Triết Lý, để làm gì ?

Khi ta bế tắc tư tưởng, chân thật công nhận rằng những kiến thức và phương pháp suy luận của ta không cho phép ta sống, tư duy và hành động khớp với khao khát làm người của ta, ngoài vô vàn cách ứng xử khác, ta có thể:

a) Tiếp tục sống, tư duy và hành động như cũ vì, dù sao, ta cũng sống được, không đến nỗi nào

b) Lột áo cũ, khoác áo mới, một tấm áo coi lành lặn đẹp đẽ hơn nhưng cũng hàm hồ không thua gì. Điều ấy luôn luôn khả thi bằng ngôn ngữ.

c) Đi tới cùng bế tắc của chính mình. Nếu không giải quyết được nó, ta ôm nó xuống suối vàng, để lại ở đời chỉ một câu hỏi. Câu hỏi của một con người. Đích thực. Có gì nhục đâu?

Nếu ta tưởng ta đã tìm ra một phần của giải pháp, ít nhất là cho riêng mình, thì cứ viết đi, chẳng cần trích cao nhân nào cả: họ đã là một phần của ta và ta đã phải “vượt” họ để nên mình.

Thế thôi.

(Chungta.com)

Góc nhỏ của Noby Vui Vẻ

Lục lọi, tìm tòi, đọc, cóp nhặt, chia sẻ, ... OK hay không tùy bạn ! ! !

“Nước độc lập mà dân chưa tự do thì độc lập cũng không có ý nghĩa”- Hồ Chí Minh.

13 thg 1, 2011

Thành phần nhân sự mới của Bộ Chính Trị Đảng CSVN?

Thành phần nhân sự mới của Bộ Chính Trị Đảng CSVN? ( theo RFA)

Ông Nguyễn Văn An đi cùng thời đại

Đại tá nhà báo Hoàng Phố

Việc ông Nguyễn Văn An, nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, nguyên Chủ tịch Quốc hội, nêu ra vấn đề “Sửa lỗi hệ thống” của Đảng ta, đã tác động mạnh mẽ tới xã hội bởi nó phù hợp với tâm tư nguyện vọng của dân và phủ hợp thời đại. Đọc các bài viết của ông An, tôi có thu hoạch cá nhân như sau:

I. Hợp tâm tư nguyện vọng

Bác Hồ đã nói: “Nếu nước độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc, tự do thì độc lập cũng không có ý nghĩa gì”. Và Người cũng nói: “Nước ta là nước dân chủ, địa vị cao nhất là dân, vì dân làm chủ”. 35 năm nay dân ta không có thực quyền như đã ghi trong Hiến pháp đầu tiên do Bác Hồ nêu ra, thậm chí Đảng viên cũng không được dân chủ do quy định 19 điều cấm (trong đó điều 3,7 vi phạm điểm 3 mục 3 của điều lệ Đảng và vi phạm Hiến pháp).

Theo chúng tôi hiểu, phạm trù Đảng lãnh đạo và Đảng cầm quyền là hai vấn đề khác nhau. Khi chưa nắm chính quyền thì Đảng dựa vào dân. Dân cho ăn, cho ở, cho tiền hoạt động, che chở khi có địch khủng bố, thậm chí hi sinh tính mạng để bảo vệ Đảng, để Đảng tồn tại. Khi Đảng cầm quyền là đổi đời cho dân, từ dân nô lệ đến nguời làm chủ đất nước. Thế mà hiện nay, Đảng với dân như vua với bề tôi, như quan với thứ dân, như chủ với đầy tớ, quan liêu nhũng nhiễu dân. Một chân lý tuyệt đối là có dân mới có Đảng, có dân tộc mới có Đảng, có dân mới có thắng lợi. “Dân vi bản”, đó là lẽ trời.

Cần phân biệt “mở rộng dân chủ” và quyền dân chủ của dân. Trong Tuyên ngôn độc lập, Bác Hồ đã viết: “Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hoá cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc.”. Như vậy, dân chủ là quyền tự nhiên của con người. Việc nói “Ý Đảng lòng dân” cũng chỉ coi dân là đi theo, là bị động, không có chỗ nào là ý chí, trí tuệ, sáng tạo của dân. Cho nên mọi cái gọi là dân chủ hiện nay chỉ là hình thức nửa vời, ban ơn, không có tính pháp lý.

Lấy ví dụ Quốc hội Việt Nam, quyền dân chủ đến đâu? Nói Quốc hội là cơ quan quyền lực cao nhất mà bầu đại biểu cũng phải “Đảng cử dân bầu”, Chủ tịch Quốc hội do Đảng chỉ định trước, Chủ tịch nước, Thủ tướng cũng do Đảng quyết nên đại biểu quốc hội chỉ là “nghị gật”. Chủ tịch Quốc hội điều hành không phải với tư cách đại biểu để cùng bàn bạc thảo luận những công việc trọng đại của đất nước. Chủ tịch Nguyễn Phú Trọng đóng vai ủy viên Bộ Chính trị khẳng định: “Khai thác bô xít là chủ trương lớn của Đảng” để cắt không cho bàn nữa. Việc phá hội trường Ba Đình (một di tích đặc biệt của dân tộc, của Đảng), cũng ép Quốc hội phải thông qua.

Rất mừng là trong vài kỳ họp cuối của Quốc hội khoá 12, phần lớn đại biểu đã tỏ rõ thái độ không đồng tình việc làm đường sắt cao tốc Bắc – Nam, việc biến Ba Vì thành thủ đô như ý định của Bộ Chính trị.

Để việc thực thi dân chủ được chính thức đề cao, để Quốc hội trở thành Quốc hội đích thực thì nên:

- Đảng báo cáo dự kiến chủ trương chính sách trước Quốc hội để Quốc hội bàn quyết định trước, rồi Bộ Chính trị dựa vào đó điều chỉnh để ra nghị quyết, chỉ thị. Nghĩa là Quốc hội họp trước, Đảng họp sau. Cũng có thể nói dân chủ trước, tập trung sau.

- Tổ chức trưng cầu dân ý như vua nhà Trần đã mở hội nghị Diên Hồng thống nhất ý dân về vấn đề quyết đánh giắc Nguyên hoặc như Bác Hồ triệu tập hội nghị chính trị đặc biệt năm 1966 để hạ quyết tâm chống Mỹ (việc phá hay để hội trường Ba Đình lẽ ra cũng phải trưng cầu dân ý như người xưa đã làm).

- Về cơ cấu Quốc hội, cần cân đối số lượng giữa tỉ lệ dân (87 triệu) và số lượng Đảng viên (trên 3,5 triệu). Không nên đòi hỏi tỷ lệ 87% - 90% là Đảng viên, tỷ lệ 30% có thể là hợp lý.

Ngày nay dân trí đã cao, đã qua tiếp xúc với phương tiện truyền thông hiện đại, đã có học vấn, đã qua thực tiễn cuộc sống, biết ai đúng ai sai, biết phân biệt chính ta, phải trái, tốt xấu, đạo đức thật hay đạo đức giả, cơ hội hay trung thực, phản động hay phản biện… Nhân dân biết rất rõ chỗ mạnh chỗ yếu của Đảng và Đảng viên. Trong khi đó, Đảng lại chưa dựa hẳn vào dân, nhất là còn nghi ngờ trí thức (lợi dụng góp ý có động cơ xấu, chống đối, phá hoại). Phải coi trọng những cán bộ, Đảng viên về hưu, số lượng không phải là nhỏ, họ là những người đã qua thử thách lâu năm, có kinh nghiệm trên các lĩnh vực, có uy tín cao trong dân, còn nặng tâm huyết với nước với Đảng.

II. Phù hợp thời đại

1. Thế giới đã và đang có nhiều thay đổi:

- Nước Cộng hoà liên bang Nga, quê hương cách mạng xã hội chủ nghĩa đã không còn kiên trì chủ nghĩa xã hội nữa mà chuyển sang chế độ cộng hoà và xây dựng kinh tế thị trường, làm cho nước Nga nhanh chóng hồi phục và xứng đáng là một cường quốc.

- Trung Quốc mang danh có Đảng theo lý luận Mác nhưng đã thực hiện “một nước hai chế độ”, sử dụng cả “mèo trắng mèo đen”, để vươn vòi bạch tuộc đến các nước châu Mỹ La Tinh, châu Phi, châu Á vơ vét tài nguyên. Cái gọi là chủ nghĩa xã hội mang màu sắc Trung Quốc thực chất là tư bản chủ nghĩa biến tướng (chưa nói đến việc mang quân “cho Việt Nam một bài học”, chiếm quần đảo Hoàng Sa, một phần quần đảo Trường Sa của Việt Nam…).

- Chỉ còn Cuba, Bắc Triều Tiên là thành trì cuối cùng của mô hình xã hội chủ nghĩa cũ. Nhưng Cuba đã bắt đầu thay đổi, còn Bắc Triều Tiên vẫn là một “chủ nghĩa xã hội” khổ hạnh, chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi.

2. Đến nay có thể nói, chủ nghĩa xã hội do Mác - Anghen đề xướng giữa thế kỷ 19 là không thực tế (đến nỗi chính hai ông, cuối thế kỷ 19 đã lập ra đệ nhị quốc tế theo mô hình xã hội dân chủ. Mác còn kết luận: Các nước tư bản phát triển nhất sẽ tiến lên chủ nghĩa xã hội trước tiên).

Các nước tư bản qua nhiều chu kỳ khủng hoảng kinh tế (theo quy luật kinh tế thị trường) đã kịp thời điều chỉnh để tích cực sửa chữa những khiếm khuyết của nền kinh tế tự do, đã bước đầu giải quyết những mấu thuẫn trong xã hội tư bản bằng cách gia tăng các chính sách phúc lợi xã hội để thúc đẩy xã hội tiến lên. Kinh tế tư bản không những thúc đẩy khoa học kỹ thuật phát triển, đi tới kinh tế tri thức mà bên cạnh đó còn quan tâm những vấn đề chung của thế giới như chống biến đổi khí hậu, xoá nợ cho nước nghèo, chống đại dịch HIV-AIDS…

Một số Đảng cộng sản trong các nước tư bản (Anh, Pháp, Đức, Ý, Mỹ…) đã tìm các mô hình khác cho phù hợp với xu thế thời đại.

Việc toàn cầu hoá của tư bản có mặt tiêu cực, có mặt tích cực nhưng đó là quy luật tiến hoá tự nhiên.

III. Suy nghĩ cá nhân liên hệ với hiện tình đất nước

Tôi có cảm tưởng trong Đảng ta, nói đúng hơn là trên đầu Bộ Chính trị, đang có vòng kim cô nên không đủ sáng suốt, tỉnh táo để hiểu những vấn đề của thời đại trong thế kỷ 21 đang đổi mới. Thời đại hiện nay, kinh tế thị trường và nhà nước pháp quyền song song phát triển. Kinh tế phát triển theo quy luật, sáng tạo, đa dạng. Con người là chủ thể cũng luôn sáng tạo. Mác và Anghen đã viết trong tuyên ngôn cộng sản: “Sự phát triển tự do của mỗi người là điều kiện cho sự phát triển tự do của tất cả mọi người”. Kinh tế thị trường muốn phát triển bền vựng và cân đối nhất định phải xây dựng nhà nước pháp quyền. Đảng ta thường nói “Đảng lãnh đạo, nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ”. Nhà nước quản lý và nhà nước pháp quyền khác nhau, nhà nước pháp quyền điều hành có luật pháp, có luật lệ công khai minh bạch. Không thể nhân danh Tổng bí thư cho phép khai thác bô xít ở Tây Nguyên mà không cần hỏi Quốc hội là cơ quan quyền lực cao nhất của nhân dân. Tổng bí thư Đảng không thể đứng trên Quốc hội. Đảng lãnh đạo Quốc hội nhưng không phải chỉ huy Quốc hội. Việc Đảng chủ trương xử lý kỷ luật nội bộ có đúng pháp quyền không hay là bao che, hay để cho cán bộ Đảng viên tiếp tục vi phạm luật dân sự, luật hình sự… Đã có lúc phải có luật về Đảng, để Đảng hoạt động đúng pháp luật, công khai, minh bạch, để “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”, vừa chống bao biện, tuỳ tiện, vừa chống dựa dẫm ỷ lại, không rõ trách nhiệm, vừa đề cao được uy tín và trí tuệ của Đảng…

Trên đây là những giãi bày tâm sự hưởng ứng đề xuất “Sửa lỗi hệ thống” của ông Nguyễn Văn An. Tôi cảm ơn ông đã vượt lên chính, đi cùng thời đại.

H. P.

Tác giả gửi trực tiếp cho BVN.

Theo BVN

Ta Là Ai ?

Đối với hắn, năm nay là một năm tràn đầy biến động: chuyển cơ quan hai lần, chuyển nơi làm việc ba lần. Giờ, cứ sáng sáng,hắn và chiếc “giấc mơ” già phải vợt khoảng chục cây số để cùng đồng nghiệp chui tọt vào một Tòa nhà hiện đại, cao ngất ngưởng nơi ven đô, để rồi chiều tối lại từ đấy chui ra, vượt qua cũng từng ấy cây số về nhà.

Đi làm xa, đương nhiên vất vả, mất thời gian và tốn tiền hơn cho xăng, xe, đành an ủi một cách AQ rằng, được hơn người khác ở chỗ ngắm nhìn thành phố cảnh vật và con người từ trên cao.


Từ tầng chót vót tĩnh tâm nhìn xuống, bỗng thấy phố sá, nhà cửa, dòng người ngược xuôi có một diện mạo khác xa so với những gì từng thấy dưới mặt đất. ở dưới đó, đâu cũng thấy nhà cửa, văn phòng, cơ quan, quán sá cả cổ lẫn mới cứ san sát! san sát. Mọi người ai cũng có vẻ sang trọng, thanh lịch và hạnh phúc. Cứ nhìn dòng người chật cứng tại các ngã ba, ngã tư đang hối hả đổ tới công sở, siêu thị, ngân hàng, sàn chứng khoán... sẽ cảm nhận được cuộc sống đang sôi động, đang hừng hực đi lên thế nào.

Thế nhưng trên cao nhìn xuống, các tòa cao ốc đối với người ở mặt đất hoành tráng là thế, hiện đại là thế, giờ chỉ giống những bao diêm to nhỏ nằm lô nhô, lẫn lộn với các ngôi nhà cao thấp khác. Và tất cả chúng đều túa về bốn phương tám hướng, chẳng tuân theo một trật tự kiên trúc nào, hệt như chúng được ai đó vãi ra các bãi đất xung quanh như vãi mạ. Có thể hiểu được sự lộn xộn này vì mỗi ngôi nhà chẳng qua là hiện thân của một cá nhân cụ thể nào đó. Con người sinh ra có phúc, có phận, nên nhà phải quay đông, quay tây hay quay nam, quay bắc là chuyện bình thường. Thế nên, hướng nhà sẽ phụ thuộc vào số, tức là vào năm sinh, giờ sinh của gia chủ và đương nhiên cũng phụ thuộc nhiều vào trình độ "trên thông thiên văn, dưới tường địa lý, giữa hiểu lòng người" của các thày địa lý, bói toán. Và ở đâu có nhà, có hàng quán là ở đó có đường, nên hệ thống đường sá nhìn từ trên cao xuống chẳng khác gì những bộ rễ cây ngoằn nghèo tự do vươn tới nguồn nước, nguồn dưỡng chất. Và trên những bộ rễ cây nhằng nhịt đó là dòng người đang ngược ngược, xuôi xuôi túa về khắp nơi với bao nỗi lo toan.

Hay thật, từ trên toà nhà hai chục tầng nhìn xuống, đã chẳng còn phân biệt được những gì làm ta choáng ngợp khi ở dưới mặt đất. Đã không còn tâm trí để so đo về các kiểu kiến trúc chóp củ hành, Gô-tich, La-mã... đã không còn tâm trí để nghĩ về trang thiết bị nội thất xịn được nhập từ Italia hay từ Đức. về đời điện thoại di động, về mác xe hơi, về hình thức ăn mặc sang hèn… Tất cả đã hòa vào một bức tranh rộng lớn trải ra trước mắt, mà để đánh giá bức tranh này xấu hay đẹp cần có những cách nhìn khác.


Từ trên cao nhìn xuống, có thể biết ngay một khu vực hay thành phố nào đó có được quản lý bởi các nhà quản lý có nghề hay không. Lúc này, không phải là các tiểu tiết như thời trang đông hay hè, không phải là nguồn gốc trang thiết bị nội thất, không phải là kiểu kiến trúc của các toà nhà mà là sự hài hoà hay không của màu xanh lá cây tượng trưng cho rừng, cho lúa, của màu nâu, màu vàng tượng trưng cho sự phì nhiêu đất đai, mùa màng, của mầu trắng bàng bạc tượng trưng cho sông ngòi, hồ ao, của màu xám, màu đỏ, màu đen tượng trưng cho phố phường, đường sá, nhà máy, xí nghiệp... Bức tranh cuộc sống đã được đánh giá bằng các thông số khác.

Lên cao hơn nữa, ví dụ như khi đang ngồi trên một chuyến bay nào đó nhìn xuống, các đường ranh địa lý mờ dần, mờ dần. Thay vào đó là những thông tin vĩ mô như dân số, diện tích, văn hoá lịch sử, mức độ phát triển kinh tế - xã hội mô tả diện mạo bức tranh sẽ xuất hiện trong đầu người ngắm tranh. Đây, dưới cánh máy bay là bức tranh của Hà Nội - thủ đô cả nước, là nơi ngàn năm văn hiến, là nơi có Hồ Gươm, Tháp Rùa, có Quảng trường Ba Đình, có lăng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, là nơi có nhiều cơ quan đầu não của đất nước... Còn đây là bức tranh của TP. Hồ Chí Minh, một thành phố lớn với hơn chục triệu dân, với trên 300 năm lịch sử là nơi tập trung của nhiều nhà máy, xí nghiệp... Đâu nữa là Hải Phòng - thành phố của biển, của hoa phượng đỏ là Quảng Ninh nơi có thành phố Hạ Long với Vịnh Hạ Long, một trong các kỳ quan của thế giới...


Hãy lên cao nữa, lên tới độ cao của các vệ tinh nhìn xuống. Trái đất sẽ là hình cầu với các biển và lục địa. Việt Nam lúc này chỉ còn là hình chữ S nho nhỏ nằm cạnh biển Đông. Nghĩ đến Việt Nam, người ta sẽ nghĩ đến một quốc gia có mấy ngàn năm dựng nước và giữ nước, đến những người dân nhỏ bé, hiền lành, cần cù, mến khách với nụ cười luôn nở trên môi. Sát ngay liền đó là Trung Quốc, một đất các nước rộng lớn, đã một thời là cái nôi của văn minh nhân loại với các phát hiện về thuốc súng, giấy... Cạnh Việt Nam là Lào, một quốc gia nhỏ bé được nhớ tới bởi điệu múa Lăm vông, bởi Cánh đồng Chum. Rồi Campuchia với Ăng-co-thom, Ăng-co-vát nổi tiếng... Xa hơn, xuống phía dưới là quốc gia nhỏ bé nhưng nổi tiếng vì đẹp, sạch và sầm uất Singapore, là Malaysia với màu xanh của cọ, là Australia của Kang-gu-ru... Và nằm cách biệt ở phía Tây của địa cầu nghĩa là Hợp chủng quốc Hoa Kỳ mới chỉ có hơn 200 năm lịch sử nhưng đã bứt lên trở thành một siêu cường của thế giới, là Canada của lá dương đỏ, là Brazil với màu vàng xanh của các đồn điền trồng chuối... ở một phía địa cầu là châu Phi với thiên nhiên hoang dã, với kim cương. Rồi Châu Âu với các quốc gia ngày càng trở nên khăng khít khi trở thành thành viên Schengen, là nước Nga rộng lớn với Cách mạng tháng 10...


Từ trên cao nhìn xuống, một cái tôi. một ngôi nhà, một thành phố cụ thể sẽ chẳng là gì. Và thay vào đó, người ta sẽ nghĩ tới những sự kiện trong chiều dài lịch sử, từ khi con người sinh ra và phát triển, qua các thời kỳ cộng sản nguyên thủy chiếm hữu nô lệ, phong kiến, tư bản, cộng sản chủ nghĩa. Phải chăng chủ nghĩa cộng sản đang xuất hiện cùng với toàn cầu hóa, với thế giới phẳng, với sự chia sẻ không hạn chế về thông tin và tri thức, với sự chuyển đổi cơ chế quản lý (Xin - Cho) sang cơ chế tản quyền theo chiều ngang tạo ra sự Chủ động - Sáng tạo của tất cả mọi người trong quản lý xã hội? Từ trên cao tít nhìn xuống, ranh giới quốc gia, dân tộc, văn hóa, tôn giáo, chủ thuyết... dường như đã nhạt nhòa của thế giới đại đồng được phủ bởi màu xanh của hòa bình, nhân văn, hạnh phúc, bởi màu hồng của hy vọng và phát triển...

Hãy để cho tầm nhìn vươn cao, vươn cao nữa. Trái đất to lớn của chúng ta lúc đó sẽ là gì trong hệ mặt trời, và hệ mặt trời sẽ là gì trong cái vũ trụ mênh mông, vô thủy vô chung? Có buồn cười không chuyện con người cứ cho mình là chúa tể của muôn loài, nhưng mới chỉ nhìn xuống từ một Toà nhà hai chục tầng đã thấy mỗi người chỉ giống như hạt vừng, hay như con kiến gió bé tí ti, có thể bị quét khỏi mặt đất trong tích tắc vì bất cứ tác động ngoại cảnh nào, như động đất, sóng thần, sụp cầu? Nếu lên cao nữa, lên cao nữa nhìn xuống thì đến cả trái đất với hơn 6 tỷ người đang vật lộn mưu sinh cũng chỉ là hạt bụi.
Thế nên, không biết có bõ để hối hả, sống gấp đến từng ấy? Có bõ đánh nhau, tranh giành đất đai, của nả đem về làm của riêng như ai đó vẫn quen làm? Có nỡ kinh doanh làm giàu bằng bất cứ thủ đoạn nào? Có nỡ đối xử với nhau một cách vô lương chỉ vì sự khác biệt về sắc tộc, tôn giáo hay chủ thuyết?


Không biết mỗi chúng ta - mỗi cái đốm li ti trong dòng đời xuôi ngược này dành được mỗi ngày mấy phút để nghĩ xem mình là ai và về những cái mình cố đạt được trong năm mười năm, hay vài chục năm nữa sẽ có giá trị gì đối với cái vũ trụ mênh mông, chẳng biết bắt đầu và kết thúc tại đâu?

Đấy một năm đã hết và Tết đang đến rất gần. Một năm với 365 ngày, mỗi ngày 24 tiếng, cứ tưởng rất dài mà, thế mà nhoáng cái là hết. Đời người ngắn đến nỗi. khi nằm xuống, nhiều người chả kịp để cho trí óc của mình vượt khỏi những tính toán mưu sinh vụn vặt hàng ngày để biết mình là ai, sống để làm gì và vì cái gì?

Nguồn: Nhà quản lý

Sinh viên "xào" tiểu luận vì giảng viên... không chăm?

Thay phần lời nói đầu tiểu luận cũ, chỉnh trang đầu tiên của bài, phần trong thì chỉ cần chỗ bỏ, chỗ thêm, đảo đoạn, đổi tên phần, cập nhật số liệu mới nhất... Chỉ cần một tiếng đồng hồ xào xáo, những người viết tiểu luận thuê đã chế biến xong một đề tài mới. Các giảng viên nhìn nhận về hiện tượng này như thế nào?


TS Trương Thị Diễm – Trưởng khoa Ngôn ngữ, ĐH Sư phạm Đà Nẵng: Sinh viên lười, xào tiểu luận vì giảng viên... không chăm


Tôi chưa gặp trường hợp như thế, tuy nhiên đối với ngành khoa học xã hội và nhân văn đã có hiện tượng như vậy.

Theo tôi, nguyên nhân của hiện tượng đó là do cán bộ giảng dạy lười việc đổi mới ra đề. Khi đề tài trùng lặp, sinh viên có thể năm này sử dụng nội dung trả lời của năm khác. Khi mà tên đề tài na ná nhau, đặc biệt còn nặng về hình thức (yêu cầu bố cục có đủ mục như phần tổng quan, những vấn đề lý thuyết liên quan đến đề tài)… thì những tiểu luận sau cứ thế mà xào lại phần đó từ tiểu luận trước chứ khó có thể có ý gì khác.

Thường thì một giảng viên phải hướng dẫn tiểu luận cho quá nhiều SV. Giới hạn thời gian để sinh viên thực hiện đề tài (từ lúc ra đề đến lúc nộp kết quả) quá ngắn. Giảng viên phải dạy nhiều, họ không có điều kiện để đọc hết các đề tài chỉ xem lướt qua và ra kết quả. Vì vậy SV có xào nấu giảng viên không biết hoặc có biết thì cũng lờ đi.

Hơn nữa, việc ra tiểu luận còn dễ hơn ra đề thi, tổ chức thi nên giảng viên cho SV làm tiểu luận quá nhiều. Nhiều nơi SV quá tải, một học kỳ có 7, 8 môn phải làm tiểu luận, mỗi tiểu luận đòi hỏi phải có từ 20 đến 30 trang. SV nào trong một học kỳ có thể tự viết được chừng ấy tiểu luận với chừng ấy trang? Cho nên việc xào nấu là điều không tránh khỏi.

Theo tôi, giảng viên nên xem xét kỹ và hạn chế việc cho SV làm tiểu luận. Nếu có nhiều SV đăng ký làm tiểu luận quá thì cần xét xem đề tài đó, trường hợp đó có xứng đáng làm tiểu luận hay không. SV phải học thực sự và câu hỏi của tiểu luận phải có tính bao quát (ý nói khuyến khích nghiên cứu độc lập)

Khi SV nhận đề tài rồi thì giảng viên, tổ bộ môn, khoa... nên tạo điều kiện để họ không phải lên lớp mà chỉ tập trung viết tiểu luận. Nếu số lượng môn, SV làm tiểu luận quá nhiều thì tên đề tài phải đổi mới thường xuyên.

Có thể người hướng dẫn nên yêu cầu SV viết tay (thực ra một tiểu luận chỉ nên từ 8 đến 10 trang, cái đó thì SV có thể thực hiện được). Và đặc biệt, phải chặt chẽ trong khâu kiểm tra. Người chấm 1 và chấm 2 đều phải đọc qua đề tài, không có chuyện người chấm 2 chỉ thông qua...

GS. Nguyễn Văn Hiệp – Khoa Ngôn ngữ ĐHQG Hà Nội: Nên nộp kèm đĩa CD

Cho đến này, Khoa Ngôn ngữ học, Trường Đại học Khoa học Xã hội& Nhân văn đã đào tạo trên 120 Tiến sĩ và cả trăm Thạc sĩ. Tôi nghĩ thực trạng này không phải không có, nhưng tùy vào từng chuyên ngành mà việc sao chép ít hay nhiều. Như chuyên ngành ngôn ngữ học với các đặc thù của môn học và cách ra đề theo từng năm thì sinh viên rất khó sao chụp đề tài hay lấy tài liệu của khóa trước.

Trình độ của giảng viên cũng rất quan trọng. Một người hướng dẫn có chuyên môn cao, lăn lộn với nghiên cứu sẽ nhận biết được sinh viên có thực sự lao tâm với đề tài của mình hay không. Việc chấm luận văn, luận án, đồ án sẽ có sự thẩm định, xem xét của cả một hội đồng, đề tài có chất lượng tốt sẽ được chọn lọc và đạt điểm cao. Nếu phát hiện ra được trường hợp nào sao chụp tài liệu từ các nguồn khác thì sẽ có biện pháp đình chỉ ngay kết quả học tập của sinh viên đó.

Theo tôi, khi nộp tiểu luận, khóa luận… cần phải nộp theo kèm đĩa CD, các đề tài sẽ được lưu vào trong máy tính và công khai hóa trên trang web của cơ sở đào tạo. Có như vậy, việc thẩm tra, thẩm định, đánh giá, tra cứu sẽ rất dễ dàng, minh bạch. Tôi không hiểu tại sao ta lại còn e dè về vấn đề công khai các đề tài, luận án trên các phương tiện truyền thông đại chúng. Theo tôi, những vấn đề này nên công khai.

TS Nguyễn Thị Trường Giang – Giảng viên khoa Phát thanh - Truyền hình, Học viện Báo chí & Tuyên truyền: Mỗi khóa có kiểu giao bài riêng

“Tôi không dám chắc 100% các bạn sinh viên không sao chép tài liệu từ các nguồn vào bài làm của mình. Với một giảng viên có kinh nghiệm khi đọc một bài luận văn, tiểu luận… thì sẽ biết đâu là bài làm thực chất của sinh viên mình. Nhiều bài trong cùng một lớp có giọng văn na ná nhau, lập luận không chặt chẽ, logic… tức là sinh viên đó không thực chất làm bài của mình”.

Mỗi khóa, mỗi lớp chúng tôi có một kiểu giao bài riêng, khác nhau, đề tài để tránh trùng lặp, buộc sinh viên phải có sự đầu tư cho bài của mình. Giáo dục ở nhà trường không chỉ là giáo dục về kiến thức mà đó còn là việc giáo dục ý thức mỗi sinh viên. Mỗi cá nhân người học cần có sự trung thực trong học tập thì khi ra ngoài xã hội hành nghề, sinh viên đó mới là một công dân tốt.

Tuấn Anh

“Ngoài lợi ích của nhân dân, của dân tộc, Đảng không có lợi ích gì khác!"

“Ngoài lợi ích của nhân dân, của dân tộc, Đảng không có lợi ích gì khác!"

Đỗ Hoàng Linh

Sau khi nhân dân ta giành được chính quyền tháng 8-1945, Đảng ta trở thành

Đảng cầm quyền, là đội tiên phong của giai cấp công nhân, đại biểu trung thành

cho lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và toàn thể dân tộc với

mục đích duy nhất là giải phóng nhân dân khỏi mọi áp bức, xây dựng cuộc sống

mới ấm no hạnh phúc. Cũng từ đó, Đảng vừa là người lãnh đạo, người đầy tớ thật

trung thành và phải có trách nhiệm chăm lo đến cuộc sống của toàn dân nên

tính giai cấp, tính nhân dân và tính dân tộc của Đảng ta thống nhất với nhau

không thể tách rời. Mọi việc lớn nhỏ trong một quốc gia đều do nhân dân thực

hiện, do đó từ khi lãnh đạo Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đề cao vai trò của quần

chúng nhân dân trong việc xây dựng một chính đảng trong sạch vững mạnh :

Dân chúng đồng lòng, việc gì cũng làm được. Dân chúng không ủng hộ, việc gì

làm cũng không nên”.

1.
Tuy nhiên trên thực tê không phải tất cả cán bộ đảng viên đều nhận thức và

thực hiện nghiêm chỉnh chân lý dân vi quý này, rất nhiều người mắc sai phạm

nghiêm trọng, dẫn đến hậu quả làm cho Đảng xa dân và dân sẽ không còn là

cái gì nền móng bền vững nữa một khi lòng tin với Đảng không trọn vẹn.

Làm việc theo cách quan liêu, đi ngược lại nguyên tắc vì nhân dân phục vụ của

Đảng da, đó là những cán bộ đảng viên : “ Miệng thì nói dân chủ, nhưng làm

việc thì họ theo lói quan chủ. Miệng thì nói phụng sự quần chúng, nhưng họ làm

trái ngược với phương châm chính sách của Đảng và Chính phủ”. Họ đã thản

nhiên xây dựng cao dân một bức tường vô hình ngăn cách Đảng và nhân dân,

tách rời lợi ích của nhân dân với đường lối chủ trương của Đảng và Chính Phủ.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vạch ra những biểu hiện của thái độ và hành động này

là:

- Xa nhân dân: Cán bộ Đảng viên cho mình là đầu tàu lãnh đạo, là trung tâm,

hạt nhân quan trọng bậc nhất nên có quyền quyết định mọi vấn đề theo chủ

quan, không cần tham khẩo dân nữa. Những người này trở nên khoe khoang,

kiêu ngạo, lạnh lùng, tự cho mình là thầy thiên hạ, đứng trên quần chúng mà

không cần bận lòng đến tâm lý, nguyện vọng của nhân dân và họ đã tạo ra một

hố ngăn cách giữa Đảng và nhân dân.

- Khinh nhân dân : Cán bộ đảng viên cho rằng chỉ mình có đào tạo bài bản,

chính quy, bằng cấp này nọ nên văn hoá và học thức đầy mình, còn nhân dân

chẳng qua là dân ngu khu đen, chỉ đâu đánh đấy, chẳng bao giờ hiểu được lý

luận chính trị cao xã, cho nên một số nơi cán bộ đảng viên lừa dân, loè bịp dân

bằng văn bản, báo cáo, chỉ thị để mưu lợi cá nhân, họ quên mất nhân dân rất

nhạy bén, khôn khéo, hăng hái, anh hùng.

- Sợ nhân dân: Cán bộ đảng viên mỗi khi mắc khuyết điểm, sai lầm thì bao

biện, che giấu, lẩn tránh trách nhiệm vì sợ nhân dân phê bình mình mất thể

diện, có những người còn bảo thủ đến mức ngại sửa chữa khuyết điểm. Họ chỉ

muốn phô ra sự hoàn thiện, cái cao đẹp, vĩ đại của bản thân, cố hết sức che đậy

thật kín thói xấu và nhược điểm.

- Không tin cậy nhân dân: Cán bộ đảng viên tự cho rằng chỉ mình có đủ năng lực,

tri thức và tinh thần đảm đương công việc, còn quần chúng nhân dân chưa đủ

tầm cỡ. Hễ giao việc cho quần chúng là không yên tâm, dễ hỏng việc hoặc mất

đi ý nghĩa trọng đại.

- Không hiểu biết nhân dân: Đối với nhân dân thì trăm nghe không bằng một

thấy. Hết thảy nhân dân cần trông thấy lợi ích thiết thực nhất ( gần xa, riêng

chung, bộ phận và toàn cục) chứ không thể nghe lý luận giáo điều, lời hứa hẹn

suông trong khi đời sống vật chất và tinh thần của quần chúng lại khó khăn,

thiếu thốn.

- Không thương yêu nhân dân: Cán bộ đảng viên chỉ biết đòi hỏi, yêu cầu,

ra lệnh cho nhân dân bằng bàn tay năm ngón và con dấu đóng vào văn bản

giấy tờ mà không đếm xỉa đến ý nghĩ, nguyện vọng, tâm tư của nhân dân,

thế là nhân dân cũn sẽ mất dần đi lòng tin yêu đối với cán bộ đảng viên.

Hiện nay, ở nhiều địa phương, ban ngành, những căn bệnh này đã trở nên khá

phổ biến và có nguy cơ trầm trọng hơn, thậm chí khá nhiều cán bộ đảng viên

còn biến thái đến mức lừa phỉnh, trấn áp, doạ nạt , khống chế quần chúng nhân

dân, đặc biệt là đối với những ai dám dũng cảm nói thẳng, nói thật, lên án

những hành vi quan liêu, tham ô, tham nhũng, hối lộ, lãng phí của những vị

lãnh đạo có quyền chức. Nhân dân thông qua phương pháp đối chứng,

so sánh trước kia và bây giờ, lập pháp và hành pháp, việc này với việc khác,

cách xử lý mức độ nặng nhẹ, thông tin xuôi chiều và ngược chiều…

cuối cùng họ cũng tìm ra bản chất, kết quả kèm theo lời bình luận

dân gian và những phương án đáng ra nên làm công khai, hợp lý, công

bằng hơn, và : “Cán bộ nào tốt, cán bộ nào xấu, cán bộ nào có lầm lỗi mà có thể

sửa đổi, ai làm việc gì hay, việc gì quấy, dân chúng cũng do cách so sánh đó mà

họ biết rõ ràng”.

2.
Làm theo cách quần chúng. Những nguyên tắc theo đường lối nhân dân của
Chủ tịch Hồ Chí Minh là:

- Đặt lợi ích nhân dân lên trên hết. Đây là nguyên tắc đầu tiên và quan trọng

nhất bởi nước ta đã là nước dân chủ thì :”Bao nhiêu lợi ích đều vì dân. Bao

nhiều quyền hạn đều của dân”, cho nên đã :” Gọi là đảng viên thì phải nhận rõ,

phải biết rõ Đảng ta phải làm gì, vào Đảng để làm gì. Đảng ta là tổ chức cao nhất

của giai cấp công nhân để phục vụ nhân dân, phục vụ giai cấp, phục vụ cách mạng”,

chứ Đảng không phải :” Là một tổ chức để làm quan phát tài”.

- Liên hệ chặt chẽ với nhân dân: Sự lãnh đạo của Đảng trong mọi công tác

thiết thực phải bắt đầu từ quần chúng và được kiểm nghiệm trong quần chúng.

Nếu không có quy trình như vậy thì tư tưởng, lý luận trở thành sáo rỗng,

đường lối của cán bộ đảng viên rất quan liêu và không phù hợp với thực tế,

sẽ dẫn đến sai lầm.

- Việc gì cũng bàn với nhân dân, giải thích cho nhân dân hiểu rõ. Kinh nghiệm

từ các địa phương và vùng miền cho thấy nơi nào công tác yếu kém, có nhiều

tiêu cực, mâu thuẫn, kiện cáo chồng chéo là nơi đó cán bộ tách ra khỏi quần

chúng nhân dân, họ cho rằng quần chúng dốt nát nên không thèm bàn việc,

miễn giải thích, đó là sai lầm không thể tha thứ được. Nhân dân rất đông,

tai mắt nhiều, nhận thức và trình độ tuy không đồng đều nhưng đa dạng

đủ đánh giá và đưa ra những giải pháp hữu hiệu nếu như những vấn đề đó

liên quan trực tiếp đến quyền lợi và nghĩa vụ của mình.

- Có khuyết điểm thì thật thà tự phê bình trước nhân dân và hoan nghênh

nhân dân phê bình mình. Việc quần chúng phê bình cán bộ đảng viên là

hoàn toàn có lợi và tích cực ( nếu phê bình đúng), nó làm cho cán bộ và nhân

dân hiểu nhau, thông cảm với nhau, đoàn kết hơn và giúp nhau cùng tiến bộ.

Nếu cán bộ đảng viên có khuyết điểm thì thẳng thắn nhận rồi quyết tâm sửa chữa;

Đường lối chính sách nào không hợp lòng dân thì công khai sửa đổi, dựa vào ý kiến

của quần chúng để thay đổi tổ chức, điều chuyển cán bộ cho phù hợp, như thế thì

nhân dân càng thấy rõ vai trò, tiếng nói của mình.

- Sẵn sàng học hỏi nhân dân: Nhân dân bao gồm các tầng lớp xã hội, nghề nghiệp,

trình độ , học vấn đa dạng phong phú nên cán bộ đảng viên phải tin vào quần chúng,

học hỏi kinh nghiệm và tìm ra cách giải quyết tốt nhất cho công việc. Muốn học hỏi

nhân dân thì cán bộ đảng viên phải thành thực, nhiệt tình, quyết tâm, khiêm tốn và

chịu khó. Nếu tỏ thái độ chiếu lệ, hờ hững thì nhân dân sẽ không tin cán bộ, nếu có

biết họ cũng không nói hoặc có nói cũng không hết vì miễn cưỡng hoặc không vui lòng,

như thế thì sự học hỏi quần chúng mất đi ý nghĩa trọn vẹn và lâu dài.

Tuy nhiên quần chúng cũng có người lạc hậu và tiến bộ nên cán bộ đảng viên

phải biết lựa chọn và ứng dụng ý kiến của nhân dân một cách khoa hoc, sáng tạo.

- Tự mình phải làm gương mẫu cần kiệm liêm chính để nhân dân noi theo.

Trong buổi lễ bế mạc Hội nghị cán bộ Đảng lần thứ 6, chủ tịch Hồ Chí Minh

đã khẳng định: ” Trước mặt quần chúng, không phải ta cứ viết trên trán hai chữ “

cộng sản” mà ta được họ yêu mến. Quần chúng chỉ quý mến những người có tư

cách,

đạo đức. Muốn hướng dẫn nhân dân, mình phải làm mực thước cho người ta

bắt chước. Đồng chí ta phải học lấy bốn đức cách mạng: cần- kiệm-liêm- chính “.

Hiện nay trong điều kiện kinh tế thị trường và mở cửa, một bộ phận cán bộ đảng

viên đang có xu hướng xuống cấp về tư tưởng đạo đức và quan niệm sống, thậm

chí thoái hoá biến chất, quan liêu, tham nhũng, tham ô, lãng phí rồi trở thành

tội phạm. Nếu để tệ nạn này tràn lan thì cán bộ đảng viên không còn là mực

thước đầu tàu gương mẫu nữa mà chỉ là thước mựcđen, khiến cho quần chúng

nhân dân mất dần lòng tin vào Đảng. Trong cuộc họp Bộ chính trị

ngày 20-1-1962 để bàn cách giải quyết những tiêu cực này, Chủ tịch

Hồ Chí Minh nói rõ :” Quan liêu, lãng phí, tham ô làm hại cho dân.

Phải hiểu vì dân mà chống tham ô lãng phí. Tham ô lãng phí là một

tội đối với nhân dân. Ai cũng phải chống “. Như vậy, chống lại tệ nạn này là

một việc cực kỳ khó khăn, nan giải, dài lâu và cán bộ đảng viên trung kiên cần

phải dựa vào quần chúng nhân dân mới có thể thành công.

Trong lịch sử hoạt động 81 năm hào hùng và oanh liệt của mình,

Đảng Cộng Sản Việt Nam đã thực sự tận tâm chiến đấu và phục vụ nhân dân,

vì thế toàn dân ta luôn coi Đảng như ngọn cờ chỉ lối đưa đường đến mọi thắng

lợi.

Bất cứ khi nào và nơi đâu, hễ ý Đảng lòng dân hợp nhất làm một thì mọi công

việc to nhỏ khó khăn phức tạp đến mấy cũng thành công. Còn ngược lại, sự gắn

bó thống nhất giữa lý tưởng và việc làm không tốt thì nơi ấy nảy sinh vấn đề mà

mọi việc không suôn sẻ.

Chính vì vậy mà Đảng phải dựa vào dân thì mới tập hợp được sức mạnh và

trí tuệ của toàn dân tộc. Cho dù có khó khăn đến mấy, người cán bộ

đảng viên muốn cho nhân dân tin thì phải quyết tâm làm việc và làm thành

công.

Muốn để dân phục thì người cán bộ đảng viên phải thực hành

cần- kiệm- liêm- chính- chí- công- vô –tư. Phải xung phong làm đầu tàu

gương mẫu để nhân dân theo. Phải có tinh thần chống quan liêu-

tham nhũng- lãng phí triệt để cho Nhà nước trong sạch, vững mạnh thì

mọi lợi ích của nhân dân mới được đảm bảo, quyền dân chủ mới có hiệu lực.

Nhân dân sẽ dành tình yêu thương cho Đảng nếu như mọi cán bộ đảng viên

đều làm việc hết lòng vì nhân dân, khó khăn gánh trước- quyền lợi hưởng sau,

yêu quý học hỏi nhân dân, bởi : Ngoài lợi ích của nhân dân, của dân tộc, Đảng

không có lợi ích gì khác. Nhớ lại câu chuyện cách đây 50 năm, khi Thành uỷ Hà

Nội báo cáo với Bộ Chính trị quy hoạch xây dựng và phát triển Thủ đô, Bác Hồ

rất tán thành việc xây dựng nhà Quốc hội to đẹp nhưng lại chưa đồng ý về địa

điểm xây dựng trụ sở Trung Ương Đảng , Người nhắc khéo đồng chí Phó bí thư

Thành Uỷ: “ Trụ sở Trung ương Đảng phải xây dựng trong lòng dân mới tốt”.

Qua đó Chủ tịch Hồ Chí Minh muốn nhấn mạnh khi Đảng cầm quyền phải dựa

vào nhân dân mà xây dựng Đảng, muốn Đảng vững mạnh, cán bộ và đảng viên

phải làm cho dân tin- dân phục- dân yêu.

Nguồn: An ninh Thế giới

Đổi mới kinh tế và chính trị, mở rộng dân chủ

Phát triển nhanh, bền vững; đổi mới đồng bộ, phù hợp về kinh tế và chính trị; mở rộng dân chủ... Đây là quan điểm phát triển của Việt Nam, được Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh trình bày tại phiên khai mạc Đại hội Đảng XI sáng nay.


Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh đã trình bày Báo cáo của Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa X về các văn kiện Đại hội XI của Đảng. Tổng Bí thư nêu rõ: Ban chấp hành Trung ương trình Đại hội các văn kiện: Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011); Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011 - 2020; Báo cáo chính trị; Báo cáo một số vấn đề về bổ sung, sửa đổi Điều lệ Đảng và Báo cáo kiểm điểm sự lãnh đạo, chỉ đạo của Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa X.

Dựa vào dân để xây dựng Đảng

Chủ đề của Đại hội là “Tiếp tục nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, phát huy sức mạnh toàn dân tộc, đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, tạo nền tảng để đến năm 2020 Việt Nam trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại”.

Nhiệm vụ thời gian tới là xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh. Nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng.

Đại hội Đảng

Ảnh: Phạm Tuấn

Theo Tổng Bí thư, để thực hiện đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng, cần tập trung rà soát, bổ sung, điều chỉnh, ban hành mới, đồng bộ các quy chế, quy định, quy trình công tác của các cấp ủy, tổ chức đảng; quy chế về quan hệ lãnh đạo của cấp uỷ, tổ chức đảng đối với hoạt động của hệ thống chính trị.

Khắc phục tình trạng bao biện, làm thay hoặc buông lỏng lãnh đạo của Đảng với các cơ quan nhà nước. Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội. Đổi mới cách ra nghị quyết, tập trung vào lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức thực hiện, kiểm tra, sơ kết, tổng kết việc thực hiện nghị quyết của Đảng.

Tăng cường phát huy dân chủ, nâng cao chất lượng tự phê bình và phê bình trong sinh hoạt của các cấp ủy, tổ chức đảng. Đổi mới, tăng cường công tác quản lý, phát triển đảng viên, bảo đảm chất lượng đảng viên theo yêu cầu của Điều lệ Đảng; phát huy tính tiên phong, gương mẫu, chủ động, sáng tạo của đội ngũ đảng viên trong thực hiện nhiệm vụ được giao.

Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011 - 2020 đã đề ra 5 quan điểm phát triển:
(1) Phát triển nhanh gắn liền với phát triển bền vững, phát triển bền vững là yêu cầu xuyên suốt trong Chiến lược. (2) Đổi mới đồng bộ, phù hợp về kinh tế và chính trị vì mục tiêu xây dựng nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. (3) Mở rộng dân chủ, phát huy tối đa nhân tố con người, coi con người là chủ thể, nguồn lực chủ yếu và là mục tiêu của sự phát triển. (4) Phát triển mạnh mẽ lực lượng sản xuất với trình độ khoa học, công nghệ ngày càng cao đồng thời hoàn thiện quan hệ sản xuất và thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. (5) Kiên trì xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ ngày càng cao trong điều kiện hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng.

Tiếp tục thực hiện chủ trương đảng viên làm kinh tế tư nhân; thực hiện thí điểm việc kết nạp những người là chủ doanh nghiệp tư nhân đủ tiêu chuẩn vào Đảng.

Đổi mới mạnh mẽ, đồng bộ công tác cán bộ; thực hiện tốt Chiến lược cán bộ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hóa; coi trọng công tác bảo vệ chính trị nội bộ. Tập trung vào đổi mới tư duy, cách làm, khắc phục những yếu kém trong từng khâu của công tác cán bộ.

Làm tốt công tác quy hoạch và tạo nguồn cán bộ, chú ý cán bộ trẻ, nữ, dân tộc thiểu số, chuyên gia trên các lĩnh vực; xây dựng quy hoạch cán bộ cấp chiến lược. Trọng dụng người có đức, có tài. Nâng cao chất lượng công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ. Đánh giá và sử dụng đúng cán bộ trên cơ sở những tiêu chuẩn, quy trình đã được quy định, lấy hiệu quả công tác và sự tín nhiệm của nhân dân làm thước đo chủ yếu.

Có chế tài xử lý nghiêm những trường hợp chạy chức, chạy quyền, chạy chỗ, chạy tuổi, chạy bằng cấp, chạy huân chương. Kịp thời thay thế cán bộ yếu kém về phẩm chất, năng lực, không hoàn thành nhiệm vụ, giảm sút uy tín, vi phạm pháp luật, chính sách của Nhà nước, kỷ luật của Đảng. Thực hiện tốt chính sách đối với cán bộ. Coi trọng công tác bảo vệ chính trị nội bộ, chú trọng những vấn đề chính trị hiện nay.

Đổi mới, nâng cao hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát, công tác dân vận của Đảng. Nâng cao trách nhiệm của các cấp ủy, tổ chức đảng trong việc thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát theo Điều lệ Đảng. Tập trung kiểm tra, giám sát việc chấp hành chủ trương, đường lối, nghị quyết, chỉ thị, quy định của Đảng, luật pháp, chính sách của Nhà nước, việc chấp hành nguyên tắc tập trung dân chủ, quy chế làm việc, chế độ công tác, thực hiện dân chủ trong Đảng, giữ gìn đoàn kết nội bộ; thực hành tiết kiệm, phòng, chống tham nhũng, lãng phí, rèn luyện phẩm chất, đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên.

Chú trọng kiểm tra, giám sát người đứng đầu tổ chức Đảng, Nhà nước, Mặt trận và các đoàn thể trong thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao; phát hiện, xử lý kịp thời, nghiêm minh các sai phạm; tăng cường kỷ luật, kỷ cương trong Đảng.

Coi trọng vai trò phản biện

Về phát huy dân chủ và xây dựng nhà nước pháp quyền, Tổng Bí thư lưu ý, phát huy dân chủ phải đi liền với tăng cường pháp chế, đề cao trách nhiệm công dân, giữ vững kỷ luật, kỷ cương xã hội.

Phê phán và nghiêm trị những hành vi vi phạm quyền làm chủ của nhân dân, những hành vi lợi dụng dân chủ làm tổn hại đến lợi ích quốc gia, dân tộc, gây mất an ninh, trật tự an toàn xã hội.

Trong thời gian tới, cần xây dựng đội ngũ trí thức lớn mạnh, có chất lượng cao; tôn trọng, phát huy tự do tư tưởng trong hoạt động nghiên cứu, sáng tạo; coi trọng vai trò tư vấn, phản biện của các cơ quan khoa học trong việc hoạch định đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước; gắn bó mật thiết giữa Đảng, Nhà nước với trí thức, giữa trí thức với Đảng, Nhà nước.

Có chính sách trọng dụng trí thức, đặc biệt đối với nhân tài của đất nước. Tạo điều kiện xây dựng, phát triển đội ngũ doanh nhân lớn mạnh, có đạo đức và trách nhiệm xã hội cao.

Phát huy tiềm năng và vai trò tích cực của đội ngũ doanh nhân trong phát triển sản xuất kinh doanh, tạo việc làm, thu nhập cho người lao động, nâng cao chất lượng sản phẩm, tạo dựng và giữ gìn thương hiệu hàng hoá Việt Nam.

Tiếp tục hoàn thiện thể chế và đẩy mạnh cải cách hành chính phục vụ phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tập trung vào các lĩnh vực dễ xảy ra tham nhũng, lãng phí.

Xử lý đúng pháp luật, kịp thời, công khai cán bộ tham nhũng, tịch thu sung công tài sản tham nhũng và có nguồn gốc từ tham nhũng; có cơ chế khuyến khích và bảo vệ người đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực.

Thời gian tới, sẽ tổng kết, đánh giá cơ chế, mô hình tổ chức cơ quan phòng, chống tham nhũng để có chủ trương, giải pháp phù hợp.

Xây dựng nền dân chủ xã hội

Trước đó, đánh giá 5 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội X và nhìn lại 10 năm thực hiện chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, Tổng Bí thư khẳng định, "toàn Đảng, toàn dân ta đã nỗ lực phấn đấu vượt qua khó khăn, thách thức, đạt được những thành tựu quan trọng trong việc thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ Đại hội X".

Mười năm thực hiện Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2001 - 2010 là giai đoạn đã tranh thủ thời cơ, thuận lợi, vượt qua nhiều khó khăn, thách thức.

TBT Nông Đức Mạnh

Ảnh: Trang web Đảng Cộng sản

Kinh tế tăng trưởng nhanh, đạt tốc độ bình quân 7,2%/năm. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch tích cực. Thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa tiếp tục được hoàn thiện. Tổng sản phẩm trong nước (GDP) năm 2010 theo giá thực tế gấp 3,4 lần so với năm 2000; thu ngân sách, kim ngạch xuất khẩu tăng gấp 5 lần so với năm 2000; GDP bình quân đầu người năm 2010 đạt 1.168 USD.

Độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ và chế độ xã hội chủ nghĩa được giữ vững.

Dự thảo Cương lĩnh (bổ sung, phát triển năm 2011) đã tổng kết những thắng lợi vĩ đại và những bài học kinh nghiệm lớn của cách mạng nước ta 80 năm qua dưới sự lãnh đạo của Đảng, phân tích sâu sắc bối cảnh quốc tế, những đặc điểm trong giai đoạn hiện nay của thời đại.

Theo Tổng Bí thư, mục tiêu tổng quát khi kết thúc thời kỳ quá độ ở nước ta là xây dựng được về cơ bản nền tảng kinh tế của chủ nghĩa xã hội với kiến trúc thượng tầng về chính trị, tư tưởng, văn hoá phù hợp, tạo cơ sở để nước ta trở thành một nước xã hội chủ nghĩa ngày càng phồn vinh, hạnh phúc. Từ nay đến giữa thế kỷ XXI, toàn Đảng, toàn dân ta phải ra sức phấn đấu xây dựng nước ta trở thành một nước công nghiệp hiện đại, theo định hướng xã hội chủ nghĩa.

Để thực hiện thành công các mục tiêu trên, dự thảo Cương lĩnh (bổ sung, phát triển năm 2011) chỉ rõ: Toàn Đảng, toàn dân ta cần quán triệt và thực hiện tốt 8 phương hướng cơ bản.

Phát biểu khai mạc, Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết khẳng định: "Đại hội Đảng XI lần này phải nhìn thẳng sự thật, nói đúng sự thật để đánh giá thành tựu, khó khăn việc thực hiện nghị quyết ĐH X, giai đoạn 2006 - 2010 và 20 năm thực hiện cương lĩnh xây dựng đất nước thời kỳ quá độ. Từ đó bổ sung cương lĩnh, đề ra phương hướng, nhiệm vụ 2011 - 2015".

Đó là đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước gắn với phát triển kinh tế tri thức, bảo vệ tài nguyên, môi trường. Phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; xây dựng nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; xây dựng con người, nâng cao đời sống nhân dân, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội.

Bảo đảm vững chắc quốc phòng và an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội. Thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hoà bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển; chủ động và tích cực hội nhập quốc tế. Xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, thực hiện đại đoàn kết toàn dân tộc, tăng cường và mở rộng mặt trận dân tộc thống nhất. Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân và xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh.

"So với Cương lĩnh năm 1991, dự thảo Cương lĩnh lần này đã bổ sung, phát triển nhiều nội dung quan trọng về những định hướng lớn phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại, về hệ thống chính trị và vai trò lãnh đạo của Đảng", Tổng Bí thư nhận định.

Đổi mới kinh tế và chính trị
Tổng Bí thư khẳng định, Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011 - 2020 đề ra 5 quan điểm phát triển, đó là phát triển nhanh gắn liền với phát triển bền vững, phát triển bền vững là yêu cầu xuyên suốt trong Chiến lược.

Thứ hai, đổi mới đồng bộ, phù hợp về kinh tế và chính trị vì mục tiêu xây dựng nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

Ảnh: Phạm Tuấn

Ngoài ra, phát huy mở rộng dân chủ, phát huy tối đa nhân tố con người, coi con người là chủ thể, nguồn lực chủ yếu và là mục tiêu của sự phát triển. Phát triển mạnh mẽ lực lượng sản xuất với trình độ khoa học, công nghệ ngày càng cao đồng thời hoàn thiện quan hệ sản xuất và thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Kiên trì xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ ngày càng cao trong điều kiện hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng.

Mục tiêu tổng quát của Chiến lược là: Phấn đấu đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại; chính trị - xã hội ổn định, dân chủ, kỷ cương, đồng thuận; đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được nâng lên rõ rệt; độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ được giữ vững; vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế tiếp tục được nâng lên; tạo tiền đề vững chắc để phát triển cao hơn trong giai đoạn sau.
Chiến lược xác định 3 khâu đột phá: Hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, trọng tâm là tạo lập môi trường cạnh tranh bình đẳng và cải cách hành chính.

Phát triển nhanh nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao, tập trung vào việc đổi mới căn bản và toàn diện nền giáo dục quốc dân; gắn kết chặt chẽ phát triển nguồn nhân lực với phát triển và ứng dụng khoa học, công nghệ.

Xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ với một số công trình hiện đại, tập trung vào hệ thống giao thông và hạ tầng đô thị lớn.

Theo Tổng Bí thư, 5 năm 2011 - 2015 là bước rất quan trọng trong việc thực hiện Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011 - 2020. Mục tiêu tổng quát trong 5 năm tới là: Tiếp tục nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng; đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới; xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh; phát huy dân chủ và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc; phát triển kinh tế nhanh, bền vững; nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân; giữ vững ổn định chính trị - xã hội; tăng cường hoạt động đối ngoại; bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ; tạo nền tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại.

Thời gian tới, tiếp tục mở rộng hoạt động đối ngoại, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế. Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định cho sự phát triển, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, nâng cao vị thế đất nước; góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội trên thế giới. Tiếp tục đưa các quan hệ quốc tế của đất nước đi vào chiều sâu trên cơ sở giữ vững độc lập, tự chủ, phát huy tối đa nội lực và bản sắc dân tộc; chủ động ngăn ngừa và giảm thiểu tác động tiêu cực của quá trình hội nhập quốc tế.

Cũng trong sáng nay, Thường trực Ban Bí thư Trương Tấn Sang đọc Báo cáo kiểm điểm sự lãnh đạo, chỉ đạo của Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa X.

Chiều nay, các đại biểu làm việc tại Đoàn, nghiên cứu, thảo luận các văn kiện Đại hội XI.


· Lê Nhung

theo Vietnamnet.vn


Tổng số lượt xem trang

free counters