Triết Lý, để làm gì ?

Khi ta bế tắc tư tưởng, chân thật công nhận rằng những kiến thức và phương pháp suy luận của ta không cho phép ta sống, tư duy và hành động khớp với khao khát làm người của ta, ngoài vô vàn cách ứng xử khác, ta có thể:

a) Tiếp tục sống, tư duy và hành động như cũ vì, dù sao, ta cũng sống được, không đến nỗi nào

b) Lột áo cũ, khoác áo mới, một tấm áo coi lành lặn đẹp đẽ hơn nhưng cũng hàm hồ không thua gì. Điều ấy luôn luôn khả thi bằng ngôn ngữ.

c) Đi tới cùng bế tắc của chính mình. Nếu không giải quyết được nó, ta ôm nó xuống suối vàng, để lại ở đời chỉ một câu hỏi. Câu hỏi của một con người. Đích thực. Có gì nhục đâu?

Nếu ta tưởng ta đã tìm ra một phần của giải pháp, ít nhất là cho riêng mình, thì cứ viết đi, chẳng cần trích cao nhân nào cả: họ đã là một phần của ta và ta đã phải “vượt” họ để nên mình.

Thế thôi.

(Chungta.com)

Góc nhỏ của Noby Vui Vẻ

Lục lọi, tìm tòi, đọc, cóp nhặt, chia sẻ, ... OK hay không tùy bạn ! ! !

“Nước độc lập mà dân chưa tự do thì độc lập cũng không có ý nghĩa”- Hồ Chí Minh.

3 thg 3, 2011

Vì sao người ta đòi Việt Nam không được “hạn chế Internet”? _ bài này hay.


Bắc Hà

TCCSĐT - Những ai quan tâm đến tình hình chính trị ở Trung Đông và Bắc Phi đều hết sức quan ngại về cuộc khủng hoảng chính trị ở đây. Mở đầu là các cuộc biểu tình, bạo loạn ở Sidi Buouzid và trên nhiều tỉnh, thành phố khác của Tuy-ni-di (Tunisia), vào giữa tháng 1-2011. Ngày 14-2-2011 Tổng thống Ben A-li đã phải trốn chạy khỏi đất nước này. Ngay sau đó hiệu ứng đô-mi-nô đã diễn ra ở Ai cập và nhiều nước lân cận như: Li-bi, Y-ê-men, Ba- ranh, Xu-đăng, I-ran, Cô-oét, Ô-man, Gioóc-đa-ni, Gi-bu-ti…, nghiêm trọng hơn cả là tình hình ở Ai cập, Li-bi. Các cuộc bạo loạn này đã làm hàng trăm người chết, hàng ngàn người bị thương, gây ra đình đốn xã hội về mọi mặt kéo dài. Ngày 11-2-2011, Tổng thống Ai cập Hô-xni Mu-ba-rắc đã chấp nhận từ chức và trao quyền lại cho lực lượng quân đội… Bốn ngày sau, ngày 15-2-2011, phát biểu tại trường đại học G. Oa-sinh-tơn, ngoại trưởng Mỹ, bà H. Clin-ton đã lên tiếng ủng hộ các cuộc biểu tình ở Bắc Phi, Trung Đông, đồng thời, chỉ trích các nước Trung Quốc, Việt Nam, Cu-ba, I-ran, Mi-an-ma, Xi-ri…rằng ở những quốc gia này “Internet vẫn bị hạn chế bằng nhiều cách. Ở Trung Quốc chính phủ kiểm duyệt nội dung… Còn tại Việt Nam, những blogger nào chỉ trích chính phủ thì bị bắt bớ…”. Bà Ngoại trưởng còn thông báo Hoa Kỳ sẽ tăng ngân sách cho đào tạo về công nghệ nhằm “phá vỡ các rào cản mà chính phủ các nước độc tài đã dựng lên trên Internet”. Đồng thời Chính phủ Hoa kỳ “sẽ chi 25 triệu đô-la năm nay để bảo vệ các blogger đang bị ngăn cấm hoạt động ở Trung Quốc, I-ran, Cu-ba, Xi-ri, Việt Nam, Miến Điện và Ai Cập.” …

Nếu sắp xếp trật tự sự kiện theo thời gian - chỉ tính từ tháng 1 năm 2011 cho đến khi bà H. Clin-ton phát biểu ở đại học G. Oa-sinh-ton thì người ta có thể thấy ngay đâu là lô-gic khách quan, đâu là việc thực thi kịch bản của phương Tây trong chiến lược can thiệp vào công việc của các quốc gia khác vì những lợi ích chính trị, kinh tế của họ. Nhiều chuyên gia kinh tế - chính trị cho rằng “cơn khát nhiên liệu, dầu mỏ” của nhiều quốc gia phát triển có liên quan đến các sự kiện chính trị đang diễn ra ở vùng có nhiều dầu mỏ nhất thế giới này.

Điểm khác biệt giữa các cuộc “cách mạng mầu” diễn ra ở các nước Đông Âu trước kia, những cuộc nổi dậy, bạo loạn ở Tuy-ni-di và nhiều quốc gia Bắc Phi, Trung Đông mà có người gọi là “cách mạng hoa nhài” là ở phương tiện tập hợp lực lượng của phe đối lập và vai trò của các tổ chức phi chính phủ (NGOs) trong và ngoài nước ở đây. Như các phương tiện thông tin đã đưa, sở dĩ hiệu ứng của các cuộc bạo loạn trong nước nhanh chóng lan rộng ra cả khu vực, đồng thời, thu hút được một số lượng người tham gia đông đảo là vì ở đây các tổ chức đối lập đã dùng các phương tiện thông tin hiện đại - như Internet, điện thoại di động, phát thanh, truyền hình, đặc biệt là thông qua nhiều mạng, như Twitter, Facebook, Wkileaks, YouTube… Được biết, ở đây cũng đã hình thành hàng trăm tổ chức phi chính phủ có sự tài trợ của Cơ quan hợp tác phát triển Hoa kỳ ( USAID), Quỹ quốc gia hỗ trợ dân chủ (NED), ”Ngôi nhà tự do” (FH ).

Năm 2005, Quốc hội Mỹ đã thông qua bộ luật “Thúc đẩy dân chủ ở các nước A Rập”, trong đó, có điều khoản yêu cầu Bộ Ngoại giao Mỹ thành lập các Website, mạng xã hội để liên kết, hỗ trợ “phong trào dân chủ”… Như vậy là không phải ngẫu nhiên nhiều quốc gia quan tâm đến các sự kiện này đều cho rằng, các sự kiện diễn ra ở đây là có bàn tay của phương Tây. Diễn biến hòa bình không phải là “con ngáo ộp” - như có người nói, đó cũng không phải là chuyện hư cấu, tưởng tượng của các nhà chính trị mà là một thực tế hiện hữu. Và như đã nói ở trên, vì sao người ta lại đòi các quốc gia không được hạn chế việc sử dụng Internet.

Ai cũng biết Inernet là thành quả quan trọng hàng đầu của cuộc cách mạng khoa học , công nghệ hiện đại. Có thể nói, đây là cơ hội quý báu cho các quốc gia, nhất là các quốc gia chậm phát triển. Inernet là phương tiện kỹ thuật, cũng như vũ khí, bản thân nó không có bè bạn, không có kẻ thù, người ta sử dụng nó như thế nào như vũ khí hướng vào đâu - được quy định bởi lợi ích của người sử dụng nó. Hoa Kỳ cũng như vậy - họ không vô tư và không phải bao giờ cũng ủng hộ việc sử dụng Internet. Hãy lấy một ví dụ gần đây thì rõ: sau khi mạng Wikileaks đăng tải hàng vạn trang tài liệu mật về cuộc chiến tranh ở Áp-ga-ni-xtan và I-rắc ông Giu-li-an A-xan-giơ (Julian Assange), quốc tịch Ô-xtrây-li-a - người sáng lập trang mạng này đã bị truy lùng và lên án ở nhiều nước. Ở Thụy Điển, ông bị quy cho tội liên quan đến tình dục bất hợp pháp (do không sử dụng bao cao su!). Còn ở Mỹ - nếu ông bị dẫn độ, truy tố ở quốc gia này thì có thể đối diện với án tử hình về tội gián điệp. Còn nhiều người nhìn nhận đến vụ việc này từ khía cạnh chính trị thì cho rằng: sở dĩ ông bị truy lùng là vì đã công khai nhiều bí mật liên quan đến tội ác của binh lính Mỹ đối với dân thường trong chiến tranh ở Áp-ga-ni-xtan và I- rắc.

Ở Việt Nam, ngay sau khi xảy ra sự kiện bạo loạn, khủng hoảng chính trị ở Bắc Phi, Trung Đông, các phần tử phản động, chống đối ở trong và ngoài nước như vớ được vàng, họ xem đây là cơ hội để kích động các lực lượng chống đối đẩy mạnh hoạt động chống phá Nhà nước theo kịch bản mà người ta đã thực hiện thành công ở Ai Cập, Tuy-ni-di. Chúng tung lên mạng nhiều bài phân tích, bình luận, gợi ý vận dụng những kinh nghiệm thắng lợi ở Bắc phi, Trung Đông vào Việt Nam. Người ta cho rằng “tình hình Việt Nam và Ai cập khác nhau - sự độc tài ở Việt Nam là “đảng phiệt”, do đó, chống độc tài ở đây là chống lại vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản”; hoặc cộng sản sẽ không bao giờ nhượng bộ, “ra đi” như ở Ai Cập, Tuy-ni- di, cho nên phải dùng sức mạnh áp đảo của đông đảo nhân dân; Tranh thủ sự ủng hộ của quân đội là việc người ta đã nghĩ đến, họ nói: “nếu quân đội chọn thái độ đứng về phía nhân dân và bảo vệ đất nước, đồng bào, thay vì bảo vệ Đảng Cộng sản thì tình hình chính trị sẽ có cơ hội ổn định sớm hơn”… Đọc những bình luận, phân tích trên, người ở nước ngoài sẽ tưởng rằng chế độ cộng sản ở Việt Nam chỉ có thể tồn tại được tính từng ngày! Còn những người đang sống ở trong nước thì ngỡ rằng những kẻ viết những bình luận phân tích trên đang nằm mơ hoặc mắc chứng hoang tưởng.

Trong những bình luận, phân tích nói trên có một nội dung có thể xem là có lý. Đó là việc người ta dự đoán về thái độ, cũng có thể nói là bản chất của Hoa Kỳ. Họ viết: “Sự kiện đổi thay ở Ai Cập đáng để chúng ta học hỏi và hy vọng. Chỉ ba tuần lễ trước đây, chế độ của ông Hô-xni Mu-ba-rắc là một trong số các nước độc tài đồng minh của Hoa Kỳ, tương tự như trường hợp cộng sản Việt Nam. Do đó, sự kiện Hoa Kỳ ký kết các hiệp ước quân sự, kinh tế, ngoại giao với cộng sản Việt Nam chỉ là công việc cần thiết để bảo đảm quyền lợi của Hoa Kỳ trong bối cảnh hiện nay. Những ký kết này kia không khẳng định Hoa Kỳ sẽ ra tay bảo vệ cộng sản Việt Nam…, ngược lại, chắc chắn là khi tình hình chính trị Việt Nam có dấu hiệu thay đổi rõ nét, thái độ của Hoa Kỳ sẽ có sự thay đổi thích ứng kịp thời.”

Trở lại câu chuyện ở Việt Nam, phụ họa cho ý kiến của Ngoại trưởng Mỹ, người ta đã post lên mạng nhiều bài chỉ trích Việt Nam bắt bớ, cầm tù một số blogger như trường hợp cogaidolong – Lê Nguyễn Hương Trà hoặc “Điếu cày”- Nguyễn Văn Hải và cả Cù Huy Hà Vũ đã tung lên mạng những bài viết và trả lời phỏng vấn… rằng họ là những người yêu nước, họ có quyền tự do ngôn luận, báo chí theo các công ước quốc tế về quyền con người mà Việt Nam đã gia nhập, ký kết… Ai cũng biết vấn đề ở đây không phải là sử dụng phương tiện thông tin gì mà là ở nội dung thông tin đó ra sao. Việc những blogger nói trên bị bắt là do họ đã vi phạm pháp luật Việt Nam. Có nhiều nội dung, trong đó cả việc xâm phạm bí mật riêng tư của cá nhân, nhất là việc tuyên truyền chống nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam bằng những hình thức khác nhau.

Lại nói về khái niệm “tự do Internet”- chưa có cá nhân, tổ chức nào định nghĩa về khái niệm này. Song, nếu đọc qua những bài nói về chủ đề này của các nhà dân chủ, nhân quyền phương Tây thì người ta thấy ngay đây là một thủ thuật chơi chữ của các chính trị gia. Khía cạnh mập mờ ở đây chính là ở chỗ Internet là một thành quả của nền văn minh nhân loại, khi một quốc nào bị vu cho tội vi phạm “tự do Internet” thì có nghĩa chính phủ đó đang đi ngược lại nền văn minh nhân loại, là chế độ độc tài, là lạc hậu, bảo thủ, quân phiệt…, làm như vậy người ta dễ tranh thủ được sự ủng hộ của nhân dân, nhất là giới trẻ. Thực tế cho thấy Internet cũng có mặt trái của nó nếu không có sự quản lý thích hợp. Ở các nước cũng như ở Việt Nam người ta đã lên án hành vi tung lên mạng những thông tin liên quan đến lạm dụng tình dục trẻ em, và qua Games online tuyên truyền cho bạo lực, và đòi hỏi nhà nước phải mạnh tay trong việc quản lý các cơ sở sử dụng Inernet. Còn về mặt chính trị, không ít trường hợp những kẻ xấu đã lợi dụng phương tiện này để vi phạm pháp luật, làm tổn hại đến lợi ích cá nhân, cơ quan nhà nước và cả lợi ích quốc gia. Trường hợp có kẻ mạo danh Trung tướng Đồng Sỹ Nguyên viết thư gửi Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Việt Nam trước Đại hội XI, xúc phạm Chủ tịch Quốc hội và một số cán bộ khác và gần đây là trường hợp mạo danh Đại tướng Võ Nguyên Giáp gửi thư đến các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, chỉ trích việc cơ quan công an bắt Cù Huy Hà Vũ và một số người khác, rằng họ là những người yêu nước đầy tâm huyết, là một bằng chứng.

Những ai quan tâm đến tình phát triển Inernet ở Việt Nam thì đều nhận thấy rằng: Việt Nam đang là quốc gia dẫn đầu trong khu vực trên lĩnh vực này. Hiện nay có tới gần 27 triệu người sử dụng Internet, chiếm 31% dân số. Một chuyên gia nước ngoài nhận định rằng Internet không chỉ phát triển rộng rãi ở Việt Nam mà “công nghệ 3G đang phổ cập tại đây, loại công nghệ mà không phải nước nào cũng có”.

Quản lý Internet là một phần trong quản lý báo chí nói chung. Công việc này không có bất cứ một quốc gia nào không thực hiện. Việt Nam cũng vậy, sẽ không bao giờ có chuyện “tự do Inernet” ở Việt Nam như các nhà dân chủ nhân quyền phương Tây nói. Những kẻ nghĩ rằng với sự hỗ trợ của các đại gia phương Tây họ sẽ được “cởi trói”, sử dụng phương tiện Internet để phá hoại sự nghiệp xây dựng đất nước của nhân Việt Nam theo con đường XHCN nhất định sẽ thất vọng./.

theo : tạp chí cộng sản điện tử

Sinh viên, lao động nghèo “méo mặt” vì tăng giá


Thứ Tư, 2.3.2011 | 15:45 (GMT + 7)

Giá lương thực, thực phẩm tăng cao. Giá nhà trọ, tiền điện, tiền nước… nhiều nơi cũng đã rục rịch tăng giá. Áp lực giá cả khiến những sinh viên xa nhà, người lao động nghèo phải gồng mình chống chọi với cơn “bão giá”.

Đợt tăng giá… kép

Như thành qui luật, sau mỗi dịp Tết Nguyên đán, khi những sinh viên từ các tỉnh lẻ, người lao động nghèo trở lại Hà Nội để học tập, mưu sinh thì cũng là thời điểm các chủ nhà trọ tăng giá. Trong khi người thuê nhà đang phải xoay sở với khoản chi phí tăng thêm của tiền thuê nhà, tiền lương thực, thực phẩm tăng sau Tết thì một “cơn bão giá” khác lại ập đến: tiền điện, tiền gas, tiền nước.. ồ ạt tăng theo. Đợt tăng giá kép này đã đẩy những sinh viên xa nhà, lao động ngoại tỉnh vào tình cảnh hết sức khó khăn.

Theo tìm hiểu của PV, giá thuê nhà trọ của nhiều khu vực như: Dịch Vọng Hậu, Làng Cót, Trung Hòa, Mễ Trì… đã được chủ nhà tăng thêm 100-200 nghìn đồng/phòng. Rất hiếm nơi có phòng cho thuê với giá dưới 1 triệu đồng. Hiện giá bình quân khoảng 1,5-1,8 triệu đồng/phòng/tháng, chưa kể tiền điện, tiền nước.

Tại khu vực làng Dịch Vọng Hậu, giá nhà trọ sau Tết đã được nhiều chủ nhà tăng thêm 100 nghìn đồng/phòng/tháng. Một bảng giá “cho thuê phòng” treo trong ngõ của làng Dịch Vọng đã được chủ nhà điều chỉnh giá từ 1,6 triệu đồng lên 1,7 triệu đồng. Lý do tăng giá phòng được chủ nhà cho biết là do giá cả mọi thứ đều tăng, dịch vụ cho thuê nhà cũng phải nằm trong xu thế tăng giá ấy.

Cùng với việc tăng giá phòng, nhiều chủ nhà cũng đã thông báo sẽ tăng giá điện kể từ tháng 3. Nguyễn Quang Tuấn, sinh viên đại học Thương Mại Hà Nội cho biết: “Bà chủ vừa thông báo với bọn em là sẽ tăng giá tiền điện từ 3000đ/số lên 3.500đ/số, kể từ ngày 1.3. Em đọc báo được biết Nhà nước tăng giá điện bình quân 200đ/số, vậy mà chủ nhà tăng tới 500đ/số”.

Mặc dù giá thuê nhà khá cao, các khoản chi phí phụ khác như tiền điện, tiền nước cũng đã rục rịch tăng giá, nhưng để thuê được nhà trọ trong thời điểm này cũng không dễ dàng gì, nhất là với những học sinh ngoại tỉnh về Hà Nội ôn thi đại học. Anh Hoàng Văn Quân ở Hà Nội đã nhiều ngày nay đi tìm nhà trọ cho cháu ở quê lên ôn thi đại học chia sẻ: “Cả tuần nay tôi lang thang khắp khu vực Cầu Diễn để thuê nhà trọ nhưng chưa tìm được. Chỗ có phòng thì giá quá cao, những nơi giá dưới 1 triệu/phòng thì đã kín người ở”.

Méo mặt vì “bão giá”

Sống trong căn phòng chật chội, ẩm thấp chưa đầy 10 mét vuông, vợ chồng chị Thủy (quê Bình Xuyên, Vĩnh Phúc) về Hà Nội mưu sinh đã hơn 3 năm nay. Hai vợ chồng chị làm nghề bán kem. Cứ sáng sớm là mỗi người một ngả, chạy khắp các cổng trường tiểu học ở Dịch Vọng bán kem, tối mới về nhà. Vậy mà phải tằn tiện lắm, mỗi tháng hai vợ chồng chị mới tiết kiệm được 500 nghìn đồng gửi về quê cho 2 đứa con ăn học. “Vợ chồng tôi rong ruổi từ sáng đến tối cũng chỉ kiếm được hơn 100 nghìn đồng, tiền nhà mất 800 nghìn đồng/tháng, còn tiền ăn, tiền điện, tiền nước nữa chứ. Giá cả bây giờ cái gì cũng đắt đỏ, đã thế tới đây chủ nhà lại tăng giá điện, không biết cuộc sống sẽ ra sao nữa?” - chị Thủy than thở.



Với những sinh viên trọ học, cơn bão giá ập đến khiến cuộc sống của họ đảo lộn. Tuy nhiên, với sức trẻ và sự năng động, họ đã nghĩ ra nhiều cách để “sống chung với lũ”. Nếu như trước đây thuê trọ 1 mình một phòng thì nay phải rủ thêm bạn đến ở cùng để chia sẻ tiền nhà. Trước đây đi ăn quán thì nay cả phòng góp gạo thổi cơm chung. Trước đi xe bus thì nay chuyển sang đi… bộ. “Trước Tết em ở một mình, nhưng sau Tết nhà trọ cũng tăng giá, mọi thứ cái gì cũng tăng nên em đã rủ thêm 2 người bạn cùng lớp đến ở cùng. Tuy nhiên, phải thuyết phục mãi chủ nhà mới đồng ý cho ở ghép” - Nguyễn Ngọc Hòa, sinh viên đại học Quốc gia nói.

Nhiều bạn sinh viên đã không dám tổ chức sinh nhật để giảm các khoản chi phí. “Năm nào em cũng tổ chức sinh nhật, nhưng năm nay thì ngoại lệ. Giá cả cái gì cũng đắt đỏ, dù đã rất tiết kiệm chi tiêu mà chưa hết tháng đã hết tiền” - Nhung, sinh viên năm thứ 3 đại học Sư phạm Hà Nội chia sẻ.

Với những nam sinh viên, nhiều người đang lo sốt vó vì ngày 8.3 đang đến gần mà tiền thì cũng đã gần hết. Nhóm của Hoàng, Tuấn, Hòa (SV đại học Xây dựng) nửa đùa nửa thật: “Đến ngày 8.3 bọn em bàn nhau là sẽ… ốm. Vì tiền ăn còn chẳng có thì lấy đâu ra tiền để mua quà tặng bạn gái…”.

Minh Nhật

theo http://laodong.com.vn/Tin-Tuc/Sinh-vien-lao-dong-ngheo-meo-mat-vi-tang-gia/34573

Cái này thì đúng. Mình đang lao đao đây, tiền phòng, điện, nước, rồi tiền gạo, rau, thịt tăng. Chưa kể các khoản linh tinh nữa, mà sắp đến 8-3 rồi. Thế là tèo đời. hic !!!!

MỘT VÀI VẤN ĐỀ CẦN ĐƯỢC NGHIÊN CỨU ĐỂ XÂY DỰNG BỘ LUẬT DÂN SỰ


TS. NGUYỄN AM HIỂU – Phó vụ trưởng Vụ pháp luật dân sự kinh tế, Bộ Tư pháp

Một trong các nguyên lý cơ bản của pháp luật dân sự là phải ổn định. Vì vậy, thông thường người ta chỉ chọn những vấn đề có tính ổn định, ít bị tác động của các quyết định chính trị, nhất là các quyết định chính trị ngắn hạn để quy định trong Bộ luật dân sự. Điều đó có ích lợi lớn lao cho cho sự ổn định và phát triển xã hội.

1. Năm 1995, Quốc hội đã thông qua và ban hành Bộ luật dân sự năm 1995. Về nội dung, vẫn còn những vấn đề cần bàn và chắc chắn không bao giờ hết các vấn đề cần bàn, nhưng có thể khẳng định việc ban hành Bộ luật dân sự năm 1995 có một ý nghĩa vô cùng lớn lao đối với chính sách đổi mới của Việt nam. Bộ luật dân sự năm 1995 cần được coi là một trong các tuyên ngôn pháp lý quan trọng nhất của Nhà nước về việc từ bỏ cơ chế quản lý tập trung kế hoặch hoá, phát triển kinh tế thị trường, tôn trọng các nguyên lý cơ bản của đời sống dân sự.[1]

2. Để giải quyết những bất cập của Bộ luật dân sự năm 1995, năm 2004 Chính phủ đã trình Quốc hội việc sửa đổi Bộ luật và Quốc hội đã ban hành Bộ luật dân sự năm 2004, có hiệu lực từ năm 2005. Tuy nhiên, nội dung Chính phủ trình năm 2004 và nội dung Bộ luật dân sự năm 2004 không hoàn toàn giống nhau.[2] Một số đề nghị quan trọng của Chính phủ đã được chấp thuận liên quan đến phạm vi áp dụng, một số vấn đề cụ thể liên quan đến quyền tự do hợp đồng… Một số vấn đề khác cũng quan trọng nhưng lại chưa được chấp nhận. Ví dụ như vấn đề hộ gia đình, tổ hợp tác, giá trị pháp lý của hình thức hợp đồng, thời hiệu…

3. Việc sửa đổi Bộ luật dân sự năm 2004 đã được đặt ra ngay sau 3 năm thực hiện và công việc đang được dự kiến tiến hành trên quy mô lớn. Việc liên tục sửa đổi Bộ luật dân sự trong 15 năm qua không hoàn toàn đồng nghĩa với chất lượng của Bộ luật dân sự năm 1995 và Bộ luật dân sự năm 2005 không tốt. Về cơ bản, cả hai bộ luật đều được đánh giá cao. Tuy nhiên một số nguyên lý then chốt và xuyên suốt của pháp luật dân sự cũng như một số vấn đề chi tiết cụ thể không có tính khả thi đã dẫn tới việc cần liên tục sửa đổi Bộ luật dân sự. Điều đó có nhiều nguyên nhân, trong đó có nguyên nhân thuộc về các nghiên cứu cơ bản liên quan pháp luật dân sự.

4. Tham luận này không trình bày những thành tựu cuả nghiên cứu khoa học liên quan đến Bộ luật dân sự đã có mà chỉ đề cập đến một vài hạn chế cũng như thách thức đối với những nhà nghiên cứu về pháp luật dân sự cũng như chính Bộ luật dân sự mới nếu được ban hành.

Xây dưng Bộ luật dân sự là một vấn đề lớn đối với mỗi quốc gia, vì vậy việc nghiên cứu cơ bản là hết sức quan trọng. Có tham gia ít nhiều trong nghiên cứu khoa học liên quan đến pháp luật dân sự và ít nhiều được tham gia vào quá trình soạn thảo Bộ luật dân sự từ năm 2003 đến nay, xin nêu một số nguyên lý cơ bản của Bộ luật dân sự mà khoa học pháp lý của Việt nam chưa giành một sự quan tâm thật sự thích đáng.

5. Một trong các nguyên lý cơ bản của pháp luật dân sự là phải ổn định. Vì vậy, thông thường người ta chỉ chọn những vấn đề có tính ổn định, ít bị tác động của các quyết định chính trị, nhất là các quyết định chính trị ngắn hạn để quy định trong Bộ luật dân sự. Điều đó có ích lợi lớn lao cho cho sự ổn định và phát triển xã hội.

Việc thường xuyên sửa đổi, bổ sung giúp pháp luật cặp nhật những vấn đề thực tiễn. Tuy nhiên lại thể hiện sự không ổn định của hệ thống pháp luật. Pháp luật trong lĩnh vực dân sự luôn đòi hỏi một sự ổn định nhất định.

Câu nói của Lão tử “Trị đại quốc nhược phanh tiểu tiên” được Nguyễn Hiến Lê chú dịch là “Trị nước lớn như nấu nướng cá nhỏ (nấu cá nhỏ mà lật lên lật xuống, động tới nó nhiều quá, nó sẽ nát; trị nước lớn mà chính lệnh phiền hà, pháp lệnh thay đổi nhiều quá, can thiệp vào việc dân nhiều quá, dân sẽ trá nguỵ, chống đối)”[3].

Hàn Phi Tử giải thích câu này trong mục “Giải lão”: “Nói chung, pháp lệnh mà thay đổi thì việc lợi và hại cũng khác đi, việc lợi và hại khác nhau thì việc làm của dân thay đổi. Việc làm của dân thay đổi gọi là thay đổi nghề. Cho nên cứ lấy lý mà xét thì nếu việc lớn và nhiều mà hay thay đổi thì ít thành công.

Giữ cái vật lớn mà hay dời chỗ nó thì sứt mẻ nhiều, nấu con cá nhỏ mà hay lật đi lật lại thì làm cho nó mất vẻ đẹp. Cai trị một nước lớn mà hay thay đổi pháp luật thì dân khó về việc đó. Do đó ông vua có đạo quý trọng sự yên tĩnh, không làm thay đổi pháp luật. Cho nên nói: “Trị nước lớn giống như là nấu con cá nhỏ””. [4]

Nếu người dân phải đổi nghề nhiều thì dẫn tới (i.) xã hội không có người lành nghề và (ii.) chi phí xã hội sẽ tăng lên do phải đổi nghề. Như vậy là hơn 2300 năm trước người xưa làm luật đã phải quan tâm đến tính ổn định, đơn giản và kinh tế của pháp luật.

Để đạt tính ổn định, có một số nguyên lý cần tuân theo. Thí dụ, theo giáo sư Walter Rolland, các nhà lập pháp Đức đã không quy định những quan hệ xã hội có tính dân sự nhưng có thể thường xuyên bị thay đổi do các quyết định chính trị. Về kỹ thuật, để bộ luật được ổn định, Bộ luật dân sự Đức cũng phải được thể hiện trên nguyên tắc trừu tượng (abstraction)…[5]

Dựa trên các nguyên lý chung đó mà người Đức đã giữ Bộ luật dân sự Đức do Hoàng đế ban hành vào ngày 18 tháng 8 năm 1896, có hiệu lực từ 1 tháng 1 năm 1900 với 2 lần sửa đổi Bộ luật dân sự. Lần đầu tiên vào năm 1977, sửa đổi những quy định về hôn nhân, gia đình xuất phát từ sự thay đổi điều kiện xã hội lúc đó, một tác động từ bên ngoài về đấu tranh đòi sự bình đẳng nam, nữ mà Bộ luật dân sự trước đó chưa đề cập nhiều. Trước đó, đàn ông trong gia đình nhiều quyền hơn phụ nữ. Ngoài ra, sự thay đổi trên thế giới cũng có tác động đến pháp luật.

Lần thứ hai, sửa đổi luật về trái quyền, bắt đầu từ năm 2000 đến 2002, có hiệu lực từ năm 2003, có tính đến sự phát triển pháp luật của thế giới ảnh hưởng đến pháp luật trong nước, trong đó đặc biệt là pháp luật cộng đồng Châu Âu, kéo pháp luật các nước xích lại gần nhau hơn. Đầu tiên là pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng đã kéo theo sự sửa đổi pháp luật về trái quyền.[6]

Với thẩm quyền giải thích luật, những thẩm phán của Đức có thể xét xử những vấn đề hiện đại trên cơ sở một Bộ luật dân sự cổ điển. Sau khi sửa đổi phần trái vụ, mặc dù phù hợp với thực tiễn hơn nhưng giới luật học của của Đức đã nhận thấy việc sửa đổi đó đang mang đến các rủi ro pháp lý trong thực tiễn vì người dân, các thẩm phán, các luật sư đã quá quen với các điều luật cũ và phải mất một thời gian đáng kể để thích nghi với các quy định mới.

Người Pháp đã giữ Bộ luật dân sự năm 1804 mang tên Bộ luật Napoleon hơn 200 năm với rất ít sửa đổi, bổ sung.[7] Hiện nay người Pháp mới đang có ý định nghiên cứu để sưa đổi cơ bản.

Tương tự như vậy, người Nhật đã giữ Bộ luật dân sự năm 1896 cho đến ngày nay với sửa đổi bổ sung không lớn “bởi trong Bộ luật Dân sự Nhật Bản, hầu như không thấy bóng dáng của cơ quan nhà nước đối với các giao dịch dân sự. Đây là điểm rất khác biệt giữa Bộ luật Dân sự Nhật Bản và Bộ luật Dân sự Việt Nam”[8]

6. Một trong các yếu tố quan trọng làm cho Bộ luật dân sự của Pháp, Đức, Nhật bản… đã trở thành biểu tượng về sự trường tồn, có ảnh hưởng rộng lớn đến pháp luật dân sự thế giới và cũng trở thành kinh nghiệm quan trọng khi xây dựng Bộ luật dân sự của nhiều nước, đó là mối quan hệ của Bộ luật dân sự và đặc trưng văn hoá của từng quốc gia. Bộ luật dân sự chỉ có thể có tính khả thi và có tính trường tồn nếu nó phản ảnh được đặc trưng văn hoá quốc gia đó.

Đây có thể coi là một điểm khá yếu của Bộ luật dân sự Việt nam năm 1995 và Bộ luật dân sự Việt nam năm 2005. Xin đơn cử một ví dụ về vấn đề hộ gia đình.

Theo một lãnh đạo của một Sở Tư pháp tại đồng bằng sông Cửu long, tại trụ sở sở tư pháp, một đôi vợ chồng đã phản đối quyết liệt việc khi vợ chồng họ thực hiện một giao dịch tài sản phải có sự đồng ý của con dâu.[9]

Phong tục của người Việt không quen với việc bố mẹ quyết định việc gì liên quan đến tài sản lại buộc phải hỏi ý con cái, nhất là khi con cái vẫn sống chung cùng cha mẹ, ngay cả trong trường hợp con cái đã có thu nhập rất lớn hơn cha mẹ.

Theo phong tục của người Việt thì “dâu là con, rể là khách”. Con dâu chắc chắn là thành viên của gia đình, nhưng quy định của pháp luật dẫn tới việc bố mẹ chồng phải hỏi con cái, nhất là con dâu thì e rằng phong tục của người Việt không thể chấp nhận.

Thông thường cha mẹ chỉ hỏi con cái để chứng tỏ mình tôn trọng con cái khi đã trưởng thành và cũng muốn con cái tự tin hơn trong cuộc sống để đi đến tự lập hoặc hỏi để có thể cân nhắc thêm quyết định của mình.

Trong các gia đình có nền nếp, con cái đã trưởng thành vẫn thường hỏi ý kiến cha mẹ về các quyết định quan trọng của mình, ngay cả trường hợp đã có gia đình riêng và ở riêng. Câu hỏi đôi khi chỉ mang tính thể hiện lòng kính trọng cha mẹ, để tham vấn thêm, nhưng đó là một nét văn hoá rất Việt nam.

Điều 107[10] giao cho chủ hộ là người đại diện của hộ gia đình nhưng không quy định ai là chủ hộ, xác định chủ hộ theo luật, phong tục, hay theo thoả thuận.

Theo pháp luật, khái niệm chủ hộ chỉ tìm thấy trong quyển sổ hộ khẩu.[11] Trong thực tiễn, những người có tên trong một quyển sổ hộ khẩu không phải lúc nào cũng đồng nghĩa với một gia đình, hoặc ngược lại. Chính sách quản lý hộ khẩu đã dẫn tới tình trạng cho nhập hộ khẩu nhờ như ở Bình dương và nhất là các thành phố lớn như Hà nội và thành phố Hồ Chí Minh, và hậu quả là những người nhập hộ khẩu nhờ có tên trong sổ hộ khẩu, nhưng không phải thành viên gia đình. Chính sách giá điện hiện hành dẫn tới việc một số gia đình đã tách sổ hộ khẩu để giảm tiền sử dụng điện hàng tháng, nhưng vẫn là một gia đình.[12]

Mặc dù có những ngoại lệ, nhưng nói chung phong tục của người Việt hiện nay chỉ có khái niệm Chủ gia đình. Chủ gia đình thường là người cao tuổi hơn, có khả năng và phải quán xuyến những việc chung. Phong tục này gần gũi với quan niệm rất quen thuộc của người Việt là: “Kính lão đắc thọ” và: “Khôn không đến trẻ, khoẻ không đến già”.

Chủ gia đình không phải một khái niệm pháp lý, đó là một trật tự tồn tại đời này qua đời khác và được mọi người tôn trọng. Gia đình nào để mất điều đó được hiểu là gia phong không còn nữa.

Tôn trọng và bảo vệ phong tục này, Quốc triều hình luật, Quyển III, Điều 9 quy định: “Những kẻ hàng dưới còn ít tuổi cùng ở với tôn trưởng, mà tự ý dùng tiền của, thì xử phạt 80 trượng và bắt trả lại tiền của cho người trên”. Quyển III, Điều 20 còn quy định:“Con cháu không có giấy quan cấp cho được thay ông cha, hưởng dân đinh ruộng đất mà tự tiện sai dân đinh cày cấy ruộng đất ấy, thì xử biếm một tư và bắt nộp vào kho gấp đôi số tiền công thuê dân đinh và tiền hoa màu ruộng đất. Người tố cáo được hưởng một phần mười số tiền ấy”[13].

Tương tự như vậy, Bộ luật Gia long quy định: “Phàm không phải ông bà cha mẹ cho phép, mà con cháu lập riêng sổ hộ tịch, chia gia sản, thì phải phạt 100 trượng”[14].

Về vấn đề này, Dân luật bắc kỳ năm 1931 có Thiên thứ VIII – Quyền người gia trưởng.[15] Người gia trưởng là người được quyết định những vấn đề thuộc gia đình. Điều 207 quy định một cơ chế bảo vệ rất rõ ràng: “Người làm con, suốt cả đời phaỉ hiếu thuận cung kính, làm vinh dự cho cha mẹ ông bà. Lại phải cấp dưỡng cho cha mẹ ông bà. Đạo hiếu cấm con cháu không được đem thưa cha mẹ ông bà tại trước toà án. Không có phép cha, thì không được bỏ nhà.

Cha mẹ còn sống thì con phải thuộc quyền cha, và cứ lý thì không được có tài sản riêng; trừ khi đã thành niên được phép ra ở riêng, hoặc khi đã thoát phụ quyền được phép tự lập gia thất riêng thì không kể”.

Bộ dân luật Việt nam cộng hoà năm 1972 quy định: “Con cái dầu đến tuổi nào cũng phải tôn kính cha mẹ”.[16] “Con cái ở dưới quyền cai quản của cha mẹ cho đến năm 21 tuổi, hay đến lúc đã được thoát quyền”.[17]

Điều 109 năm 2005 quy định về nguyên tắc hành xử đối với tài sản chung của hộ gia đình.[18] Các nguyên tắc có vẻ rõ ràng, nhưng không thể thực hiện vì đời sống gia đình cần những sự tiện lợi, hoà thuận trong sự chấp nhận quyết định của người khác. Luật sư Trương thanh Đức có lý khi cho rằng các nhà làm luật đã vô tình “công ty hoá” gia đình của người Việt.[19]

Phong tục hay luật cổ không phải khi nào cũng tốt trong một xã hội mới. Tuy nhiên, nếu vấn đề đó không được tham khảo một cách thấu đáo thì chắc chắn pháp luật rất khó khả thi và có thể mang một kết quả ngược lại với những ước muốn tốt đẹp mà đạo luật đó đặt ra.

Về vấn đề này, người Pháp và người Đức hay người Nhật đều đã rất thành công, mặc dù họ đã lựa chọn hai phương thức rất khác nhau để xây dựng Bộ luật dân sự.

7. Về phương thức, người Pháp đã chọn phương thức institutiones còn người Đức chọn phương thức patekten để xây dựng Bộ luật dân sự. Đây là hai phương thức cơ bản mà hầu như tất cả các nước đều tham khảo khi xây dựng Bộ luật dân sự. Việt nam hầu như không có nghiên cứu gì về vấn đề này khi xây dựng Bộ luật dân sự.[20]

Một kinh nghiệm quý báu mà Việt nam nên tham khảo đó là quá trình ban hành Bộ luật dân sự của Nhật bản. Nhật bản quyết tâm xây dựng bằng được Nhà nước hiện đại văn minh vì Nhật bản nhận thấy cách duy nhất để Nhật bản không trở thành thuộc địa của Châu Âu đó là xây dựng một quốc gia lớn mạnh không khác gì Châu âu. Trong 3 năm, Nhà nước Minh trị đã có nhiều biện pháp như: thuê giáo viên, chuyên gia nước ngoài, cử người trẻ đi học để làm sao cố gắng du nhập tinh hoa của các nước phát triển Châu âu. Do đó nước Nhật đã dịch rất nhiều luật của Châu Âu để cho luật pháp cũng tương đồng với luật Châu Âu. Thời gian đó Nhật bản phải ký rất nhiều thỏa thuận bất lợi, như không được phép xét xử những người Châu âu.

Nhật bản nhận ra là cần thiết phải xây dựng các Bộ luật nên đã nhờ một người Pháp cố vấn xây dựng BLDS theo kiểu của Pháp, áp dụng phương pháp institutiones và thuê chuyên gia của Đức để cố vấn xây dựng Bộ luật thương mại như của Đức. Tuy nhiên sau khi Bộ luật dân sự được xây dựng, nếu áp dụng trong thực tế nó sẽ làm mất đi tất cả tính truyền thống, đạo đức, chính trị. Vì có nhiều ý kiến phản đối việc xây dựng Bộ luật dân sự này nên người ta cho rằng những quy định này không phù hợp với văn hoá xã hội Nhật bản.

Sau đó, 3 người Nhật bản bắt tay xây dựng Bộ luật dân sự mới. Đấy cũng là thời điểm dự thảo dầu tiên Bộ luật dân sự Đức ra đời (1896). Khi nghiên cứu luật Anh Mỹ thì người ta nhận thấy đó không phải là luật thành văn. Khi nghiên cứu dự thảo đầu tiên của Bộ luật dân sự Đức người ta thấy rằng nó rất phù hợp với xã hội Nhật bản khi đó.

Như vậy xét về mặt lịch sử, Bộ luật dân sự Nhật bản đầu tiên đã theo phương thức institutiones của Pháp nhưng sau đó do sự phản đối từ nhiều phía nên Bộ luật dân sự Nhật bản sau này đã theo phương thức của Bộ luật dân sự Đức đó là pandekten. Cấu trúc phần chương của Bộ luật dân sự Nhật bản giống của Đức tuy nhiên nó không phải là bê nguyên xi Bộ luật dân sự của Đức.

Ví dụ điển hình là vấn đề đăng ký. Ở Đức cơ chế đăng ký rất chặt chẽ – điều kiện cho giao dịch vật quyền có điều kiện. Trong Bộ luật dân sự Đức người ta phân biệt rõ vật quyền và trái quyền, trong đó chế độ đăng ký là rất quan trọng, thời điểm chuyển giao vật là thời điểm đăng ký.

Bộ luật dân sự Nhật bản hoàn toàn không đi theo hướng đó, thời điểm ký hợp đồng chính là thời điểm chuyển giao vật quyền còn chế độ đăng ký chỉ có tác dụng đối kháng với bên thứ ba chứ không phải điều kiện để một giao dịch có hiệu lực. Vì thế trong từng nội dung điều khoản, phần đăng ký lại chịu ảnh hưởng Bộ luật dân sự Pháp chứ không phải của Đức.

Có phải người Nhật bản không hiểu quan điểm luật của Đức nên đã theo quan điểm của Pháp hay không? Lý do đó là hành vi vật quyền và trái quyền là khác nhau rõ ràng. Tuy nhiên, người ta cũng nhận thấy năng lực người đăng ký viên và cơ chế đăng ký của Nhật bản chưa đủ cao và phù hợp như ở Đức. Như vậy trong từng điều khoản người ta luôn chú ý đến tình hình xã hội cụ thể. Nếu tìm hiểu sâu hơn có thế thấy có nhiều điều luật trong Bộ luật dân sự Nhật bản theo luật của các nước common law. Như vậy vỏ bề ngoài của Bộ luật dân sự Nhật bản thì như của Đức nhưng nội dung bên trong thì có những điểm khác.

Bộ tư pháp Campuchia nhờ chuyên gia Nhật bản thông qua JICA xây dựng giúp Bộ luật dân sự Campuchia, quá trình kéo dài 6 năm. Khi nghiên cứu, các chuyên gia Campuchia thấy rằng Bộ luật hình sự và Bộ luật tố tụng hình sự của Pháp làm được dịch sang tiếng Khơme và giải thích cho Campuchia trong vòng 3 ngày và kết quả là nó không áp dụng được gì cả. Người Pháp xây dựng Bộ luật hình sự cho Campuchia trên cơ sở xã hội Pháp mà không có điều tra, tìm hiểu cụ thể về đời sống xã hội Campuchia hiện tại.

Chuyên gia Nhật bản đã tìm hiểu đời sống xã hội và những mong muốn của người Campuchia, dịch và giới thiệu Bộ luật dân sự của Pháp, Đức. Các chuyên gia cũng trao đổi với những chuyên gia Tòa án, Bộ Tư pháp Campuchia về mong muốn hiện tại và tương lai của họ. Qua qúa trình trao đổi cho thấy rằng Campuchia đã có một luật dân sự trước đó có ảnh hưởng của luật Pháp. Đã có điều tra xã hội học trên quy mô lớn và nhận thấy có những phần nào của những quy định cũ mà ảnh hưởng của luật Pháp vẫn nên được sử dụng.

Mặc dù Nhật bản theo phương thức pandekten như của Bộ luật dân sự Đức nhưng do nhận thấy nếu theo phương thức institutiones như của Pháp thì sẽ phù hợp với xã hội Campuchia hơn nên chuyên gia đã đề nghị xây dựng theo phương thức của Bộ luật dân sự Pháp.

Bộ luật dân sự Campuchia vừa được ban hành, chưa được kiểm nghiệm nên không thể đánh giá tính khả thi của nó. Tuy nhiên đã có những ý kiến đánh giá khác nhau. Vì vậy, khi đặt vấn đề chuyên gia Nhật bản trực tiếp soạn thảo Bộ luật dân sự cho Việt nam thì các chuyên gia Nhật bản cho rằng không nên làm điều đó vì các chuyên gia Nhật bản cho rằng chuyên gia Nhật bản không thể hiểu văn hoá và xã hội Việt nam bằng các chuyên gia Việt nam được.[21]

8. Tính kế thừa và pháp điển hoá của Bộ luật dân sự. Là một lĩnh vực quan trọng nhất của luật tư, các Bộ luật dân sự thành công đều là các công trình pháp điển hoá vĩ đại và công việc pháp điển hoá bao giờ cũng mang trong nó tính kế thừa các quy định trước đó.

Một trong các thành công quan trọng nhất của Bộ luật dân sự Pháp đó là “sức cuốn hút của phương pháp pháp điển hoá kiểu pháp”[22]. Những người làm nên thành công của Bộ luật dân sự Pháp rất ít tự nghĩ ra các quy định mà chủ yếu họ đã pháp điển hoá các quy định, tập quán, thông lệ… sẵn có. Điều đó làm cho Bộ luật gần gũi với đời sống dân chúng, có tính khả thi và trở nên vĩ đại.

Tương tự như vậy, Bộ luật dân sự Đức cũng là một công trình pháp điển hoá vĩ đại các đạo luật trước đó cùng các tập quán, thông lệ… trong đó có Bộ luật dân sự Phổ năm 1794 với hơn 17.000 điều.[23]

Trong quá trình xây dựng Bộ luật dân sự Việt nam, các luật cổ như Luật Hồng đức, Hoàng Việt luật lệ (Bộ luật Gia long), Dân luật Bắc kỳ 1931, Bộ dân luật Việt nam cộng hoà 1972 hầu như không được tổ chức nghiên cứu một cách hệ thống. Chính vì vậy, tính kế thừa và pháp điển hoá của Bộ luật dân sự Việt nam hiện nay rất bị hạn chế.

9. Việc học tập kinh nghiệm nước ngoài là rất quan trọng trong quá trình xây dựng Bộ luật dân sự. Về vấn đề này, Chính phủ Việt nam đã nhận được sự giúp đở của khá nhiều dự án quốc tế và dự án nước ngoài như UNDP, Nhà pháp luật Việt pháp, JICA, Star Việt nam, GTZ, KAS…

Sự hỗ trợ của các dự án rất tích cực, tuy nhiên nhìn từ giác độ nghiên cứu khoa học thì người Việt nam khá thụ động khi tiếp nhận các kết quả. Việc nghiên cứu các Bộ luật dân sự nổi tiếng chủ yếu thông qua sự trình bày của các chuyên gia nước ngoài trong các cuộc toạ đàm và các cuộc trao đổi trực tiếp theo kiểu ad hoc. Hầu như không có các nghiên cứu có tính hệ thống, hàn lâm và vì thế thiếu các luận điểm có tính phương pháp luận.

Việc dịch thuật cũng chưa được quan tâm thích đáng. Duy nhất Nhà pháp luật Việt pháp dịch toàn văn Bộ luật dân sự Pháp năm 1995, NXB Chính trị quốc gia xuất bản năm 1998, NXB tư phápxuất bản năm 2005. Bộ luật dân sự Đức không được dịch chính thức và toàn bộ, chỉ có một số phần được dịch do nhu cầu tra cứu của nhóm biên tập. Gần đây, Dự án JICA có dịch Bộ luật dân sự Nhật bản nhưng chưa phát hành và đến năm 2010 khi có yêu cầu thì Vụ pháp luật dân sự kinh tế mới đóng thành quyển cho dễ theo dõi. Việc không dịch thuật đầy đủ này là minh chứng cho nhận định về việc thiếu các nghiên cứu một cách cơ bản pháp luật dân sự ở Việt nam trong những năm qua.

Có lẽ vì những lý do đó mà sau khi Bộ luật dân sự Việt nam được ban hành thì người ta rất khó nhận biết Bộ luật dân sự Việt nam chịu ảnh hưởng của Bộ luật sự nào. Nhận xét về vấn đề này TS. Pierre Bezard cho rằng: “Sau khi giành được độc lập, nhiều quốc gia thuộc địa cũ vẫn duy trì những ảnh hưởng sâu đậm của pháp luật Pháp. Thậm chí một số nước còn xây dựng những bộ luật của họ trên cơ sở học tập mô hình pháp luật của Pháp…. Đối với nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt nam thì sự đoạn tuyệt với pháp luật Pháp là rất rõ nét và sâu sắc”.[24]

10. Nghiên cứu việc tổ chức xây dựng Bộ luật dân sự là một trong những yếu tố quan trọng cho sự thành công của Bộ luật dân sự. Bộ luật dân sự do Nhà nước ban hành, nhưng thực sự nó hình thành của bắt nguồn từ các trường đại học.

Bộ luật dân sự Pháp, còn goi là Bộ luật Napoleon không phải do Napoleon viết. Người viết Bộ luật là 4 thành viên của một Uỷ ban của các nhà chuyên môn, đó là Tronchet, Portails, Bigot de Preameneu và Malleville. Đó là các chuyên gia về dân sự. Dự luật được viết trong 2 năm. Toà án tối cao và các toà phúc thẩm là người phản biện.

Về cách thức, Bộ luật dân sự Đức và Bộ luật dân sự Nhật bản cũng được xây dựng tương tự. Nhà nước lập ra các uỷ ban phụ trách công việc, nhưng việc soạn thảo là do các chuyên gia. Thường là các giáo sư đầu ngành về dân sự. Họ không phải là các công chức.

Ở Việt nam, việc soạn thảo do các công chức thực hiện. Khi đã là công chức thì không thể chuyên nghiệp về phương diện chuyên môn. Mặt khác, những ám ảnh về nhiệm vụ quản lý nhà nước của công chức sẽ làm ảnh hưởng đến tính chất “tư” của Bộ luật dân sự.

Hà nội, tháng 2 năm 2011


[1] Nước Nga và Trung quốc sau đổi mới chưa ban hành Bộ luật dân sự sớm bằng Việt nam. Hiện tại, Trung quốc đang ban hành các đạo luật đơn hành như Luật hợp đồng, Luật về tài sản.

[2] Có thể tham khảo các Tờ trình của Chính phủ năm 2003 và năm 2004.

[3] . Lão Tử – Đạo đức kinh, Nguyễn Hiến Lê chú dịch và giới thiệu, NXB Văn hoá, Hà nội 1998, tr. 251.

[4] Hàn Phi Tử, NXB Văn học, Hà nội – 2001, Người dịch Phan Ngọc, Tr. 182

[5] Xem thêm: Tổng thuật kết quả Tọa đàm ngày 21 và 22 tháng 10 năm 2010 một số vấn đề về cấu trúc Bộ luật dân sự và vật quyền, Bộ tư pháp và IRZ tổ chức tại Hà nội.

[6] Xem thêm: Tổng thuật kết quả Tọa đàm ngày 21 và 22 tháng 10 năm 2010 một số vấn đề về cấu trúc Bộ luật dân sự và vật quyền, Bộ tư pháp và IRZ tổ chức tại Hà nội.

[7] . Xem thêm: Tham luận Hội thảo kỷ niệm 200 năm Bộ luật dân sự Pháp, Hà nội, 3 – 5 tháng 11 năm 2004, Nhà Pháp luật Việt – Pháp.

[8] Xem thêm: Nguyễn Văn Cương, Quan điểm của Nhật bản về luật dân sự, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp số 06/2001

[9]. Sự bất bình này xuất phát từ điều 109 BLDS năm 2005: 1. Các thành viên của hộ gia đình chiếm hữu và sử dụng tài sản chung của hộ theo phương thức thoả thuận. 2. Việc định đoạt tài sản là tư liệu sản xuất, tài sản chung có giá trị lớn của hộ gia đình phải được các thành viên từ đủ mười lăm tuổi trở lên đồng ý; đối với các loại tài sản chung khác phải được đa số thành viên từ đủ mười lăm tuổi trở lên đồng ý.

[10] Điều 107. 1. Chủ hộ là đại diện của hộ gia đình trong các giao dịch dân sự vì lợi ích chung của hộ. Cha, mẹ hoặc một thành viên khác đã thành niên có thể là chủ hộ.Chủ hộ có thể uỷ quyền cho thành viên khác đã thành niên làm đại diện của hộ trong quan hệ dân sự. 2. Giao dịch dân sự do người đại diện của hộ gia đình xác lập, thực hiện vì lợi ích chung của hộ làm phát sinh quyền, nghĩa vụ của cả hộ gia đình.

[11]. Tác giả chưa khảo cứu đầy đủ vấn đề này.

[12]. Theo chính sách giá điện bậc thang hiện nay (chính sách tiết kiệm năng lương), giá điện sử dụng càng nhiều thì đơn giá càng cao, vì vậy nhiêu gia đình đã tách thành nhiều hộ dùng điện để giảm chi phí cho gia đinh. Để thực hiện tiết kiệm năng lượng, các nước phát triển sử dụng chính sách tính giá điện theo giờ cao điểm giá cao và giờ thấp điểm giá thấp.

[13] Xem thêm: Quốc triều hình luật.

[14] Bộ luật còn có tên khác là Hoàng việt luật lệ.

[15] Dân luật Bắc kỳ 1931, từ điều 204 đến điều 220.

[16] Điều 265, Bộ dân luật 1972.

[17] Điều 266, Bộ dân luât 1972.

[18] Điều 109. 1. Các thành viên của hộ gia đình chiếm hữu và sử dụng tài sản chung của hộ theo phương thức thoả thuận.

2. Việc định đoạt tài sản là tư liệu sản xuất, tài sản chung có giá trị lớn của hộ gia đình phải được các thành viên từ đủ mười lăm tuổi trở lên đồng ý; đối với các loại tài sản chung khác phải được đa số thành viên từ đủ mười lăm tuổi trở lên đồng ý.

[19]. Xem thêm: Luật sư Trương Thanh đức, Những đám mây bao vây quyên sở hữu”, phát biểu tại Hội thảo ngày 29/9/2010 do Bộ tư pháp và JICA tổ chức.

[20]. Xem thêm: Báo cáo kết quả Tọa đàm do Bộ tư pháp và JICA tổ chức từ 27 đến 31 tháng 8 năm 2010 về những vấn đề cần sửa đổi bổ sung trong Bộ luật Dân sự 2005.

[21] Xem thêm: Báo cáo kết quả Tọa đàm do Bộ tư pháp và JICA tổ chức từ 27 đến 31 tháng 8 năm 2010 về những vấn đề cần sửa đổi bổ sung trong Bộ luật Dân sự 2005.

[22] Xem thêm: Guy Cavinet, Báo cáo dẫn đề Hội thảo kỷ niệm 200 năm Bộ luật dân sự Pháp, Nhà pháp luật Việt pháp, 3-5/11/204.

[23] GS. Michel Grimaldi, Tham luận Hội thảo 200 năm Bộ luật dân sự Pháp, Hà nội tháng 11 năm 2004, Nhà pháp luật Việt-Pháp, trang 95.

[24] Xem thêm: TS. Pierre Bezard, Hai trăm năm Bộ luật dân sự Pháp và ảnh hưởng tới Bộ luật dân sự Việt nam. Tham luận Hội thảo 200 năm Bộ luật dân sự Pháp, Hà nội tháng 11 năm 2004, Nhà pháp luật Việt-Pháp.

SOURCE: TỌA ĐÀM “MỘT SỐ ĐỊNH HƯỚNG TRONG SỬA ĐỔI CƠ BẢN BỘ LUẬT DÂN SỰ”, BỘ TƯ PHÁP VÀ JICA PHỐI HỢP TỔ CHỨC. HÀ NỘI. 2/3/2011

theo http://thongtinphapluatdansu.wordpress.com

Quán cà phê và tờ tuần báo kinh tế

VEF 1-3-11

http://vef.vn/?vnnid=10821

Quán cà phê và tờ tuần báo kinh tế

Tác giả: Huỳnh Phan

Bài đã được xuất bản.: 01/03/2011 06:00 GMT+7

(VEF.VN) - Cách đây 20 năm, những người làm báo kinh tế ở TP.HCM tưởng mở một quán cà phê làm nơi giao lưu giữa các nhà báo với các chuyên gia kinh tế, và giới doanh nhân. Để từ đó các những người tay mơ về kinh tế như họ có thể làm một tờ báo chuyên nghiệp thực sự.

LTS: Đã từ lâu lắm rồi, cà phê và báo chí thường đồng hành với nhau.

Trong một thập kỷ trở lại đây, với sự phát triển của mobile phone, laptop và Internet, quán cà phê đã trở thành văn phòng làm việc di động của nhiều nhà báo. Không ít người trong số họ, trong đó có cả người viết, lại thấy thích ngồi viết bài ở quán cà phê, trong tiếng nhạc và tiếng nói chuyện. Thỉnh thoảng lại nhập một ngụm cà phê, rít thuốc, cho thêm phần cảm hứng sáng tạo.

Nhưng trước đó, không biết từ bao giờ, và cho tới tận bây giờ, quán cà phê vẫn là nơi thích hợp để các nhà báo tác nghiệp. Họ vừa uống cà phê, vừa trao đổi thông tin, hay gặp gỡ các nguồn tin. Thậm chí nhiều cuộc phỏng vấn cũng được thực hiện ở quán cà phê. Có những quán cà phê, Girval ở Sài Gòn - nơi các phóng viên chiến trường của các hãng tin phương Tây, trước năm 30.4.1975, hay gặp gỡ nhau để trao đổi thông tin - đã trở thành địa danh lịch sử.

Vào đầu những năm '90 đã xuất hiện hai quán cà phê khá đặc biệt ở Việt Nam. "Đặc biệt" là bởi vì sự ra đời của những quán cà phê đó gắn liền với sự ra đời của hai tờ tuần báo. Một về kinh tế, một về đối ngoại. Một ở Sài Gòn, một ở Hà Nội.

Cũng từ cảm hứng sáng tạo do cà phê mang lại, nhiều nhà báo cũng hay viết về cà phê.

Diễn đàn Kinh tế Việt Nam, từ đầu tháng Ba này sẽ giới thiệu loạt bài của phóng viên Huỳnh Phan về cà phê - những câu chuyện mà tác giả đã tình cờ nghe được - từ những quán cà phê đến phòng hội thảo.

Câu chuyện thứ nhất: Quán cà phê và tờ tuần báo kinh tế

Thôi làm Phó Tổng Biên tập Saigon Times Group (SGT) được một năm nay, theo chế độ hưu trí, hàng ngày ông Trần Ngọc Châu vẫn đến 35 Nam Kỳ Khởi Ngĩa, Quận Nhất, thành phố Hồ Chí Minh, nơi có SGT Club, để uống cà phê, ăn sáng.

Những khi cần tiếp khách, mời tiệc, người khai sinh ra kênh truyền hình chuyên về tài chính và kinh doanh FBNC cũng thường chọn chỗ này. Mặc dù, ông đã nhượng lại hết cổ phần ở nhà hàng này, khi ra đi.

"Một thói quen đã hình thành suốt hai thập kỷ đã khó bỏ rồi. Huống hồ SGT Club lại đồng hành với cuộc đời làm báo kinh tế của các thế hệ người làm báo ở SGT Group, như tôi", ông Châu nhớ lại.

Quán cà phê và giải pháp tình thế

Tháng 1/1991, Thời báo Kinh tế Sài Gòn (TBKTSG) ra số báo tuần đầu tiên. "Thực ra, tờ tuần báo tiếng Việt lúc đầu chỉ là giải pháp tình thế để chúng tôi xin được giấy phép xuất bản tờ tiếng Anh về kinh tế", ông Châu nói.

Luật Đầu tư nước ngoài ra đời năm 1987. Đầu những năm '90, thành phố HCM, với vị trí địa lý, bối cảnh lịch sử và cả sự đi đầu về tư duy đổi mới, mặc nhiên có vai trò tiên phong trong mở cửa thu hút đầu tư nước ngoài.

Thế nhưng, qua trao đổi với các doanh nhân Việt Kiều, Phó Chủ tịch UBND Phạm Chánh Trực, người được giao trọng trách này, hiểu rằng thành phố khó có thể thành công được, nếu thông tin về hành lang pháp lý và cơ hội đầu tư không được cung cấp cho các nhà đầu tư nước ngoài và Việt Kiều. Ý tưởng về một tờ báo tiếng Anh đã ra đời từ đó.

"Chủ trương mở cửa và hội nhập dù hình thành từ Đại hội Đảng lần thứ VI năm 1986, nhưng sau năm 5 năm nhiều người trong bộ máy chính trị vẫn còn e ngại đủ thứ", ông Châu giải thích lý do tại sao tờ báo tiếng Anh về kinh tế phải mãi đến tháng 10/1991 mới được phép ra số đầu tiên.

"Chúng tôi phải ra trước một tờ tuần báo tiếng Việt, để rồi từ đó thuyết phục các cấp quản lý cho phép dịch 70% nội dung sang tiếng Anh. Còn 30% còn lại, chủ yếu là tin, do chúng tôi tự viết", ông Châu nói.

Thách thức tiếp theo, theo ông Châu, họ đều là những nhà báo chính trị - xã hội, chứ không được đào tạo về kinh tế. "Vả lại, những người như ông Trực và bạn ông là Tổng Biên tập Võ Như Lanh - nguyên uỷ viên Hội đồng Biên tập Sài Gòn Giải phóng, đều có những kỷ niệm không mấy vui vẻ với chính trị, nên họ quyết tâm làm một tờ báo kinh tế thuần tuý", ông Châu nhớ lại.

Cái khó ló cái khôn. Tình cờ, trong một lần ngồi uống cà phê, những người sáng lập TBKTSG đã nảy ra ý tưởng mở một quán cà phê làm nơi giao lưu giữa các nhà báo với các chuyên gia kinh tế, và giới doanh nhân. Để từ đó các những người tay mơ về kinh tế - kinh doanh như họ có thể làm một tờ báo chuyên nghiệp thực sự.

Gần như cùng một lúc với sự ra đời của tờ tiếng Việt, một quán cà phê trong khuôn viên trụ sở tờ báo cũng ra đời. Sáng sáng, trước khi đến công ty, nhiệm sở, các chuyên gia kinh tế và doanh nhân, đến uống cà phê, ăn sáng, và nói chuyện thời sự, đọc báo. Và, từ đó, mối quan hệ giữa tờ báo và họ đã được thiết lập. Phóng viên có thêm thông tin và bổ sung kiến thức để viết báo.

Cũng nhờ đó, nhiều người đã trở thành cộng tác viên của TBKTSG. Số lượng bài viết của họ đã trên TBKTSG đã từng được SGT Group xuất bản thành hàng chục tập sách. Và, từ một giải pháp tình thế, TBKTSG (tiếng Việt) đã trở thành một thương hiệu lớn. Nhất là trong phân tích và phản biện chính sách.

Trong thời kỳ cực thịnh của báo chí Việt Nam, nhiều người, trong đó có cả bản thân người viết, coi việc có bài được đăng trên TBKTSG như một sự một sự công nhận về nghề nghiệp.

Hơn nữa, từ những buổi ngồi nghe các chuyên gia phân tích, một số phóng viên của TBKTSG đã trở thành những chuyên gia thực thụ trong lĩnh vực mình phụ trách. Hải Lý là một ví dụ tiêu biểu trong lĩnh vực tài chính - ngân hàng, khi các chuyên gia và nhà đầu tư trong lĩnh vực này, nhất là giới trẻ, luôn tìm các bài phân tích của chị để tham khảo.

Sân chơi chuyên nghiệp

Những điều mà tờ báo thu được từ quán cà phê không chỉ có vậy.

"Chúng tôi hiểu rằng để có thể tiếp tục duy trì nơi giao lưu này, cần phải có dân chuyên nghiệp điều hành nó", ông Châu nói.

Một doanh nhân Việt Kiều là Alan Tấn đã hùn vốn để thành lập một nhà hàng liên doanh trên cơ sở quán cà phê đó. Buổi sáng vẫn là quán cà phê bình thường, còn trưa và tối trở thành quán ăn.

Cũng nhờ đó, SGT Group đã mở rộng thêm hoạt động của mình. Họ thường xuyên tổ chức các buổi toạ đàm theo những chủ đề nhất định. "Việc đứng danh nghĩa của SGT Club khiến các buổi toạ đàm diễn ra dễ dàng hơn nhiều. Bởi nếu đứng danh nghĩa báo, chúng tôi phải xin phép, và thủ tục rầy rà lắm", ông Châu nói.

Và những diễn giả tham dự không chỉ bó gọn trong giới học giả hay doanh nhân nữa, mà bao gồm cả các chính khách. Ông Châu cho biết ông Võ Văn Kiệt, nhất là sau khi về hưu, rất hay đến SGT Club để nói chuyện. Về những vấn đề ông thấy bức xúc. Còn trong thập niên 90, các thành viên nhóm Thứ Sáu của ông là những vị khách thường xuyên.

SGT Club còn mời cả những chính khách từ Hà Nội, nhân những chuyến công tác của các vị này vào Sài Gòn. Một trong số đó là nguyên Thứ trưởng ngoại giao Lê Mai - người sau đó đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành một quán cà phê khác ở Tuần báo Quốc tế ngoài Hà Nội, và định hướng phát triển của tờ báo đối ngoại này.

"Lúc đầu, chúng tôi chỉ mời ông Lê Mai tới uống cà phê. Nhưng thấy nhiều anh em phóng viên, biên tập viên ngồi quanh đó, ông ngẫu hứng nói chuyện thời sự đối ngoại luôn", ông Châu kể lại kỷ niệm với nhà ngoại giao xuất thân từ giới truyền thông này.

Theo thời gian, trong SGT Club lại sinh ra những "club" (câu lạc bộ) nhỏ hơn, mang tính chuyên ngành, như CLB Doanh nhân 20-30, CLB Nông sản, CLB Ý tưởng...

Đặc biệt, một trong những CLB đó lại gắn liền với sự ra đời của một tờ báo khác trong SGT Group, trước khi tách ra để khẳng định hướng đi độc lập của mình. Đó là CLB "Hàng Việt Nam chất lượng cao" và tờ Sài Gòn Tiếp Thị - một tờ báo, tiếp bước TBKTSG thưở trước, đã có nhiều đột phá trong làng báo Sài Gòn mấy năm vừa qua.

Diễn đàn kinh tế Việt Nam VEF.VN mời bạn đọc quan tâm đến Diễn đàn "Kinh tế sáng tạo - giải pháp đột phá cho Việt Nam bật lên?" cùng theo dõi và thảo luận. Mọi ý kiến xin gửi về vef@vietnamnet.vn.

Theo http://viet-studies.info/kinhte/QuanCaPhe_TuanBaoKinhTe.htm

Mình cũng vào vef những nó đã bị rút. Chả hiểu làm sao cả. may mà viet-studies vẫn còn.


Tổng số lượt xem trang

free counters