế thuôc về một nhóm cá nhân
nhỏ. Đôi khi là những nhà tưbản tư nhân (ở Mỹ, Pháp, hoặc ở Anh), hoặc chính
trị gia (ở Đức, Ý, Nga). Ở những nước sau này quyền lực kinh tế và quyền lực
chính trị liên kết với nhau. Khuynh hướng tập trung quyền lực vào tay một nhóm
nhỏ rất thông thường, nhưng khuynh hướng này có đối với các quyền lực nói chung
không riêng gì quyền lực kinh tế. Một hệ thống quyền lực kinh tế liên kết với
quyền lực chính trị có sau một hệ thống mà chúng tách rời, giống như Tổ hợp
thép xuất hiện sau thời kì có nhiều nhà sản xuất thép nhỏ cạnh tranh với nhau
Nhưng bây giờ tôi chưa muốn bàn tới Nhà nước chuyên độc.
Việc
thủ đắc quyền lực kinh tế dẫn tới quyền lực tuyên truyền hay quân sự,
nhưng tiến trình nghịch chiều có thể xảy ra. Trong những điều kiện sơ
khai, quyền lực quân sự là nguồn gốc của mọi thứ quyền lực khác,
về phương diện giao dịch quốc tế, Alexander không giàu có bằng người
Ba Tư, người La Mã không giàu bằng người Cathage nhưng sau khi thắng trận
người đi chinh phục trở nên giàu có hơn kẻ thù. Trước khi
bắt đầu những cuộc xâm lăng, tín đồ Hồi giáo nghèo hơn người
Byzantine rất nhiều, và các xâm lăng Nhật Nhĩ Man, nghèo hơn đế quốc
La Mã. Trong những trương hợp này, quyền lực quân sự đẻ ra quyền ra quyền
lực kinh tế. Nhưng trong nội bộ dân Á-rập, quyền lực quân
sự và kinh tế của nhà Tiên tri Đấng Allah có được là
nhờ tuyên truyền (giống như quyền lực và của cải của giáo hội
Tây Phương).
Trong một
số trường hợp, Nhà nước có quền lực quân
sự là nhờ vào sức mạnh kinh tế. Những thí dụ đáng
lưu ý nhất vào cổ thời là những thành phố duyên hải
của Hy Lạp và Carthage; vào thời Trung cổ là những xứ Cộng Hòa Ý; vào
thời hiện đại là Hoà Lan và Anh quốc. Trong tất cả các trường hợp này (ngoại
trừ nước Anh phần nào sau cuộc cách mạng kỹ nghệ) quyền lực kinh tế dựa vào
thương mại chứ không phảinguyên liệu. Một số thành phố hay quốc gia đã nắm được
một phần độc quyền kinh tế nhờ vào vị trí địa lý ưu đãi. Người ta dùng một phần
tiền do thương mại kiến được để mướn lính đánh thuê, nghĩa là trở nên có quyền
lực quân sự. Tuy nhiên phương sách này có điều bất lợi là có thể có những cuộc
nổi loạn hay phản bội. Chính vì lý do này mà Machiavelli đề nghị chỉ dùng những
đạo quân gồm toàn những công nhân của xứ mình thôi. Khuyến cáo này chỉ xác đáng
đối với những nước lớn mà lại giàu có nhờ thương mại, nhưng vô dụng trong
trường hợp quốc gia đô thị Hy Lạp hay một Cộng Hòa Ý tí hon. Quyền lực kinh tế
dựa vào thương mại chỉ bền vững khi nó thuộc vào một cộng đồng hay một nước văn
minh vượt bậc so với các nước lân bang.
Tuy nhiên
thương mại đã mất tầm quan trọng của nó do sự cải thiện các phương
tiện giao thông, vị trí địa lý quan trọng hơn xưa; và do
chủ nghĩa đế quốc, các Nhà nước quan trọng ít cần đến ngoại
thương hơn trước. Trong bang giao quốc tế ngày nay, hình thức quyền lực kinh
tế là sự thủ đắc nguyên liệu và thực phẩm;
và những nguyên liệu quan trọng, nhất là những nguyên liệu cần cho
chiến tranh. Tuy vậy quyền lực kinh tế và quân sự trở nên
khó phân biệt. Dầu lửa chẳng hạn, một quốc gia không
thể chiến đấu nếu không có dầu, và không thể làm
chủ các giếng dầu nếu không thể chiến đấu. Thiếu một trong hai
trường hợp đều có thể dẫn tới thất bại, dầu lửa Ba
Tư vô dụng đối với người Ba Tư vì họ không
có những đạo quân tương xứng, và những đạo quân Đức sẽ
vô dụng nếu họ không có dầu hỏa.
Trong quá
khứ quyền lực kinh tế và quân sự chưa bao
giờ có liên hệ chặt chẽ với nhau như hiện tại. Không
một quốc gia nào trở nên hùng mạnh nếu thiếu kĩ nghệ, nguyên liệu,
thực phẩm. Trái lại, chính là nhiều quyền lực quân
sự mà nhiềuquốc gia chiếm được nguyên liệu mà nước
họ thiếu. Trong chiến tranh, Đức chiếm dầu của Lỗ Mã Ni và mùa
màng xứ Ukraine,
vai trò của tuyên truyền trong việc xây dựng quyền lực của quốc gia cũng gia
tăng với sự phát triển của giáo dục. Một dân tộc không thể thành công
trong một cuộc chiến tranh hiện đại trừ khi đa số người sẵn lòng chịu cực và
nhiều người sẵn lòng chịu hi sinh mạng sống. Để tạo ra sự sẵn lòng này,
các nhà cai trị phải thuyết phục dân họ chiến tranh là điều vô cùng quan trọng
– quan trọng đến nỗi đáng cho người ta hi sinh. Tuyên truyền chiếm phần lớn
trong chiến thắng của Đồng Minh trong Đại Chiến, nó hầu như là nguyên nhân duy
nhất của chiến thắng Xô Viết vào những năm từ 1918 đến 1920. Hiển nhiên
là những căn do như thế đang dẫn tới việc liên kết quyền lực kinh tế, quyền lực
quân sự và quyền lực tuyên truyền. Trong thực tế có xu hướng chung kết hợp mọi
thứ quyền lực vào một mối là Nhà nước. Sự phân biệt giữa các loại quyền lực sẽ
biến mất trừ khi có những phản động lực đủ mạnh.
Tới đây
chúng ta hãy xét một quan điểm của Marx cho rằng tư bản chủ nghĩa
sẽ làm phát sinh cuộc chiến tranh giai cấp rút cuộc sẽ bao trùm hết
các hình thức tranh chấp khác. Hiểu Marx là điều vô cùng
khó khăn, nhưng hình như ông nghĩ vào thời bình, tất cả các
quyền lực kinh tế đều thuộc về bọn địa chủ và tư bản,
bọn này sẽ khai thác quyền lợi của chúng triệt để nên giới
vô sản nổi loạn. Giới vô sản, vì là tuyệt đại vô số,
sẽ chiến thắng ngay khi họ biết đoàn kết để thiết lập một
hệ thống mà quyền lực kinh tế sẽ thuộc về toàn thể cộng
đồng. Không biết ý kiến của Marx có đúng vậy không, nhưng
rõ ràng nói chung đây là lý thuyết của những người Cộng sản ngày nay
nên ta cần cứu xét cẩn thận.
Quan điểm
chủ trương quyền lực kinh tế thuộc về địa
chủ và tư bản có nhiều sơ hở quan trọng. Địa
chủ và tư bản hoàn toàn bất lực nếu không có lao động; và
lao động có thể phát động các cuộc đình công rộng
lớn để tranh đấu cho quyền lực của họ.
Câu hỏi
thứ hai: Có thực tư bản sẽ khai thác quyền lợi của
họ triệt để không? Nếu họ biết nhìn xa trông rộng
họ sẽ không dại gì đi quá xa để phải chịu nhưng hậu quả
Marx đã thấy. Nếu họ để lao động chia sẻ phần nào quyền lợi,
thợ thuyền sẽ không hưởng ứng cách mạng. Ở Mỹ, giới
công nhân chuyên môn nói chung bảo thủ vì họ đã có quyền lợi.
Còn cho rằng giới vô sản chiếm tuyệt đại đa số chưa chắc hoàn
toàn đúng. Nó không đúng ở những xứ nông nghiệp mà ở đó
nông dân làm chủ thửa đất của họ. Ở những nước
kỹ nghệ thì tuy có nhiều kẻ thuộc giới vô sản nếu xét
về phương diện kinh tế, nhưng họ lại đứng về phe kẻ giàu
về phương diện chính trị vì họ chỉ có việc làm nếu
có những nhu cầu xa xỉ. Một cuộc chiến tranh giai cấp nếu xảy ra chưa chắc
giới vô sản đã là kẻ chiến thắng. Sau hết những khi
có khủng hoảng, đa số dân chúng cảm thấy cần trung thành với quốc gia
hơn là giai cấp. Vào năm 1914 những kẻ theo chủ nghĩa quốc
tế vô sản đều trở nên những kẻ ái quốc, hiếu chiến.
Chiến tranh giai cấp khó xảy ra khi thế giới còn bị xâu xé bởi
những cuộc chiến tranh quốc gia, như hiện nay.
Sau đây tôi
tóm tắt nhưng điều đã trình bày trong chương này: Quyền lực
kinh tế tùy thuộc ở:
a - Khả năng bảo
vệ lãnh thổ,
b - Khả năng đe dọa xâm lăng
lãnh thổ nước khác,
c - Nguyên liệu thực phẩm,
kỹ nghệ,
d - Khả năng cung cấp thực
phẩm và dịch vụ.
Những yếu
tố quân sự và kinh tế liên kết với nhau vô vùng chặt
chẽ. Nhật Bản đã dùng sức mạnh quân sự để chiếm của Trung Hoa
những nguyên liệu cần thiết cho sức mạnh quân sự lớn lao; Anh và Pháp
chiếm dầu hỏa ở vùng Cận Đông. Tầm quan trọng của các yếu
tố kinh tế trong chiến tranh ngày càng gia tăng vì chiến tranh ngày
càng trở nên cơ giới hóa và khoa học, nhưng chúng ta đừng vội
kinh xuất mà cho rằng bên nào có tài nguyên kinh tế dồi dào hơn chắc
chắn sẽ thắng lợi. Vai trò của tuyên truyền trong việc kích động dân chúng
cũng gia tăng không thua gì các yếu tố kinh tế.
Trong phạm vi
nội bộ một quốc gia, luật pháp giới hạn phương thế làm giàu. Luật
pháp có thể tạo nên những độc quyền: Bằng sáng chế, quyền tác giả,
quyền sở hữu đất đai. Độc quyền cũng có thể tạo nên do
sự phức hợp chẳng hạn như tổ hợp những nghiệp đoàn. Nhà nước
giành quyền trưng dụng bất cứ gì nó cần. Những nhóm có ảnh
hưởng lớn đều có thể thúc đẩy Nhà nước gây chiến để
làm giàu cho họ. Họ cũng có thể khiến Nhà nước làm ra những
bộ luật có lợi cho họ. Như vậy quyền lực kinh tế của
cá nhân hay phe nhóm tùy thuộc vào sức mạnh quân sự và sự khống
chế dư luận cũng nhiều khi tùy vào các yếu tố khác trong kinh
tế học. Khoa kinh tế học nếu đứng biệt lập sẽ thiếu thực
tế và dẫn dắt ta sai lạc. Nó là một yếu tố quan trọng,
hẳn thế - trong một khoa nghiên cứu lớn hơn, khoa học về quyền lực.
Nguồn:
Bertrand Russell.Quyền lực. Nguyễn Vương Chấn và Đàm Xuân Cận dịch, Nxb Hiện
đại, 1972. Bản điện tửdo triethoc.edu.vn thực hiện.
[1] Thyssen: đạt kỹ nghệ gia Đức.
Nguồn: triethoc.edu.vn