Triết Lý, để làm gì ?

Khi ta bế tắc tư tưởng, chân thật công nhận rằng những kiến thức và phương pháp suy luận của ta không cho phép ta sống, tư duy và hành động khớp với khao khát làm người của ta, ngoài vô vàn cách ứng xử khác, ta có thể:

a) Tiếp tục sống, tư duy và hành động như cũ vì, dù sao, ta cũng sống được, không đến nỗi nào

b) Lột áo cũ, khoác áo mới, một tấm áo coi lành lặn đẹp đẽ hơn nhưng cũng hàm hồ không thua gì. Điều ấy luôn luôn khả thi bằng ngôn ngữ.

c) Đi tới cùng bế tắc của chính mình. Nếu không giải quyết được nó, ta ôm nó xuống suối vàng, để lại ở đời chỉ một câu hỏi. Câu hỏi của một con người. Đích thực. Có gì nhục đâu?

Nếu ta tưởng ta đã tìm ra một phần của giải pháp, ít nhất là cho riêng mình, thì cứ viết đi, chẳng cần trích cao nhân nào cả: họ đã là một phần của ta và ta đã phải “vượt” họ để nên mình.

Thế thôi.

(Chungta.com)

Góc nhỏ của Noby Vui Vẻ

Lục lọi, tìm tòi, đọc, cóp nhặt, chia sẻ, ... OK hay không tùy bạn ! ! !

“Nước độc lập mà dân chưa tự do thì độc lập cũng không có ý nghĩa”- Hồ Chí Minh.

5 thg 9, 2011

Một Đảng và Hiến Pháp

Huy Đức



– …nếu những người tự ứng cử không được Đảng ủng hộ bị loại ra khỏi cuộc chơi bằng tổ dân phố và mặt trận tổ quốc thì không nên tổ chức bầu cử làm gì cho tốn kém.
– Quân đội chỉ được xây dựng theo nguyên tắc chính quy, tinh nhuệ, chỉ được dùng để bảo vệ nhân dân và từng tấc đất của ông cha. Cho dù ai nắm quyền thì quân đội cũng chỉ trung thành với tổ quốc. Quân đội mà lo bảo vệ Đảng hơn bảo vệ biên cương, thì khi chính trị trong nước không ổn định, Trung Quốc sẽ thừa cơ chiếm đảo.
Huy Đức


Không hiểu vì sao Hiến pháp lại được đưa ra sửa khi những ý tưởng cải cách trong Đảng thì thiếu vắng và tình hình theo nhiều người là vẫn “chưa đủ xấu”. Nếu không xuất phát từ nhu cầu cải cách, việc sửa đổi Hiến pháp chỉ là vá víu. Rất tiếc là Đảng Cộng sản Việt Nam thường chỉ chấp nhận cải cách khi bị dồn tới chân tường, Đại hội VI năm 1986 là ví dụ.
Chỉ chưa đầy 5 thập niên (1946-1992), Việt Nam có 4 lần thay Hiến pháp. Năm 1959, khi môi trường chính trị để vận hành một nhà nước dân chủ và đoàn kết toàn dân theo Hiến pháp 1946 không còn, Đảng Cộng sản hình thành ở miền Bắc một nhà nước do “giai cấp công nhân lãnh đạo”. Tháng 6-1976, sau khi chiến thắng người anh em ở miền Nam, trong tâm thế “ta đang tới đỉnh cao nhân loại”, Quốc hội Thống nhất quyết định thay thế Hiến pháp 1959, thiết lập trên cả nước một nhà nước chuyên chính vô sản hơn. Nhưng, đường lối Đại hội Đảng lần thứ IV và mô hình nhà nước theo Hiến pháp 1980 đã nhanh chóng đưa Việt Nam tới chỗ bế tắc. Đảng phải tìm lối thoát bằng cách chia tay với mô hình copy từ Liên xô và các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu.
Hiến pháp 1992 đã từ bỏ bớt quyền lực tập trung. Từ chỗ không thể đưa ký gạo từ quê lên, đến thập niên 1990, người dân đã có thể lập công ty, được đi lại, được ra cả nước ngoài mua bán. Trong kinh tế cũng như trong chính trị, một quốc gia chỉ trở nên thịnh vượng khi người dân thực sự có quyền. Bản chất của “đổi mới” mà Đảng thường nói đến như một công lao chỉ đơn giản là trả lại cho người dân một phần quyền, trong đó có quyền được tự lo lấy cơm ăn, áo mặc.
Khi Quốc hội công bố sửa đổi Hiến pháp 1992, nhiều người đề nghị: Thay vì quan niệm Hiến pháp là đạo luật cơ bản của Nhà nước, nên thiết kế Hiến pháp như một bản khế ước xã hội, theo đó, “con người chính thức đánh đổi quyền tự do tự nhiên để trở thành một công dân, chính thức trao một phần quyền tự do quyết định của mình vào tay một số người cầm quyền để có được sự chở che của xã hội”. Tuy nhiên, chỉ trong một chế độ thực sự dân chủ, hiến pháp cũng như các đạo luật khác mới trở thành một khế ước. Đảng biết trước câu trả lời khi các vấn đề sau đây phải trưng cầu dân ý: Điều 4; quyền tư hữu về ruộng đất cho người dân; mô hình chính trị…
Quyền sửa đổi Hiến pháp 1992 chưa thuộc về nhân dân mà đang ở trong tay Đảng Cộng sản Việt Nam, thay vì kiến tạo một nhà nước pháp quyền (rule of law), bản Hiến pháp mới chỉ có thể là bộ luật cơ bản để tiện bề “quản lý” (rule by law). Ngay cả trong điều kiện đó thì Đảng cũng phải biết mình muốn tổ chức một nhà nước theo mô hình nào: Tản quyền hay tập quyền? Cộng hòa tổng thống hay cộng hòa nghị viện? Mô hình ít xáo trộn nhất với điều kiện hiện nay là cộng hòa bán tổng thống: Chủ tịch nước vừa là nguyên thủ quốc gia vừa đứng đầu chính phủ nhưng chỉ nắm các quyền ngoại giao và an ninh, quốc phòng; Thủ tướng tập trung lãnh đạo các vấn đề kinh tế. Chủ tịch nước có thể được bầu bởi 2/3 đại biểu quốc hội hoặc được bầu bởi số phiếu quá bán của quốc hội cùng toàn thể đại biểu các hội đồng nhân dân ở cấp thành và cấp tỉnh.
Nhưng trước hết, cải cách phải được tiến hành trong Đảng. Đội ngũ cán bộ Đảng nên được phân công theo hướng: Có những người làm công tác Đảng chuyên trách và có những người được Đảng đưa sang ứng cử các chức danh nhà nước. Những người chuyên trách ở cấp Trung ương được gọi là Ban Bí thư, gồm các chiến lược gia, chịu trách nhiệm tìm kiếm nhân sự cho Đảng và chuẩn bị các vấn đề lý luận. Các văn kiện của Ban Bí thư chỉ có giá trị lưu hành nội bộ.
Đại hội của Đảng nên diễn ra theo hai vòng: Vòng một, tổ chức tranh cử trong Đảng để bầu các ứng cử viên ra ứng cử đại biểu hội đồng nhân dân (ở các đảng bộ địa phương) và ứng cử đại biểu Quốc hội (ở đảng bộ toàn quốc). Số lượng ứng cử viên mà Đảng bầu ra phải nhiều gấp đôi số đại biểu cần thiết. Những ứng cử viên của Đảng trúng cử đại biểu Quốc hội đương nhiên trở thành trung ương ủy viên. Sau bầu cử Quốc hội và hội đồng nhân dân, Đảng tổ chức đại hội vòng hai để cho các Trung ương ủy viên ra tranh cử ứng cử viên chức Chủ tịch nước và các ủy viên Bộ Chính trị. Đại hội giới thiệu ít nhất hai ứng cử viên để bầu Chủ tịch nước. Ai đắc cử Chủ tịch nước người đó đương nhiên trở thành Tổng Bí thư. Chủ tịch nước sẽ lập nội các bao gồm các thành viên trong Bộ Chính trị.
Quốc hội chỉ nên có không quá 400 người, trong đó: những đại biểu được bầu từ “bảng A”, gồm các ứng cử viên của của Đảng và những đại biểu được bầu từ “bảng B”, gồm các ứng cử viên độc lập. Chưa thể hy vọng bầu cử tự do được thiết lập trong lần sửa Hiến pháp này, nhưng nếu Đảng dành cho các ứng cử viên độc lập khoảng 100 ghế trong Quốc hội thì Đảng vẫn nắm quyền quyết định nhưng nhân dân sẽ có tiếng nói; các vấn đề kinh tế, xã hội sẽ được mổ xẻ, lương tri của các đại biểu là trung ương ủy viên sẽ được đánh thức; quy trình quyết định được giám sát chính trị một cách chặt chẽ hơn, tránh được các rủi ro do áp đặt và thiếu phản biện khi ban hành chính sách.
Tất cả ứng cử viên tất nhiên phải là công dân Việt Nam, nhưng hiện có hàng triệu người Việt đang sống ở nước ngoài và nhiều người trong số họ đang có hai quốc tịch. Nên quy định, chỉ những công dân Việt Nam không mang quốc tịch khác, hoặc đã từ bỏ quốc tịch khác, đã định cư trong nước ít nhất là 5 năm trước ngày bầu cử mới được quyền ứng cử. Chỉ có một đảng thì không thể đòi những cuộc bầu cử có hàm lượng dân chủ cao. Nhưng nếu những người tự ứng cử không được Đảng ủng hộ bị loại ra khỏi cuộc chơi bằng tổ dân phố và mặt trận tổ quốc thì không nên tổ chức bầu cử làm gì cho tốn kém.
Có thể áp dụng quy trình hiện hành đối với những người được Đảng đưa ra đề cử. Nhưng những ứng cử viên độc lập thì chỉ cần thu thập đủ một lượng chữ ký tùy theo đơn vị bầu cử: nếu ở các thành phố lớn thì có thể 10 nghìn; nếu ở miền núi thì có nơi chỉ cần 500 đến 1000 chữ ký. Tất cả các đại biểu Quốc hội, trừ những người tham gia nội các, là Trung ương ủy viên hay đại biểu độc lập, đều có quyền ngang nhau. Họ vừa có văn phòng làm việc ở Hà Nội và ở nơi ứng cử. Nội các và các đại biểu Quốc hội đều được bố trí nhà công vụ ở Thủ đô, hết nhiệm kỳ thì bàn giao lại cho những người kế tiếp.
Theo mô hình này, quyền lực được phân bớt cho các địa phương. Chính quyền trung ương chỉ nắm những quyền đủ để kiểm soát sự phát triển thống nhất của quốc gia. Các tỉnh trưởng không nhất thiết tham gia Ban chấp hành Trung ương, nhưng nhiều người trong số họ có thể là ứng cử viên hàng đầu của chức Chủ tịch nước trong nhiệm kỳ kế tiếp.
Tòa án bao gồm: tòa địa phương, xử các tội hình sự liên quan đến giựt dọc, trộm cắp… thẩm phán tòa này do tỉnh trưởng bổ nhiệm, được phê chuẩn bởi hội đồng nhân dân; tòa quốc gia, xử các tội đại hình, các tội tham nhũng và các tội phạm về chức vụ… thẩm phán tòa này do Chủ tịch nước bổ nhiệm, Quốc hội phê chuẩn. Các ứng cử viên thẩm phán bao gồm các luật sư danh tiếng hoặc các thẩm phán liêm chính được chọn từ tòa dưới. Chính quyền Trung ương chỉ cần có bộ an ninh và cục điều tra quốc gia. Trừ những vụ việc thuộc thẩm quyền xét xử của các tòa địa phương, quyền điều tra nằm trong tay cục điều tra quốc gia. Lực lượng cảnh sát nên giao về cho địa phương, căn cứ tình hình, các địa phương sẽ quyết định lương thưởng, biên chế… Những thành phố đông dân như Sài Gòn sẽ tuyển đủ lực lượng cảnh sát cần dùng thay vì đưa thanh niên xung phong ra điều hành giao thông. Ở những địa phương mà người dân sống thân thiện với nhau họ có thể thay cảnh sát bằng vài “hiệp sỹ”.
Quân đội chỉ được xây dựng theo nguyên tắc chính quy, tinh nhuệ, chỉ được dùng để bảo vệ nhân dân và từng tấc đất của ông cha. Cho dù ai nắm quyền thì quân đội cũng chỉ trung thành với tổ quốc. Quân đội mà lo bảo vệ Đảng hơn bảo vệ biên cương, thì khi chính trị trong nước không ổn định, Trung Quốc sẽ thừa cơ chiếm đảo.
Theo mô hình này, chỉ có một người thực sự là nguyên thủ quốc gia thay vì có tới 4 nhân vật được hưởng chế độ nguyên thủ như đang áp dụng. Trừ các vấn đề liên quan đến công tác Đảng do Ban Bí thư đảm trách, các quyết định của Bộ Chính trị đồng thời là quyết định của nội các. Không cần qua giai đoạn “thể chế hóa” mới có giá trị thi hành. Nó không chỉ chịu sự giám sát của Ban chấp hành Trung ương mà còn chịu sự giám sát của các đại biểu độc lập. Chức năng không bị trùng lắp, quy trình ban hành các quyết định được rút ngắn, địa chỉ để quy trách nhiệm cũng rõ. Vai trò lãnh đạo của Đảng cũng tương đối chính danh vì các nhà lãnh đạo chỉ có thể trở thành Tổng Bí thư, ủy viên Bộ chính trị, ủy viên Trung ương sau khi được “nhân dân phúc quyết”.
Cho dù tiếp tục giữ quyền viết Hiến pháp thì Đảng cũng hãy vì sự thịnh vượng của quốc gia mà chia sẻ bớt quyền lực cho nhân dân. Đừng nghĩ là tình hình chưa đủ xấu. Đừng nhìn các mâu thuẫn xã hội dựa trên các báo cáo hay dựa trên mấy câu leo lẻo của những người vẫn tới tặng quà: “Anh lãnh đạo chúng em làm ăn được”. Nhân dân đang bị nhũng nhiễu. Cái ác đang hoành hành. Nhiều “chức năng” đang phải vận hành bằng tiền bạc trong khi đa số nhân dân thì thiếu tiền nhất là tiền để mưu cầu công lý. Nên nhớ là những cuộc nổi dậy thường bắt đầu từ những uất ức của người dân trước những bất công chứ không phải từ những trí thức đang lên tiếng nhằm thức tỉnh chính quyền. Thay vì đào những đường hầm để thoát thân khi có biến như Gaddafi, ngay bây giờ hãy khai thông các lối ra cho toàn dân tộc.
H.Đ.
Nguồn: quechoa.info

Dân chủ và nhân quyền



Dân chủ và nhân quyền là hai ý niệm khác nhau. Trong khi dân chủ nhắm đến quyền của mọi người, với tư cách “nhân dân”, nghĩa là tập thể; nhân quyền nhắm đến quyền của từng người, với tư cách cá nhân. Trong khi dân chủ nhấn mạnh vào vấn đề ai cầm quyền (đại diện của dân) và người đó lên nắm quyền bằng cách nào (bầu cử); nhân quyền nhấn mạnh chủ yếu đến cách thức hành xử quyền lực của người cầm quyền. Trong khi dân chủ chủ yếu là một thiết chế; nhân quyền là một lý tưởng. Trong khi dân chủ có tính chất địa phương, chịu ảnh hưởng nặng nề của các yếu tố lịch sử và văn hóa, mỗi nơi một khác, nhân quyền là một cái gì mang tính phổ quát, ở đâu cũng giống nhau, người ta không thể nhân danh truyền thống hay sự dị biệt để phủ nhận hay làm biến dạng nó.
Do những khác biệt nêu trên, người ta nhận thấy trên thế giới có một số hiện tượng đáng chú ý: một, một chính phủ dân chủ (theo nghĩa có phổ thông đầu phiếu) chưa chắc đã tôn trọng nhân quyền, thậm chí, có khi chà đạp lên nhân quyền; hai, ngay cả một nước dân chủ thực sự cũng chưa chắc đã tránh được những bất cập trong lãnh vực nhân quyền; và ba, quan trọng nhất, chính phủ nào biết tôn trọng nhân quyền thì chính phủ ấy chắc chắn là dân chủ.
Như vậy, mối quan hệ giữa dân chủ và nhân quyền có thể được tóm gọn lại thế này: nhân quyền vừa là nền tảng vừa là lý tưởng của dân chủ; và dân chủ, ngược lại, là điều kiện để thực thi nhân quyền.
Xin lưu ý: trung tâm của dân chủ là vấn đề quyền lực. Trong các chế độ độc tài, từ độc tài phong kiến đến độc tài hiện đại, quyền lực chỉ tập trung trong tay một người hoặc một nhóm người với một số đặc điểm chính: một, có tính áp đặt (hoặc nhân danh một thứ “thiên mệnh” hoặc “sứ mệnh” lịch sử nào đó, hoặc đơn giản hơn, bằng cách thoán đoạt qua các biện pháp bạo động); hai, có tính loại trừ (có một số người, có khi rất đông, hoàn toàn không được chia sẻ chút quyền lực nào cả); ba, không bị kiểm soát; bốn, không gắn liền với trách nhiệm; và năm, không bị hạn chế (ngay cả bởi luật pháp và tính chất nhiệm kỳ). Trong các chế độ dân chủ thì khác. Hoàn toàn khác. Quyền lực chính nằm trong tay nhân dân. Chính nhân dân, qua các cuộc bầu cử định kỳ, chọn người đại diện cho mình; và người đại diện ấy chỉ được quyền hành xử quyền lực trong những giới hạn mà luật pháp cho phép; việc hành xử ấy luôn luôn được kiểm tra bởi Quốc Hội cũng như giới truyền thông độc lập với chính quyền. Cuối cùng, những người đại diện ấy không ngừng bị thử thách và đối diện với nguy cơ bị thay thế. Chính những thử thách và nguy cơ ấy buộc họ phải cố gắng, phải có tinh thần trách nhiệm và phải gia tăng sức thuyết phục đối với quần chúng. Thuyết phục bằng nhiều cách, trong đó, hai khía cạnh quan trọng nhất là: sự minh bạch trong công việc và hiệu quả của chính sách.
Nền tảng ý thức hệ của việc phân bố quyền lực trong các chế độ dân chủ cũng là nền tảng của nhân quyền: Mọi người đều có những quyền bình đẳng với nhau, trong đó, nổi bật và quan trọng nhất là quyền được sống một cách an toàn và hạnh phúc; quyền được quyết định số phận của chính mình; quyền được tự do phát triển và thăng tiến. Cái gọi là “người” trong chữ “mọi người” nói trên phải là cá nhân chứ không phải là một tập thể chung chung, như gia đình, dòng họ, giai cấp hay dân tộc. Không có sự phân biệt này sẽ có nhiều khe hở cho vô số những sự lạm quyền và gian dối.
Ví dụ, cách đây một hai thập niên, một số quốc gia ở Á châu, đi đầu là SingaporeMalaysia, thường nhân danh bảng giá trị truyền thống của châu Á để từ khước những đòi hỏi căn bản về nhân quyền. Trong bảng giá trị gọi là truyền thống Á châu ấy, người ta nhấn mạnh đến tinh thần cộng đồng và gia đình. Trên thực tế, đó chỉ là chiêu bài nhằm củng cố quyền lực tuyệt đối của một người hoặc một dòng họ. Thực tế ấy làm cho chiêu bài giá trị truyền thống Á châu càng ngày càng mất sức thuyết phục. Đến nay, hầu như không ai nhắc đến điều đó nữa, ít nhất nhắc một cách công khai, như một chủ thuyết.
Cũng vậy, trước đây, Việt Nam hay sử dụng thủ đoạn đồng nhất tự do dân tộc và tự do cá nhân để từ chối việc mở rộng quyền tự do cho cá nhân. Nhớ, sau năm 1975, trong một chuyến công du sang Pháp, khi bị báo giới Pháp hạch hỏi về vấn đề tự do tại Việt Nam, Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã lớn tiếng biện hộ Việt Nam là một quốc gia tự do vì đã tranh đấu giành độc lập từ nhiều đế quốc lớn trên thế giới. Lập luận ấy về sau cũng được các nhà lãnh đạo và giới truyền thông lặp lại: Việt Nam độc lập nghĩa là Việt Nam đã tự do; Việt Nam tự do nghĩa là mọi người Việt Nam đều được tự do.
Khi Phạm Văn Đồng tuyên bố như thế ở Pháp thì ở Việt Nam, vào thời điểm mấy năm đầu thời hậu chiến, hàng trăm ngàn sĩ quan và công chức thuộc chế độ cũ bị giam trong các trại cải tạo; chế độ lý lịch thống trị mọi sinh hoạt xã hội, từ công ăn việc làm đến giáo dục; chính sách hộ khẩu và chính sách lương thực buộc chặt mọi người dân dưới sự kiểm soát nghiêm ngặt của công an địa phương; ngay cả việc đi chùa hay đi nhà thờ cũng bị theo dõi; mọi việc phát biểu công khai đều bị ngăn chận và cấm đoán; v.v… Ngay sau này, tình hình tuy khá hơn chút ít, nhưng tự do cá nhân vẫn hạn chế. Tất cả các cơ quan ngôn luận đều nằm trong tay nhà nước và luôn luôn bị kiểm duyệt nghiêm nhặt. Các cuộc bầu cử được tổ chức định kỳ chỉ là những màn biểu diễn vụng nhằm hợp thức hóa những sự bố trí nhân lực của đảng Cộng sản mà thôi.
Trở lại với nhận định nêu trên: nền tảng của dân chủ là việc nhìn nhận quyền của từng cá nhân, bất kể là cá nhân nào, trong xã hội. Đó là điểm xuất phát đồng thời cũng là mục tiêu của dân chủ. Dân chủ sẽ không có ý nghĩa gì cả nếu nó không nhằm phát huy sự bình đẳng và tự do của mỗi người với tư cách là cá nhân; không nhằm phát huy nhân quyền nói chung. Hơn nữa, chỉ có dân chủ mới bảo vệ được nhân quyền. Tranh đấu cho nhân quyền, do đó, bao giờ cũng gắn liền với việc tranh đấu để xây dựng một nền dân chủ thực sự.

Nền cộng hòa

Hoàng Hồng Minh


Con người ở khắp muôn nơi từ hàng ngàn năm nay luôn luôn phải thao thức về việc làm sao tổ chức được đời sống của mình cho thỏa đáng. Cái công việc tổ chức đời sống cộng đồng ấy là nguồn gốc của chữ cộng hòa, “res publica” trong tiếng latin, “sự nghiệp công cộng”.
Nhưng phải mãi đến gần đây con người mới có được những bước tiến thực sự mạnh mẽ và hiệu nghiệm về cách thức tổ chức và vận hành được cái “sự nghiệp công cộng” này.
Thần quyền
Buổi đầu sự trị vì cai quản đời sống của một cộng đồng được nhuộm màu thần quyền linh thiêng, là lĩnh vực mà suy nghĩ của các thường dân không được quyền chạm tới. Sự cai trị này được độc quyền lý giải bởi “Thiên cơ”, “Trời định”, và những người cầm quyền được mệnh danh là những “Con Trời”, được Ông Trời lựa chọn để thay Trời trị dân. Người dân chỉ có một quyền duy nhất là chịu đựng và tuân phục các bậc cai trị. Bạo lực tinh thần và bạo lực tổ chức được xây dựng để duy trì trật tự này, đè bẹp mọi sự bất tuân.
Quí tộc
Xác lập được thần quyền, thì con của “ông Con Trời” sẽ khắc là “con cháu Nhà Trời”. Từ đó quyền lực trở thành một tài sản thần thánh được chu chuyển chỉ trong những dòng họ nhất định này, họ thành ra “quí tộc”.
Nhờ thần quyền mà quí tộc có được chính danh.
Và cũng nhờ sức mạnh của quí tộc mà thần quyền mới được uy linh.
Thần quyền và quí tộc nương dựa vào nhau, một mà hai, hai mà một.
Ở một thời điểm lịch sử nhất định khi xã hội có biến động lớn, thường hay liên quan chặt chẽ tới cả thiên tai, dịch bệnh, chiến tranh lớn lao nữa, có thể có sự đổ vỡ của những dòng họ, sự lung lay của thần quyền. Nhưng sau đó thì người ta lại thấy có sự yên bình trở lại, với những dòng họ quý tộc mới cùng thần quyền được tái ngôi, tuy có thể có những trang trí thích hợp trở lại.
Khoa học và thương mại, công nghệ và tự do
Hàng ngàn năm trôi qua, trước mặt là hàng ngàn năm sắp đến. Không có gì mới.
Thế rồi nhờ khả năng tìm tòi hiểu biết và sáng chế, con người đến lúc đã mở mang khoa học và thương mại. Họ hiểu ra rằng để có được sự giàu có ấm no thì không chỉ nhờ có việc loay hoay cướp đoạt hay cưỡng bức nhau, mà còn có thể nhờ đẩy mạnh sự hiểu biết và trao đổi sản vật.
Và rồi công nghệ là điều phát hiện lớn lao. Một cái cối xay tự động dùng được sức gió hay sức nước cho con người thấy ra một thế giới mênh mông về các khả năng được mở ra, mà chìa khóa là sự hiểu biết và chế tạo, còn tự do chính là nền móng cho chúng mà cũng là đích sống.
Tất cả những lĩnh vực này thúc đẩy nhau mạnh mẽ.
Hơn thế nữa, chính bản thân cái tổ chức đời sống cộng đồng của con người cũng không còn thần bí là do Trời định, mà có thể đươc suy ngẫm và được can thiệp tái tổ chức trở lại sao cho hợp lý, thuận lợi hơn.
Bắt đầu bằng tổ chức lại các lĩnh vực sản xuất, rồi trao đổi thương mại, rồi quân sự, rồi tổ chức đời sống dân sự, rồi tổ chức đời sống văn hóa tinh thần... Sự phức tạp và phong phú của các lĩnh vực đòi hỏi sự tự do hóa công việc tổ chức, sự tiêu chuẩn hóa, sự hình thành luật pháp dân sự, sự trọng tài tranh chấp dân sự, sự học hành đào tạo, v.v. Con người ngày càng chủ động hơn trong việc xây dựng trở lại trật tự đời sống của chính mình. Thần quyền và quí tộc không đủ để duy trì và phát triển xã hội nữa.
Nền cộng hòa
Và con người bước tới nền cộng hòa, với các hình thức và tên gọi khác nhau của chúng, cũng như cả các sự lạm dụng của các tên gọi này.
Nền cộng hòa trước hết là sự vượt qua và khước từ các nguyên tắc thần quyền và quí tộc.
Nếu ai đó lợi dụng khái niệm này để tạo ra một thể chế “nền cộng hòa thần giáo” gì đó, bạn nên quay đi.
Nếu ai đó lợi dụng khái niệm này để tạo ra một thể chế “nền cộng hòa thái tử” gì đó, bạn khỏi cần quay lại.
Nền cộng hòa là sự công nhận các quyền thế tục của xã hội dân sự.
Nền cộng hòa đòi hỏi xóa bỏ nền pháp trị Trung cổ: pháp luật là một công cụ để kẻ mạnh hơn sử dụng nó để áp chế kẻ yếu hơn.
Nền cộng hòa đòi hỏi thiết lập nền pháp quyền dân sự: pháp luật là cái khung để mọi người theo đó mà triển khai các hoạt động tự do phong phú của mình.
Nền cộng hòa đòi hỏi thiết lập sự tự do của công dân. Nguyên lý là “phi cưỡng bức” (khái niệm  “bình đẳng” hơi mơ màng). Nguyên lý “phi cưỡng bức” bắt buộc xã hội phải hoạt động thông qua nền pháp quyền.
Nền cộng hòa đòi hỏi hệ thống tư pháp, hay hệ thống tòa án, phải độc lập và chỉ tuân theo pháp luật để bảo vệ được nền pháp quyền.
Và nền dân chủ thì cũng chính là nền cộng hòa, chúng là hai tên gọi khác nhau của cùng một thể chế xã hội, trong đó mỗi công dân thực hành sự tự do của mình trên nền tảng pháp quyền.
Bộ máy vận hành xã hội sẽ được hình thành và kiểm tra thông qua các quyền của các công dân bầu cử phổ thông trực tiếp các đại biểu của mình vào Quốc hội, và cũng có thể bầu trực tiếp nguyên thủ quốc gia, quyền thực hiện trưng cầu ý dân về các quyết định lớn của Nhà nước, ví như thay đổi hiến pháp. Và tất nhiên các quyền gián tiếp thông qua các đại biểu của mình.
Con đường xây dựng, gìn giữ, và hoàn thiện nền cộng hòa đòi hỏi ở chúng ta cả một sự nghiệp lớn lao, bền bỉ, sự sáng suốt, và tinh thần vì con người.


Tổng số lượt xem trang

free counters