Báo Sài Gòn Tiếp Thị
Ngày 05-10-2011
--- o0o ---
GIỮA TỰ NHIÊN VÀ VĂN HÓA
BÙI VĂN NAM SƠN
SGTT.VN- Con người sống
trong lòng tự nhiên và giữa thế giới văn hoá. Không có gì rộng lớn mà gần gũi,
thiết cận hơn hai thực tại ấy. Nhưng nếu hiểu văn hoá là những gì do con người
sáng tạo và tái tạo thì nó khác và thậm chí đối lập lại với tự nhiên. Do đó,
nhận thức tự nhiên và phê phán văn hoá hầu như là hai công việc thường xuyên
trong lịch sử.
Tự nhiên – văn
hoá – siêu tự nhiên
Ở phương Tây,
cùng với sự ra đời và ảnh hưởng mạnh mẽ của các tôn giáo tự nhiên, tư tưởng cổ
đại Hy Lạp – khác với truyền thống Do Thái – Kitô giáo – không chỉ xem tự nhiên
(Hy Lạp: phýsis; Latinh: natura) là cái gì vĩnh cửu, bất sinh, bất diệt mà còn
vượt ra khỏi tầm tay của con người, và do đó, là mẫu mực, hài hoà, đẹp đẽ (từ
đó có từ kósmos/vũ trụ với nguyên nghĩa là “trang sức”, “trật tự”). Thế rồi
xuất hiện nhân vật Protagoras (490-420 trước CN), được hậu thế tôn vinh là nhà
biện sĩ cừ khôi, mở đầu cho công cuộc khai minh đầu tiên. Ông đặt câu hỏi gai
góc: trong tất cả những gì được gọi là “văn hoá”, đâu là yếu tố “tự nhiên”
(phýsei), đâu là yếu tố do con người “đặt định” nên (thései)? Đặt câu hỏi ấy,
Protagoras thực ra muốn tiến hành phê phán tư tưởng truyền thống và phá huỷ
tính chất mẫu mực của “tự nhiên”, bởi ông chứng minh rằng mọi thành tựu văn
hoá, dù là ngôn ngữ, tôn giáo hay nhà nước, xã hội (thời bấy giờ được gọi chung
là pólis/thành quốc) và cùng với pólis, là toàn bộ quyền lực chính trị, đều do
bàn tay con người tạo ra, nghĩa là, đều có thể thay đổi được. Con người, do nhu
cầu của cuộc sống, đã “phát minh” ra văn hoá, và văn hoá chính là sản phẩm của
con người để thay thế “tự nhiên” (gần với ý: “ngươi phải đổ mồ hôi trán để tự
kiếm miếng ăn!” trong Kinh thánh). Quan niệm táo bạo này có thể gọi là chủ
trương “văn hoá luận”, phản bác “tự nhiên luận”. Cái phýsis được triết học cổ
đại tôn sùng như là đối tượng của sự chiêm ngưỡng lý thuyết thuần tuý
(théoria/lý thuyết vốn có nghĩa là chiêm ngưỡng!), dưới mắt Protagoras là bất
khả tri, và hơn thế, về mặt nguồn gốc, là không quan trọng trong việc xem xét
các sự kiện văn hoá. Cần lưu ý rằng khi nói về “bản tính (natur) con người”,
ông chỉ muốn nói đến những nhu cầu, lợi ích và lý trí có thật của con người. Từ
này không có nghĩa là “bản tính tự nhiên” (natur) vốn là thuật ngữ đặc thù của
phong trào khai minh thế kỷ 17-18 sau này, dù cả hai phong trào cùng chia sẻ
nhiều cảm hứng phê phán.
Tuy nhiên, lấy
cái phi-tự nhiên làm nguyên tắc của văn hoá và chuẩn mực cho mọi sự phê phán
văn hoá (theo đó, tất cả đều là nhân tạo và có thể thay đổi được), quan niệm
của Protagoras và phong trào khai minh đầu tiên này lại vấp phải một khó khăn
nghiêm trọng: lấy gì làm thước đo, làm chuẩn mực cho bản thân cái chuẩn mực ấy
nếu không muốn mọi lập luận phê phán rơi vào vòng luẩn quẩn, vừa đá bóng vừa
thổi còi? Plato (424-348 trước CN) chính là người vạch ra nhược điểm chết người
ấy của phái biện sĩ và kịch liệt đả kích quan điểm này thiếu cơ sở triết học và
nguy hiểm, phiêu lưu về chính trị! Nhưng Plato cũng nhận ra rằng không thể đơn
giản quay trở về với cái “phýsis tự nhiên luận” của triết học cổ đại đã bị phái
biện sĩ phê phán, trái lại, phải hình dung ra một thế giới siêu-tự nhiên. Thế
giới siêu-tự nhiên ấy là những “mô thức”, những “linh tượng” bất biến, vĩnh
cửu, tuy chỉ có thể nắm bắt được bằng tư tưởng và vượt ra khỏi thế giới tự
nhiên trực tiếp, khả giác, nhưng vẫn là một phýsis, tức một thực tại nằm ngoài
tầm tay của con người, đủ tư cách làm chuẩn mực cho mọi chuẩn mực! Cộng hoà,
tác phẩm chính của Plato, phác hoạ mô hình một nhà nước lý tưởng và “đúng đắn”
được biện minh bằng ánh sáng của thế giới siêu-tự nhiên ấy.
Từ chàng
“híp-pi” Diogenes đến thế lưỡng nan “tự nhiên – văn hoá”
|
Văn hoá là đi chứ không phải là tới, là con
thuyền chứ không phải bến cảng”.
Arnold Toynbee (1889 – 1975, sử gia Anh)
|
Sau Plato,
quan niệm văn hoá tự nhiên luận tiếp tục giành ưu thế, nhưng với nhiều biến thể
ngày càng phức tạp. Diogenes (412-323 trước CN) sống trong chiếc thùng gỗ cùng
với vài chú chó cưng (có lẽ vì thế, trường phái của ông được dịch sang tiếng
Việt là Khuyển nho!), từ khước mọi quy phạm văn hoá thông tục, là hình thức cực
đoan đầu tiên của việc “trở về với tự nhiên”. Ít cực đoan hơn là thái độ sống
“theo tự nhiên” của phái khắc kỷ (đầu thế kỷ 3 trước CN), theo đó, trật tự tự
nhiên được xem là hợp lý tính, trong khi các quan hệ văn hoá chỉ có giá trị
tương đối.
Bước vào thời
cận đại, tình hình phức tạp hơn nhiều. Một mặt, giới tự nhiên hầu như được
“giải phóng”, không còn phản ánh duy nhất tính hợp lý thần linh nữa, bởi ý chí
của thượng đế có thể sáng tạo cả cái phi lý trong tự nhiên! Đây cũng là tiền đề
cho việc xem tự nhiên như là chất liệu đơn thuần của khoa học trong tham vọng
thống trị tự nhiên của Francis Bacon, người cha tinh thần của khoa học hiện
đại.
Mặt khác, với
truyền thống Do Thái-Kitô giáo mà tư tưởng Hy Lạp chưa biết tới, thế giới tự
nhiên, bản tính tự nhiên của con người hay “ánh sáng tự nhiên” của lý trí vừa
được đánh giá tích cực như là sản phẩm của thượng đế, vừa tiêu cực như là cái
gì bị “sa đoạ” bởi tội lỗi của con người. Làm sao có thể vừa xem “tự nhiên” là
chuẩn mực tốt lành, vừa phải nỗ lực thoát ly khỏi cái đơn thuần tự nhiên còn
thô lậu ấy nếu muốn vươn tới sự tiến bộ, trong viễn tượng về một “trời mới, đất
mới”, như là sự phóng chiếu ước vọng “phục sinh” của bản tính con người sau khi
phạm tội vào cho bản thân vũ trụ? Cũng thế, làm sao dung hoà trong quan niệm về
văn hoá khi vừa xem văn hoá là đối tượng hư hỏng, thối nát cần bị phê phán, vừa
như cái gì có giá trị, đáng mong mỏi?
Một tích hợp
phức tạp
Tóm lại, từ
thời khai minh cận đại, sự phê phán văn hoá bị đặt vào thế lưỡng nan trong mối
quan hệ căng thẳng giữa tự nhiên và văn hoá: (trạng thái) tự nhiên là tiên
khởi, chuẩn mực, đồng thời cần được văn hoá nhanh chóng xa rời, từ bỏ vì sự
tiến bộ, cũng như ngược lại, văn hoá liên tục bị phê phán, đồng thời là giá trị
cần phát huy. Tích hợp các mối quan hệ phức tạp, đầy nghịch lý này vào trong
một quan niệm văn hoá nhất quán sẽ là nỗ lực đầu tiên của J. J. Rousseau (cha
đẻ của phê phán văn hoá hiện đại). Tiếp sau Rousseau sẽ là những I. Kant, G. W.
F. Hegel, K. Marx, F. Nietzsche, Oswald Spengler...
BÙI VĂN NAM SƠN