Triết Lý, để làm gì ?

Khi ta bế tắc tư tưởng, chân thật công nhận rằng những kiến thức và phương pháp suy luận của ta không cho phép ta sống, tư duy và hành động khớp với khao khát làm người của ta, ngoài vô vàn cách ứng xử khác, ta có thể:

a) Tiếp tục sống, tư duy và hành động như cũ vì, dù sao, ta cũng sống được, không đến nỗi nào

b) Lột áo cũ, khoác áo mới, một tấm áo coi lành lặn đẹp đẽ hơn nhưng cũng hàm hồ không thua gì. Điều ấy luôn luôn khả thi bằng ngôn ngữ.

c) Đi tới cùng bế tắc của chính mình. Nếu không giải quyết được nó, ta ôm nó xuống suối vàng, để lại ở đời chỉ một câu hỏi. Câu hỏi của một con người. Đích thực. Có gì nhục đâu?

Nếu ta tưởng ta đã tìm ra một phần của giải pháp, ít nhất là cho riêng mình, thì cứ viết đi, chẳng cần trích cao nhân nào cả: họ đã là một phần của ta và ta đã phải “vượt” họ để nên mình.

Thế thôi.

(Chungta.com)

Góc nhỏ của Noby Vui Vẻ

Lục lọi, tìm tòi, đọc, cóp nhặt, chia sẻ, ... OK hay không tùy bạn ! ! !

“Nước độc lập mà dân chưa tự do thì độc lập cũng không có ý nghĩa”- Hồ Chí Minh.

25 thg 6, 2010

Mô hình “nhà nước phúc lợi” lâm nguy


TT- – TT - Hệ thống xã hội phúc lợi được xây dựng nhiều thập kỷ qua ở châu Âu đang lung lay do khủng hoảng kinh tế và hầu hết các chính phủ buộc phải thắt chặt chi tiêu.

Những người dân trước giờ đã quen với giáo dục và y tế miễn phí, trợ cấp thất nghiệp rộng rãi ngay lập tức phải đối diện với những thách thức lớn trong đời sống thường nhật khi túi tiền của họ vơi đi nhanh chóng, còn nhà nước không chìa bàn tay phúc lợi ra nữa.

Người nghèo bị thiệt

“Cuộc sống đang ngày càng trở nên khó khăn với người nghèo” - Marieke Martin, nghiên cứu sinh tiến sĩ 30 tuổi tại Luneburg (Đức), nói với BBC. Martin hiện đang phải đi làm thêm ở một siêu thị để trang trải khoản học phí 17.000 euro (21.000 USD) và cả tiền sinh hoạt hằng tháng. Cô cũng sẵn sàng cho việc tìm kiếm việc làm ở nước ngoài khi chính quyền cắt giảm mạnh chi tiêu cho lĩnh vực mà cô nghiên cứu.

Cả châu Âu thắt lưng buộc bụng

* Romania: cắt giảm 25% lương của 1,4 triệu nhân viên nhà nước, 200.000 việc làm trong lĩnh vực công và 15% lương hưu và trợ cấp thất nghiệp.

* Iceland: tăng 45% học phí đại học, chi tiêu chính phủ ở mức -3% trong năm 2009 so với 2008 và sẽ tiếp tục âm vào các năm 2010 và 2011.

* Tây Ban Nha: nâng tuổi hưu từ 65 lên 67, cắt giảm 6 tỉ euro (7,4 tỉ USD) trong các lĩnh vực công, gần như ngừng tuyển dụng mới ở các cơ quan nhà nước, giảm trung bình 5% lương của 2,8 triệu nhân viên nhà nước, riêng các bộ trưởng bị cắt lương 15%, tăng thêm 2% thuế VAT, không tăng lương hưu, cắt các khoản trợ cấp một lần 2.500 euro (3.000 USD) cho bà mẹ vừa sinh con, cắt các khoản viện trợ quốc tế trị giá 600 triệu euro (740 triệu USD).

* Lithuania: Thủ tướng Andriud Kubilius tự nguyện cắt 40% lương, tăng thêm nhiều khoản thuế, giảm 5% lương hưu và trung bình 10% lương ở lĩnh vực công.

* Ireland: đặt mục tiêu tiết kiệm 12 tỉ euro (14,8 tỉ USD) thông qua giảm chi và tăng thu thuế.

Trong một cuộc phỏng vấn trên Đài truyền hình Đức ARD sáng 24-6, Thủ tướng Đức Angela Merkel một lần nữa khẳng định chính quyền của bà vẫn quyết tâm thực hiện kế hoạch kinh tế khắc khổ để giảm bớt khoản thâm hụt ngân sách liên bang đã lên tới 80 tỉ USD, bao gồm việc cắt giảm hàng ngàn việc làm trong lĩnh vực nhà nước và Martin là một trong những người bị ảnh hưởng trực tiếp.

Nhưng dẫu sao tình hình ở Đức vẫn còn sáng sủa, khi thâm hụt ngân sách mới chỉ khoảng 3% GDP. Tại những quốc gia đã vỡ nợ như Hi Lạp hay đang đứng trên bờ vực như Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, cuộc sống còn bi đát hơn.

“Tôi đã mất 20% thu nhập kể từ khi chính phủ thực hiện cắt giảm lương nhà nước. Tôi đã phải cắt giảm rất nhiều thứ, không đi ăn bên ngoài nữa, không mua quần áo mới và cả không gặp bạn bè uống cà phê” - Eleni Hondrou, 38 tuổi, một nhân viên văn phòng tại Athens, than vãn.

Thủ đô Hi Lạp đã thay đổi trông thấy từ vài tháng qua. “Rất nhiều người không còn đi làm bằng xe hơi riêng, Athens ít kẹt xe hơn, thật lạ lùng. Tôi chưa bao giờ nghĩ rằng có điều gì khiến người Hi Lạp từ bỏ những chiếc xe hơi của họ. Tôi còn may chán vì không vay mượn gì. Nhiều người nợ nần và giờ không thể trả nổi. Tôi nghĩ hầu hết đều bị sốc” - Hondrou kể với BBC.

Ai có lỗi?

Nhiều người đổ lỗi cho cách điều hành của chính phủ gây ra tình hình khốn khó của họ hiện giờ.

“Tôi tham gia biểu tình vì cho rằng chính quyền đã thực hiện chính sách khắc khổ một cách sai lầm. Những biện pháp được đưa ra vội vàng và quá muộn, chỉ vì áp lực từ thị trường và Liên minh châu Âu. Thay vì tấn công những nhân viên nhà nước, chính quyền có thể tăng thuế với những người giàu. Tôi và chồng đều bị cắt lương, vốn đã chẳng nhiều nhặn gì. Tôi có sống sung sướng gì cho cam” - Angeles Rodriguez de Cara, một nghiên cứu sinh trong lĩnh vực nhà nước tại Madrid (Tây Ban Nha), bức xúc.

Dẫu sao De Cara vẫn còn may mắn. Hiện giờ tại Tây Ban Nha, cứ năm người trong lực lượng lao động thì một người thất nghiệp. Những hàng người cứ dài mãi ở bên ngoài các văn phòng việc làm tại Madrid, chờ đợi những khoản trợ cấp nhỏ giọt từ chính quyền.

Dù là ít ỏi, tiền trợ cấp thất nghiệp đã tiêu tốn của ngân sách Tây Ban Nha 40 tỉ euro (49 tỉ USD) mỗi năm, tương đương 3,9% GDP, theo báo El Pais. Việc có tới 1/3 số lao động ở Tây Ban Nha chỉ có hợp đồng ngắn hạn càng khiến họ trở nên dễ bị sa thải khi khủng hoảng kinh tế lan rộng. German Lopez là một người như thế, dù đã gửi hồ sơ xin việc đến vài chục chỗ nhưng cựu nhân viên siêu thị này vẫn không thể tìm được việc làm trong một năm qua. “Trên một trang web tuyển dụng, tôi thấy có 963 người đăng tuyển cho một vị trí giống tôi” - Lopez lắc đầu ngán ngẩm.

Cũng có những người tin rằng các ngân hàng là thủ phạm chính khiến cuộc sống của họ ngày càng trở nên bấp bênh. “Cuộc khủng hoảng này do ngân hàng và các định chế tài chính gây ra. Các chính phủ vào cuộc để cứu nền kinh tế và cứu các ngân hàng khỏi sụp đổ. Giờ đây các ngân hàng và định chế tài chính đó lại quay ra nói với chính phủ rằng: hãy đưa hóa đơn thanh toán việc này cho những công dân bình thường. Điều đó thật khó chấp nhận” - Ronald Janssen, thuộc Hội đồng các liên đoàn lao động châu Âu, nói với BBC.

Tuy nhiên, cũng có ý kiến cho rằng hệ thống xã hội phúc lợi ở châu Âu, với trợ cấp thất nghiệp rộng rãi, giáo dục miễn phí và y tế được nhà nước đài thọ phần lớn không thể duy trì mãi. Kinh tế gia Marc Stocker thuộc Tổ chức Business Europe nói với BBC: “Giờ hệ thống đó cần được cải tổ, để đảm bảo rằng chúng ta có thể đương đầu với các thách thức tương lai: sự già hóa dân số, cạnh tranh toàn cầu ngày càng khốc liệt và những cuộc khủng hoảng bất thường”.

HẢI MINH

Những bài học từ kết quả bỏ phiếu đường sắt cao tốc

TS Nguyễn Sỹ Phương, CHLB Đức

Bất cứ quốc sách nào thành công đều cần đến cơ sở khoa học, và thực tiễn – cũng chính là thước đo của chân lý, nhưng sẽ thất bại nếu sử dụng nó như một công cụ có thể biến hóa phục vụ cho ý chí chủ quan, dù với động cơ tốt đẹp bao nhiêu.

Không phải cuộc chiến thắng – thua
Các vị ĐBQH nghiên cứu tài liệu tại hội trường. Ảnh: Lê Anh Dũng.

Các vị ĐBQH nghiên cứu tài liệu tại hội trường. Ảnh: Lê Anh Dũng.

Bỏ phiếu tại Quốc hội là đặc trưng phổ quát của xã hội dân chủ, phủ quyết hay chấp thuận là chuyện bình thường; việc này không phải là một cuộc chiến mang bản chất thắng thua, loại trừ lẫn nhau mà là đi tìm tiếng nói chung trên nguyên tắc đa số, vì lợi ích chung cho cả hai bên. Với ý nghĩa chung đó, có thể kết luận, kết quả bỏ phiếu không thông qua dự án đường sắt cao tốc là thắng lợi không của riêng ai, mà là của cả đất nước. Vấn đề còn lại, là những câu hỏi nào cần đặt ra từ kết quả bỏ phiếu đó, để sau này với những cuộc bỏ phiếu tương tự, tiếng nói của đa số người dân sẽ được lắng nghe.

Đường sắt cao tốc là một tiến bộ khoa học kỹ thuật không còn mới lạ, đã được khẳng định bằng khoa học và qua thực tế thế giới ứng dụng, trên tất cả mọi phương diện. Bàn cãi thuần túy về nó không phải chức năng của Quốc hội mà là chức năng của các cơ quan khoa học. Đại biểu Quốc hội, không thể thay thế nhà khoa học, và càng không thể lấy trải nghiệm bản thân, thay cho khoa học, kiểu: “Ra nước ngoài tôi đi thử rồi. Tốc độ nhanh, an toàn, trẻ em đi học, bà mẹ đi làm”. Trẻ em đi học, bà mẹ đi làm chỉ với ô tô buýt, tàu điện, không bao giờ với tàu cao tốc cả. Ai chịu trách nhiệm về nhầm lẫn sơ đẳng giữa tàu điện với tàu cao tốc, hoặc nhầm giữa trẻ em, bà mẹ với người đi công tác xa, du lịch vốn là đối tượng chuyên chở của đường sắt cao tốc, nếu Quốc hội lấy đó làm căn cứ biểu quyết, mà không dựa vào một công trình khoa học được thừa nhận?

Thực tế trên đòi hỏi Quốc hội cần có quy chế điều trần, thuê giám định khoa học đối với bất cứ vấn đề nào đưa ra bàn thảo, họ phải chịu trách nhiệm pháp lý với báo cáo khoa học của mình, để giải tỏa bất cứ ngờ vực nào của bất cứ đại biểu nào về mặt khoa học đối với bản thân vấn đề đó, trước khi biểu quyết; nếu chưa được thì phải dừng lại; đừng cố, bởi biểu quyết trong trường hợp đó sẽ mang tính chất may rủi trong sòng bài! Không đúng với tính chất đại biểu Quốc hội.

Phản biện khoa học – công cụ thực thi quyền giám sát của Quốc hội

Chức năng của Quốc hội đối với Dự án đường sắt cao tốc, rốt cuộc chỉ ở chỗ như một chủ nhân, quyết định dùng nó hay không, căn cứ vào lợi ích nó mang lại tính toán được, đối chiếu với đòi hỏi của thực tế, cân đối trong tổng thể thu chi tài chính quốc gia, thể hiện trên những con số. Bất cứ dự án nào cũng đều phải vậy, bởi nước nào tài lực dù mạnh đến mấy đều có giới hạn, chi khoản này thì buộc phải thôi khoản khác.

Để có được căn cứ đó cũng không thể không cần đến các công trình khoa học có phản biện.

Ở các nước Âu Mỹ, đó là những báo cáo giám định khoa học độc lập. Đến đánh giá nền kinh tế và hoạch định chính sách hàng năm là chức năng của Chính phủ Đức, họ có đầy đủ các ban bệ, cơ quan khoa học trực thuộc làm điều đó, nhưng Quốc hội Đức vẫn phải thuê 5 chuyên gia hàng đầu về kinh tế, trả thù lao tốn kém, đánh giá riêng, để đối chứng.

Quốc hội ta cần tham khảo cách làm đó, nếu không, sẽ không bao giờ có thể độc lập, giám sát nổi Chính phủ. Dù quyền lực Quốc hội có lý luận tối cao đến đâu, độc lập đến mấy, một khi đã không có phương tiện gì trong tay, thì lẽ dĩ nhiên chỉ còn cách dựa vào Chính phủ như thực tế diễn ra xưa nay ở ta, mâu thuẫn với chính bản chất nó phải có.

“Tiền không phải là tất cả mọi thứ, nhưng không tiền mọi thứ đều không”, câu tục ngữ Đức đề cập đến vai trò đồng tiền này, đúng cho cả quốc gia. Chính vì vậy, nợ quốc gia như ở Đức luôn là nội dung hàng đầu trong tranh cử bầu Quốc hội của các đảng phái, và để được Quốc hội thông qua, cần không biết bao kỳ họp, bảo vệ nó như bảo vệ luận án khoa học, trước phản biện của các đảng phái đối lập.

Bất cứ quốc sách nào thành công đều cần đến cơ sở khoa học, và thực tiễn – cũng chính là thước đo của chân lý, nhưng sẽ thất bại nếu sử dụng nó như một công cụ có thể biến hóa phục vụ cho ý chí chủ quan, dù với động cơ tốt đẹp bao nhiêu.

Khác với trước kia, thực tiễn bị bó hẹp trong phạm vi quốc gia, phe phái, ý thức hệ, khó có thể dùng làm kiểm chứng, ngày nay thời đại của thế giới phẳng, hội nhập toàn cầu, sử dụng thước đo quốc tế chứ không phải quốc gia, mọi chính sách đều có thể tham khảo tất cả mọi nước, theo bất cứ tiêu thức nào mình muốn.

Đó chính là lợi thế mới, cơ hội cho các nước đi sau, học hỏi chọn lọc những thành công đã được các nước đi trước khẳng định, nhanh chóng đuổi kịp họ, không có bất cứ mưu mẹo nào khác thay thế được, để đi tắt đón đầu họ cả.

Nhưng thất bại cũng sẽ nặng nề gấp nhiều trước kia, “trèo cao, ngã đau”, nếu thực tế đó bị nghiên cứu sai lệch, hoặc được gọt giũa theo chủ đích định sẵn, cần được rút kinh nghiệm từ dự án đường sắt cao tốc, như khi Báo cáo giải trình bổ sung của Chính phủ gửi Quốc hội, viện dẫn ví dụ nước Đức để bảo vệ dự án, kết luận hoàn toàn sai thực tế rằng “nước Đức đã nâng cấp đường sắt khổ 1.435 mm để vận chuyển cả hàng hóa và hành khách với tốc độ vận chuyển hành khách 200 km/h. Tuy nhiên, sau đó phương án này không hiệu quả cho nên các tuyến đường sắt cao tốc của Đức hiện nay đều được xây dựng mới”.

Trên thực tế, hệ thống giao thông đường sắt Đức là đối tượng kinh doanh của tập đoàn đường sắt Đức DB, một tập đoàn [lớn] nhất châu Âu, có doanh thu bằng 1/3 GDP nước ta, lãi cũng bằng 1/3 ngân sách nước ta, giống như các tập đoàn sản xuất máy bay, tàu thủy, đầu tư kinh doanh hoàn toàn vì động cơ lợi nhuận, hiện vẫn song song nâng cấp, làm mới mọi loại đường cả trên và dưới tốc độ 200 km/h, không liên quan gì đến chức năng nhà nước vay nợ đầu tư quản lý nó như ở ta, nên không thể so sánh với ta để rút ra kết luận nhà nước phải đầu tư đường sắt cao tốc, hay tốc độ dưới 200 km/h không hiệu quả….

Tương tự, trong dự án, nhiều luận điểm then chốt viện dẫn đường sắt Nhật, Pháp, Mỹ, Úc… đều bị các nhà khoa học người Việt trên cơ sở thực tế ở đó phản bác; nếu thiếu những phản biện này, các đại biểu Quốc hội chắc chắn không có được những nguồn thông tin, thực chất, tin cậy, bất vụ lợi để yên tâm đi đến quyết định lá phiếu độc lập của mình như vừa qua.

Các nhà khoa học, trong cũng như ngoài nước, khi có điều kiện luôn sẵn sàng cung cấp cơ sở thực tế trong và ngoài nước cho bất cứ quốc sách nào Chính phủ, Quốc hội cần, nhất là chừng 300.000 khoa học gia người Việt ở nước ngoài luôn nặng lòng với nguồn cội. Đừng để họ ngoài cuộc, sự kiện phản biện có giá trị thuyết phục vừa qua đối với dự án đường sắt cao tốc của các nhà khoa học chính là cơ hội thực tế để Nhà nước có hành động hữu hiệu tập hợp họ theo chuyên môn khi có quốc sách đòi hỏi.

Xa hơn nữa, cần có những tổ chức khoa học không biên giới tập hợp người Việt cả trong và ngoài nước lẫn đồng nghiệp quốc tế của họ, một nguồn chất xám to lớn không tốn kinh phí đào tạo, nhưng lại rất cần năng lực chiêu mộ nhân tài của những người đứng đầu nhà nước.

NSP

Nguồn: http://www.tuanvietnam.net/2010-06-23-nhung-bai-hoc-tu-ket-qua-bo-phieu-duong-sat-cao-toc

Công nghiệp hóa - hiện đại hóa và vấn đề giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc


Nguyễn Văn Huyên
Tạp chí Triết học

C.Mác đã từng khẳng định một cách đúng đắn rằng, một xã hội chỉ có thể phát triển cao với một nền đại công nghiệp. Lý tưởng cao đẹp của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta là xây dựng Việt Nam thành một nước xã hội chủ nghĩa giàu mạnh và văn minh. Để thực hiện lý tưởng đó, Nghị quyết Đại hội lần thứ VIII Đảng Cộng sản Việt Nam đã đề ra: từ nay đến năm 2020 chúng ta phải phấn đấu đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp hiện đại.

"Mục tiêu công nghiệp hoá - hiện đại hoá là xây dựng nước ta thành một nước công nghiệp có cơ sở vật chất - kỹ thuật hiện đại, cơ cấu kinh tế hợp lý, quan hệ sản xuất tiến bộ, phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, đời sống vật chất và tinh thần cao, quốc phòng, an ninh vững chắc, dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng văn minh xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội”.

Như vậy, công nghiệp hoá không phải chỉ là phát triển nền công nghiệp, mà là phát triển mọi lĩnh vực từ sản xuất vật chất và dịch vụ của nền kinh tế, cho đến các khâu trang thiết bị, phương pháp quản lý, tác phong lao động, kỹ năng sản xuất…

Hiện đại hoá cũng không có nghĩa chỉ là đưa khoa học - công nghệ - kỹ thuật thông tin - vi điện tử hiện đại vào các lĩnh vực hoạt động kinh tế, mà là quá trình vận dựng tất cả những phương tiện đó vào tổng thể hệ thống kinh tế, chính trị, xã hội, nó đòi hỏi phải thực hiện cách mạng công nghệ trong các cơ cấu kinh tế - xã hội một cách hợp lý, cân đối, tạo lập cơ chế quản lý xã hội ở trình độ chuyên môn cao với phương pháp quản lý hiện đại.

Công nghiệp hoá - hiện đại hoá phải hoàn thiện cơ cấu - tổ chức - vận hành xã hội, chuyên môn hoá chức năng ngày càng sâu của các thể chế, nâng cao chất lượng các phương tiện thông tin đại chúng và chất lượng sống: dân chủ hoá đời sống xã hội trong khuôn khổ một Nhà nước pháp quyền, phát triển nguồn nhân lực, nâng cao dân trí và dân đức thông qua việc phát triển nền giáo dục quốc gia.

Như vậy, quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá, thực chất tự bản thân nó chính là một quá trình biến mọi hoạt động kinh tế - chính trị - xã hội, đặc biệt là hoạt động sản xuất tinh thần và đời sống văn hóa từng bước lên trình độ tiên tiến và hiện đại. Đó là quá trình văn hoá hoá đời sống xã hội và văn hoá hoá ngày càng cao bản thân con người. Bởi văn hoá là hiện thân sức mạnh bản chất người được thể hiện trong "Thiên nhiên thứ hai" của con người (Mác). Tất cả sức mạnh bản chất người đó được tàng chứa trong toàn bộ thế giới vật chất - tinh thần, nó thể hiện một cách năng động nhất trong cơ cấu - tổ chức - vận hành của một xã hội, đặc biệt là ở phần tinh thần nơi thăng hoa toàn bộ giá trị văn hoá nằm tương ứng bên trên cơ cấu - tổ chức - vận hành đó.

Chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử đã vạch ra qui luật khách quan rằng, đời sống vật chất (hiện thực) quy định đời sống tinh thần của xã hội. Do đó, trình độ kinh tế - chính trị - xã hội tiên tiến và hiện đại do công nghiệp hoá - hiện đại hoá tạo ra sẽ là cơ sở quy định bản chất và trình độ của nền văn hoá xã hội.

Một vấn đề lớn và quan trọng đặt ra là: Nền văn hoá tiên tiến, hiện đại do công nghiệp hoá - hiện đại hoá hình thành nên có mâu thuẫn, có thủ tiêu nền văn hoá truyền thống và làm mất đi bản sắc dân tộc của văn hoá truyền thống?

Phép biện chứng duy vật và thực tiễn xã hội cho thấy, đời sống tinh thần có cuộc sông độc lập của nó so với nền tảng vật chất xã hội. Văn hoá, một khi ra đời, dù là xuất phát từ tồn tại kinh tế, từ đời sống vật chất, nó trở thành thực thể độc lập với cơ sở kinh tế - xã hội. Thực tế đã chứng minh, những hệ tư tưởng, chính trị, văn hoá đã đóng vai trò điều chỉnh và qui định chiều hướng vận động của xã hội. Ngày nay, loài người càng nhận rõ rằng, văn hoá không chỉ là cái phái sinh của điều kiện kinh tế - xã hội, mà còn là động lực nội sinh của sự phát triển kinh tế - xã hội. Nghĩa là, trước sự hiện đại hoá xã hội, và cùng với nó là sự hình thành những yếu tố văn hoá tiên tiến, hiện đại, thì những yếu tố, những thực thể văn hoá truyền thống như là bản sắc văn hoá Việt Nam vẫn độc lập tồn tại và không những tồn tại, mà chúng còn làm tiền đề cho sự nảy sinh và phát triển các yếu tố văn hoá mới.

Lịch sử phát triển văn hoá nhân loại cho thấy, mỗi nền văn hoá bao giờ cũng tàng chứa những tố chất đặc sắc, tạo nên nét riêng của mình đó là bản sắc. Cái bản sắc đó được kết tinh từ tâm hồn, khí phách hàng ngàn đời của dân tộc, tạo nên nhân lõi, cốt cách, bản lĩnh và sức sống của một dân tộc, nó là căn cước để nhận dạng nó trong trăm ngàn nền văn hoá, là bộ gien để di truyền bản sắc truyền thống của mình cho các thế hệ mai sau. Bản sắc văn hoá là cái bảo đảm cho thế ổn định và trường tồn của một nền văn hoá.

Văn hoá Việt Nam với bản sắc của mình, qua bao lần tiếp biến vẫn không bị sai lạc, phai mờ, thậm chí qua bao lần đất nước bị xâm lăng, dân tộc bị chôn tính, nhưng bản sắc đó không bao giờ mất, không những không mất mà nó ngày càng được khẳng định và phát triển. Mỗi lần tiếp biến, văn hoá Việt Nam với bản lĩnh và sức sống của mình, lấy bản sắc dân tộc làm tiêu chí, nó gạn lọc, tiếp thu những tinh hoa tốt đẹp của các nền văn hoá khác trên khắp thế giới, làm giàu có và đậm đà thêm, phong phú thêm cho bản sắc của mình.

Công cuộc công nghiệp hoá - hiện đại hoá hiện nay ở nước ta thực sự đang là một cuộc tiếp biến lớn lao, rất căn bản của văn hoá Việt Nam với thế giới văn hoá hiện đại. Với truyền thống luôn giữ vững bản sắc của mình, văn hoá Việt Nam không bao giờ bị văn hoá hiện đại làm lu mờ, thôn tính, mà sẽ tiếp thu những yếu tố văn hoá tiên tiến, hiện đại chứa đựng trong khoa học - công nghệ hiện đại, nó cộng sinh, làm phong phú và hiện đại thêm nền văn hoá của chính mình. Theo nghĩa đó, công nghiệp hoá - hiện đại hoá không nhưng không là tác dụng xấu, mà là tác dụng tích cực, hay có thể nói, chúng đem lại những yếu tố mới cho việc làm sâu sắc thêm phong phú thêm bản sắc văn hoá Việt Nam.

Nói như vậy không có nghĩa công nghiệp hoá - hiện đại hoá chỉ có đem lại những thuận lợi, tạo ra tất cả những yếu tố tích cực cho và giữ gìn bản sắc văn hoá Việt Nam.

Công nghiệp hoá - hiện đại hoá nâng cao chất lượng sống, từ đó hình thành nên những chuẩn mực mới lạ trong đời sống tinh thần, có thể dẫn đến "sự va chạm" giữa lối sống, lối tư duy hiện đại với lối sống và tư duy truyền thống: Lối sống và cách tư duy hoà với thiên nhiên, tình cảm cộng đồng tình làng nghĩa xóm dường như "mặc cảm" với lối sống đô thị và toan tính kinh tế có tính cá nhân, nếp sống thanh bình dễ "dị ứng” với nhịp độ gấp gáp của tác phong công nghiệp, ứng xử tình cảm nghiêng về đạo đức thường tương phản với văn hoá trí tuệ và nền pháp lý chặt chẽ, lối sống tiêu xài không mấy phù hợp với truyền thống thanh đạm của con người Việt Nam…

Quá trình công nghiệp hoá - hiện đại là hoá có kết quả hay không còn phụ thuộc vào quá trình giao lưu hội nhập quốc tế. Hội nhập quốc tế không chỉ là nhập công nghệ mà là hoạt động toàn diện khoa học kỹ thuật, kinh nghiệm sản xuất - quản lý kinh tế - xã hội. Sự hội nhập sẽ làm tăng nhanh nhiều loại sản phẩm văn hoá, trong đó, bên cạnh các yếu tố tốt đẹp, có cả những yếu tố không phù hợp với văn hoá truyền thống, thậm chí độc hại nữa.

Chúng ta chủ động lựa chọn chính sách trong tiếp biến của công nghiệp hoá - hiện đại hoá. Những thế mạnh trong dối sách đó là tương đối bởi trình độ kinh tế - xã hội nước ta rất thấp so với các nước đầu tư vào ta. Trong biết bao loại đầu tư, ở đó đồng thời cũng kèm theonhững dạng văn hoá nhất định. Cái ta cần, nói chung là vượt hẳn cái ta có khả năng cho. Trong một xã hội nghèo, sự thâm nhập ồ ạt từ bên ngoài làm đảo lộn nhiều thói quen, nếp sống, kể cả suy nghĩ của nhân dân ta trên một bình diện rộng hơn bao giờ hết.

Vài năm gần đây, không chỉ ở thành thị mà cả ở nông thôn, điều kiện sống, tiện nghi sinh hoạt, lối sống đã có sự thay đổi lớn, sư thay đổi đó diễn ra không chỉ ở bề ngoài mà cả ở chiều sâu. Sự khủng hoảng một số mặt trong nhiều phương diện đời sống đang hình thành liên quan đến từng gia đình. Trước đây một số người đi tìm sự thoả mãn lối sống của họ ở nước ngoài, thì nay lôi sống đó đã nảy nở tại Việt Nam, trên một số lĩnh vực lối sống đó đã khống chế lối sống truyền thống Việt Nam, nhiều cách sinh hoạt, cách sống, cách nghĩ... thực sự đã xung đột với những chuẩn mực mà nhân dân ta cho là lành mạnh. Nhiều hiện tượng trước đây hoàn toàn xa lạ thì nay ở không ít người được xem như là chuyện bình thường: bạo lực, kích dâm, xem tiền là tối thượng, xem hưởng thụ vật chất là mục đích của cuộc đời. Đồng minh của lối sống buông thả là luận điệu tự do, dân chủ không ranh giới. Tất cả những cái đó nếu không kịp thời ngăn chặn, đến một lúc, an ninh quốc gia, thậm chí độc lập dân tộc sẽ là cái bia bắn phá, lối sống dân tộc, văn hoá dân tộc sẽ bị coi là lạc hậu, lạc lõng.

Rõ ràng, làm thế nào để thực hiện công nghiệp hoá - hiện đại hóa mà vẫn giữ gìn được bản sắc văn hoá dân tộc đang là vấn đề bức xúc đặt ra cho toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta hiện nay. Điều đầu tiên phải thấy rằng, một trong những biện pháp để công nghiệp hoá - hiện đại hoá không chỉ đơn giản là nhập nội khoa học - kỹ thuật - công nghệ tiên tiến từ bên ngoài, mà là biết kết hợp các yếu tố nội sinh và ngoại sinh, trong đó, yếu tố nội sinh là gốc, là nền tảng. Bởi Đảng và Nhà nước ta chủ trương mục đích của hiện đại hoá không chỉ vì một cuộc sống tiện nghi, mà là phát triển con người và dân tộc Việt Nam, làm cho nền văn hoá Việt Nam ngày càng tiên tiến, hiện đại và ngày càng đậm đà bản sắc.

Như vậy, mục tiêu cho cả của công nghiệp hoá - hiện đại hoá là đạt đến một nền văn hoá nhân văn - nền văn hoá người nhất: nền văn hoá tất cả vì con người, con người ở đây được phát triển toàn diện, hài hòa mang tâm hồn, lý tưởng, sắc thái Việt Nam.

Theo phương châm đó, CNH - HĐH ở Việt Nam phải lấy văn hóa truyền thống làm nền tảng và động lực, lấy việc làm đậm dà bản sắc văn hóa làm mục tiêu.

Suốt 4000 năm lịch sử, những đặc trưng dân tộc Việt Nam đã kết tụ nên những nét văn hóa riêng và rất đậm. Nó riêng với những đặc trưng chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa anh hùng, tinh thần nhân ái, nhân văn, tinh thần đoàn kết, cộng đồng, tình yêu lao động, cần cù chịu khó, tinh thần lạc quan yêu đời, óc thông minh sáng tạo, đức khoan dung, lòng cởi mở, hoà hợp, tế nhị, linh hoạt và tình cảm… Nó đậm bởi suốt hàng nghìn năm bị ngoại bang đô hộ, suất hàng trăm năm bị xâm lăng bởi nhiều thế lực mạnh, nhiều khi nước mất, nhưng những nét đặc trưng tinh thần cao đẹp đó không bao giờ mất.

Trong công nghiệp hoá - hiện đại hoá, một mặt, để hoà vào được trình độ phát triển thế giời, mặt khác, giữ gìn được bản sắc văn hoá của mình, chúng ta cần phát huy các giá trị truyền thống để tiếp thu những thành quả khoa học - công nghệ - tin học hiện đại, lấy yếu tố nội sinh làm chủ thể nghĩa là yếu tố nội sinh phải đóng vai trò quyết định trong việc định hướng các mối quan hệ của chúng với các yếu tố ngoại sinh, còn các yếu tố ngoại sinh phải trở thành tố chất kích thích sự tiến hoá của các yếu tố nội sinh.

Hội nhập trên cơ sở định hướng với sự lựa chọn tối ưu là làm sao tích hợp được nhiều tinh hoa đặc sắc của nhiều nền khoa học - kỹ thuật - công nghệ và cách điều tiết nền kinh tế - xã hội của nhiều nước một cách hợp lý, phù hợp với đặc điểm và điều kiện dân tộc mình. Nếu nhân danh sự tiếp thu mà bê nguyên xi những cái bên ngoài thì rất cuộc văn hoá sẽ bị mất gốc, bị đồng hoá. Mất nước, chúng ta còn giành lại được nước, nhưng mất bản sắc văn hoá dân tộc thì lịch sử thế giới đã cho thấy, sẽ mất tất cả!

Tiếp thu trên tư thế chủ động là điều kiện của việc xử lý mối quan hệ biện chứng nội sinh, ngoại sinh. Điều đó có nghĩa, chủ thể tiếp nhận phải có đủ kiến thức và trình độ đối thoại với đối tác một cách tự tin. Nguyên tắc tiếp thu là lấy bản sắc văn hoá của mình làm gốc, lấy tiêu chí văn hoá dân tộc làm bộ lọc, tiếp thu các giá trị khoa học công nghệ - văn hoá hiện đại của thế giới, lấy cái tiến bộ bổ sung cho những thiếu hụt trong văn hoá truyền thống, tạo thuận lợi cho văn hoá dân tộc phát triển.

Đối thoại là bình đẳng và tự do nhưng trên nguyên tắc giữ vững chủ quyền: không để đối tác mạnh khống chế và lấn át, không để các yếu tố độc hại thâm nhập thông qua các con đường chuyển giao công nghệ, kinh tế, khoa học, nghệ thuật, thông tin…

Nhiều nước Châu Á, Châu Phi và Mỹ la tinh đã đặt nhiều hy vọng vào con đường hiện đại hoátheo mô hình các nước Âu - Mỹ. Người ta đã đồng nhất hiện đại hoá với phương Tây hoá. Kết quả là, sự thu nhập tuỳ tiện các giá trị bên ngoài không phù hợp với chính mình đã làm cho những chuẩn mực giá trị văn hoá truyền thống bị biến chất, khiến cho các nước đó không nhưng không đạt được mục tiêu hiện đại hoá mà còn đưa đất nước lâm vào tình trạng rối loạn.

Chúng ta học tập kinh nghiệm công nghiệp hoá - hiện đại hoá của các nước nhưng không bê nguyên xi các mô hình của họ, mà phải cải biến, sáng tạo chúng thành các giá trị văn hoá mới của Việt Nam, sắp xếp lại các thang giá trị cho thích hợp, cải biến, sáng tạo ra các hình thức mới để biểu đạt sâu sắc nội dung giá trị văn hoá Việt Nam, tạo ra thế và lực phát triển văn hoá dân tộc Việt Nam.

Tiến tới hiện đại hoá mọi lĩnh vực đất nước trong đó có văn hoá theo hướng toàn cầu hoá. Điều đó không có nghĩa là đồng nhất hoá các giá trị và các tiêu chí văn hoá dân tộc với mọi nền văn hoá khác. Điều này đã được Tổng thư ký UNESCO cảnh báo: “Xu hướng toàn cầu hoá có thể gây phương hại tới tính sáng tạo và đa văn hoá của thế giới, tạo ra sự đồng nhất nghèo nàn về văn hóa".

Chúng ta thực hiện công nghiệp hoá - hiện đại hoá là nhằm làm phong phú và hiện đai hoá văn hoá Việt Nam, làm đậm đà và bền vững thêm bản sắc văn hoá của mình, chứ không để cho nó bị hoà tan, làm sao để vào khoảng những năm 20 của thiên niên kỷ tới, dân tộc Việt Nam, con người Việt Nam được sống trong một xã hội hiện đại với nền văn hoá đặc sắc của chính mình.

Nguồn: Tạp chí Triết học

Tự do cá nhân và quyền lực công cộng


Cụ Hinh
Tia sáng


09:05' AM - Thứ năm, 24/06/2010

Cái tháp quyền lực ngàn xưa ở xứ Đông đem đối lập quyền lực công cộng, tạm gọi như vậy, với tự do cá nhân. Đây là một câu chuyện để phải tư duy.

Đừng vội nghĩ đến triều đình với Nhà nước. Công quyền rộng hơn, ngay từ các lĩnh vực gia đình, họ hàng, làng xã trở đi, thậm chí giữa bạn bè.

Nhìn xa ra nữa, thì công quyền chính là ý thức nền tảng của mỗi người tham gia tạo dựng nên nó, họ vừa là nạn nhân nhưng cũng vừa là tác giả. Nghĩa là trong mỗi cá nhân của cái cộng đồng này họ chỉ mong mình được tự do, nhưng không muốn chấp nhận người khác được tự do.

Như vậy, mỗi người vừa sợ hãi, vừa lợi dụng tập tục để lấn át cái riêng tư của mỗi cá nhân khác. Theo đuổi triết lý này thì chỉ có vua nhà, vua họ, vua làng, vua nước thì mới có tự do, mà cũng chỉ rất tương đối. Họ có rất nhiều quyền lực, nhưng cũng rất khó vượt ra ngoài các khuôn khổ đã bị quy định, sống như một nhân vật trên sân khấu theo kịch bản đã định, từ cách ăn mặc đến nói năng, chân tay ra sao, lưng khom thế nào, luôn luôn như đang bị phán xét cả.

Tôi đã từng dự đám ma ở xứ Đoài, đám ma bà cụ mẹ ông bạn “Minh Sơn”, Michel. Một số người thân thiết với Michel, ra nghĩa trang. Mỗi người thả một nhành hoa và một viên đất tượng trưng xuống huyệt. Không một bức ảnh, không một thước phim, cũng không một lời nói. Ánh mắt là đủ. Sau đó về nhà ông Michel nướng chả, mở rượu, bàn tất cả các chuyện trừ chuyện đám ma, suốt từ giờ Ngọ đến giờ Tý.

Người xứ Đông thì ma chê cưới trách, coi đây là việc làng chứ không phải việc mình. Trong đám ma lại còn thuê người khóc nỉ non, cố lăn ra đường để khoe chữ hiếu. Sống dầu đèn, chết kèn trống. Lúc nào cũng cảm thấy cái búa rìu dư luận công quyền trên đầu.

Vài người xứ Đông cũng có khát vọng tự do. Tự do khi ấy chỉ còn là bầu rượu túi thơ ở góc nào đó, nói góc bể chân trời cho oai. Mà rồi cũng phải ép nhau “trăm phần trăm” cho đến vật vã, nôn thốc nôn tháo thì mới gọi là thành công thành nhân.

Tự do khi ấy chỉ còn là rút đi ở ẩn, mà ở ẩn thật sâu trong rừng rồi có khi vẫn chưa yên, người ta đốt cả rừng để xem có chui ra không.

Tự do khi ấy là đổi tên với họ, thả thuyền đi về miền đất khác câu cá bắt tôm, không còn ai biết là đâu.
Ấy thế mà ông Nguyễn Trãi dù đã đi ở ẩn, vẫn bị nhỡ nạn tru di ba họ.

Phải đặt lại quan niệm sống. Phải làm sao khuyến dụ được mỗi cá nhân tự do phát triển các năng lực, sở thích, nhân cách của mình trong sự tôn trọng bản thân, tôn trọng người khác, tôn trọng toàn xã hội.
Và chính công quyền, quyền lực công cộng, phải gánh lấy việc đó, làm nền tảng và là người bảo

vệ sự phát triển tự do cá nhân.

Tự do ở phương Tây có những giá trị rất tốt, tự do làm những gì mình thích, mình theo đuổi, không quan tâm thọc mạch vào chuyện của người khác, không cần phải để ý người khác nghĩ mình như thế nào, nhưng không bao giờ coi thường người khác, vẫn tôn trọng nhau. Nhưng cũng có điều hình như không tốt lắm, đó là sự vô cảm và hình thức. Còn người Việt mình có điều dở như cụ Hinh đã chỉ ở trên, nhưng cũng có những giá trị tốt đẹp riêng của mình trong văn hoá, đó là sự yêu thương, quan tâm và tính cộng đồng rất tốt đấy chứ nhỉ.
Chỉ tiếc là nền kinh tế thị trường và việc tiếp thu nền văn hoá Âu, Mỹ mà chưa biết chọn lọc, cái tốt đẹp của họ, nhất là thế hệ trẻ, đang dần phá huỷ đi rất nhiều giá trị tốt đẹp của dân tộc.

KSV

Nguồn: Tia sáng

Nhân ngày nhà báo Việt Nam


Thất phu Bắc Hà

Người viết những dòng này ký bút danh Thất Phu Bắc Hà nhưng vốn là một cán bộ cao cấp của Nhà nước đã nghỉ hưu. Chính ông gọi điện cho BVN ngay sau hôm 19-6-2010 đề nghị BVN hãy tiếp tục “truy kích” những người đã mưu mô lập ra dự án viển vông “Đường sắt cao tốc” có khả năng đưa cả đất nước xuống hố lụn bại, đòi hỏi họ phải từ chức ngay trước Đại hội Đảng sắp tới, trong đó ông nêu đích danh ông Phó TT Nguyễn Sinh Hùng, vị lãnh đạo đã phát biểu hùng hồn trên diễn đàn Quốc hội, như ra lệnh cho các đại biểu Quốc hội thông qua dự án này, mà theo ông chắc chắn phải là người nhúng tay sâu vào việc bày ra bản dự án nguy hiểm cho vận mệnh quốc gia và dân tộc.

Bauxite Việt Nam

Nhân ngày nhà báo Việt Nam, tôi xin gửi lời chào mừng nhiệt liệt và lời cám ơn chân thành tới tất cả các anh chị em phóng viên, các cơ quan báo “lề phải” và “ không phải lề bên phải”, đặc biệt là những vị trí thức và những người dân bình thường ở trong và ngoài nuớc thời gian qua đã lên tiếng một cách đấy trách nhiệm, đầy trí tuệ, góp phần tích cực vào việc “Quốc hội đã không nghe theo Chính phủ, gác lại kế hoạch đường sắt cao tốc” mà hầu hết những ngưòi có trách nhiệm trong chính quyền đã “lớn tiếng bảo vệ”

Thắng lợi vang dội đó xẩy ra vào đêm trước “Ngày nhà báo” khiến lễ kỷ niệm năm nay càng thêm nhiều ý nghĩa. Theo tôi, chí ít nó đã cảnh tỉnh cho những ai đó “mới ti toe tý chút mà đã ngông nghênh tưởng rằng ta là ghê gớm lắm” phải cụp tai xuống. Nhưng nếu có thế thì cũng chưa đủ, vì nếu còn là con người, theo đúng nghĩa của con chữ thiêng liêng này, tôi nghĩ họ phải xin từ chức ngay, dù nhiệm kỳ của họ sắp hết.

Tôi xin phép trân trọng đề nghị trước một điều: nếu họ còn ngoan cố bám lấy chức vụ cũ, thì xin các đồng chí đại biểu đại hội Đảng khóa 11 hãy vì trách nhiệm với sự nghiệp cao cả của Đảng mà không bỏ phiếu cho họ, xin các cử tri khu vực mà họ ứng cử Quốc hội không bầu cho họ.

Có thế mới góp phần làm cho đội ngũ Đảng ta, Quốc hội ta ngày một trong sạch, trí tuệ hơn, mới làm cho sự lãnh đạo của Đảng ta của Quốc hội ta ngày một sáng suốt hơn, hợp lòng dân hơn.

Tôi tha thiết đề nghị các báo và bạn đọc trong ngoài nước đừng vội say sưa với thắng lợi ban đầu, mà phải truy kích, loại bỏ “những con sâu xấu xa, bẩn thỉu” lọt vào hàng ngũ chúng ta.

“Hỡi con người hãy cảnh giác!?

Thất phu Bắc Hà

Nhóm lợi ích ở ngay trước mắt!

Tuần trước nhiều báo đăng tin PetroVietnam (tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam) đã ký thỏa thuận hợp tác với Tổng cục Thuế. Một trong những nội dung của thỏa thuận này là hai bên sẽ phối hợp trong việc tham gia xây dựng, sửa đổi, bổ sung chính sách thuế, chính sách quản lý thuế, nhất là các văn bản pháp quy về thuế “tác động nhiều đến sản xuất kinh doanh” của PetroVietnam...

Chúng ta thường nói đến nhóm lợi ích và tác động của nhóm lợi ích lên chính sách. Thỏa thuận nói trên chính là một minh họa rất điển hình cho hiện tượng này. Xin nói ngay rằng bản thân khái niệm nhóm lợi ích không hàm ý tốt hay xấu, việc nhóm lợi ích tìm cách để tác động lên chính sách là chuyện khó tránh.

Tuy nhiên, thỏa thuận giữa Tổng cục Thuế và PetroVietnam là một hình thức “hợp tác” quá lộ liễu, chắc chắn sẽ bị các cơ quan chức năng “thổi còi”. Vai trò, chức năng của Tổng cục Thuế như một cơ quan nhà nước là phải giữ sự công tâm về quản lý thuế đối với mọi đối tượng phải đóng thuế, không thể có chuyện “hợp tác” với đối tượng chịu thuế này mà có khả năng gây thiệt hại đến đối tượng chịu thuế khác.

Hợp tác này còn lộ liễu ở chỗ nó ghi rõ PetroVietnam, thông qua Tổng cục Thuế, sẽ có tác động lên các cơ quan nhà nước khác như Chính phủ, bộ khi ra nghị định, thông tư hay cơ quan lập pháp như Quốc hội khi thông qua luật thuế mới hay sửa đổi, bổ sung luật thuế hiện hành sao cho có lợi đối với PetroVietnam.

Để dễ hình dung, thử tưởng tượng Tổng cục Thuế ký một văn bản như thế với một tập đoàn tư nhân hay ở Việt Nam có nhiều tập đoàn tương tự như PetroVietnam!

Ở những nước khác, các nhóm lợi ích thường vận động hành lang thông qua các quỹ, các viện nghiên cứu hay nói chung là các hình thức gián tiếp khác nhau.

Ví dụ một tập đoàn dầu khí có thể thành lập một quỹ nghiên cứu tác động của chính sách thuế lên hoạt động của họ và nhấn mạnh, chẳng hạn, khía cạnh đầu tư để bảo vệ môi trường trong khai thác dầu khí sẽ khác đi nếu chính sách thuế được điều chỉnh... Sau đó, quỹ này sẽ công bố nghiên cứu, có thể mời cơ quan hành thu thuế hay ủy ban nghiên cứu thuế, tham gia hội thảo... Họ cũng có thể dùng báo chí hay công luận để phổ biến nghiên cứu hòng tác động lên chính sách.

Các nhóm lợi ích khác, có thể có mối quan tâm ngược lại với tập đoàn dầu khí này, cũng sẽ tiến hành các bước tương tự nhưng ngược lại. Cuối cùng, sự cân bằng lợi ích của các nhóm khác nhau sẽ dẫn đến chính sách tương đối tốt nhất cho đa số và cho xã hội.

Chúng tôi tin rằng cơ quan chức năng sẽ hủy bỏ thỏa thuận nói trên giữa Tổng cục Thuế với PetroVietnam cũng như với các doanh nghiệp khác, nếu có trong tương lai.

Vấn đề là các nhóm lợi ích khác cũng đang có những “hợp tác” như thế, có thể tinh vi hơn. Minh bạch trong quá trình xây dựng chính sách, hỗ trợ các tổ chức dân sự để họ có thể nói lên tiếng nói đại diện cho lợi ích của người dân, nâng cao năng lực chuyên môn của đại biểu Quốc hội... là những biện pháp phải làm để đón đầu và hóa giải các nhóm lợi ích mang tính cục bộ hay không thật sự đại diện cho lợi ích của đất nước.

Thời báo Kinh tế Sài Gòn

Đằng sau sự phủ quyết của Quốc hội Việt Nam về dự án đường sắt cao tốc




Trong những ngày này, công luận Việt Nam trong và ngoài nước vẫn bàn tán xôn xao về việc lần đầu tiên trong lịch sử hoạt động của mình, Quốc hội Việt Nam đã bỏ phiếu bác bỏ chủ trương xây dựng tuyến đường sắt cao tốc Bắc-Nam, một dự án lớn do chính phủ đệ trình.

Báo chí trong nước dùng những từ ngữ mạnh để nói về sự kiện này như các đại biểu Quốc hội « dũng cảm », đưa một quyết định « chính xác », « quá đúng đắn », « sáng suốt », « hợp lòng dân », v .v. Thế nhưng, giới quan sát, một mặt thừa nhận ý nghĩa quan trọng của cuộc bỏ phiếu ngày 19/06, nhưng mặt khác lại tỏ thái độ thận trọng, không vội coi đây là một bước tiến dân chủ tại Việt Nam.

Theo giáo sư Ben Kerkvliet, chuyên gia về Việt Nam thuộc Đại học Quốc gia Úc ( The Australian National University), quyết định của Quốc hội là bước khởi đầu có ý nghĩa trong sự phát triển thể chế chính trị tại Việt Nam.

Về phần mình, tiến sĩ Lê Đăng Doanh, được AFP trích dẫn, cũng thừa nhận là rất nhiều người Việt Nam đã phấn khởi về kết quả cuộc bỏ phiếu, nghĩ rằng đó là một trường hợp chưa từng thấy, có thể tạo ra tiền lệ cho hoạt động của Quốc hội trong tương lai. Nhưng là người thấu hiểu cơ cấu quyền lực chính trị, ông nêu ra một điểm quan trọng có thể giải thích được vì sao Quốc hội Việt Nam bỏ phiếu chống : Đó là vì Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Việt Nam không ủng hộ dự án đường sắt cao tốc. Do vậy, Quốc hội Việt Nam tự do bỏ phiếu chấp nhận hoặc bác bỏ.

Cho tới nay, Đảng Cộng sản Việt Nam vẫn độc quyền lãnh đạo đất nước. Trong số gần 500 đại biểu Quốc hội, hầu hết là đảng viên. Nếu Bộ Chính trị ra nghị quyết phải làm, thì theo điều lệ và kỷ luật của Đảng, các đại biểu Quốc hội sẽ bỏ phiếu đồng ý. Vẫn theo chuyên gia Lê Đăng Doanh, rõ ràng là Bộ Chính trị đảng Cộng sản Việt Nam đã tỏ thái độ thận trọng.

Dự án do chính phủ Việt Nam trình Quốc hội nhằm xây dựng một tuyến đường sắt cao tốc dài nhất thế giới, hơn 1500 km, tàu có tốc độ 300 cây số/giờ, nối liền Hà Nội – Thành phố Hồ Chí Minh vào năm 2035. Tổng đầu tư cho dự án có thể lên tới 56 tỷ đô la, tương đương 60% tổng sản phẩm nội địa của Việt Nam năm 2009.

Ông David Koh, thuộc Viện Nghiên cứu Đông Nam Á, có trụ sở tại Singapore, cho biết đây không phải là dự án mà tất cả các lãnh đạo cấp cao của Việt Nam đều ủng hộ.

Nhận định của chuyên gia Lê Đăng Doanh làm người ta nhớ lại dự án khai thác bauxit ở Tây Nguyên. Bất mọi ý kiến của giới chuyên gia trong và ngoài nước, của các nhà lão thành cách mạng, của cả đại tướng Võ Nguyên Giáp, dự án vẫn được tiến hành.

Năm ngoái, trước khi Quốc hội khai mạc kỳ họp, trước khi chính phủ báo cáo, chủ nhiệm văn phòng Quốc hội, ông Trần Đình Đàm đã nói như đinh đóng cột, xin trích « Chắc chắn Quốc hội sẽ hoàn toàn ủng hộ chủ trương khai thác bauxite ». Bởi vì, dự án này đã trở thành chủ trương của đảng Cộng sản Việt Nam và của Bộ Chính trị.

Quay trở lại dự án đường sắt cao tốc, chuyên gia David Koh nêu ra một yếu tố khác cho phép báo chí chính thống, công luận trong nước và các đại biểu Quốc hội lên tiếng dễ dàng hơn : đây không phải là một chủ đề cấm kỵ, nhạy cảm về chính trị như vấn đề tranh chấp chủ quyền giữa Việt Nam và Trung Quốc tại vùng quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Trong mọi trường hợp, mọi người đều công nhận đó là một quyết định mang tính lịch sử của Quốc hội Việt Nam và theo tiến sĩ Lê Đăng Doanh thì người dân nghĩ rằng các đại biểu Quốc hội đã lắng nghe tiếng nói của họ. Điều này thực sự gây tác động mạnh về tâm lý.


Tổng số lượt xem trang

free counters