“Thế giới thuộc về những ai sống có nhiệt huyết, say mê và có khát vọng cháy bỏng”. Ralph Waldo Emerson
Triết Lý, để làm gì ?
Khi ta bế tắc tư tưởng, chân thật công nhận rằng những kiến thức và phương pháp suy luận của ta không cho phép ta sống, tư duy và hành động khớp với khao khát làm người của ta, ngoài vô vàn cách ứng xử khác, ta có thể:
a) Tiếp tục sống, tư duy và hành động như cũ vì, dù sao, ta cũng sống được, không đến nỗi nào
b) Lột áo cũ, khoác áo mới, một tấm áo coi lành lặn đẹp đẽ hơn nhưng cũng hàm hồ không thua gì. Điều ấy luôn luôn khả thi bằng ngôn ngữ.
c) Đi tới cùng bế tắc của chính mình. Nếu không giải quyết được nó, ta ôm nó xuống suối vàng, để lại ở đời chỉ một câu hỏi. Câu hỏi của một con người. Đích thực. Có gì nhục đâu?
Nếu ta tưởng ta đã tìm ra một phần của giải pháp, ít nhất là cho riêng mình, thì cứ viết đi, chẳng cần trích cao nhân nào cả: họ đã là một phần của ta và ta đã phải “vượt” họ để nên mình.
Thế thôi.
(Chungta.com)
Góc nhỏ của Noby Vui Vẻ
“Nước độc lập mà dân chưa tự do thì độc lập cũng không có ý nghĩa”- Hồ Chí Minh.
28 thg 6, 2010
Sao lại là cổng chào?
Kỹ sư Vi Toàn Nghĩa
Nghe tin Hà Nội sắp làm cổng chào – với 50 tỷ đồng. Nghĩ thêm buồn mặc dù số tiền này là xã hội hóa chứ không phải tiền ngân sách. 50 tỷ, số tiền cũng không phải là lớn lắm. Nhưng nhìn vào tổng thể tình hình xã hội hiện nay thì có gì đấy RẤT KHÔNG ỔN. Có thể là rất cảm ơn các tập đoàn, doanh nghiệp đã hảo tâm với dân tộc về số kinh phí này, nhưng có thể sẽ không cảm ơn nếu số tiền này dùng để xây cổng chào. Ta hãy nhìn xem:
5 cái cổng chào nguy nga ấy có thể sẽ ấn tượng – nó sẽ có giá trị quảng bá cho một vài thương hiệu nào đó – sẽ ghi dấu ấn cho một vài vị lãnh đạo nào đó nhiều hơn là làm đẹp hay tăng thêm giá trị cho ngày lễ 1000 năm THĂNG LONG -HÀ NỘI.
Ta hãy thử nghĩ:
- Số tiền này có thể giúp Dân trí làm chiếc cầu tình nghĩa qua sông PÔ CÔ (một việc làm tuyệt vời của Dân trí).
- Số tiền này có thể giúp kỹ thuật cho diêm dân ta làm ra muối sạch để khỏi phải nhập muối nước ngoài – hãy đọc báo lề phải: nước mắt của họ đã mặn hơn hạt muối họ làm ra.
- Số tiền này có thể làm được con đường vào thôn PÁC CỦNG.
- Số tiền này có thể mua được nhiều thuyền tôn chống lụt cho Hà Nội năm nay.
- Số tiền này có thể thêm được tí ti vào quỹ lương các thầy cô giáo…
- Số tiền này có thể thêm vào quỹ mổ tim cho các em nhỏ đang chờ đợi từng giờ giũa cái sống và cái chết.
- Số tiền này có thể giúp cho người nghèo ốm đau được giảm giá thuốc (họ đang phải mua đắt gấp 40 lần giá thế giới – báo lề phải).
- Số tiền này có thể…
- Số tiền này có thể…
VẬY THÌ TẠI SAO LẠI LÀ CỔNG CHÀO?
Là những người lãnh đạo, mong các bác hãy hiểu được ý nghĩa, lý do từng đồng tiền (mặc dù cùng tính là USD, đồng, nhân dân tệ…). Phải biết đắn đo – đừng nghĩ cứ có tiền là tiêu – nhân đây hãy nhớ lại những đồng tiền “VÊ ĐAN ” đã làm từ thiện.
Chúng ta cảm ơn các tập đoàn, doanh nghiệp có tấm lòng đối với dân tộc – không bao giờ quên. Nhưng phải luôn là trong sáng và vô tư. Ở cơ chế thị trường các đồng tiền quy đổi chưa hẳn đã giống nhau.
VTN
HT Mạng Bauxite Việt Nam biên tập
Phụ lục:
Xây dựng 5 cổng chào lớn vào trung tâm Hà Nội
Chiều 22/6, tại cuộc họp triển khai thực hiện xây dựng 5 cổng chào ở 5 cửa ngõ đi vào trung tâm Thủ đô Hà Nội, Phó Chủ tịch Thường trực Ủy ban Nhân dân thành phố Hà Nội Phí Thái Bình đã chỉ định 5 doanh nghiệp được tham gia xây dựng 5 cổng chào.
Phương án thiết kế cổng chào số 2 trên đường cao tốc Thăng Long - Nội Bài.
Phương án thiết kế cổng chào số 2 trên đường cao tốc Thăng Long - Nội Bài.
Trên cơ sở đề nghị của các doanh nghiệp, Ủy ban Nhân dân thành phố Hà Nội đã chỉ định thầu với 5 doanh nghiệp gồm Công ty Cổ phần Vincom làm cổng chào số 1 trên đường 1A; Tổng Công ty Đầu tư và Phát triển nhà Hà Nội (HANDICO) làm cổng số 2 trên đường cao tốc Bắc Thăng Long-Nội Bài; Vinaconex làm cổng chào số 3 trên đường Láng-Hòa Lạc; Tổng Công ty Đầu tư phát triển hạ tầng đô thị UDIC làm cổng chào số 4 trên đường 5 Hà Nội-Hải Phòng; Công ty Cổ phần Him Lam làm cổng số 5 trên đường cao tốc Hà Nội-Lạng Sơn.
Trong đó Công ty Cổ phần Him Lam và Công ty Cổ phần Vincom đề nghị xây dựng 2 cổng chào kỷ niệm 1.000 năm Thăng Long-Hà Nội tặng thành phố Hà Nội; 3 doanh nghiệp còn lại dự định ủng hộ ít nhất 50% kinh phí xây dựng 3 cổng chào được tham gia. Tổng kinh phí xây dựng 5 cổng chào theo dự tính khoảng 50 tỷ đồng.
Ông Phí Thái Bình đề nghị các sở, ban, ngành và các quận, huyện có liên quan tạo điều kiện thuận lợi nhất về thủ tục, giúp các doanh nghiệp xúc tiến thực hiện 5 cổng chào nói trên bảo đảm tiến độ. Đồng thời, các doanh nghiệp chủ động liên hệ với các cơ quan, địa phương liên quan để triển khai, phấn đấu đến ngày 5/7 có thể báo cáo thành phố tiến độ công việc.
Liên quan đến công tác giải phóng mặt bằng, ông Phí Thái Bình yêu cầu các huyện Sóc Sơn, Phú Xuyên, Gia Lâm, Hoài Đức hoàn thành công tác này trước ngày 30/6.
Cũng tại cuộc họp, Văn phòng Ban chỉ đạo 1.000 năm Thăng Long-Hà Nội đã trình bày bản thiết kế ý tưởng 5 cổng chào.
Theo đó, cổng chào số 1 có hình tượng 10 cánh chim Lạc Việt vươn lên trời cao, đặt tại xã Đại Xuyên, huyện Phú Xuyên trên diện tích khoảng 5.000m2 đất.
Cũng trên diện tích khoảng 5.000m2, cổng chào số 2 trên địa bàn xã Thanh Xuân, huyện Sóc Sơn có hình tang trống đồng cách điệu. Cổng số 3 tiếp giáp sông Đáy thuộc huyện Hoài Đức có hình tượng trống đồng vươn lên từ đất và nước, với quy mô khoảng 4.000m2.
Cổng số 4 trên diện tích khoảng 1.200m2 thuộc xã Dương Xá, huyện Gia Lâm có hình tượng cọc trụ diệt giặc trên sông Bạch Đằng, lại vừa như cánh buồm vươn ra biển. Cổng số 5 trên diện tích khoảng 2.800m2 thuộc xã Ninh Hiệp, huyện Gia Lâm có hình tượng 8 rồng chầu tượng trưng cho 8 vị vua triều Lý.
Theo Thanh Bình
TTXVN/Vietnam+
Trẻ em đi học, bà mẹ đi chợ 15 cây số đi, 15 cây số về?
Kính gửi GS Huệ Chi và quý đồng sự tại trang mạng Bauxite Việt Nam,
Đồng kính gửi nhà giáo Hà Văn Thịnh,
Nhân đọc bài “Vĩ thanh và vĩ cuồng” do nhà giáo Hà Văn Thịnh viết, tôi càng thấy “chất xám” của một số đại biểu Quốc hội có “vấn đề”.
Đã có lần cách đây trên 10 năm, tôi đi tàu cao tốc liên quốc gia tại Châu Âu, và nhẩm tính. Cứ mỗi giây đồng hồ, tàu đi được một khoảng cách bằng chiều dài giữa 2 cột điện, cho là 50 m. Như vậy vận tốc của tàu là 180 Km/giờ.
Trở lại chuyện tàu cao tốc, cứ cho là khoảng cách tối thiểu giữa hai trạm là 5 phút, tức 15Km, để bảo đảm hiệu năng của tàu. Như vậy, trẻ em đi học, bà mẹ đi chợ hàng ngày tối thiểu là 15 Km đi và 15 Km về. Tôi chưa hình dung được trên thế giới có những thành phố nào mà trẻ em và bà mẹ phải đi học, đi chợ xa như thế.
Quả là IQ của các vị đại biểu này thiệt là cao. Tôi thật tình không dám so sánh IQ với các ông.
Qua những sự việc vừa xảy ra trong vòng hơn một năm trở lại, tôi có câu chuyện sau đây muốn chia sẻ cùng quý vị độc giả:
Hai định nghĩa của một chữ hạnh phúc
Hai gia đình cùng thôn, mỗi gia đình cùng có đứa con đang tuổi trưởng thành.
Ở gia đình đầu thôn, cha mẹ luôn mong mỏi con mình thành đạt. Họ dồn tâm huyết để khuyên con chọn cái đúng cái hay. Khi con họ được vào trường tốt, thương hiệu uy tín nhận, là cha mẹ, họ hạnh phúc lắm.
Ở gia đình cuối thôn, cha mẹ luôn mong mỏi con mình đừng làm bậy. Bao nhiêu tâm huyết họ dồn vào để thuyết phục rằng con đang lầm đường, việc con làm là hành động vĩ cuồng. Khi con họ quyết định không làm chuyện xằng bậy, là cha mẹ, họ cũng hạnh phúc lắm.
Là con, chắc hẳn ai cũng muốn được đầu thai vào gia đình đầu thôn. Là cha mẹ, nếu lỡ sinh phải “nghịch tử”, chắc hẳn ai cũng buồn phiền, nhưng phải có biện pháp đối với đứa con hư hỏng. Bởi vì, hạnh phúc thực sự là nguồn vui tràn dâng, chứ không phải là nỗi lo vơi dần.
Lê Minh Thịnh
Thư thứ hai:
Cần một làn sóng dư luận cảnh giác với “bẫy thu nhập trung bình”
Kính gửi: GS Nguyễn Huệ Chi và mạng Bauxite Việt Nam
Tôi được biết, hôm thứ Tư, ngày 23/6/2010 vừa qua, Hội thảo “Mô hình tăng trưởng kinh tế Việt Nam” được UB Kinh tế Quốc hội phối hợp với Trường ĐH Kinh tế Hà Nội tổ chức. Tại Hội thảo này, nhiều chuyên gia trong và ngoài nước đã cảnh báo là Việt Nam sẽ rất khó thoát khỏi cái gọi là “bẫy thu nhập trung bình” nếu Việt Nam không nhanh chóng có những thay đổi then chốt, đột phá trong cơ chế điều hành quốc gia, và trong quá trình hoạch định chính sách. Các chuyên gia đã nêu lên rất nhiều vấn đề bất cập hiện đang tồn tại trong cơ chế điều hành quốc gia, và trong quá trình hoạch định chính sách của chúng ta. Những vấn đề bất cập này chính là nguyên nhân làm cho Việt Nam khó thoát khỏi “bẫy thu nhập trung bình”.
Thưa Giáo sư, đây là một vấn đề rất lớn, thậm chí là rất hệ trọng đối với mọi người dân Việt Nam chúng ta. Nếu trong thời gian tới, Việt Nam chúng ta không thoát khỏi “bẫy thu nhập trung bình”, thì mãi mãi Việt Nam sẽ chỉ là một nước nghèo, dân tộc Việt chúng ta mãi mãi là một dân tộc nghèo; mà đã nghèo thì thường là hèn. Dân tộc ta cần cù, chịu thương chịu khó, có phần thông minh và ham học (tuy còn đầy khiếm khuyết, đầy thói xấu), song, lẽ nào lại phải chịu số phận nghèo hèn mãi như vậy?
Nguy cơ để Việt Nam rơi vào “bẫy thu nhập trung bình” là rất lớn. Thực tế đã chứng minh điều này: Ở châu Á, đến nay chỉ có 4 nước là Nhật Bản, Đài Loan, Hàn Quốc, Singapore vựợt qua được “bẫy thu nhập trung bình” để trở thành những nước phát triển, có nền kinh tế hùng mạnh, có thu nhập bình quân trên đầu người cao nhất châu Á – là những nước dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh thật sự. Còn phần lớn các nước khác sau khi đạt mức thu nhập trung bình đều bị cái anh “bẫy thu nhập trung bình” chết tiệt này tóm chặt, như Phillipin, Malaysia, Indonesia, Thái Lan,…
Thưa Giáo sư, điều tôi lo ngại nhất là các nhà lãnh đạo quốc gia của chúng ta không nhìn thấy được nguy cơ này, hoặc họ nhìn thấy nhưng lại vì những lý do nào đó mà không chịu thay đổi cơ chế điều hành quốc gia, quá trình hoạch định chính sách quốc gia.
Một cơ chế điều hành quốc gia, một quá trình hoạch định chính sách quốc gia thông minh, khôn ngoan, hữu hiệu và tối ưu là một cơ chế điều hành quốc gia, một quá trình hoạch định chính sách quốc gia tập hợp và phát huy được trí tuệ, tâm huyết và các nguồn lực của mọi người Việt Nam chúng ta hiện đang sống cả trong và ngoài nước, tập hợp và phát huy được mọi tiềm năng của đất nước.
Thưa Giáo sư, tôi nghĩ là Giáo sư cũng đã và đang trăn trở về vấn đề này. Giáo sư thử suy tính xem, mạng Bauxite Việt Nam bằng cách nào để dấy lên một làn sóng công luận về vấn đề bức thiết trên đây, như đã làm với Dự án đường sắt cao tốc vừa rồi? Khi có một làn sóng công luận mạnh mẽ thì các nhà lãnh đạo quốc gia không thể không để ý, không thể không suy nghĩ.
Kính chào Giáo sư.
Hà Nội, ngày 25/6/2010
PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG TRONG LĨNH VỰC KINH TẾ Ở VIỆT NAM VÀ NHỮNG TÁC ĐỘNG CHÍNH TRỊ - XÃ HỘI
PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG TRONG LĨNH VỰC KINH TẾ Ở VIỆT
NAM VÀ NHỮNG TÁC ĐỘNG CHÍNH TRỊ - XÃ HỘI
TS. Trần Anh Phương
Báo điện tử ĐCS Việt Nam
Nhằm góp phần nghiên cứu, đánh giá thực trạng phát triển bền vững trong lĩnh vực
kinh tế ở Việt Nam và những tác động chính trị - xã hội cơ bản nhất, báo cáo này sẽ đề cập
đến 4 vấn đề:
- Phát triển bền vững là yêu cầu cấp bách và xu thế tất yếu của toàn cầu; Việt Nam
trong tiến trình hội nhập, phát triển đã và đang tích cực hưởng ứng xu thế này.
- Một số thành tựu nổi bật về phát triển bền vững trong lĩnh vực kinh tế của Việt
Nam trong hơn 20 năm đổi mới vừa qua. Đó là:
Kinh tế đã liên tục tăng trưởng với tốc độ khá cao và tương đối ổn định.
Tăng trưởng kinh tế đã dựa trên sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH,
HĐH, từng bước hội nhập vào sự phân công của nền kinh tế khu vực và thế giới.
- Một số tác động chính trị - xã hội cơ bản từ thành tựu phát triển bền vững trong
lĩnh vực kinh tế của Việt Nam. Đó là:
Nâng cao trình độ và chất lượng sống của các tầng lớp dân cư.
Giải quyết việc làm gắn liền với tiến bộ và công bằng xã hội.
Tạo tiền đề vật chất vững chắc cho chính trị - xã hội tiếp tục ổn định, quốc phòng -
an ninh được không ngừng củng cố, quan hệ quốc tế nói chung và đặc biệt là quan hệ kinh
tế quốc tế nói riêng ngày càng phát triển mạnh về cả chiều rộng lẫn chiều sâu.
- Nền kinh tế Việt Nam vẫn còn một số biểu hiện chưa bền vững nhưng chúng ta có
thể vượt qua và vũng tin vào tương lai nếu có các giải pháp phát triển đúng đắn, năng động.
1. Phát triển bền vững là yêu cầu cấp bách và xu thế tất yếu của toàn cầu. Việt
Nam trong tiến trình hội nhập, phát triển đã và đang tích cực hưởng ứng xu thế này.
1.1. Phát triển bền vững là yêu cầu cấp bách và xu thế tất yếu của toàn cầu
2
Khái niệm "phát triển bền vững" xuất hiện trong phong trào bảo vệ môi trường từ những
năm đầu của thập niên 70 của thế kỷ 20. Năm 1987, trong Báo cáo "Tương lai chung của chúng
ta" của Hội đồng Thế giới về Môi trường và Phát triển (WCED) của Liên Hợp Quốc (LHQ),
"phát triển bền vững" được định nghĩa "là sự phát triển đáp ứng được những yêu cầu của hiện
tại, nhưng không gây trở ngại cho việc đáp ứng nhu cầu của các thế hệ mai sau".
Hội nghị Thượng đỉnh Trái đất về Môi trường và phát triển tổ chức ở Rio de Janeiro
(Braxin) năm 1992 và Hội nghị Thượng đỉnh Thế giới về Phát triển bền vững tổ chức ở
Johannesburg (Cộng hoà Nam Phi) năm 2002 đã xác định "phát triển bền vững" là quá trình
phát triển có sự kết hợp chặt chẽ, hợp lý và hài hoà giữa 3 mặt của sự phát triển, gồm: Phát
triển kinh tế; Phát triển xã hội; và Bảo vệ môi trường. Tiêu chí cơ bản để đánh giá sự phát
triển bền vững là sự tăng trưởng kinh tế ổn định; thực hiện tốt tiến bộ và công bằng xã hội;
khai thác hợp lý, sử dụng tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ và nâng cao được chất
lượng môi trường sống.
Phát triển bền vững là nhu cầu cấp bách và xu thế tất yếu trong tiến trình phát triển
của xã hội loài người, vì vậy đã được các quốc gia trên thế giới đồng thuận xây dựng thành
Chương trình nghị sự cho từng thời kỳ phát triển của lịch sử. Tại Hội nghị Thượng đỉnh Trái
đất về Môi trường và phát triển được tổ chức năm 1992 ở Rio de Janeiro (Braxin), 179 nước
tham gia Hội nghị đã thông qua Tuyên bố Rio de Janeiro về môi trường và phát triển bao
gồm 27 nguyên tắc cơ bản và Chương trình nghị sự 21 (Agenda 21) về các giải pháp phát
triển bền vững chung cho toàn thế giới trong thế kỷ 21. Hội nghị khuyến nghị từng nước căn
cứ vào điều kiện và đặc điểm cụ thể để xây dựng Chương trình nghị sự 21 ở cấp quốc gia,
cấp ngành và địa phương. Mười năm sau, tại Hội nghị Thượng đỉnh Thế giới về Phát triển
bền vững tổ chức năm 2002 ở Johannesburg (Cộng hoà Nam Phi), 166 nước tham gia Hội
nghị đã thông qua Bản Tuyên bố Johannesburg và Bản Kế hoạch thực hiện về phát triển bền
vững. Hội nghị đã khẳng định lại các nguyên tắc đã đề ra trước đây và tiếp tục cam kết thực
hiện đầy đủ Chương trình nghị sự 21 về phát triển bền vững.
Từ sau Hội nghị Thượng đỉnh Trái đất về Môi trường và phát triển được tổ chức tại
Rio de Janeiro (Braxin) năm 1992 đến nay đã có 113 nước trên thế giới xây dựng và thực
hiện Chương trình nghị sự 21 về phát triển bền vững cấp quốc gia và 6.416 Chương trình
nghị sự 21 cấp địa phương, đồng thời tại các nước này đều đã thành lập các cơ quan độc lập
để triển khai thực hiện chương trình này. Các nước trong khu vực như Trung Quốc, Việt
Nam Thái Lan, Singapore, Malaysia...đều đã xây dựng và thực hiện Chương trình nghị sự
21 về phát triển bền vững.
1.2. Việt Nam trong tiến trình hội nhập, phát triển đã và đang tích cực hưởng ứng xu
thế này
Đảng và Nhà nước ta từ nhiều năm qua đã luôn nhận thức sâu sắc về tầm quan trọng
của sự phát triển bền vững không chỉ riêng với Việt Nam mà còn có liên đới trách nhiệm
với sự phát triển bền vững chung của toàn cầu. Chính phủ ta đã cử nhiều đoàn cấp cao tham
gia các Hội nghị nói trên và cam kết thực hiện phát triển bền vững; đã ban hành và tích cực
3
thực hiện "Kế hoạch quốc gia về Môi trường và Phát triển bền vững giai đoạn 1991 - 2000"
(Quyết định số 187 - CT ngày 12 tháng 6 năm 1991), tạo tiền đề cho quá trình phát triển bền
vững ở Việt Nam. Quan điểm phát triển bền vững đã được khẳng định trong Chỉ thị số 36 -
CT/TW ngày 25 tháng 6 năm 1998 của Bộ Chính trị về tăng cường công tác bảo vệ môi
trường trong thời kỳ CNH, HĐH đất nước, trong đó nhấn mạnh: "Bảo vệ môi trường là một
nội dung cơ bản không thể tách rời trong đường lối, chủ trương và kế hoạch phát triển kinh
tế - xã hội của tất cả các cấp, các ngành, là cơ sở quan trọng bảo đảm phát triển bền vững,
thực hiện thắng lợi sự nghiệp CNH, HĐH". Quan điểm phát triển bền vững đã được tái
khẳng định trong các văn kiện của Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX (2001) của Đảng
Cộng sản Việt Nam và trong Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2001 - 2010 là: "Phát
triển nhanh, hiệu quả và bền vững, tăng trưởng kinh tế đi đôi với thực hiện tiến bộ, công
bằng xã hội và bảo vệ môi trường" và "Phát triển kinh tế - xã hội gắn chặt với bảo vệ và cải
thiện môi trường, bảo đảm sự hài hoà giữa môi trường nhân tạo với môi trường thiên nhiên,
giữ gìn đa dạng sinh học". Gần đây, Đại hội X (2006) của Đảng cũng đã rút ra 5 bài học
kinh nghiệm lớn từ thực tiễn phát triển hơn 20 năm đổi mới vừa qua và đó cũng là tư tưỏng
chỉ đạo về phát triển kinh tế - xã hội nước ta giai đoạn 5 năm 2006 - 2010 và kể cả nhiều
năm tiếp theo. Trong đó, bài học đầu tiên đã được Đảng ta đặc biệt nhấn mạnh là “Bài học
về phát triển nhanh và bền vững”. Phát triển bền vững rõ ràng đã và đang trở thành đường
lối, quan điểm của Đảng và định hướng chính sách phát triển của Nhà nước. Để thực hiện
mục tiêu phát triển bền vững, những năm vừa qua đã có nhiều chỉ thị, nghị quyết khác của
Đảng, nhiều văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nước đã được ban hành và triển khai thực
hiện; nhiều chương trình, đề tài nghiên cứu về lĩnh vực này đã được tiến hành và thu được
những kết quả bước đầu. Nhờ đó, nhiều nội dung cơ bản về phát triển bền vững đã đi vào
cuộc sống và dần dần trở thành xu thế tất yếu trong sự phát triển của đất nước.
Phạm vi báo cáo này dưới đây sẽ chỉ phản ánh thực trạng đó ở một số khía cạnh nổi
bật nhất trong lĩnh vực kinh tế và kèm theo là những tác động chính trị - xã hội cơ bản nhất.
2. Một số thành tựu phát triển bền vững nổi bật đã đạt được ở Việt Nam trong
lĩnh vực kinh tế
2.1. Nền kinh tế Việt Nam đã nhiều năm liên tục tăng trưởng với tốc độ khá cao và
tương đối ổn định
Nếu như như tốc độ tăng trưởng kinh tế (GDP) bình quân hàng năm của nước ta trong
giai đoạn 1986 - 1990 là 5 năm đầu tiên của công cuộc đổi mới còn đạt được ở mức thấp
4,4% do nền kinh tế nước ta vừa bước ra khỏi cuộc khủng hoảng đã kéo dài suốt cả thời kỳ 10
năm trước khi đổi mới, 1975 - 1986, thì liên tục từ năm 1991 cho đến năm 2007 chúng ta đều
duy trì được sự tăng trưởng GDP liên tục với tốc độ khá cao và tương đối ổn định. Cụ thể là:
năm 1990 (5,09%); 1991 (5,81%); 1992 (8,7%); 1993 (8,08%); 1994 (8,83%); 1995 (9,54%);
1996 (9,34%); 1997 (8,15%); 1998 (5,76%); 1999 (4,77%); 2000 (6,79%); 2001 (6,89%);
2002 (7,08%); 2003 (7,34%); 2004 (7,79%); 2005 (8,44%); 2006 (8,17%) và năm 2007 vừa
qua đã là 8,48%, mức cao nhất kể từ năm 1997 đến nay (xem bảng 1).
4
Bảng 1 - Tốc độ tăng trưởng kinh tế (GDP) năm từ 1997 - 2007 (%)
Năm 1997 1998 1999 2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007
GDP 8,15 5,76 4,77 6,79 6,89 7,08 7,34 7,79 8,44 8,17 8,48
NLTS 4,33 3,53 5,53 4,63 2,89 4,17 3,62 4,36 4,02 3,3 3,0
CNXD 12,62 8,33 7,68 10,07 10,39 9,48 10,48 10,22 10,69 10,37 10,4
DV 7,14 5,08 2,25 5,32 6,10 6,54 6,45 7,26 8,48 8,29 8,5
Nguồn: Tổng cục Thống kê, Niên giám Thống kê năm 2007.
(Chú thích: NLTS: Viết tắt của nông nghiệp, lâm nghiệp, thuỷ sản - gọi chung là
nông nghiệp;CNXD: Viết tắt của công nghiệp, xây dựng - gọi chung là công nghiệp; DV:
Viết tắt của dịch vụ.)
Theo dõi động thái tiến triển trên đây của tốc độ tăng trưởng kinh tế nước ta đã phản
ánh một thực trạng khả quan, về cơ bản năm sau đều tăng hơn năm trước và sự tăng đó đã
diễn ra liên tục từ năm 1986 cho đến năm 2007 vừa qua (loại trừ hai năm 1998 và 1999 đã có
sự suy giảm tương đối, nguyên nhân chính là nằm trong bối cảnh chung của khu vực Đông Á
khi đó đang chịu ảnh hưởng tiêu cực của cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ 1997 - 1998).
Riêng từ đầu năm 2008 đến nay, trong bối cảnh khó khăn, thách thức chung của suy giảm
kinh tế toàn cầu, kinh tế Việt Nam cũng đã có lâm vào tình trạng lạm phát, dẫn đến suy giảm
tăng trưởng kinh tế như đã thấy. Về tình hình này, phần cuối báo cáo sẽ đề cập cụ thể hơn.
Điều cần thấy là cũng vì sự liên tục tăng trưởng GDP với tốc độ khá cao và tương đối
ổn định trên đây đã khiến cho nền kinh tế Việt Nam đã trở thành nền kinh tế đứng thứ hai
khu vực Đông Á và kể cả trên thế giới (chỉ sau Trung Quốc) về thành tựu tốc độ tăng trưởng
GDP trong suốt hơn hai thập niên vừa qua. Đáng lưu ý là tổng sản phẩm trong nước (GDP) -
chỉ số kinh tế cơ bản nhất của nước ta đã đạt tới 1.114 tỷ đồng (tăng hơn 71 tỷ đồng so với
năm 2006, khiến cho GDP bình quân đầu người năm 2007 đã đạt tới 13,4 triệu đồng, tương
đương 835 USD nhưng tính theo sức mua tương đương thì đã đạt khoảng hơn 3000 USD,
gấp hai lần năm 2001 và bằng 92% so với ngưỡng của các nước có thu nhập trung bình, tín
hiệu tốt cho các bước phát triển tiếp theo.
Cùng với thành tựu phát triển đã đạt được ở một số chỉ tiêu kinh tế - xã hội khác nữa
(mục 3 báo cáo này sẽ đề cập đến), với thành tựu nổi bật về tăng trưởng kinh tế trên đây đã
đưa Việt Nam tiến đến một vị thế khác hẳn trong “con mắt” của thế giới. Việt Nam đã trở
thành “ hiện tượng kinh tế thần kỳ” thứ hai thế giới (sau Trung Quốc) ở đầu thế kỷ XXI
trong dư luận ca ngợi của thế giới cũng là từ thành tựu nổi bật này.
Với thành tựu tăng trưởng kinh tế nhanh trên đây đã có tác động tích cực là đưa nước
ta ra khỏi khủng hoảng kinh tế đã kéo dài suốt nhiều năm trước năm 1990, tăng cường cơ sở
vật chất, tạo tiền đề cần thiết cho các giai đoạn phát triển tiếp theo, mà trước hết là giai đoạn
hiện nay 2006 - 2010.
5
2.2. Tăng trưởng kinh tế đã dựa trên sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH,
HĐH, từng bước hội nhập vào sự phân công của nền kinh tế khu vực và thế giới
- Cơ cấu nền kinh tế đã chuyển dịch theo hướng CNH, HĐH, đó là tỷ trọng trong
GDP của ngành nông - lâm - thuỷ sản đã giảm nhanh từ 38,1% năm 1990 xuống 27,2% năm
1995, 24,5% năm 2000, năm 2005 xuống 20,9%, và đến năm 2008 ước còn 20,6%; Tỷ trọng
công nghiệp và xây dựng trong GDP đã tăng nhanh, năm 1990 là 22,7%, năm 1995 đã tăng
lên 28,8%, năm 2000 là 36,7%, năm 2005 là 41% và đến năm 2008 ước tính sẽ tăng đến
41,6%; Tỷ trọng dịch vụ trong GDP chưa biến động nhiều, năm 1990 là 38,6%, năm 1995 là
44,0%, năm 2000 là 38,8%, năm 2005 là 38,1%, năm 2008 ước tính sẽ là khoảng 38,7%.
- Cơ cấu nền kinh tế đã chuyển dịch tích cực theo hướng mở cửa, hội nhập vào kinh
tế toàn cầu, thể hiện ở tỷ lệ XK/GDP ngày càng tăng nghĩa là hệ số mở cửa ngày càng lớn,
từ 34,7% năm 1992 lên 47% năm 2001 và đến năm 2005 là trên 50%. Tổng KNXK 5 năm
2001 - 2005 đã đạt 111 tỷ USD, tăng bình quân 17,5%/năm (kế hoạch 16%/năm), khiến cho
năm 2005 bình quân KNXK/người đã đạt 390 USD/năm, gấp đôi năm 2000. Năm 2006,
KNXK tiếp tục đạt mức cao 40 tỷ USD, tăng 24% so với năm 2005. Năm 2007, KNXK vẫn
tiếp tục tăng trưởng khá cao, đạt gần 50 tỷ USD, tăng 21,5% so với năm 2006, đưa tỷ lệ
XK/GDP lên đến khoảng 68%. Nhiều sản phẩm của Việt Nam như gạo, cao su, may mặc,
giày dép, hải sản... đã có sức cạnh tranh cao trên thị trường thế giới. Các hoạt động kinh tế
đối ngoại khác như đầu tư trực tiếp từ nước ngoài (FDI), và viện trợ phát triển chính thức
(ODA) cũng đều tăng trưởng khả quan, đặc biệt là vốn FDI đã có bước phát triển tích cực,
tăng mạnh từ năm 2004 đến nay. Năm 2001: vốn FDI vào Việt Nam là 3,2 tỷ USD; tiếp
theo, năm 2002: 3,0 tỷ USD; 2003: 3,2 tỷ USD; 2004: 4,5 tỷ USD; 2005: 6,8 tỷ USD; 2006:
10,2 tỷ USD; và năm 2007 vừa qua đã là năm thứ hai nước ta đã liên tục nhận được các
nguồn vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài (FDI) đạt con số kỷ lục, 20,3 tỷ USD, tăng gấp đôi
so với năm 2006, bằng tổng mức thu hút FDI của cả giai đoạn 5 năm 2001 - 2005, chiếm 1/4
tổng vốn FDI vào Việt Nam trong suốt 20 năm vừa qua.
Hoạt động đầu tư của Việt Nam ra nước ngoài cũng đã bước đầu triển khai tuy còn
rất khiêm tốn. Đó là các doanh nghiệp Việt Nam cũng đã có một số dự án đầu tư ra nước
ngoài như khai thác dầu ở Angiêri, Singapore, trồng cao su ở Lào...
3. Một số tác động chính trị - xã hội cơ bản từ thành tựu phát triển bền vững
trong lĩnh vực kinh tế
Từ những thành tựu phát triển kinh tế nổi bật nêu trên đã là tiền đề, nền tảng vật chất
đưa lại những thành tựu phát triển bền vững trong nhiều lĩnh vực khác, trước hết là trong
các lĩnh vực chính trị - xã hội, thể hiện ở một số kết quả cơ bản sau đây.
3.1. Chỉ số phát triển con người Việt Nam ngày càng tăng hơn
Việc đánh giá trình độ và chất lượng dân sinh của các quốc gia, lãnh thổ có thể được
căn cứ vào nhiều tiêu chí khác nhau, song thông thường có tính phổ biến ngày nay người ta
vẫn dùng chỉ số phát triển con người HDI (Human - Development Index) là một thước đo
6
tổng hợp về nhiều khía cạnh trình độ và chất lượng dân sinh. Chỉ số HDI đo mức tiến bộ
trung bình của một nước về phát triển con người, được đánh giá dựa theo mức tiến bộ trung
bình cộng của các tiêu chí cơ bản về trình độ phát triển con người: Thu nhập GDP tính theo
đầu người; tuổi thọ bình quân: tỉ lệ người lớn biết chữ, giáo dục tiểu học và trung học.
Báo cáo phát triển con người năm 2007/2008 của LHQ cho thấy, Việt Nam hiện có
chỉ số HDI ở hạng trung bình, với chỉ số là 0,733. So với năm trước, Việt Nam đã tăng 4 bậc
từ vị trí 109 lên vị trí 105 trong tổng số 177 nước.
Chỉ số HDI của Việt Nam đã liên tục tăng trong những năm gần đây: Từ 0,671 điểm
(năm 2000) đã tăng lên 0,688 điểm (2003); 0,704 điểm (2005); 0,733 (2007) và có khả năng
đạt tới 0,750 điểm vào năm 2010 như mục tiêu Chiến lược Dân số đã đề ra. Đáng lưu là, từ
năm 1995 đến nay (2007), xếp hạng HDI của Việt Nam trong khu vực đã được nâng lên từ
thứ bậc 7 lên thứ bậc 6; ở Châu Á từ thứ bậc 32 lên thứ bậc 28 và trên thế giới từ thứ bậc
122 lên thứ bậc 105 so vớí 177 nước trên thế giới.
Diễn giải cụ thể hơn về động thái nội hàm chỉ số HDI của Việt Nam đã cho thấy như sau:
- Thu nhập GDP bình quân/người của cả nước đã tăng từ 5,7 triệu đồng năm 2000
lên trên 10 triệu đồng năm 2005, tương đương 640 USD (tăng 12,1%/năm và 1,75 lần sau 5
năm). Năm 2007 vừa qua đã đạt 835 USD. Năm 2008 này theo Báo cáo Chính phủ tại kỳ
họp thứ tư, Quốc hội khoá XII hiện vẫn đang trong thời gian tiến hành, đã cho thấy,
GDP/người của nước ta ước tính có thể đạt tới trên 1000 USD, vượt qua được ngưỡng nước
nghèo theo quy định đã nêu trên của UNDP.
- Tuổi thọ bình quân của người Việt Nam đã tăng từ 60 tuổi năm 1980 lên 65,2 tuổi
năm 1995, lên 70 tuổi năm 2003, lên 71,5 tuổi năm 2005, và hiện nay (2008) là 73,1 tuổi,
vào mức khá cao trong tương quan so sánh với nhiều nước khác, góp phần lớn nâng chỉ số
phát triển con người (HDI) của Việt Nam cao khoảng 30 bậc so với bảng xếp hạng GDP.
- Năm 2000, cả nước đã đạt chuẩn quốc gia về xóa nạn mù chữ và phổ cập giáo dục
tiểu học, đến năm 2008, có 42/64 tỉnh, thành phố đạt chuẩn quốc gia về phổ cập giáo dục
trung học cơ sở. Tỷ lệ người lớn biết chữ đạt 94%, trong khi đó trung bình của thế giới là
79%, các nước thu nhập thấp là 61%, các nước thu nhập trung bình là 90%, các nước châu
Á - Thái Bình Dương là 90%. Đến hết năm 2005, số học sinh đi học bậc tiểu học đạt 97,5%,
số học sinh trung học chuyên nghiệp tăng 15,1%/năm, dạy nghề dài hạn tăng 12%/năm, sinh
viên đại học và cao đẳng tăng 8,4%/năm. Tính đến tháng 8/2008, cả nước có 369 trường đại
học, cao đẳng, trong đó có 160 trường đại học và 209 trường cao đẳng.
Theo Báo cáo phát triển năm 2008 của LHQ, Việt Nam chỉ xếp thứ 122 trong số 177
quốc gia về thu nhập bình quân đầu người. Tuy nhiên, so với nhiều nước có thu nhập thấp
khác, thậm chí so với cả một số nước có thu nhập cao hơn thì Việt Nam lại đi đầu về các chỉ
số tuổi thọ, tỉ lệ biết chữ ở người lớn. Xếp hạng tương ứng của Việt Nam ở hai chỉ số này là
56/177 và 57/177. Chính vì thế mà đã khiến cho HDI của Việt Nam đạt tới mức trung bình
7
trong so sánh với nhiều nước khác chỉ ở mức thấp, mặc dù GDP/người của Việt Nam còn
thấp hơn nhiều và vẫn là nước nghèo.
Trong khi đó, nhìn vào tổng số người đang được đi học trong độ tuổi đi học tiểu học,
trung học và đại học, Việt Nam hiện xếp thứ 121/177 nước, với 63,9% người trẻ được tiếp
cận với giáo dục.
Nguyên nhân cơ bản của tình hình trên là do tăng trưởng kinh tế của Việt Nam đã đạt
tới mức khá cao trong liên tục nhiều năm, đã là cơ sở cho phát triển kinh tế - xã hội của Việt
Nam cũng tăng nhanh theo. Phát triển kinh tế - xã hội sẽ tạo điều kiện tăng thu nhập cho
người dân và tăng đầu tư cho giáo dục là hai giải pháp cơ bản làm thay đổi đáng kể chỉ số
HDI. Chỉ riêng việc cải thiện tỉ lệ nhập học của trẻ em và nâng cao dân trí cho người dân sẽ
giúp Việt Nam tăng nhanh chỉ số phát triển con người của mình. Điều này hoàn toàn đúng
với thực tiễn phát triển của Việt Nam những năm đổi mới vừa qua và vẫn đang là một trong
những định hướng chỉ đạo cơ bản của Đảng và Nhà nước ta.
3.2. Tăng trưởng và phát triển kinh tế đi đôi với giải quyết việc làm, gắn liền thực
hiện tiến bộ và công bằng xã hội
Giữa tăng trưởng kinh tế và giải quyết việc làm cho người lao động luôn có mối quan
hệ biện chứng hữu cơ và là một trong những mục tiêu quan trọng của phát triển kinh tế - xã
hội nước ta trong những năm đổi mới vừa qua, hiện nay và nhiều năm tới. Nhờ tăng trưởng
và phát triển kinh tế, Nhà nước ta cùng với sự tham gia của nhân dân đã có điều kiện chi
hàng nghìn tỷ đồng vào việc giải quyết việc làm cho người lao động.
Kết quả là: Giai đoạn 1991 - 2000, bình quân hàng năm đã giải quyết cho khoảng 1 -
1,2 triệu người lao động có việc làm; giai đoạn 2001 - 2005, con số này đã tăng lên 1,4 - 1,5
triệu; trong các năm 2006 - 2007, đạt bình quân khoảng trên 1,6 triệu. Tỷ lệ qua đào tạo từ
dưới 20%/năm năm 1990 đã tăng lên khoảng 30% năm 2005, và vào khoảng 30 - 33% trong
các năm 2006 và 2007
Thực hiện chỉ đạo của Đảng từ quan điểm cơ bản: “tăng trưởng và phát triển kinh tế
phải gắn liền với tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước và trong suốt quá trình
phát triển” đã được Đại hội VIII (1996) đề ra, cho đến nay ở nước ta đã có hàng loạt các
chương trình mục tiêu quốc gia nhằm giải quyết những vấn đề xã hội bức xúc như dạy nghề,
tạo việc làm, xuất khẩu lao động, xoá mù, phổ cập tiểu học, xoá đói giảm nghèo (Chương
trình 133), hỗ trợ các xã đặc biệt khó khăn (Chương trình 135), chính sách đối xử với người
có công... Hàng loạt văn bản luật và dưới luật đã được thể chế hoá để giải quyết các vấn đề
xã hội liên quan về lợi ích của người lao động và các tầng lớp dân cư toàn xã hội thuộc
nhiều lĩnh vực khác nhau như: Luật Lao động, Luật Giáo dục, Luật Phòng chống ma tuý...,
Pháp lệnh nghĩa vụ công ích, Pháp lệnh về các lĩnh vực y tế, giáo dục, thể thao, cải tiến tiền
lương, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, xoá đói giảm nghèo... Nhờ vậy mà chúng ta đã đạt
được nhiều thành tựu quan trọng trong việc kết hợp tăng trưởng và phát triển kinh tế với
thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội.
8
Trước hết là đời sống nhân dân đã được cải thiện rõ rệt, thể hiện ở thu nhập GDP
bình quân đầu người nước ta đã không ngừng tăng lên, từ 220 USD những năm đầu thập
niên 90 của thế kỷ XX, đã tăng lên 400 USD năm 2000, 483 USD năm 2003, 640 USD năm
2005, và đến năm 2007 vừa qua đã đạt tới 835 USD. Đáng lưu ý, theo Báo cáo của Chính
phủ tại Kỳ họp thứ tư, Quốc hội khoá XII (tháng 10 - 11/2008) nước ta có thể sẽ đạt tới bình
quân GDP/người năm 2008 này từ 1050 - 1100 USD. Nếu chỉ căn cứ vào số liệu đó, Việt
Nam đã vượt qua được ngưỡng nước nghèo (theo chuẩn định của Ngân hàng Thế giới (WB)
là từ 950USD/ người/năm trở lên)
Đặc biệt, công tác xoá đói giảm nghèo của Việt Nam đã đạt kết quả rất khả quan, được
cộng đồng quốc tế đánh giá cao. Là một trong những quốc gia có kết quả giảm tỷ lệ đói nghèo
tốt nhất. đến cuối năm 2005, tỷ lệ hộ nghèo theo chuẩn cũ còn 7% (kế hoạch là 10%; năm
2001 là 17,5%). Theo Báo cáo của Chính phủ do Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng trình bày tại
kỳ họp thứ hai, Quốc hội khoá XII (Nhân dân, 23/10/2007), đến cuối năm 2007 đã có gần 4
triệu hộ nghèo và 1,7 triệu người có hoàn có hoàn cảnh khó khăn được tiếp cận với nguồn vốn
thuộc 10 chương trình tín dụng ưu đãi của Nhà nước, góp phần giảm tỷ lệ hộ nghèo từ 18%
năm 2006 xuống còn 14,7% (theo chuẩn mới) năm 2007. Theo đánh giá của LHQ, Việt Nam
đã hoàn thành Mục tiêu Thiên niên kỷ xoá đói nghèo đến năm 2015 trước 10 năm.
Công tác cứu trợ xã hội đối với người già neo đơn, trẻ mồ côi, người tàn tật, trẻ lang
thang, các cá nhân và gia đình gặp phải thiên tai, tai nạn đột xuất... cũng nhờ vào các thành
tựu tăng trưởng trong kinh tế mà ngày càng có điều kiện vật chất thực hiện chu đáo hơn.
Điều đáng quan tâm khác là cùng với việc Nhà nước ta đã cho xây dựng được Quỹ
trợ cấp thường xuyên và trợ cấp đột xuất có nguồn kinh phí từ ngân sách nhà nước ngày
càng lớn hơn, những năm qua toàn xã hội ta đã dấy lên một lối sống nhân văn rất đậm nghĩa
tình được đông đảo nhân dân và các tổ chức cơ quan, đoàn thể xã hội cùng nhiệt tình tham
gia các hoạt động từ thiện để cứu trợ những người khó khăn, hoạn nạn. Đó là việc thành lập
các quỹ như Quỹ “Vì người nghèo” Quỹ “Tình nghĩa” để hỗ trợ các gia đình liệt sĩ, thương
binh, Quỹ “Hỗ trợ người tàn tật”, “Hỗ trợ trẻ em lang thang”…
Chỉ tính riêng trong 8 năm qua, 2000 - 2008, Quỹ “Vì người nghèo” đã quyên góp
được trên 2.400 tỷ đồng của các nhà hảo tâm, những tấm lòng bác ái. Từ nguồn quỹ này
cùng với sự hỗ trợ của các ngành, các cấp từ trung ương đến địa phương, đã xây dựng và
sửa chữa được 814. 760 căn nhà cho người nghèo trên cả nước. 18 tỉnh, thành phố, 289 quân
huyện, thị xã và 5.591 phường , xã đã hoàn thành xoá nhà dột nát cho các hộ nghèo. Truyền
thống “lá lành đùm lá rách” tiếp tục được phát huy với hàng loạt nghĩa cử cao quý, xúc
động mà có thể minh hoạ gần đây là các hoạt động từ thiện, cứu trợ của nhân dân cả nước,
kể cả kiều bào ta ở nước ngoài… đối với các nạn nhân và gia đình nạn nhân của vụ sập hai
nhịp cầu Cần Thơ, thiên tai bão lũ ở miền Trung ... và mới đây, tháng 8/2008, là lũ lụt ở Lào
Cai, Yên Bái..., tháng 10 - 11/2008, là lũ lụt ở Hà Nội, Vĩnh Phúc, Ninh Bình…và nhiều
tỉnh khác ở miền Trung, miền Nam.
9
3.3. Tăng trưởng và phát triển kinh tế là tiền đề vật chất vững chắc cho chính trị - xã
hội tiếp tục ổn định, quốc phòng - an ninh được không ngừng củng cố, quan hệ quốc tế nói
chung và đặc biệt là quan hệ kinh tế quốc tế nói riêng ngày càng phát triển mạnh về cả
chiều rộng lẫn chiều sâu
Nhờ có các thành tựu tăng trưởng và phát triển kinh tế, đời sống nhân dân ngày càng
được nâng cao hơn về mọi mặt, niềm tin vào công cuộc đổi mới, hội nhập và phát triển đất
nước do Đảng đề ra, Nhà nước mà trực tiếp chỉ đạo là Chính phủ do đó càng được củng cố
vững bền hơn. Cùng với Chương trình quốc gia về cải cách hành chính theo hai giai đoạn
đang vẫn diễn ra đã góp phần làm cho Bộ máy Nhà nước pháp quyền XHCN của nước ta
cũng vì thế ngày càng được củng cố, hoàn thiện hơn về cả 3 lĩnh vực lập pháp, hành pháp và
tư pháp. Trên nền tảng đó, sức mạnh khối đại đoàn kết dân tộc càng được phát huy mạnh
mẽ. Đồng thời các tổ chức chính trị xã hội, nghề nghiệp, tôn giáo bằng nhiều hình thức đa
dạng và phong phú càng có thêm điều kiện thuận lợi để góp phần tích cực vào công cuộc
phát triển đất nước.
Có được những kết quả, thành tựu phát triển như vậy, như đã đề cập là do tác động
trực tiếp của tăng trưởng và phát triển kinh tế nước ta những năm vừa qua. Tuy nhiên về
nguồn gốc của tất cả hiện thực sinh động đó suy đến cùng là do đường lối đổi mới đúng đắn,
sáng tạo của Đảng mà để có được như vậy, trước hết là do Đảng ta là một Đảng mạnh vì đã
luôn luôn chú ý thực hiện tốt công tác xây dựng Đảng qua các kỳ đại hội từ nhiều năm qua.
Trong bối cảnh mới của nước ta và thế giới hiện nay, trước nhiều khó khăn, thách thức lớn
đang đặt ra, việc tổ chức cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí
Minh” đã và đang diễn ra sôi động trong toàn Đảng, toàn quân, toàn dân rõ ràng là rất cần
thiết và đã có tác dụng rất tích cực đến sự phát triển bền vững của nước ta trong tất cả các
lĩnh vực khác nhau.
Đồng thời với sự ổn định chính trị - xã hội đất nước, nhờ có tăng truởng và phát triển
kinh tế, những năm qua tiềm lực quốc phòng - an ninh của nước ta đã không ngừng được
củng cố, tăng cường thêm và do đó đã luôn giữ vững được độc lập chủ quyền, toàn vẹn lãnh
thổ, an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội, bảo vệ được các thành quả của công cuộc đổi
mới, phát triển đất nước.
Nhờ vào những kết quả, thành tựu phát triển kinh tế cùng với sự ổn định chính trị - xã
hội và an ninh của đất nước như đã đề cập ở những nét khái quát nhất trên đây đã khiến cho
Việt Nam ngày càng có uy tín cao hơn trên trường quốc tế. Các quan hệ đối ngoại nói chung
và kinh tế đối ngoại nói riêng vì thế ngày càng có thêm điều kiện phát triển mạnh về cả chiều
rộng lẫn chiều sâu. Trong đó, có những sự kiện nổi bật nhất của hai năm gần đây là: năm
2006, Việt Nam đã tổ chức thành công Hội nghị APEC - 14, gia nhập Tổ chức Thương mại
Thế giới (WTO)... và ngày 16/10/2007, Việt Nam đã trở thành Uỷ viên không thường trực
của Hội đồng Bảo an của LHQ nhiệm kỳ 2008 - 2009 với số phiếu tín nhiệm cao.
Tác động tương hỗ tích cực trở lại của các hoạt động đối ngoại và kinh tế đối ngoại
trên đây là đã góp phần giữ vững môi trường hoà bình, nâng cao uy tín của Việt Nam trong
10
khu vực và trên thế giới, tạo điều kiện cho phát triển kinh tế - xã hội đất nước ta ngày càng
bền vững hơn.
4. Nền kinh tế Việt Nam còn nhiều bất ổn nhưng chúng ta có thê vượt qua nếu
có các giải pháp phát triển đúng đắn, năng động.
4.1. Những biểu hiện còn bất ổn của nền kinh tế Việt Nam
Các kết quả, thành tựu phát triển kinh tế khả quan như đã nêu trên đây đã là tiền đề
vật chất trực tiếp cho nước ta tiếp tục giữ được các cân đối vĩ mô của nền kinh tế như thu
chi ngân sách, vốn tích luỹ, cán cân thanh toán quốc tế..., tạo điều kiện cho bảo đảm ổn định
và phát triển kinh tế - xã hội theo hướng bền vững, trong đó có một nhiệm vụ và cũng là
mục tiêu phấn đấu hàng đầu hiện nay, đó là tăng trưởng kinh tế phải đi đôi với tiến bộ và
công bằng xã hội, mà xoá đói giảm nghèo đã và đang còn là một trong những nhiệm vụ
trọng tâm và cấp bách hiện nay.
Chính vì dựa vào nền tảng những kết quả, thành tựu phá triển khả quan trên đây và
nhìn về xu hướng phát triển tới được căn cứ vào thực trạng về tiềm năng có thể phấn đấu
bằng việc phát huy cao độ các nguồn nội lực từ trong nước kết hợp với tranh thủ thu hút các
nguồn ngoại lực của nước ngoài nên tại kỳ họp thứ hai của Quốc hội khoá XII (tháng
10/2007), ngay từ phiên khai mạc, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã đề xuất một quyết tâm
cao là chúng ta sẽ phấn đấu để ngay trong năm 2008 này kinh tế Việt Nam sẽ đạt tốc độ tăng
trưởng GDP từ 8,5 - 9% so với năm 2006, đạt tổng GDP khoảng 83 tỷ USD, đưa bình quân
GDP/người đạt 960 USD, vượt ngưỡng 950 USD/người/năm, ngưỡng đã được WB coi là
nước đang phát triển có thu nhập thấp. Như thế, cũng có nghĩa nếu đạt được mục tiêu phấn
đấu này sẽ đưa nước ta thoát ra khỏi tình trạng là nước nghèo ngay trong năm nay - năm
2008. Mục tiêu phấn đấu này được Quốc hội bàn thảo rất kỹ, thống nhất thông qua và đã
quyết định đưa vào kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2008.
Nhìn nhận về mục tiêu phấn đấu đã đề ra trên đây của Quốc hội, ngay từ cuối năm
2007 đã có khá nhiều ý kiến bàn thảo về vấn đề này. Tác giả khi đó cũng đã có một bài viết
nhỏ đăng trên Báo điện tử ĐCS Việt Nam ngày 31/12/2007 với tiêu đề: “Kinh tế Việt Nam
năm 2007 tiếp tục khởi sắc nhưng vẫn còn nhiều khó khăn, thách thức lớn”. Bài viết đó đã
đưa ra một số ý kiến mong được bàn góp thêm ở khía cạnh là: Cần có sự đánh giá đúng mức
về những “kỳ tích” đã đạt được và “thực lực” của nước ta hiện nay. Xin được nhắc lại ở
những nét khái quát nhất sau đây:
Đúng là có thể coi những kết quả, thành tựu phát triển kinh tế - xã hội mà nước ta đã
đạt được trong hơn hai mươi năm đổi mới vừa qua là “kỳ tích”. Sau hơn hai mươi năm đổi
mới, nền kinh tế nước ta trước đó nhiều thập niên vốn đã bị tàn phá nặng nề sau chiến tranh,
có xuất phát điểm về trình độ phát triển quá thấp, quá lạc hậu so với trình độ phát triển chung
của khu vực và thế giới, đã thế lại rất trì trệ so với tư duy, ý thức hệ phát triển của thời đại, chỉ
quanh quẩn với ý thức chủ quan của sự phát triển một nền kinh tế tự chủ theo kiểu kế hoạch
hoá tập trung quan liêu, bao cấp, khép kín lấy tinh thần tự lực cánh sinh một cách máy móc,
duy ý chí là chính... thế nhưng, đến nay nhìn lại chúng ta đã có nhiều đổi mới cơ bản, đã và
11
đang phấn đấu để tạo ra được một số “bước ngoặt kỳ tích”. Cụ thể hơn, các “bước ngoặt kỳ
tích” đó là: sau hơn 20 năm đổi mới, kể từ sau Đại hội VI (năm 1986) đến nay, chúng ta đã
lần lượt vượt qua từng “cửa ải’ của quá khứ lạc hậu, điều mà nếu như với lối suy nghĩ, hành
động kiểu cũ trước đây thì chưa bao giờ có thể nghĩ rằng ta lại sớm có thể đạt đến như vậy.
Cửa ải thứ nhất ta đã vượt qua là cho đến năm 1995, kết thúc nhiệm kỳ Đại hội VII (1991 -
1995), chúng ta đã vượt qua cuộc khủng hoảng kinh tế với lạm phát kéo dài trên hai con số
liên tục nhiều năm từ suốt những năm 1970 - 1980. Tiếp theo, cửa ải thứ hai ta cũng đã và
đang phấn đấu để mong vượt qua, đó là thoát nhanh ra khỏi tình trạng nước nghèo, kém phát
triển. Trong mục tiêu phấn đấu đã được đề ra từ Đại hội IX (năm 2001) là đến năm 2010 sẽ
thực thi thành công nhiệm vụ này, vì thế việc quyết tâm phấn đấu trong năm nay - năm 2008,
hoàn thành mục tiêu phấn đấu này nếu trở thành hiện thực là chúng ta đã về đích trước hai
năm so với kế hoạch đề ra. Còn một cửa ải thứ ba và cũng là cửa ải cuối cùng nhìn ra phía
trước xa hơn, đó là phấn đấu về cơ bản trở thành nước công nghiệp vào năm 2020. Đương
nhiên, chúng ta đều hiểu cửa ải thứ ba nếu vượt qua được là sẽ có thể hoá “rồng” như kinh
nghiệm của các “con rồng Đông Á” đã có từ những năm 70 - 80 của thế kỷ trướ c. Chính vì
thế việc làm thế nào để thoát nhanh ra khỏi tình trạng nước nghèo vào năm 2008 này sẽ có
một ý nghĩa rất quan trọng là không chỉ đưa nước ta bứt lên một vị thế mới, trở thành nước
đang phát triển thực sự mà còn tạo ra tiền đề vật chất thuận lợi cho việc phấn đấu “hoá rồng”
vào năm 2020, thậm chí có thể rút ngắn thời gian trước năm 2020.
Vấn đề cơ bản nhất đang đặt ra là khả năng thực thi quyết tâm thoát nghèo “thực sự”
của chúng ta ngay trong năm 2008 này có hiện thực không? Đã có nhiều ý kiến của các
chính khách, các nhà hoạch định chính sách kinh tế - xã hội và quản lý vĩ mô, các nhà khoa
học... cho rằng nếu cứ đà phát triển khả quan như năm 2007 vừa qua thì điều đó là đang
trong tầm tay của chúng ta. Tuy nhiên, theo thiển ý của tôi ngay từ đầu năm 2008 này đã
cho rằng, để tránh mọi suy nghĩ và hoạt động chủ quan duy ý chí dẫn đến khiên cưỡng,
nóng vội... chúng ta cần chủ động lưu ý trước những diễn biến khách quan khó lường như
thiên tai, dịch bệnh, giá cả thị trường thế giới... để từ đó có quyết định và hành động đúng,
hiệu quả cao. Và thực tế đã diễn ra như thế nào đối với kinh tế nước ta từ đầu năm 2008 đến
nay, mọi người đều đã quá rõ. Cho đến thời điểm viết báo cáo này, tháng 10 - 11/2008, theo
tôi, trong năm 2008 này ta chưa thể “thực sự” vượt qua được tình trạng nước nghèo, cho dù
nếu xét về lượng tuyệt đối nếu cứ đà này có thể ta sẽ đạt bình quân GDP/người ngay trong
năm nay là trên 1000 USD như Báo cáo của Chính phủ tại kỳ họp thứ tư, Quốc hội khoá XII
đã dự báo. Sở dĩ vậy vì: nếu nhìn ở bình diện chung xã hội thì công tác xoá đói giảm nghèo
của nước ta năm nay vẫn có những hạn chế, bất cập lớn mà chủ yếu là do các nguyên nhân
khách quan bất khả kháng đã đưa lại mà chúng ta chưa thể vượt qua. Đó là đời sống nhân
dân, nhất là người có thu nhập thấp, người nghèo và đồng bào ở vùng sâu, vùng xa, vùng bị
thiên tai còn nhiều khó khăn. Lạm phát cao và thiên tai, dịch bệnh đã làm giảm thu nhập
thực tế của nhân dân, nhất là của các hộ nghèo. Đặc biệt, tỷ lệ tái nghèo tăng; vẫn còn nhiều
huyện có tỷ lệ hộ nghèo cao. Chỉ tiêu giảm nghèo đạt thấp hơn kế hoạch (13,1%/11 - 12%).
Vì những khó khăn đó nên trong lĩnh vực giáo dục - đào tạo cũng đang có nguy cơ tái mù ở
những địa phương đó.
12
Không chỉ thế, nghiêm túc nhìn nhận trong so sánh tương quan với các nền kinh tế
khác trong khu vực và toàn cầu thì rõ ràng nỗi lo tụt hậu xa hơn về trình độ phát triển kinh
tế vẫn đang còn là nguy cơ rất lớn. Dưới đây là một số dẫn giải về nguy cơ này.
Thứ nhất, quy mô của nền kinh tế nước ta còn nhỏ, thu nhập bình quân đầu người
còn thấp; năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của toàn nền kinh tế cũng như
từng ngành, từng sản phẩm còn chưa cao. Không chỉ so với nhiều nước trên thế giới mà
ngay cả so với nhiều nước trong cùng khu vực Đông Á và kể Đông Nam Á, chúng ta đều
thua xa họ về cả quy mô kinh tế và thu nhập bình quân đầu người. Theo số liệu báo cáo của
WB, năm 2006: các con số tương ứng GDP và GDP/người của Thái Lan là 193,7 tỷ USD và
2.990 USD; của Malaysia là 141,4 tỷ USD và 5.490 USD; Indonesia là 315 tỷ USD và
1.420 tỷ USD; Philippines là 120,2 tỷ USD và 1.420 tỷ USD... Trong khi đó, Việt Nam năm
2007 vừa qua cho dù GDP/người đã tăng vượt bậc so với năm 2000 (400 USD) nhưng cũng
mới chỉ đạt tới khoảng 835 USD. Tăng trưởng cao liên tục nhiều năm nhưng do xuất phát
điểm quá thấp nên thu nhập bình quân đầu người của ta đến nay vẫn còn là quá thấp, hiện
đứng thứ 7 khu vực Đông Nam Á, thứ 35 Châu Á và 137 trên thế giới; và nếu xét tương
quan chung thì Việt Nam vẫn nằm trong nhóm 53 nước có thu nhập thấp, bình quân dưới
905 USD/người/năm (tính đến năm 2007). Theo các chuyên gia kinh tế, nếu vẫn duy trì
được tốc độ tăng trưởng như những năm vừa qua và hiện nay, để phấn đấu thu nhập bình
quân đầu người của Việt Nam bằng mức hiện tại của một số nước sau đây thì số năm thực
hiện phải là: Indonesia (5 năm); Philippines (8 năm); Thái Lan (20 năm); Malaysia (24
năm); và Singapore (40 năm). Đương nhiên, xin hiểu là cách tính đó được giả định trong
trường hợp các nước này “tạm thời đứng yên”, còn trên thực tế ta biết là không thể có như
vậy, có nghĩa là cũng chưa thể xác định được bao nhiêu năm nữa ta mới đuổi kịp họ. Điều
đó cũng có nghĩa, tụt hậu xa hơn về trình độ phát triển kinh tế vẫn còn là hiện thực và là
nguy cơ lớn đối với nước ta.
Thứ hai, một tiêu chí cơ bản khác được coi là thước đo so sánh khá toàn diện về trình
độ phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia, lãnh thổ, đó là chỉ số phát triển con người
(HDI). Mặc dù chúng ta đã đạt cả 3 mặt: tăng nhanh, liên tục, và thứ bậc tăng vọt, nhưng
đến nay chỉ số đó vẫn còn ở mức thấp của thế giới và Việt Nam xét riêng về chỉ số HDI vẫn
bị xếp vào nhóm các nước đang phát triển có thu nhập thấp.
Thứ ba, về môi trường đầu tư của nước ta tuy đã được cải thiện rõ rệt và tiến bộ hơn
nhiều so với trước năm 2000 nhưng theo báo cáo của WB, thứ hạng về tiêu chí này còn thấp
hơn nhiều so với một số nước trong khu vực. Cụ thể, nếu Singapore luôn xếp thứ nhất, Thái
Lan hiện xếp thứ 15, Malaysia thứ 24... thì hiện tại Việt Nam đang xếp thứ 91 trong tổng số
178 nước và lãnh thổ.
Ngoài ra, còn có thể kể thêm không ít hạn chế, bất cập từ đó đã tạo ra những khó
khăn, thách thức không nhỏ cho sự phát triển của nước ta hiện nay không chỉ trong lĩnh vực
kinh tế mà cả các lĩnh vực khác, làm ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống xã hội của các tầng
lớp nhân dân lao động. Chỉ tính từ năm 2007, nhất là từ đầu năm 2008 đến nay, nền kinh tế -
xã hội nước ta đã gặp phải khá nhiều vấn đề nan giải nổi cộm như nhập siêu quá cao, chỉ số
13
giá tiêu dùng và lạm phát tăng quá mạnh, tiến độ thực hiện và giải ngân vốn đầu tư phát
triển của Nhà nước còn chậm, công tác quản lý xây dựng các công trình còn nhiều yếu kém
gây lãng phí, mất an toàn lao động còn nhiều. Các cơ sở hạ tầng về giao thông, điện , nước...
đã trở nên quá tải, bất cập trước yêu cầu phát triển thực tiễn. Thế mạnh nhiều năm trước đây
của ta vẫn là dồi dào lao động, giá nhân công rẻ giờ đã không còn, mà ngược lại chính thế
mạnh đó lại đã và đang chuyển thành thế yếu vì trước yêu cầu mới của CNH,HĐH, của hội
nhập khu vực và quốc tế thì đa phần trong số đó do là lao động giản đơn, trình độ thấp nên
đã bị xung vào đội quân thất nghiệp, trong khi tình trạng quá thiếu lao động trình độ cao của
nước ta lại đã và đang là vấn đề nan giải nổi cộm làm kìm hãm quá trình chuyển dịch cơ cấu
kinh tế theo hướng tích cực ở nước ta. Thêm vào những khó khăn, thách thức lớn đó, còn
phải kể đến tình trạng tham nhũng, lãng phí, thủ tục hành chính rườm rà, tai nạn giao thông,
thiên tai, dịch bệnh, ô nhiễm môi trường và nhiều tiêu cực, tệ nạn xã hội khác vẫn còn là căn
bệnh nhức nhối chưa thể chữa khỏi mặc dù chúng ta cũng đã cố gắng chữa...
Chính vì những khó khăn, thách thức lớn đó, nhằm phù hợp với tình hình mới, tại kỳ
họp thứ ba, Quốc hội khoá XII (tháng 5/2008), Chính phủ đã phải đề nghị Quốc hội điều
chỉnh giảm kế hoạch phấn đấu tăng trưởng kinh tế năm 2008 này ở mức thấp hơn, chỉ còn
7% so với lúc đầu đề ra là trên 9% và còn thấp hơn so với mức 8,48% đã đạt được năm
2007. Trên cơ sở đó, Chính phủ cũng đã đề ra 8 nhóm giải pháp kiềm chế lạm phán, thực
hiện an sinh xã hội và quyết tâm hoàn thành kế hoạch năm 2008 này sau khi đã thống nhất
điều chỉnh lại các chỉ tiêu kinh tế - xã hội phấn đấu cụ thể tương xứng với chỉ tiêu tăng
trưởng kinh tế 7%. Tuy năm 2008 đến thời điểm tác giả hoàn thành báo cáo này (tháng 10 -
11) chỉ còn hơn một tháng nữa là kết thúc và kinh tế - xã hội nước ta và mặc dù trong vài
tháng gần đây đã có thêm nhiều điểm sáng như Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ
tám (khoá X), vừa chỉ rõ, song hiện tại vẫn còn rất nhiều khó khăn, thách thức không chỉ vì
những hạn chế, bất cập trong nước đã nêu trên mà còn vì cả áp lực nặng nề của cuộc khủng
hoảng tài chính toàn cầu đã và đang tác động trực tiếp đến kinh tế nước ta ngày càng rõ hơn.
Vì thế, cần phải tiếp tục nỗ lực phấn đấu nhiều hơn nữa chúng ta mới có thể hoàn thành các
nhiệm vụ kinh tế - xã hội năm 2008 đã được Quốc hội, Nhà nước, Chính phủ đề ra.
3. Vững tin vào tương lai
Cho dù còn rất nhiều khó khăn, thách thức lớn đặt ra trên đường phát triển, song rõ
ràng là với những kết quả, thành tựư phát triển khả quan mà chúng ta đã đạt được trong hơn
20 năm đổi mới đã qua mà trực tiếp gần đây nhất là những kết quả đã đạt được của sự nỗ
lực vượt khó của cả nước ta trong 10 tháng đầu năm nay (2008) đã càng tạo cho chúng ta
một niềm tin lớn vào tương lai là phải vượt qua và chắc chắn sẽ vượt qua những khó khăn,
thách thức lớn đó.
Vượt khó đi lên, nền kinh tế nước ta trong 10 tháng đầu năm 2008 vẫn duy trì được
mức tăng trưởng khá (6,52%) trong điều kiện lạm phát cao. Theo nhận định của Chính phủ
tại kỳ họp thứ tư, Quốc hội khoá XII (tháng 10 - 11/2008), cứ đà này, nếu không có gì trở
14
ngại lớn đột xuất, “Tăng trưởng GDP cả năm ước đạt khoảng 6,5 - 7%1; trong đó, nông
nghiệp tăng 3,5 - 3,9%; công nghiệp và xây dựng tăng 7,3 - 7,5%, dịch vụ tăng 7,2 - 7,8%;
GDP bình quân đầu người đạt trên 1.000 USD2. Mặc dù gặp nhiều khó khăn do thiên tai,
dịch bệnh, giá đầu vào tăng cao nhưng nông nghiệp vẫn đạt được những kết quả nổi trội: giá
trị sản xuất ước tăng 5,1% (năm 2007 tăng 4,6%); sản lượng lúa tăng khoảng 2,6 triệu tấn,
là mức tăng cao nhất từ trước đến nay3, thủy sản tăng gần 9,0%. Giá trị sản xuất công
nghiệp ước tăng 16,2% (năm 2007 tăng 17,1%). Nhiều ngành dịch vụ phát triển khá, tổng
mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tăng 31% (năm 2007 tăng 22,7%).
Xuất khẩu năm 2008 tăng cao. Kim ngạch xuất khẩu chín tháng đạt 48,6 tỷ USD tăng
39% so với cùng kỳ năm 2007 (cùng kỳ tăng 19,4%); ước cả năm đạt trên 65 tỷ USD, tăng
33,9% là mức tăng cao nhất trong mười năm qua (năm 2007 tăng 21,9%). Xuất khẩu tăng
ngoài yếu tố tăng giá, còn do lượng hàng tăng (khoảng 30%) và thị trường xuất khẩu được
mở rộng. Ðây là yếu tố cơ bản làm giảm nhập siêu, góp phần quan trọng vào tăng trưởng
kinh tế, thể hiện năng lực nội sinh của các ngành sản xuất và sự năng động của các doanh
nghiệp trong điều kiện nước ta hội nhập ngày càng sâu rộng vào kinh tế thế giới…
Ðầu tư trực tiếp nước ngoài ước cả năm có số vốn đăng ký trên 60 tỷ USD, gấp
khoảng ba lần so với năm 2007, vốn thực hiện khoảng 10 - 11 tỷ USD4. Vốn ODA cam kết
nhiều hơn5, đến hết tháng 9 các nhà tài trợ đã ký hiệp định cung cấp trên 1,8 tỷ USD; đã giải
ngân trên 1,4 tỷ USD, đạt 74,5% kế hoạch năm. Ðây là kết quả của việc môi trường đầu tư
tiếp tục được cải thiện, thể hiện niềm tin của các nhà đầu tư, các nhà tài trợ vào triển vọng
phát triển của đất nước ta; đồng thời khẳng định chủ trương đúng đắn của Ðảng và Nhà
nước là: kiềm chế lạm phát nhưng vẫn duy trì tăng trưởng hợp lý và gây dựng tiền đề cho sự
phát triển cao, bền vững trong những năm sau…”
(Trích Báo cáo của Chính phủ do Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng trình bày tại Kỳ họp
thứ tư, Quốc hội khoá XII; Báo Nhân dân, thứ Sáu, 17/10/2008).
Những kết quả vượt khó đi lên đó tuy mới là bước đầu của “cuộc chiến đẩy lùi lạm
phát” song đã tạo cho chúng ta một niềm tin lớn vào tương lai phát triển của đất nước. Niềm
tin đó không hề là chủ quan duy ý chí mà hoàn toàn được dựa trên nền tảng hiện thực khách
quan khoa học và cách mạng mà mỗi người Việt Nam đều nhận thức sâu sắc được, chí ít là
ở những điều kiện thuận lợi cơ bản nhất mà chúng ta đã và đang có sau đây sẽ là động lực
tạo ra thời cơ, vận hội mới cho tiến trình hội nhập, phát triển của nước ta.
1 Tăng trưởng kinh tế quý I là 7,38%; quý II là 5,85%; quý III là 6,55%. 9 tháng là 6,52%.
2 Xấp xỉ đạt mục tiêu kế hoạch 5 năm 2006 - 2010 là 1.050 - 1.100 USD/người
3 Các năm khác tăng cao là: năm 1989 sau khi có Khoán 10, sản lượng lúa tăng 1,996 triệu tấn so với năm 1988; năm
1999 và năm 2002 đều có mức tăng khoảng 2,3 triệu tấn.
4 Trong 9 tháng, số vốn đăng ký hơn 57 tỷ USD, gấp gần 5 lần so với cùng kỳ năm 2007, vốn thực hiện trên 8 tỷ USD,
tăng 37% so với cùng kỳ.
5 Vốn ODA cam kết năm 2006 là 3,75 tỷ USD; năm 2007 là 4,45 tỷ USD; năm 2008 là 5,426 tỷ USD.
15
Trước hết là về phương diện chính trị đối nội, với những kết quả, thành tựu phát triển
kinh tế - xã hội đã đạt được trên đây là minh chứng sinh động để chúng ta hoàn toàn có thể
tin tưởng và quyết tâm thực hiện tốt hơn nữa công cuộc đổi mới đất nước do Đảng ta khởi
xướng và lãnh đạo đã được tôi luyện, thử nghiệm thực tiễn hơn 20 năm qua. Bằng con
đường đó, Việt Nam hoàn toàn có thể kỳ vọng là sẽ phấn đấu trở thành một nước công
nghiệp phát triển trong tương lai đã được Đảng ta xác định là đến năm 2020, hoặc có thể
sớm hơn mà nền tảng của nó là kinh tế thị trường theo định hướng XHCN.
Thứ hai, về chính trị đối ngoại, hơn bao giờ hết so với nhiều năm trước đây, công
cuộc đổi mới và phát triển của nước ta hiện đã và đang ngày càng được sự ủng hộ của rất
nhiều quốc gia và lãnh thổ ở khu vực và trên toàn thế giới thông qua các hoạt động hợp tác
phát triển toàn diện không chỉ trong các lĩnh vực kinh tế mà cả chính trị, văn hoá, xã hội...
Riêng trong các lĩnh vực kinh tế, từ thương mại, đầu tư, viện trợ phát triển chính thức
(ODA) cho đến các hoạt động hợp tác phát triển về các lĩnh vực dịch vụ như du lịch, tài
chính, ngân hàng... đều “trăm hoa đua nở”, hứa hẹn nhiều “mùa gặt hái” bội thu đang đến
với Việt Nam nếu như chúng ta có quyết tâm cao, giải pháp đúng, tranh thủ được tối đa các
yếu tố nội lực kết hợp có hiệu quả cao với các yếu tố ngoại lực...
Tóm lại, đối với mỗi người Việt Nam yêu nước xin hãy tự nhủ với lòng mình là cho
dù còn phải trải qua nhiều khó khăn, thách thức lớn song với quyết tâm cao, đoàn kết một
lòng vững tin vào công cuộc đổi mới, hội nhập để phát triển theo đường lối của Đại hội X
của Đảng Cộng sản Việt Nam đã đề ra và sự lãnh đạo, chỉ đạo của Quốc hội, Nhà nước và
Chính phủ, chắc chắn chúng ta sẽ thực hiện thành công những mục tiêu phát triển như đã
định, trong đó mục tiêu hàng đầu là kiềm chế lạm phát, bảo đảm an sinh xã hội, thực hiện
thắng lợi các chỉ tiêu phát triển kinh tế - xã hội đã đề ra trong kế hoạch năm 2008, từ đó tạo
tiền đề cho sự phát triển bền vững của những năm tiếp theo mà trước mắt là đến năm 2010
chúng ta sẽ thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ, mục tiêu phát triển của kế hoạch kinh tế - xã
hội 5 năm 2006 - 2010 đã được Đại hội Đảng lần thứ X đề ra.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Văn kiện Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ IX (2001) và lần thứ X (2006), NXB
Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2001 và 2006.
2. Các văn kiện nghị quyết Trung ương ( khoá IX, X) có liên quan từ năm 2001 đến nay.
3. Các báo cáo của Quốc hội và Chính phủ về những vấn đề liên quan đã công bố trên báo
Nhân dân và các phương tiện thông tin đại chúng khác từ năm 2006 đến nay.
4. Một số báo điện tử và trang web: Báo điện tử ĐCS Việt Nam, Nhân dân điện tử, Tạp chí
Cộng sản điện tử, Thời báo Kinh tế Việt Nam điện tử, Đầu tư nước ngoài, Bộ Công thương,
Bộ Tài nguyên và Môi trường...
16
5. Một số bài báo liên quan của Trần Anh Phương và các tác giả khác đã đăng trên các tạp
chí khoa học và báo chuyên ngành từ nhiều năm qua đến nay: Nghiên cứu Kinh tế; Những
vấn đề Kinh tế và Chính trị thế giới, Kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương; Tạp chí Cộng sản;
Thời báo Kinh tế Việt Nam...
Góc nhìn từ xã hội dân sự
Bắt đầu xây dựng cách đây 13 năm (1993), dự thảo Luật về Hội đến nay vẫn có khả năng chưa được Quốc hội phê chuẩn vào năm 2006, do còn những tranh luận về một số vấn đề căn bản như: Đối tượng điều chỉnh của luật; và đặc biệt là việc đưa các hội vào sự quản lý của các bộ, ngành. Từ góc nhìn xã hội dân sự người viết bài có vài ý kiến đóng góp về những vấn đề còn tranh luận nêu trên.
Thời gian gần đây, Viện Những vấn đề phát triển (VIDS) đã hoàn tất một Đề tài nghiên cứu có nhan đề "Đánh giá ban đầu về Xã hội dân sự ở Việt Nam". Trong đó xã hội dân sự (XHDS) được thống nhất theo định nghĩa: Đó là các tổ chức xã hội nằm ngoài Nhà nước, ngoài các hoạt động của DN (thị trường), ngoài gia đình, để liên kết người dân với nhau trong những hoạt động vì một mục đích chung. Như vậy, thành phần quan trọng của XHDS là các hội, hiệp hội, mang tính cộng đồng. Hội - Thành phần nòng cốt của XHDS Có thể coi XHDS là diễn đàn, là nơi mọi người bắt tay nhau để thúc đẩy quyền lợi chung. XHDS hỗ trợ người dân thực thi luật pháp, đồng thời phản ánh nguyện vọng của họ. Theo quan niệm trên thì ở VN XHDS đã tồn tại từ rất lâu. Chúng ta đã có những khẩu hiệu thể hiện chủ trương khích lệ sự tham gia của XHDS, như "dân biết, dân làm, dân bàn, dân kiểm tra", hoặc đã có nghị định của Chính phủ về dân chủ cơ sở. XHDS ở nước ta bao gồm từ Mặt trận Tổ quốc, tới một mạng lưới rộng khắp trong cả nước các hội nghề nghiệp, các tổ chức phi chính phủ, các tổ chức cộng đồng... Một trong những phẩm chất của các tổ chức XHDS là khả năng thực hiện hiệu quả các chính sách xã hội đối với người nghèo và nhóm người kém vị thế, trong khi các cơ quan nhà nước không kham nổi. Vì vậy, Luật về Hội cần thể hiện rõ mục tiêu quan trọng là tạo môi trường pháp lý thuận lợi để đáp ứng quyền được lập hội của người dân, để các hội - hạt nhân của XHDS - phát huy được vai trò, cùng Nhà nước và thị trường xây dựng một xã hội theo mục tiêu phát triển bền vững. Mặt khác, sức mạnh của các tổ chức XHDS, đặc biệt là các hội nghề nghiệp, là tính chuyên môn hóa cao và đưa ra được những ý tưởng và phương thức mới mẻ, không những trong việc tìm ra các giải pháp thực thi, mà còn trong các ý kiến phản biện xã hội mang tính khách quan, đúng đắn. Nhà nước bảo trợ và trao quyền cho XHDS Trong Dự thảo (lần 9) Luật về Hội có một nội dung gây nhiều ý kiến phản đối là hội sẽ chịu sự quản lý trực tiếp của các bộ có chuyên môn liên quan. Thứ trưởng Bộ Nội vụ Đặng Quốc Tiến từng thừa nhận: "Sau hơn 10 năm soạn thảo, có nhiều vấn đề trong dự luật vẫn gây tranh cãi kịch liệt. Nội dung căng nhất là những quy định về quản lý nhà nước đối với hội. Bộ Nội vụ vẫn giữ "3 quản" đối với hội (Chính phủ thống nhất quản lý về hội; Bộ Nội vụ chịu trách nhiệm trước Chính phủ quản lý về hội; bộ, ngành thuộc Chính phủ quản lý nhà nước về hội theo quy định của pháp luật)". GS Tô Ngọc Thanh - Chủ tịch Hội Văn nghệ dân gian VN cho rằng: "Sinh ra là để hoạt động xã hội mà Nhà nước lại quản thì còn gì là mang tính xã hội nữa. Đây là tư duy hết sức cũ kỹ kiểu bao cấp". TS Nguyễn Quang Tuyến - Đại học Luật Hà Nội thì nhận xét: "Việc áp dụng chế độ bộ chủ quản sẽ làm cho hội bị xơ cứng, gò bó, và nhà nước hoá hoạt động của hội". "Trong bối cảnh hội nhập quốc tế, thiết nghĩ Luật về Hội nên áp dụng chung cho mọi loại tổ chức XHDS, tương tự Luật DN không phân biệt DNNN, DN tư nhân". Từ góc nhìn của XHDS, "cơ quan" chủ quản của hội chính là hệ thống pháp luật, trong đó Luật về Hội là quan trọng bậc nhất. Hội hoạt động và tự chịu trách nhiệm trước pháp luật. Cũng như DN, đến nay cũng không còn cơ chế "bộ chủ quản". Mặt khác, hội có thể được bảo trợ bởi các bộ chuyên ngành, các DN, với phương thức "đặt hàng" nhiệm vụ, hỗ trợ kinh phí... Một xã hội sẽ phát triển bền vững, đạt được một cách hiệu quả các tiêu chí về "công bằng, dân chủ và văn minh" khi được vận hành dựa trên sự hài hoà của "ba đỉnh" thể chế, đó là: Thể chế nhà nước; Thể chế thị trường; và Thể chế xã hội dân sự. Trong đó sức mạnh của thể chế nhà nước là luật pháp; của thể chế thị trường là lợi nhuận; còn sức mạnh của thể chế XHDS là tuân theo pháp luật, tuân theo thị trường, nhưng thúc đẩy khía cạnh đạo đức, khai thác tính nhân văn, tính cộng đồng. Trong quá trình vận hành hệ thống "3 đỉnh thể chế" này rất cần cảnh giác với những hiện tượng lệch chuẩn, đó là: Nhà nước can thiệp quá sâu vào thị trường (không có thị trường đích thực), hoặc Thị trường mua chuộc Nhà nước (căn bệnh tham nhũng tràn lan). Trong hệ thống "3 đỉnh thể chế", XHDS không nằm lọt trong Nhà nước, nhưng cũng không chống lại Nhà nước, mà là bổ sung, hiệu chỉnh từ trí tuệ, nguyện vọng của người dân. Tiếng nói của một người dân có thể sai nhưng một khi số đông người dân lên tiếng thì chính quyền cần lắng nghe và hiệu chỉnh. Không nên quan niệm một cách cực đoan: XHDS là đối lập với chính quyền, hoặc chính quyền có thể bao trùm hết mọi việc, có thể đại diện cho người dân, và không cần XHDS. Nếu XHDS được trao quyền, được thúc đẩy, được tham dự vào các hoạt động quản lý xã hội thông qua các hội, thì công cuộc phát triển đất nước sẽ thuận lợi hơn, các mục tiêu về kinh tế, xã hội, văn hoá sẽ đạt được trong môi trường đồng thuận cao hơn. Nguồn: http://dddn.com.vn/18850cat113/goc-nhin-tu-xa-hoi-dan-su.htm
http://www.iss.org.vn/index.php?act=csdl_chitiet&muccsdl=15&tin=75
Xã hội dân sự ? Cao Huy Thuần
Xã hội dân sự ?
Cao Huy Thuần
Giáo sư Đại Học Amiens (Pháp)
Bài này nảy ra trong đầu người viết sau khi đọc một bài báo trong Le Monde vào đầu năm nay (24-2-2004) nhan đề : « Sự thức tỉnh công dân của người Trung Quốc». Bài báo tóm tắt và bình luận một bài viết của một tác giả Trung Quốc, Qiu Feng, đăng trong một tạp chí Trung Quốc, Zinwen Zhoukan, nói về « phong trào tranh đấu mới đang xảy ra hiện nay cho dân quyền » tại láng giềng của chúng ta. « Phong trào » ! « tranh đấu »! « dân quyền » ! Nghe mà phát sợ ! Xin minquan xingdong ! Tân dân quyền hành động ! Muốn đọc nguyên văn bài viết, nhưng không phải ai cũng thông như cụ Tú Xương, cống hỷ méc xì đây thuộc cả, cho nên đành dựa theo báo Tây để tóm tắt lại chuyện Tàu.
Tác giả Qiu Feng phân tích hơn chục vụ việc đã gây xôn xao trên báo chí Trung Quốc trong năm 2003. Một số những vụ việc đó chẳng có gì mới, vẫn là địa phương nhũng lạm, công an bắt người trái phép : hoặc bắt người rồi lỡ tay đánh chết, hoặc bắt người rồi giam lâu quá, con trẻ ở nhà chết đói, hoặc bắt người vì có chút tư tưởng hơi khác, chuyện quen thuộc cả. Cái mới là trước đây chẳng ai nghĩ đến việc phải làm rùm beng, bây giờ trở thành chuyện phải nói trong dư luận, trong báo chí. Một số vụ việc khác mới hơn : tranh đấu để có thêm ứng cử viên độc lập trong những bầu cử địa phương ; tranh đấu để bảo vệ quyền sở hữu nhà cửa ... Mới hay cũ, tất cả các vụ việc đó đều mang ba đặc tính : quy tụ được một dư luận quần chúng ; kết tinh được một nhu cầu tôn trọng pháp luật ; thúc đẩy được một chính quyền trung ương, lúng túng giữa mở và khép, thỉnh thoảng phải can thiệp để sửa sai các quan chức địa phương, tác giả các vụ việc gây phẫn nộ. Đó là quang cảnh mới diễn ra trước sân khấu. Đàng sau sân khấu là một tấm phông vĩ đại vẽ lên bao nhiêu dâu biển của thời thế : đô thị bành trướng, doanh nghiệp Nhà nước đang đóng hòm, nông thôn khủng hoảng, dân quê kéo nhau lên thành phố, giai cấp trung lưu áo mũ xênh xang, tầng lớp doanh nhân cất mình bay bổng ... Cái mới ngày nay là càng ngày càng đông dân chúng ý thức phải có luật lệ trong một xã hội đang quá xáo trộn. Chơi còn phải có luật chơi, huống hồ làm ăn ! Giữa tấm phông đó, linh động một lớp người mới, một nghề mới : các luật gia. Chẳng phải ngẫu nhiên mà một trong hai « ứng cử viên độc lập » được bầu vào ủy ban nhân dân địa phương ở Bắc Kinh là một luật gia. Cũng chẳng phải ngẫu nhiên mà một luật gia khác, He Weifang, giáo sư luật ở Đại học Bắc Kinh (Beida), cầm đầu chiến dịch đòi hủy bỏ các trại giam nhốt các cô cậu bụi đời. Gọi là tạm giam hành chánh, có người bị ngược đãi đến chết trong đó. Ai tố cáo những vi phạm đó nếu không phải là luật sư ? Cho nên « kinh tế gia thống trị trong giai đoạn những năm 90 ; luật gia sẽ thống trị trong những năm 2000 ». Mạnh Đức Tư Cưu đâu, hãy sống lại để nghe tác giả bài báo Trung Quốc tuyên bố như vậy. Lột xác qua kinh tế thị trường, xông xáo hết mình vào toàn cầu hóa, chơi nhanh và chơi trội trong WTO, Trung Quốc định tăng gấp đôi số luật sư hiện có (150.000) vào năm 2010. Từ 1999, khái niệm « Nhà nước pháp quyền » được đưa vào Hiến pháp, tuy là cốt lập kỷ cương trong địa hạt kinh tế, nhưng ai biết lúc nào thì biên giới kinh tế mở ra đón nhận những chuyện chính trị lôi thôi ? Thật ra « Nhà nước pháp quyền » cũng chẳng mới gì ; nó đã được khai sinh từ thời Đặng Tiểu Bình, nhưng không phát triển nổi vì báo chí bị kẹt. Cái mới của ngày hôm nay là khái niệm an ninh luật pháp được mạng lưới internet hỗ trợ. Internet ! 80 triệu con chuột ! Mèo nào bắt cho hết ! Trong các vụ việc nêu lên ở trên, phẫn nộ ào ào thổi trên mạng lưới. Cũng như nhiều vụ việc khác xảy ra về sau : một phu nhân lái xe BMW cán chết một phụ nữ nông thôn ; một trùm mafia được tòa án xử khoan hồng ...Internet đi trước, báo chí lội nước đi sau, bất công không thể dìm được như trước. Khác với những năm 80, cao trào phản đối vi phạm dân quyền mang nhiều hình thức mới : khỏi cần mất công phối hợp, tổ chức ; xuất nhập thiên biến vạn hóa ; khỏi cần phất cờ ý thức hệ, cũng khỏi tạc tượng nữ thần Tự Do. Ý thức hệ làm quái gì ? Chỉ cần hô to : áp dụng pháp luật ! Bởi vì pháp luật đã có sẳn rồi ! Đầy tràn trong Hiến pháp ! Cái gì ta chẳng có ? Chỉ thiếu thực hiện thôi ! Cho nên đây không phải là đối lập. Đây là tuân thủ luật pháp. Chỉ có luật, luật và luật, ngoài ra không có gì khác.Tri pháp uý pháp ! He Weifang tuyên bố với Le Monde : « Chúng tôi chuộng kỹ thuật và có tinh thần trách nhiệm hơn hồi 1989 ».
Tôi không biết phong trào của những He Weifang có tương lai gì không, chỉ thấy rằng đó là cách hành động ít không tưởng nhất. Cái mới ở đây là họ bám sát vào những tranh đấu xã hội cụ thể - xã hội chứ không phải chính trị - và lựa chọn lĩnh vực xã hội để hoạt động chứ không phải lĩnh vực Nhà nước. Thay đổi bộ máy Nhà nước ở trên cao là chuyện lấp biển vá trời, họ không màng. Họ quét dọn rác rưởi ở cấp cuối cùng của bực thang. Ấy cũng là áp dụng chính sách của Mao trước đây : trí thức phải đi vào quần chúng. Ngày trước họ bị « đi vào » để được quần chúng cải tạo. Ngày nay họ huýt gió đi vào, với cái mộng cải tạo xã hội. Một « cách mạng nhung lụa » đang diễn ra ở Trung Quốc, như Le Monde viết ? Một phong trào xã hội có thể làm thay đổi « sinh thái chính trị » như Xinwen Zhoukan tuyên dương ? Trong lịch sử - tờ báo viết - những phong trào xã hội lớn thường chẳng bắt đầu như thế sao, khởi thủy đâu mấy ai để ý ?
Tác giả Qiu Feng nêu lên một kinh nghiệm sống của vấn đề thời sự được mệnh danh trong học thuyết và thực tiễn chính trị là « xã hội dân sự » hoăc « xã hội công dân ». Vấn đề có từ lâu, từ lâu lắm rồi, từ trước thế kỷ 18, Hegel và Marx kế tiếp đào sâu, rồi trở nên thời sự từ những năm 80, khi các phong trào chống đối ở Đông Âu tập hợp các đoàn thể - nghề nghiệp, tôn giáo, trí thức, nhân quyền, môi trường ... – nhân danh khái niệm đó để đả kích các Nhà nước áp bức, đòi dân chủ. « Xã hội dân sự », được hiểu như một tác nhân lịch sử mới, đối nghịch với Nhà nước, lan tràn khắp thế giới sau đó. Trung Quốc 2004 là một mô hình đơn sơ nhất, « hòa bình » nhất, hiền lành nhất, hiền lành quá, em hiền hơn cả ma xơ. Tôi mượn chuyện Trung Quốc làm nhập đề để lướt nhìn qua những kinh nghiệm khác, không có tham vọng đi sâu vào vấn đề và xin hạn chế vào hai khía cạnh thôi, hai mối liên hệ : liên hệ giữa xã hội dân sự và các hội đoàn phi chính phủ ; liên hệ giữa xã hội dân sự và Nhà nước trong ước mơ cải tổ. Tất nhiên Việt Nam cũng đang có kinh nghiệm sống này ; tôi nói chuyện người để rút cái hay cái dở.
***
Bức tường Bá Linh sụp đổ, ngọn gió « xã hội dân sự » từ Đông Âu thổi ào qua Phi Châu, rồi qua Trung Á, nơi Liên Sô đang gặp khó khăn ở Afghanistan, qua Trung Đông, mang theo, trong khái niệm đó, hồi kèn thắng trận của chủ nghĩa tự do. Phi Châu là xứ của nghèo đói, lạc hậu, lệ thuộc, áp bức, độc tài, bóc lột, thối rữa, hút máu. Nhà nước do thực dân để lại chỉ là tài sản của người cầm quyền. Luồng gió Đông Âu làm họ run. Bỗng dưng « xã hội dân sự » đến với họ như một đe dọa cụ thể. Phủ định của Nhà nước, khái niệm đó trở thành khẩu hiệu đầu môi của mọi phong trào chống lại Nhà nước, nhất là của các tổ chức viện trợ quốc tế, chính phủ cũng như phi chính phủ. Họ nói với các nhà cầm quyền Phi Châu : ông phải sửa đổi thì tôi mới cấp tiền ; ông không good governance thì tôi cấp tiền thẳng cho các tổ chức xã hội, nghĩa là cho « xã hội dân sự ». Đi với « xã hội dân sự » là chính sách não tủy của các tổ chức « nhân đạo » Tây phương, ở Phi châu cũng như ở Trung Á, Trung Đông. Nhất loạt, họ chỉ trích Nhà nước, xem như khái niệm nhập cảng từ Tây phương, chỉ xã hội mới là thực thể. Đúng quá, nhưng « xã hội dân sự » không phải là xã hội : đó cũng là khái niệm nhập cảng từ Tây phương và chính Tây phương cũng chưa định nghĩa được là gì, bao gồm những ai. Thế thì phải tìm cách định nghĩa trong môi trường hoạt động mới. Ai định nghĩa ? Làm sao định nghĩa một khái niệm khi nó vừa là khái niệm trừu tượng vừa là khí giới cụ thể, vừa là chiến lược lại vừa là ý thức hệ ? Đây là công việc của đầu não tư tưởng, nghĩa là của các Quỹ, các Foundations quốc tế lo về phát triển : Ford, Carnegie, Rockefeller, Endowment for Democracy, kể cả Agribusiness Volunteers Program for the Citizen Network for Foreign Affairs được công đoàn nông dân bự của Mỹ tài trợ. Họ tài trợ các chương trình nghiên cứu. Họ tài trợ các hoạt động tại chỗ của các tổ chức phi chính phủ. Nghiên cứu đại học đi đôi với hoạt động chính trị-xã hội : viện Ibn Khaldoun ở thủ đô Ai Cập là một ví dụ. Liên Hiệp Âu Châu, theo gót Chương Trình Phát Triển của LHQ (UNDP) và của Ngân Hàng Thế Giới, cũng tài trợ các tổ chức phi chính phủ địa phương. Hình ảnh của các tổ chức phi chính phủ thường được gắn liền với các hoạt động nhân đạo, nhưng nếu nhìn kỹ tại chỗ thì số lượng các Phi Chính Phủ thuần túy nhân đạo và y tế xấp xỉ số lượng các Phi Chính Phủ hoạt động cho những dự án xã hội. Hơn nữa, các Phi Chính Phủ nhân đạo thường mở ra thêm một hoạt động song song nhắm « tạo ra » xã hội dân sự : cấp học bổng qua Âu châu, giúp xuất bản báo chí, khuyến khích suy nghĩ về dân chủ, nhân quyền ... Trên đường hướng đó, Médecins Sans Frontières đã sáng tạo ra Fondation Liberté Sans Frontières. Người tài trợ, tác nhân lịch sử, và lắm khi người sáng tạo ra khái niệm chỉ là một. Vô ra thằng cha khi nãy ...
Các Phi Chính Phủ được khai sinh như thế ở Trung Á hoạt động trên ba điểm : tư hữu hóa, như giúp các nông dân độc lập ; tạo không gian « công », như giải phóng phụ nữ, mở mang báo chí ; lần mò vào hang cọp chính trị, như dân chủ hóa, huấn luyện bầu cử. Kết quả là họ cũng tạo được một vài tủ kính trưng bày thành tích dân chủ, nhưng đàng sau tủ kính thường là một thực tế trái ngược. Các chương trình tư hữu hóa nông trường tập thể (kolkoze) chẳng đưa đến đâu, mà nếu có đến thì lại tái lập một giai cấp đại địa chủ gồm các cựu chủ tịch kolkozes : các vị này là kẻ hưởng lộc, hoặc nhờ giữ nguyên khuôn khổ hoạt động kỹ thuật cũ ( kiểm soát đất đai, nước, hạt giống, phân bón, dụng cụ nông nghiệp ...), hoặc biết lợi dụng địa vị để được cấp đất đai thượng đẳng với những điều kiện tối hảo, biết móc ngoặc với chính quyền để hưởng tín dụng, giảm thuế má. Chính họ, chứ không phải nông dân : nông dân vẫn là kẻ làm thuê, là tá điền trên đất nhỏ hơn trước. Ai là xã hội dân sự ?
Tình trạng trí thức làm việc cho các Phi Chính Phủ đó cũng là vấn đề. Họ được lương cao hơn dân bản xứ, gặp lôi thôi với các chính quyền sở tại thì được làm rùm beng, được chuyển đi nơi khác, nghĩa là họ góp phần vào việc làm chảy máu chất xám. Nhiều trí thức đánh mất luôn cả thiên chức trí thức khi được tuyển để làm những việc thừa hành, như viết báo cáo, dù là báo cáo về tình trạng dân chủ, nhân quyền. Họ là cộng tác viên bản xứ của các mạng nhện liên quốc gia, không phải là nhân tố nội tại của một nền dân chủ đích thực, sao gọi là xã hội dân sự được ? Nhiều Phi Chính Phủ nuôi chính trị gia tập sự chờ ngày thay thế độc tài trong viễn ảnh dân chủ hóa. Họ nuôi như nuôi gà đá, quên mất rằng gà đá thì phải ra sân thường xuyên, nuôi mãi trong lồng nó đá hết nổi, chạy thôi.
Khi quốc tế xen vào như thế để làm bà mụ cho « xã hội dân sự », hơn thế nữa, để cho hài đồng mượn bụng từ trứng của mình, họ cũng cho mượn luôn cả tư tưởng về Nhà nước. Nhà nước bị chỉ trích như là một định chế. Một định chế vô ích, vô dụng, cái gì « công » là hỏng bét, sáng kiến là « tư », năng nổ là « tư », tinh hoa là các hội đoàn ở gốc ngọn cỏ, grass-root là đỉnh cao của trí tuệ mới, xã hội dân sự là gốc của phát triển. Nói thế không sai hẳn, chỉ lồ lộ trong ngọc trắng ngà hệ ý thức tân tự do : Nhà nước là hiện thân của cưỡng bức, xã hội dân sự là hiện thân của tự do, bên này lớn thì bên kia nhỏ. Ôi Phi Châu hỡi Phi Châu, dẹp độc tài, dẹp bất lực, đâu có phải là vất Nhà nước vào sọt rác ? Trái lại ấy chứ ! Ví thử dùng xã hội dân sự để chống Nhà nước độc tài, để dân chủ hóa : đến một giai đoạn nào đó của tiến trình tranh đấu, làm sao xã hội dân sự làm trọn vai trò dân chủ của mình nếu không tham gia vào bầu cử, vào sinh hoạt chính đảng, vào đời sống chính trị, nghĩa là vào xã hội chính trị ? Cho rằng xã hội dân sự cứ tồn tại ở mức tự túc, tự quản là tự huyễn hoặc mình và huyễn hoặc người, nếu không phải là nuôi ý định xây dựng quốc gia trong quốc gia như các tổ chức tôn giáo vẫn có trong đầu. Xã hội dân sự có thể tự chủ, nhưng giữa nó và xã hội chính trị phải có qua có lại nếu muốn nói dân chủ. Tình trạng xã hội nuốt trọn Nhà nước là tình trạng gì, các ông Phi Chính Phủ biết rõ hơn ai hết : ấy là tình trạng vô chính phủ. Ấy là Somalie, là Libéria, là Sìerra Leone, là Rwanda, là Congo, là Hutu-Tutsi, là người giết người như ngoé. Hễ Nhà nước yếu thì xã hội dân sự cũng yếu, không đủ sức chế ngự, kiểm soát, vận động tiến lên dân chủ một tập thể bát nháo, hỗn loạn. Ngược lại, hễ xã hội dân sự mạnh, nó tham gia chính trị, nó làm vững chắc Nhà nước, nó tạo tính chính đáng cho Nhà nước, nó thúc đẩy Nhà nước dân chủ. Hình như Ngân Hàng Thế Giới, tổng hành dinh của chủ thuyết tự do, đã thấm bài học Phi Châu rồi. Biểu lộ qua sách vở, tác giả Th. Skocpol hô hào khẩu hiệu mới : Bringing the State back in ! Trả lại Nhà nước cho Phi Châu ! Họ chỉ no độc tài thôi và ai cũng đói Nhà nước dân chủ.
***
Trong các nước Hồi giáo, khái niệm xã hội dân sự lại còn rắc rối hơn nữa vì ngoài cách nhìn của tự do chủ nghĩa mà ở đâu cũng có người chủ trương, còn cách nhìn của các lực lượng Hồi giáo, và trong lòng các lực lượng này, có phe cực đoan hơn, có phe phóng khoáng hơn, càng nhiều phe phái càng lắm trường ốc, tuy tất cả đều lấy danh nghĩa xã hội truyền thống. Như vậy là có thêm phân biệt nữa : xã hội truyền thống không phải là xã hội dân sự hay công dân.
Nói chung, và để đơn giản hóa vấn đề, theo cách nhìn cực đoan, xã hội truyền thống đã có sẳn phương pháp để giải quyết tranh chấp và tạo dựng một không gian chính trị khác với các chế độ độc tài hiện hữu. Vậy thì Nhà nước không cần can thiệp. Một ví dụ : luật Hồi giáo charia. Charia đã có sẳn rồi, đâu cần Nhà nước, đâu cần có cái gọi là Nhà nước, đâu cần biết đến khái niệm Nhà nước ! Đâu cần phải có Nhà nước làm ra luật để áp dụng charia. Ăn cắp, ngoại tình (đàn bà thôi) ... đã có charia trừng trị ; chặt tay, hành quyết đã được minh định hẳn hoi, các đoàn thể - gia đình, xã hội ... - cứ thế mà áp dụng. Cách nhìn này củng cố vị thế tự quản của xã hội truyền thống chống lại Nhà nước, hay ít nhất cũng hạn chế Nhà nước, xem như đáng nghi.
Phóng khoáng hơn, cách nhìn thứ hai vừa chống độc tài vừa chống cực đoan. Cũng nhấn mạnh vị thế tự trị của tôn giáo, khuynh hướng này muốn đúc kết và phát triển một hạt nhân Hồi giáo trong lòng xã hội truyền thống, xã hội truyền thống và “xã hội Hồi giáo” không nhất thiết đồng nhất. Cái mới của khuynh hướng này là nêu cao sự lựa chọn tự ý của tín đồ trong lĩnh vực công dân khi phải tham gia vào chính trị. Lòng tin tôn giáo là nền tảng của xã hội và của cả tự do cá nhân ; xã hội đoàn kết, củng cố là nhờ xây dựng trên lòng tin. Cũng vậy, hễ có lòng tin dẫn đường chỉ lối thì sự tham gia vào chính trị của tín đồ sẽ không còn tính cách ràng buộc nữa mà thành ra tự ý, tự do. Trong xã hội, lòng tin còn khiến cho tính tôn giáo tách ra khỏi những ràng buộc truyền thống của gia đình, bộ tộc, chức sắc. “Xã hội dân sự Hồi giáo” là một xã hội gồm những công dân mà tương quan với Nhà nước không còn phải đi qua trung gian của các chức sắc tôn giáo, tuy họ là những công dân có tín ngưỡng và khi bầu phiếu lấy tín ngưỡng làm gốc, dập tắt các đam mê khác, kể cả đam mê ý thức hệ. Nước Mỹ đã xây dựng trên các công dân Tin Lành Puritains, tại sao các nước Hồi giáo không xây dựng được trên những công dân Hồi giáo ?
Dựa trên cam kết cá nhân như thế, khuynh hướng này nhắm phát triển những tổ chức liên đới, những mạng lưới hoạt động dệt bằng tham gia tự nguyện tương tự như những tổ chức tôn giáo của Mỹ. Trên thực tế, khi các người Hồi giáo ngày nay nói “xã hội dân sự “, họ nghĩ đến những mạng lưới, những không gian chống đối tự quản, tự chủ, trong đó tương quan phe cánh, bộ tộc không thiếu vắng. Fis, Rafah, Hezbollah được tổ chức như vậy. Đây cũng là một thứ xã hội dân sự chống lại Nhà nước, không đi xa hơn trong việc tổ chức chính trị thành quốc gia. Một quốc gia có bao giờ chỉ bao gồm thuần nhất những người tự nguyện mà thôi đâu ! Sinh hoạt chính trị có những quy luật rộng hơn, ít nhiều cưỡng bức chứ không phải chỉ tự nguyện, và mang một nội dung khác với nội dung “sống theo Hồi giáo “ mà khuynh hướng này chủ trương.
Đó là những cách nhìn khác nhau về xã hội dân sự, khác nhau vì chiến lược đối với các Nhà nước hiện hữu không giống nhau. Nhưng dù định nghĩa xã hội dân sự như thế nào đi nữa, khí giới để xông trận đều cùng một thứ, toàn là xe pháo mã Phi Chính Phủ. Các nhà quan sát trố mắt ngạc nhiên trước sự bành trướng nhanh chóng của hiện tượng phi chính phủ ở các nước Hồi giáo Trung Đông, Trung Á. Ba loại hội đoàn có mặt khắp nơi. Thứ nhất là các advocacy NGO, khỏi cần nói ai cũng biết, can thiệp trong lĩnh vực nhân quyền, dân chủ, môi trường, phụ nữ ... Thứ hai là các hội đoàn kinh tế-xã hội. Toàn cầu hóa và tự do kinh tế khiến các chính quyền phải xoay vần theo tình thế, thả lỏng một số lĩnh vực hoạt động cho các đối tác phi chính phủ - quốc gia và quốc tế - để nhận tiền từ bên ngoài mà vẫn được tiếng là tín đồ thuần thành của good governance. Các Phi Chính Phủ này lãnh thầu các dự án phát triển : nước ở nông thôn, nhà cửa, y tế, tín dụng nhỏ ... Họ tập hợp được một số dân ai giúp thì theo, tiếp tay với chính quyền hoặc thay thế chính quyền mà giúp, tham gia vào cai quản hay cai quản bằng cách tham gia, tiếng Pháp gọi là gouvernance participative. Thứ ba là các hội đoàn tôn giáo – nghĩa là Hồi giáo. Họ kết hợp những hoạt động tương trợ, những sinh hoạt tôn giáo và những dự án chính trị để mệnh danh, và được xem là những hội đoàn “xã hội toàn diện “, khác với hai loại trên chỉ nhắm những hoạt động đặc thù. Trên điểm này, họ tự cho là đã vạch ra đường nét của một “tập thể song song”, một xã hội công dân được quan niệm như giải pháp thay thế cho trật tự chính trị hiện hữu. Họ cho là có cơ sở để nói như vậy, vì mạng lưới của họ khá dày, quần chúng khá đông, quy tụ trong những tổ chức cổ truyền khá lớn, dự án chính trị “tân tiến”.
Đó là sơ lược về khái niệm và chiến lược xã hội dân sự. Bây giờ là kết quả. Các « xã hội dân sự » đó có giúp gì được vào công cuộc dân chủ hóa chăng ? Có hai cách trả lời. Cách thứ nhất lạc quan : thế giới Ả Rập có vẻ đi vào một tiến trình tích cực của hai phát triển song song, về xã hội dân sự và về dân chủ. Tuy đang còn phôi thai, khi lên khi xuống, khi nắng khi mưa tùy thời tiết chính quyền, xã hội dân sự đã sống lại, đời sống chính trị đã mở ra, các đảng phái chính trị mọc thêm, bầu cử được tổ chức, Quốc hội không phải chỉ có một thành phần, cạnh tranh bắt đầu có, ít nhất cũng giữa bảo thủ và tiến bộ trong lòng các lực lượng Hồi giáo, phụ nữ được bầu vào các cơ quan dân cử. Trong vài nước, cuộc chơi tay ba Nhà nước / xã hội dân sự / xã hội tôn giáo cổ truyền đã loại ra khỏi vòng chiến xã hội dân sự, nhưng trong vài nước khác, như Jordanie, Koweit, Yémen, Liban, con đường dân chủ hóa sáng sủa hơn, xã hội dân sự thương thuyết với Nhà nước để làm cải cách và đọ sừng với quá khích không cho lấn tới.
Cách trả lời thứ hai thận trọng hơn. Tính cách đa nguyên vừa nói rất hạn chế, bị kiểm soát chặt chẽ, hữu danh vô thực. Đây chưa phải là dân chủ hóa mà chỉ là mở dây thòng lọng cho dễ thở, libéralisation. Cũng chẳng phải xã hội dân sự là đầu mối của thay đổi ; thay đổi phát xuất từ chính sách của nhà cầm quyền dù ở Ai Cập, ở Jordanie, ở Koweit, ở Tunisie hay ở Maroc, tùy lúc mà thắt hay mở : cái thòng lọng mở ra chính là để tránh dân chủ hóa. Nếu so sánh với chính sách mở thòng lọng tương tự trước đây ở các nước Nam Mỹ - Brésil, Uruguay, Chili - tiến trình đang diễn ra ở các nước Ả Rập cũng giống như cô gái đẹp ngủ trong rừng dụi mắt thức dây nhưng bàng hoàng chẳng biết có ai hôn chưa.
***
Bây giờ, tôi nói về xã hội dân sự ở một nước gần chúng ta hơn, cũng Hồi giáo nhưng ở Đông Nam Á với chúng ta : Indonesia. Ai cũng còn nhớ, nước này lật đổ Suharto năm 1998, vẫy tay từ giã độc tài, hồ hởi bước vào con đường dân chủ hóa. Trong suốt giai đoạn quyết liệt đó, bốn chữ xã hội dân sự được thêu trên lá cờ tiên phong của phe xung kích, nỏ thần bắn vào Nhà nước độc tài và con mãng xà Thị Trường. Kinh nghiệm sau đó cho thấy anh hùng dân tộc xã hội dân sự có cái tên để gọi mà không có cái mặt rõ ràng để chụp hình : ông gồm những ai ? Ai là các nhóm xã hội cầm đầu cải tổ ?
Suharto lên cầm quyền năm 1965, sau một cuộc đảo chánh tắm máu. Đảng Cộng sản đang mạnh thế kia bị đứt phứt cái đầu. Ai bênh vực hai bàn tay sắt của ông có thể nêu thành tích kinh tế thực hiện được sau 33 năm ròng chuyên chế : Tổng sản lượng quốc nội (GDP) tăng trưởng trên 7% mỗi năm, lợi tức đầu người tăng lên mười lần, số lượng người nghèo giảm từ 60% xuống 11%. Tăng trưởng kinh tế đưa đến những thay đổi cấu trúc trong toàn thể xã hội, nhất là sự lớn mạnh của khu vực tư. Lúc đầu, phát triển dựa trên tư bản Nhà nước và các nhà kinh doanh kề cận chính quyền ; sau, Nhà nước cho phép các tập đoàn lớn hoạt động, do người Hoa điều khiển, làm ăn chung với giới quân nhân và với một nhúm thế lực gân cốt trong đó có gia đình Suharto. Tuy vậy, cùng với phát triển kinh tế, các nhà kinh doanh nhỏ cũng được dịp phất lên - một cách lương thiện hơn - và khu vực tư, từ phía dưới, vươn lên, trổ nhánh, đa dạng. Một thị trường xuất hiện, mức tự chủ càng ngày càng cao.
Song song với việc lớn mạnh của khu vực tư, Nhà nước thu hẹp bớt lĩnh vực của mình, không phải chỉ vì cái luận lý hễ « tư » lớn thì « công » nhỏ, mà còn vì sức ép của các tổ chức tài chánh quốc tế mà thánh kinh là chủ nghĩa tự do. Toàn cầu hóa đòi hỏi phải giới hạn các biện pháp bảo vệ thương mại, rút bớt các trợ cấp, mở toang cửa ngỏ, buồng the.
Tư hữu hóa và cách mạng ngân hàng làm thay đổi bộ mặt kinh tế : kể từ 1988, ngân hàng tự do sáng lập, sinh sản rất nhanh. Nhưng tham nhũng sinh con đẻ cái còn nhanh gấp bội, làm yếu Nhà nước. Đồng thời, các tập đoàn kinh tế gốc Hoa, trước đây nằm dưới quyền sinh sát của Suharto, bây giờ mình đồng da sắt, trở mặt đương đầu chủ cũ ở khúc ngoặc 1997-98, giữa cơn khủng hoảng Á châu, lúc đồng roupie trượt giá như bôi mỡ, thị trường chứng khoán hối hả trụt theo.
Về mặt xã hội, chính sách phát triển kinh tế từ phía trên Nhà nườc cũng đưa đến nhũng thay đổi rộng lớn, nhất là sự xuất hiện của những tầng lớp xã hội mới, đặc biệt là giai cấp tư sản : tiểu tư sản quan chức hành chánh, tiểu tư sản quan chức chính trị, tư sản kỹ nghệ, tư sản tài chánh ... Kỹ nghệ hóa làm phát sinh giai cấp công nhân càng ngày càng đông ; cách mạng xanh làm mọc ra những tầng lớp nông dân mới. Tất cả các tầng lớp xã hội mới đó làm thay đổi tương quan lực lượng giữa giới công chức và giới « dân sự ». Dân chúng không còn bị thôi miên nữa vì hào quang của binh phục hoặc của chức tước bàn giấy, bây giờ ngoảnh mặt nhìn về phía xu hào rổn rảng của các nhà kinh doanh tư. Xã hội nói chung chiếm được một vị thế tương đối tự chủ đối với Nhà nước nhờ bước chân đi lên của thị trường cùng lúc với bước chân đi xuống của những thế lực địa phương cổ truyền. Nhà nước độc tài Suharto làm nảy ra nhiều nhóm xã hội có khuynh hướng, nếu không phải là dân chủ thì ít ra cũng tự do phóng khoáng. Nhưng đó có phải thực sự là xã hội dân sự không ?
Đúng hơn, cảnh sắc xã hội mới ở Indonesia vẽ ra một xã hội tư sản trong đó hoạt náo nhất là các tân phú gia, les nouveaux riches, sống trong các đô thị được chia khu vực tùy mức giàu sang, tùy kiểu sống mới. Khái niệm căn bản được nói nhiều trong những năm 80 là « giai cấp trung lưu ». Tranh luận diễn ra trên thái độ của giai cấp then chốt đó : họ sẽ ngả theo ai, theo gió dân chủ phiêu lưu hay theo quạt nồng ấp lạnh yên ổn của Suharto ?
Giữa lúc trung lưu đang lừng khừng như thế giữa hai hấp lực thì sự biến Đông Âu bùng lên, lan ảnh hưởng đến tận bàn giấy của tổng thống. Dù chỉ là hình thức thôi, Suharto mở dây thòng lọng : trí thức Indonesia nhanh chóng so sánh xứ sở của mình với tình trạng Đông Âu, thấy sao chẳng đẻ sinh đôi mà giống nhau, cũng Nhà nước béo phệ, cũng xã hội dân sự xương bọc da. Nhưng ảnh hưởng chẳng phải chỉ đến từ phía Đông Âu mà còn từ phía Hồng Mao, từ các đại học Mỹ, lò xuất thân của các trí thức mới, cậu ấm cô chiêu trung lưu, đầu óc đầy lý tưởng trong sáng và đầy tam tự kinh « civil society ». Tay trong tay, lòng bên lòng với các Phi Chính Phủ Anh-Mỹ, Hà Lan, Đức, Đan Mạch-Na Uy-Thụy Điển, họ khám phá thiên đường tưởng tượng của chủ nghĩa tân tự do, đánh cuộc trên khả năng sáng tạo của các tập thể quần chúng ở gốc ngọn cỏ. Họ buộc ông vua Nhà nước phải trở về nằm đúng chỗ mà ông phải nằm trên long sàng, nhường chỗ mà ông phải nhường cho bà hoàng hậu thị trường. Tư hữu hoá và phi điều tiết (dérégulation) phải đóng khung Nhà nước vào nhiệm vụ giữ nước, giao phó cho xã hội dân sự - nghĩa là các đoàn thể - những nhiệm vụ quản lý khác. Nhà nước tốt là Nhà nước tý hon, tức là Phù Đổng Thiên Vương lúc chưa vươn vai.
Nhập cảng nguyên si, khái niệm civil society chẳng có gì là Nam Dương Quần Đảo cả lúc khởi thủy. Nhưng toàn cầu hóa tạo tính phổ thông cho nó và gắn cho nó tiếng còi ò e của xe cứu thương lúc Nhà nước Suharto lâm trọng bệnh. Thiên thời, địa lợi, nhân hòa, các tổ chức tài chánh quốc tế buộc tổng thống đã mất hai bàn tay sắt áp dụng chương trình tân tự do của họ - nghĩa là tạo chất sống cho xã hội dân sự và hạn chế Nhà nước. Từ 1998 đến 2001, Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế không những bắt Indonesia phải nuốt trôi những biện pháp cải tổ cấu trúc cực kỳ khó nuốt mà còn buộc giải tỏa cả chính sách bảo vệ thương mại. Indonesia phải há họng ra mà nuốt nhục ba tháng một lần vì cứ mỗi ba tháng phải ký thỏa ước lại với Quỹ về những thực hiện cam kết, nếu không thì Quỹ cúp viện trợ tài chánh.
Lắp ghép từ ngoại quốc, khái niệm xã hội dân sự tuy vậy cũng dần dần thích ứng với hoàn cảnh địa phương, rồi được dùng như một khẩu hiệu tranh đấu. Trí thức, Phi Chính Phủ, chính trị gia tập sự, sinh viên, lãnh tụ tôn giáo, nghiệp đoàn bất hợp pháp ... tất cả những lực lượng chống đối đó bỗng tạo ra được một khả năng thay thế với sự xuất hiện của các chính trị gia tên tuổi, lãnh đạo các đảng tôn giáo (Abdurrahman Wahid, Amien Rais) và của bà Magawati Sukarno rất được lòng dân. Danh từ xã hội dân sự bây giờ được dùng để chỉ tất cả những gì không phải là Nhà nước. Ngay cả trong Nhà nước, quân đội trở thành hạt nhân cứng đối nghịch với công chức bây giờ được xem là « dân sự », gần gũi với civil society. Trong ngôn ngữ chống đối, xã hội dân sự được cố ý đồng hóa với xã hội của dân sự, nghịch với xã hội của nhà binh. Mục tiêu của phe xã hội dân sự là tóm cổ Nhà nước để « dân sự hóa » nó, nghĩa là « văn minh hóa » nó, và dùng nó để ... đẻ ra nó theo kiểu vòng tròn đẻ ra vòng tròn. Chế độ tương lai sẽ là dân chủ tự do, xây dựng trên good governance để dẹp cái nạn tam đa tham nhũng - phe cánh - họ hàng. Xã hội dân sự sẽ là tác nhân, đầu tàu cho cải tổ, do đó phải được tăng cường sức mạnh bằng một nội lực mà tôi không biết phải dịch thế nào : empowerment.
Trên cội rễ đó, cây xã hội dân sự có thể chia ra nhiều nhánh mà hai nhánh chính là « thế tục » và « Hồi giáo dấn thân ». Nhánh thứ hai chủ trương không thể phân biệt tôn giáo và chính trị ; nhánh thứ nhất cho rằng được và nên phân biệt. Khác nhau giữa hai nhánh, do đó, là vị thế của Hồi giáo trong lòng xã hội dân sự. Giới Hồi giáo muốn Hồi giáo hóa xã hội dân sự, tẩy bớt ảnh hưởng Tây phương trong đó. Họ nói : thay vì civil society, ta hãy gọi masyarakat medina - xã hội lý tưởng ở Médine, kinh đô của Giáo Chủ. Ở đây, cũng như ở các nơi khác, khái niệm xã hội dân sự vẫn mờ mờ ảo ảo, vừa là phương tiện để đi đến dân chủ chưa rõ nội dung, vừa là trạng thái lý tưởng của xã hội. Masyarakat medina vừa là cứu cánh vừa là phương tiện.
Mờ ảo, vậy mà ai cũng nói, ai cũng nghĩ như là một dự án chính trị mà thành phần chủ lực là giai cấp trung lưu. Rồi nói giai cấp trung lưu, ai cũng nghĩ đến trí thức, nhà báo, nghề nghiệp tự do, doanh nhân, nhất là bộ ba đặc biệt tích cực trong cuộc tranh hùng với Suharto : các đảng phái chính trị dân sự, sinh viên, Phi Chính Phủ. Còn một thành phần nữa, chẳng nghe ai xếp vào xã hội dân sự tuy là giai cấp trung lưu chính hiệu bà lang trọc : các chú Ba Tàu. Được tuyên dương như vĩ nhân của thời đại dân chủ, các Phi Chính Phủ bao gồm đủ loại : nhân đạo, y tế, xã hội, bênh vực phụ nữ, môi trường, advocacy nhân quyền, chính trị, và thường do giới trẻ điều khiển, vì lý tưởng. Nhưng không phải ai cũng lý tưởng, không thiếu gì PCP lập ra để làm bàn đạp cho các NGO Tây phương ráo riết săn lùng tay chân trên khắp địa cầu.
Quan tài của chế độ Suharto được hạ huyệt tháng 5-1998. Kèn thắng trận của xã hội dân sự thổi lên lúc các chính đảng lớn nhất, Nahdatul Ulama và Mahammadiyah, tự xếp mình vào hàng ngũ xã hội dân sự, bên cạnh các Phi Chính Phủ. Với cả chục triệu quần chúng, với tên tuổi chính trị lâu đời, lại thêm được chính nghĩa Hồi giáo yểm trợ, các chính đảng đó chở Wahid và Rais trên xe tăng, húc vảo chiếc gậy ba toong của tổng thống, làm ngài té.
Xã hội dân sự chiến thắng ! Than ôi, khó khăn đầy dẫy. Quân đội chống lại cải tổ, gây ra bế tắc, làm yếu Nhà nước đang lúc mà nó phải mạnh để giữ trật tự. Xã hội xáo trộn, bất chấp kỷ cương, đốt nhà, chém giết, cướp bóc, loạn lạc, đang lúc mà dân chủ cần yên ổn để mọc rễ. Khủng hoảng kinh tế, khủng hoảng xã hội, thất nghiệp ... gây thêm căng thẳng dân tộc, tôn giáo, đưa đến đòi hỏi tự trị lãnh thổ, ly khai Thế là xã hội dân sự ? Thế là xã hội công dân ?
Kết luận gì đây trong trường hợp Indonesia ? Không thể có xã hội công dân nếu không có Nhà nước xứng đáng với tên gọi. Cũng như thị trường cần phải có nguyên tắc, cơ chế điều tiết để hoạt động đàng hoàng, xã hội công dân cần một Nhà nước ổn định, vững chắc. Mặt khác, thay đổi chế độ đòi hỏi một giai đoạn chuyển tiếp có trật tự, nếu không thì chỉ có thay đổi từ cái xấu này qua cái xấu khác. Dân chủ hóa phải là một sự cộng tác thực lòng giữa Nhà nước và xã hội dân sự.
***
Đó là kết luận riêng cho một trường hợp cá biệt. Bây giờ kết luận chung. Khởi thủy của vấn đề là sự phân biệt, ở đâu cũng thấy, bao giờ cũng thấy, giữa hai lĩnh vực công và tư trong đời sống con người . Nhưng thế nào là công thế nào là tư, đâu là biên giới giữa công và tư, là chuyện tranh luận liên miên, không dứt, cùng với diễn tiến của tư tưởng chính trị, nghĩa là bao giờ cũng nhuốm đậm màu sắc ý thức hệ. Từ câu hỏi đó, học thuyết kinh tế và chính trị ở phương Tây phát triển ra, đồng hóa tình trạng lưỡng phân công / tư với lưỡng phân Nhà nước / xã hội dân sự hoặc công dân. Chủ nghĩa tư bản tràn vào câu hỏi đó để tách biệt hoạt động kinh tế, hoạt động thương mại ra khỏi lĩnh vực công, lĩnh vực Nhà nước, và tuyên bố : lĩnh vực kinh tế không phải là lĩnh vực của Nhà nước, đó là lĩnh vực của tư nhân, do đó thị trường thuộc vào xã hội dân sự. Song song với xác quyết đó, chủ nghĩa tự do đưa ý thức hệ vào ngay, quả quyết rằng tự do cạnh tranh mang lại cho xã hội dân sự khả năng tự điều tiết - với điều kiện là không được có một can thiệp nào ngoài can thiệp kinh tế vào những trao đổi kinh tế. Nghĩa là Nhà nước không được can thiệp. Nói như vậy, các lý thuyết gia của chủ nghĩa tự do mô tả đúng một thực trạng mới, khuynh hướng mới, diễn ra trước mắt mọi người, nhưng họ không phải chỉ mô tả, họ còn nâng sự mô tả lên thành nguyên tắc, quy luật, như thử phát xuất từ bản chất của sự vật, của thiên nhiên, của chân lý muôn đời. Từ đó, Nhà nước là xấu, vì cưỡng bức ; xã hội dân sự là tốt, vì tự do. Nhà nước toàn trị xít-ta-lin góp phần đắc lực vào tín xác đó, vun bón cho mầm mống chống đối ở Đông Âu mọc lên cành lá vào những năm 80, tạo hứng cho những phong trào chống đối khác trên thế giới, phô trương xã hội dân sự như phe kháng chiến, như giải pháp thay thế, như « cuộc đời độc lập », như « cuộc đời thứ hai », như « lãnh địa song song » nói theo văn chương của Vaclav Havel, tổng thống Tiệp kiêm cựu tù nhân ly khai.
Đứng về mặt nhận thức khoa học, không có gì lầm lẫn cho bằng, bởi vì không thể vạch ra biên giới giữa Nhà nước và xã hội dân sự cũng như không thể vạch ra biên giới giữa chính trị và phi chính trị. Chỉ vì chế độ toàn trị chủ trương cái gì cũng là chính trị cả, nghĩa là cái gì cũng phải do Nhà nước kiểm soát, cho nên phe đả kích vẽ vòng đai xã hội dân sự phi chính trị để chống lại. Nhưng ai mà chẳng thấy chính trị xâm nhập vào mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, kể cả đời sống thường ngày ? Làm gì có một xã hội chính trị thuần túy nằm cạnh một xã hội dân sự thuần túy ? Lấy đâu ra những tổ chức chính trị, khi phong trào tranh đấu lên cao, nếu không phải từ xã hội dân sự ? Cái này từ cái kia mà ra, hai bên qua lại lưu thông với nhau, nếu không, làm sao ông Vaclav Havel lên được tổng thống ? Từ đó, đứng về mặt hành động chính trị, nói rằng tôi tranh đấu cho xã hội dân sự mà thôi là « nói vậy mà không phải vậy ». Trong đầu người nói, có hình ảnh một Nhà nước đáng ghét và hình ảnh một Nhà nước đáng ưa. Đối tượng tối hậu của người nói là Nhà nước, không phải xã hội dân sự, dù người đó là con châu chấu He Weifang giương hai càng trước cổ xe tăng một cách nực cười.
Ước mơ của người viết bài này là chẳng ai đá ai cả. Tới một mức phát triển kinh tế xã hội nào đó, chế độ chính trị không thể cưỡng lại được quy luật tự nhiên là thay đổi theo. Chẳng lẽ thể xác thanh niên mười tám mà cứ bận hoài quần áo mười ba ? Đừng để bên ngoài can thiệp, cũng đừng bị động nay mở mai khép, Nhà nước hãy chủ động nắm tương lai dân chủ cùng với sự hợp tác tích cực của xã hội dân sự. Giữa Nhà nước tham nhũng với xã hội dân sự vô đạo đức, liên hệ nhân quả xoáy vòng tròn, đây là nhân mà đây cũng là quả, cái này cắt nghĩa cái kia và ngược lại. Thì cũng vậy giữa Nhà nước dân chủ và xã hội dân sự dân chủ : chỉ một Nhà nước dân chủ mới tạo ra được một xã hội dân sự dân chủ ; chỉ một xã hội dân sự dân chủ mới tạo ra được một Nhà nước dân chủ. Hãy như thế với nhau để tiến lên dân chủ, từng bước, thực lòng, thay vì đàn áp, chống đối, hạ bệ, thay thế nhau. Phải chăng Hội Thảo này là một hình ảnh ?
Chú thích :
Tài liệu về civil society quá nhiều, xin tóm lược vài sách chính cần tham khảo, không phân biệt quan điểm :
Về định nghĩa và lịch sử khái niệm trong học thuyết ở phương Tây, bài viết sáng tỏ nhất, theo tác giả, vẫn là : Danièle Lochak : La socìété civile : du concept au gadget, trong : La socìété civile, CURAPP/PUF 1986. Tác giả là giáo sư luật có tiếng của Pháp, dạy tại đại học Amiens và Paris X-Nanterre. Xem các bài khác trong sách đó.
Về Phi châu, xem René Otayek : Identité et démocratie dans un monde global, Paris, Presses de Science Po, 2000.
Câu nói của Th. Skocpol (“Bringing the State back in”) lấy trong quyển sách cùng tên xuất bản cùng với các tác giả khác, Cambridge, CUP, 1985.
Về các nông trường tập thể (kolkhoz) ở Trung Á, xem Olivier Roy: Kolkhoz and civil Society in the Independant States of Central Asia, trong : H. Ruffin § D. Waugh (eds) : Civil Society in Central Asia, University of Washington Press, 1999.
Về chuyện “đơn đặt hàng”, chỉ đưa ra một ví dụ : dự án khổng lồ Civil Society in the Miđle East Project, do Augustus Richard Norton điều khiển, kéo dài trong suốt 3 năm, được Ford và Rockefeller Foundation tài trợ và sau đó được xuất bản thành một chuỗi sách, mỗi quyển dành cho mỗi nước. Kể thêm một ví dụ nữa : trung tâm Center for Civil Society International do Carnegie tài trợ đã điều khiển xuất bản nhiều sách trong đó có thể kể quyển Civil Society in Central Asia. Xem trong sách này danh sách các Tổ chức Phi Chính Phủ (NGO) hoạt động tại Trung Á.
Tôi dùng từ “Phi Chính Phủ“ một cách miễn cưỡng, vì ai cũng biết thường thường đàng sau các “Phi Chính Phủ “ ấy là các chính phủ. Bởi vậy tôi gọi đùa là Phi Chính Phủ cho gọn, thay vì dài dòng “tổ chức phi chính phủ “.
Về Viện Ibn Khaldoun ở Ai Cập : Viện này do Saad Eddin Ibrahim, giáo sư tại Đại Học Mỹ ở thủ đô Le Caire, sáng lập và điều khiển. Tên của Viện là Trung Tâm nghiên cứu về phát triển Ibn Khaldoun. Viện xuất bản một tạp chí tam cá nguyệt lấy tên là Civil Society. Hoạt động của Ibrahim tất nhiên là nhắm đả kích chính quyền hiện hữu. Nhưng chuyện đáng nói ở đây là trí thức Ai Cập, tả cũng như hữu, không hưởng ứng bao nhiêu hành động của ông vì họ chống lại việc nhập cảng những giá trị từ Tây phương. Ngoài ra, vì Viện do Mỹ tài trợ và độc lập tài chánh đối với chính quyền Ai Cập, trí thức bản xứ, sống với đồng lương thấp kém, không khỏi có chút tỵ hiềm. Ngày 21-5-2001, Ibrahim bị Tòa Án An ninh quốc gia kết án 7 năm tù vì tội hoạt động nghiên cứu về dân chủ và xã hội dân sự. Bản án bị Tòa Phá Án hủy bỏ ngày 6-2-2002. Trong khi chờ đợi xử lại, Ibrahim được “tự do”.
Câu bình luận lạc quan “civil society in the Arab world has revitalised itself in the last two decades “ là của Ibrahim. Về quan điểm của ông này, có thể xem một bài viết trong International Political Science Review 19 (4) 1998, nhan đề : The Troubled Triangle : Populism, Islam and Civil Society.
Về xã hội dân sự và Hồi giáo, xem A.R Norton (ed) đã nói ở trên, Civil Society in the Midđle East, vol I, Leiden, E.J Brill, 1995. Xem thêm S. Mardin, Civil Society and Islam, trong : J.A Hall (ed), Civil Society, Theory, History, Comparison, Cambridge, Polity Press, 1995.
Cuối cùng, tạp chí Revue Internationale de Politique Comparée, Vol 9, n° 2, Eté 2002, ra một số đặc biệt về : Démocratie et socìété civile, une vue du Sud.
Chia sẻ: