Triết Lý, để làm gì ?

Khi ta bế tắc tư tưởng, chân thật công nhận rằng những kiến thức và phương pháp suy luận của ta không cho phép ta sống, tư duy và hành động khớp với khao khát làm người của ta, ngoài vô vàn cách ứng xử khác, ta có thể:

a) Tiếp tục sống, tư duy và hành động như cũ vì, dù sao, ta cũng sống được, không đến nỗi nào

b) Lột áo cũ, khoác áo mới, một tấm áo coi lành lặn đẹp đẽ hơn nhưng cũng hàm hồ không thua gì. Điều ấy luôn luôn khả thi bằng ngôn ngữ.

c) Đi tới cùng bế tắc của chính mình. Nếu không giải quyết được nó, ta ôm nó xuống suối vàng, để lại ở đời chỉ một câu hỏi. Câu hỏi của một con người. Đích thực. Có gì nhục đâu?

Nếu ta tưởng ta đã tìm ra một phần của giải pháp, ít nhất là cho riêng mình, thì cứ viết đi, chẳng cần trích cao nhân nào cả: họ đã là một phần của ta và ta đã phải “vượt” họ để nên mình.

Thế thôi.

(Chungta.com)

Góc nhỏ của Noby Vui Vẻ

Lục lọi, tìm tòi, đọc, cóp nhặt, chia sẻ, ... OK hay không tùy bạn ! ! !

“Nước độc lập mà dân chưa tự do thì độc lập cũng không có ý nghĩa”- Hồ Chí Minh.

18 thg 12, 2010

Có phải Trung Quốc muốn dẹp dư luận quá khích trong nước không?

Dương Danh Dy

Ngày 6 tháng 12 năm 2010, Đới Bỉnh Quốc, Uỷ viên Quốc vụ Trung Quốc đã có bài viết dài: “Kiên trì đi con đường phát triển hoà bình”, bài báo đã được Nguyên Hải tổng hợp và được một tờ báo mạng thuộc loại lớn và có uy tín của nước ta đăng tải ngày 13 tháng 12 năm 2010 với nhan đề: “Trung Quốc dẹp dư luận quá khích trong nước” khiến nhiều bạn đọc chú ý tìm đọc. Tôi được đọc bài báo này ở trên mạng khá sớm, thấy có nhiều luận điệu “khôn ngoan” của người chuyên làm đối ngoại lâu năm, nhưng do bản chất đã thấm vào máu nên mặc dù ông ta muốn “giấu đầu” nhưng vẫn cứ bị “hở đuôi”. Tuy vậy khi đọc bài giới thiệu tiếng Việt, và nhất là cái đầu đề “dẹp dư luận quá khích trong nước”, tôi không thể không thốt lên: Thế mà vẫn có kẻ bị ăn “quả lừa”!

Bài viết của Đới Bỉnh Quốc khá dài, tính theo chữ như cách thường làm của người Trung Quốc là 9000 chữ, tức vào khoảng 13 trang tiêu chuẩn của ta, nếu dịch ra tiếng Việt sợ dài tới 15 trang. Bài viết gồm 10 phần:

I Vì sao Trung Quốc đề xuất đi con đường phát triển hoà bình?

II Con đường phát triển hòa bình là con đường dạng nào?

III Hướng đi phát triển và ý đồ chiến lược của Trung Quốc là gì?

IV Nhìn nhận sự phát triển mà Trung Quốc giành được như thế nào?

V Sau khi đã phát triển rồi, liệu Trung Quốc có xưng bá trên thế giới?

VI Xử lý quan hệ với các quốc gia khác như thế nào khi Trung Quốc phát triển với tốc độ nhanh?

VII Trung Quốc vận dụng như thế nào thực lực và ảnh hưởng ngày một tăng?

VIII Con đường phát triển hoà bình và chủ nghĩa xã hội đặc sắc Trung Quốc là quan hệ gì?

IX Đi con đường phát triển hoà bình và thúc đẩy xây dựng thế giới hài hoà là quan hệ gì?

X Con đường phát triển hoà bình Trung Quốc liệu có thể thông suốt không?

Trước khi nêu một vài nhận xét, tôi thấy cần nói rõ là phần giới thiệu của Nguyền Hải chủ yếu chỉ dựa vào phần V của bài viết chứ không phải là toàn bộ bài.

Những trình bày của tác giả về Trung Quốc không mưu cầu bá quyền, không tranh giành bá quyền, cần môi trường quốc tế hoà bình ổn định để phát triển, muốn mãi mãi là bạn bè tốt láng giềng tốt đối tác tốt của các nước Asean và các nước châu Á, không tranh giành bá quyền với Mỹ, v.v. đã được giới thiệu tương đối đầy đủ, tuy vậy tôi thấy cần bổ sung câu kết luận của phần này mà Nguyên Hải chưa đề cập tới: “Tóm lại Trung Quốc là một quốc gia có thiện ý, hành động có trách nhiệm, tôn trọng người khác trên thế giới nhưng không dung thứ người khác bắt nạt… Xã hội quốc tế nên hoan nghênh chứ không nên sợ hãi phát triển hoà bình của Trung Quốc, nên giúp đỡ chứ không nên cản trở, nên ủng hộ chứ không nên kiềm chế, nên lý giải và tôn trọng những lợi ích và sự quan tâm chính đáng và hợp lý của Trung Quốc trong tiến trình phát triển hoà bình.”

Nếu chỉ nghe thoáng qua sẽ thấy đó là những lời hoa mỹ dễ lọt tai. Nhưng thử hỏi những ai, những nước nào trong khu vực dám bắt nạt Trung Quốc, một nước có GDP lớn thứ hai trên thế giới, có lực lượng quân sự hùng hậu, là nước thứ ba trên thế giới tự đưa người của mình vào vũ trụ, có dự trữ ngoại tệ lớn nhất thế giới, đang tung hoành làm ăn từ trong khu vực vươn tới châu Phi, châu Mỹ Latin, và thậm chí cả châu Âu nữa? Hay chính là Trung Quốc đang bắt nạt một số nước vừa và nhỏ? Xin hỏi, ai đang bắt nạt những ai ở Biển Đông khi ngang nhiên cử đoàn tàu Ngư Chính đi tuần tra, bắt bớ, đâm chìm thuyền ngư dân các nước trong khu vực đang làm ăn trên vùng biển của mình mà Trung Quốc tự nhận là của họ? Xin hỏi một vấn đề “nhỏ” nhưng với chúng ta không phải là nhỏ nữa: cái gọi là “đường luỡi bò” mà các vị tự ý vạch trên bản đồ Biển Đông là lợi ích và sự quan tâm chính đáng và hợp lý của các ngài chứ gì? Liệu có ai nghe nổi và chấp nhận cái ranh giới áp đặt ấy của các ngài không, khi mà theo đó, có nước chỉ còn mỗi 12 hải lý chủ quyền biển thôi?

Cũng tại phần V này, ngài Đới Bỉnh Quốc viết: “Xem xét từ lịch sử thấy, Trung Quốc không có văn hoá và truyền thống xưng bá.”

Đọc đến câu này tôi muốn hỏi: Thế “con trời” (thiên tử) là do ai đặt ra? Trung Quốc (nước ở giữa) là nước nào? Tại sao các nước ở bốn xung quanh Trung Quốc lại được gọi là man, di, nhung, địch, và bị tổ tiên của ngài Đới Bỉnh Quốc thể hiện sự coi thường, khinh bỉ bằng cách trên chữ Hán những tên này, nếu không có bộ thú (thú vật) đi kèm thì cũng có bộ trùng (sâu bọ) ở dưới?

Xin hỏi, hơn hai ngàn năm qua đã có bao nhiêu dân tộc thiểu số bị Đại Hán đồng hoá? Bao nhiêu nước có tên gọi, có truyền thống dân tộc trong thời Xuân Thu, Chiến Quốc đã bị xoá tên trên bản đồ Trung Quốc?

Chẳng lẽ những việc làm “cá lớn nuốt cá bé”, đồng hoá cả một dân tộc – một ví dụ do chính các ngài tự nói, hiện nay cả Trung Quốc chỉ còn chưa tới 100 người nói và viết được tiếng của dân tộc Mãn, dân tộc thiểu số đã vào thống trị Trung Nguyên – là không có văn hoá và truyền thống xưng bá à?

Trên đây là mấy ý kiến trong phần V bài viết của Đới Bỉnh Quốc. Sở dĩ phải nói rõ như vậy vì chỉ có phần này được giới thiệu bằng tiếng Việt mà thôi.

Thế còn toàn văn bài viết? Tôi không dám chủ quan nói rằng mình đã “lĩnh hội” được hết tinh thần bài viết khá dài này của một nhà ngoại giao kỳ cựu của “Trung Quốc vĩ đại”. Tuy nhiên ấn tượng của tôi sau khi đã đọc hai lần bài viết này là nó không thể hiện việc “Trung Quốc dẹp dư luận quá khích trong nước” như ai đó đã viết, mà là một bào chữa “khôn khéo”, một “lừa gạt tinh vi” cho những thất thố khá lớn trong chính sách đối ngoại gần đây của nhà cầm quyền Trung Quốc.

Từ đầu năm 2010 đến nay, trước những thành tựu to lớn về nhiều mặt, sau khi vượt Nhật Bản về tổng giá trị GDP, trong ban lãnh đạo Trung Quốc có ý kiến cho rằng không cần đến những năm 50 của thế kỷ này, mà chỉ cần đến năm 2020 là có thể vượt được GDP của Mỹ. Trên cơ sở tính toán đó chủ trương “giấu mình chờ thời” bị cho là “quyền nghi chi kế”; Trung Quốc không thể im hơi lặng tiếng mãi: đã có rất nhiều “người Trung Quốc không vui” rồi (tên một cuốn sách tràn đầy “tinh thần dân tộc” xuất bản đầu năm 2010). Và đến tháng 3/2010, luận điểm “Biển Đông thuộc lợi ích cốt lõi của Trung Quốc” được ngầm báo cho Steinberg, trợ lý Bộ trưởng Ngoại giao Mỹ; đến tháng 7 năm 2010 thì được Tần Cương, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc công khai hoá. Đến lúc này, người ta không thể im lặng được nữa. Trung Quốc đã công khai thách thức thiên hạ mà mũi nhọn nhằm vào Mỹ, một số nước lớn khác và nhiều nước trong khu vực.

Thế là không ai bảo ai, người ta buộc phải tăng cường cảnh giác với Trung Quốc và có sự chuẩn bị cần thiết về nhiều mặt. Các nước Asean đã đoàn kết lại càng đoàn kết hơn. Đặc biệt tại cuộc họp Bộ trưởng Ngoại giao các nước Asean với các đối tác và Hội nghị Bộ trưởng Quốc phòng các nước Asean mở rộng sau đó, nước Mỹ đã có những tuyên bố rõ ràng về Biển Đông và quyết tâm trở lại khu vực, Mỹ còn một số bước đi mới với một số nước trong Asean.

Thế rồi, trước những việc làm của Bắc Triều Tiên và Trung Quốc trong quan hệ với Hàn Quốc và Nhật Bản, mấy cuộc diễn tập quân sự lớn song phương và đa phương giữa Mỹ, Nhật, Hàn đã dồn dập xảy ra, hàng không mẫu hạm Mỹ sau mấy lần đắn đo đã đi vào Hoàng Hải ngay “trước mũi Trung Quốc mà Trung Quốc đành phải xơi quả đắng” (chữ dùng của mạng Trung Quốc). Người Trung Quốc cảm thấy bị “bao vây bốn bề” (chữ dùng của mạng Trung Quốc).

Thế rồi, người bất đồng chính kiến đang bị cầm tù ở trong nước được tặng giải thuởng hoà bình Nobel dù bị Trung Quốc không ngừng gây sức ép về mọi mặt.

Trước tình hình đó Trung Quốc buộc phải có sự cân nhắc tính toán lại.

Sau khi để cho một số học giả trong nước lên tiếng giải thích, phân tích lại, cho rằng “Biển Đông chỉ thuộc loại lợi ích quan trọng, chứ không thuộc lợi ích cốt lõi”, sau khi có một vài hành động để tỏ “thiện ý”… của mình, nhưng vẫn không xoa dịu được sự “nghi ngờ, lo ngại” và sự chuẩn bị ngày một tích cực hơn của nhiều nước nhằm đối phó với “những luận điệu hiếu chiến vầ hành động bá quyền” của người tự nhận là láng giềng thân thiện này, Trung Quốc đành phải xuất tướng, đưa chính Đới Bỉnh Quốc, một nhà ngoại giao hàng đầu, đứng trên cả Bộ trưởng Ngoại giao Trung Quốc, người mà dư luận Mỹ cho biết chính là người đã nói “Biển Đông thuộc lợi ích cốt lõi của Trung Quốc như Đài Loan, Tây Tạng, Tân Cương” với Steinberg hồi nọ, đứng ra bào chữa, thanh minh và tô vẽ cho chính sách đối ngoại của mình.

Ông ta đâu cần dẹp dư luận quá khích trong nước, vì dư luận này được chính những người như ông ta khơi mào.

Tóm lại, cả bài viết của ông dù được che đậy, bằng những lời nói “đẹp như hoa”, nào là phát triển hoà bình, chung tay xây dựng thế giới hài hoà, cùng có lợi, không chạy đua vũ trang, không xưng bá… vẫn để lộ ra cái bản chất bất biến là Trung Quốc quyết trở thành bá quyền, nước lớn trong giai đoạn này bằng những thủ đoạn tinh vi, nham hiểm mang tính chất lừa gạt sâu nặng hơn.

Xin loài người hãy luôn cảnh giác!

Hà Nội 15/10/2010

D. D. D.

Tác giả gửi trực tiếp cho BVN.

Lãnh đạo Bộ CA: Không có chuyện gia tăng tham nhũng


Thiếu tướng Vũ Hùng Vương - Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Cảnh sát (Bộ công an) trao đổi với PV sau công bố của một tổ chức quốc tế về tham nhũng tại Việt Nam.

Tổ chức minh bạch quốc tế dẫn kết quả khảo sát khẳng định có tới 62% người dân cho rằng tham nhũng đang gia tăng ở Việt Nam trong 3 năm qua. Nếu chấp nhận con số này, có nghĩa là cuộc đấu tranh chống tham nhũng đang rất hình thức, thưa ông?

Hội nghị tổng kết công tác phòng, chống tham nhũng trong nhiệm kỳ Đại hội X của Đảng vừa diễn ra đã khẳng định: Đấu tranh phòng, chống tham nhũng là nhiệm vụ trọng tâm trực tiếp, thường xuyên của cả hệ thống chính trị, là nhiệm vụ của toàn xã hội.

Trong 4 năm qua, cả nước có 276 người đứng đầu và cấp phó bị xử lý do thiếu trách nhiệm để xảy ra tham nhũng, trong đó xử lý hình sự 39 trường hợp.



Hội nghị lần thứ 13, BCH TƯ đã xem xét và ra quyết định kỷ luật đối với 18 cán bộ và tướng lĩnh cao cấp, trong đó có không ít các trường hợp liên quan tới tham nhũng.

Riêng năm 2010, lực lượng cảnh sát đã điều tra, xử lý hình sự 10.690 vụ vi phạm pháp luật bằng kinh tế, trong đó có 238 vụ án tham nhũng. Tất cả những đánh giá và những việc làm đó cho thấy quyết tâm của Đảng, Nhà nước, Chính phủ và cuộc chiến chống tham nhũng đã có những thành tựu đáng kể.


Nhưng thưa ông, Tổ chức minh bạch quốc tế vẫn dựa vào ý kiến người dân để nói "tham nhũng đang có chiều hướng tăng ở VN"?

Phó Thủ tướng Trương Vĩnh Trọng từng khẳng định công tác phòng, chống tham nhũng đã có chuyển biến tích cực trên cả nhận thức và hành động, đạt được những kết quả nhất định trong phòng ngừa và xử lý hành vi tham nhũng. Trên một số lĩnh vực, tham nhũng đã được kiềm chế.

Tôi không hiểu họ điều tra thế nào và căn cứ vào cái gì để đưa ra đánh giá đó. Nhìn nhận từ các con số cho thấy việc xử lý được nhiều cá nhân, nhiều vụ việc tham nhũng hơn đang chứng tỏ cuộc đấu tranh chống tham nhũng ở Việt Nam đang được thực hiện rất nghiêm túc, chứ không phải là tham nhũng đang có chiều hướng tăng. Việc người dân tin tưởng mạnh mẽ vào quyết tâm của các thể chế chính trị như Đảng, Quốc hội... thì không thể có chuyện họ cho rằng "tham nhũng đang gia tăng".

Có một chi tiết liên quan đến lực lượng cảnh sát. Tổ chức minh bạch quốc tế đưa ra nhận định đây là lực lượng tham nhũng nhiều nhất?



Tỉ trọng các vụ tham nhũng liên quan đến lực lượng cảnh sát không lớn. Có vẻ như những ấn tượng không hay về một số trường hợp cảnh sát vòi vĩnh đã làm cho những nhìn nhận đánh giá là không khách quan và thiếu chính xác. Bởi đôi khi "cảm nhận" về tham nhũng không hoàn toàn là sự thật. Hơn nữa việc điều tra dư luận bên ngoài, thậm chí lấy vài vụ tư lợi cá nhân, không phải là hành vi tham nhũng, của một số cán bộ chiến sĩ để đánh giá toàn bộ lực lượng cảnh sát là không xác đáng.



Tôi còn nhớ tại Hội nghị Công an toàn quốc, Thủ tướng Chính phủ đã khẳng định "Chính phủ hoàn toàn không bao giờ dung thứ cho tham nhũng". Ở một số vụ việc như vụ Năm Cam, 2 Ủy viên TƯ Đảng, trong đó có 1 Thứ trưởng Bộ công an đã bị xử lý hình sự chỉ vì thiếu trách nhiệm.

Hoặc trong vụ án ma túy Thanh Nhàn, có cảnh sát khu vực nhận có 50.000 đồng nhưng đồng chí bộ trưởng vẫn kiên quyết yêu cầu bắt giữ, khởi tố.



Ngành công an là một trong số những ngành kiên quyết nhất với việc xử lý tham nhũng. Năm 2010, cả lực lượng chỉ có 0,6% cán bộ chiến sĩ bị kỷ luật, mà kỉ luật ở đây bao gồm cả vi phạm hành chính, thậm chí vi phạm điều lệnh. Nói cảnh sát tham nhũng là hoàn toàn không có cơ sở.



Có một vụ việc xử lý kéo dài đã lâu như vụ tiền polymer, phải chăng đã ảnh hưởng đến nhận định về công tác phòng chống tham nhũng?



Đối với vụ tiền polymer, Thủ tướng đã chính thức giao Viện KSND Tối cao làm đầu mối liên hệ với phía cảnh sát Úc và Viện kiểm sát Thụy Sĩ. Khi có thông tin chính thức từ phía cơ quan chức năng các nước, chúng ta sẽ điều tra xử lý theo thẩm quyền và quy định của pháp luật Việt Nam.

(Theo Dân Việt)

phải chăng đây là sự thật ! nếu thật thế thì thật may cho lũ dân đen chúng tôi !!!

Vụ án Trần Dụ Châu - Chuyện còn ít biết



Năm 1950, Đại tá Trần Dụ Châu, Cục trưởng Cục Quân nhu bị tử hình. Chúng ta đều đã được biết qua các bài báo của nhà báo Hồng Hà (nguyên phóng viên báo Cứu Quốc), nhà báo Lưu Vinh… Qua đó, tác giả đã cho thấy sự trừng phạt nghiêm khắc của Hồ Chủ tịch đối với tội tham nhũng.


Tuy nhiên, đó mới chỉ là tình tiết về sau của vụ án. Còn diễn biến điều tra bước đầu của vụ tham nhũng này được thực hiện ra sao, thì chưa có tài liệu nào nói tới.

Vị đại tá Cục truởng Cục Quân pháp

Trước đây, trong một lần đến thăm bà Nguyễn Kim Nữ Hạnh, trưởng nữ của cố Bộ trưởng Bộ Quốc gia Giáo dục Nguyễn Văn Huyên (1905-1975), bà có cung cấp một tư liệu rất thú vị. Đó là lời kể của cụ Phạm Trinh Cán (Chánh Văn phòng Bộ Giáo dục từ tháng 4/1953) về cố Bộ trưởng Nguyễn Văn Huyên, tháng 3/1990.

Nhưng trước khi về Bộ Giáo dục, cụ Phạm Trinh Cán nguyên là Đại tá, Cục trưởng Cục Quân pháp nên cụ nắm rõ quá trình tham gia điều tra ban đầu vụ Trần Dụ Châu. Bà Nữ Hạnh căn dặn: “Tôi tặng em để em sử dụng trên báo chí, có thể đưa vào mục những tư liệu mới được phát hiện”.

Cụ Phạm Trinh Cán sinh năm 1912, nguyên quán xã Đông Ngạc, huyện Từ Liêm, thành phố Hà Nội. Gia đình có khả năng kinh tế nên cụ được học hết bậc Trung học. Dẫu có bằng Tú tài, cụ tự nhận là vẫn thấy mình còn dốt và rất muốn học thêm lên đại học. Học đại học thì phải tự túc nên vừa học khoa Luật trường Đại học Đông Dương cụ vừa đi dạy tư tại trường Trung học Tư thục Thăng Long cùng với các giáo sư Hoàng Minh Giám, Đặng Thai Mai, Phan Thanh, Võ Nguyên Giáp... Cách mạng Tháng Tám 1945, cụ Phạm Trinh Cán tham gia khởi nghĩa và được cử làm Phó Chủ tịch UBND lâm thời tỉnh Quy Nhơn (nay là Bình Định).

Cụ được phong hàm đại tá đợt đầu tiên (năm 1948) và đã trải qua các chức vụ: Phó Cục trưởng rồi Cục trưởng Cục Quân pháp – Bộ Quốc phòng, Chánh Văn phòng Bộ Tổng tham mưu kiêm Chánh án Tòa án binh khu Trung ương, Phó Văn phòng rồi Chánh Văn phòng Bộ Giáo dục, Hiệu trưởng trường Đại học Sư phạm Ngoại ngữ (nay là Đại học Ngoại ngữ - ĐHQG Hà Nội). Năm 1973 cụ Phạm Trinh Cán về nghỉ hưu. Cụ mất năm 2003 tại Hà Nội, hưởng thọ 92 tuổi.

Vụ án Trần Dụ Châu

Sinh thời, cụ Phạm Trinh Cán từng kể diễn biến vụ việc xảy ra từ năm 1949 đến mùa hè năm 1950 như sau:

Đại tá Trần Dụ Châu, Cục trưởng Cục Quân nhu, hoạt động trước Cách mạng Tháng Tám. Cục Quân nhu có nhiệm vụ lo ăn, mặc, thuốc men của quân đội. Quần áo cho quân đội, thuốc men trong nội thành ta chưa sản xuất được nên đơn vị quân nhu đóng ở Thái Nguyên ra vào thành cho dễ. Cục phó là Phạm Toàn, cốt cán cục Quân nhu là Lê Sĩ Cửu – trưởng phòng tiếp liệu (thuốc, giấy pơ-luya, máy chữ...).

Bấy giờ hoàn cảnh rất khó khăn. Về gạo ăn, mới kháng chiến nên anh em quân nhu chưa có kinh nghiệm bảo quản tốt, kho cất gạo dùng bồ, ẩm thấp nên mục nát nhiều. Lúc bấy giờ, Cục Quân chính do ông Phan Tử Lăng làm Cục trưởng và Cục Quân pháp do ông Phạm Trinh Cán làm Cục trưởng - cùng đóng chung cơ quan ở Thái Nguyên, tổng cộng đến 30 người. Gạo lĩnh về không dám vo mạnh, chỉ rửa qua suối để về nấu ăn. Vì vo kỹ thì gạo sẽ tan biến theo nước. Để chống đói, bộ đội phải lấy măng rừng làm thức ăn, còn quân đội chủ lực phải ăn cháo để truy kích địch.

Về cái mặc, mỗi người một áo trấn thủ và tấm “chăn kháng chiến” chỉ có một lượt bông rất mỏng. Có chiến sĩ không có chăn, không có áo, đứng gác trên đèo phong phanh vải mỏng. Thuốc men thiếu thốn, nhất là thuốc sốt rét, qui-na-cơ-rin cũng không đủ chữa bệnh sốt rét dùng trong quân y. Vì thế uống qui-na-cơ-rin phải pha vào nước, chỉ có tác dụng tinh thần chứ chữa bệnh sốt rét rất hạn chế.



- Anh em đều thấm thía cảnh khổ, rồi than phiền, oán trách Cục Quân nhu làm không tròn nhiệm vụ. - Cụ chậm rãi - Càng oán trách hơn khi nghe ba thằng cha Châu, Cửu, Toàn sống sa hoa lắm. Chúng ăn toàn thứ ngon, rượu Tây, đường sữa, sô-cô-la trong Thành mang ra... Đặc biệt nổi đình đám là đám cưới linh đình của Cửu làm xôn xao cả vùng Thái Nguyên! Bộ đội và nhân dân công phẫn. Chuyện đến tai Bộ Quốc phòng và Trung ương Đảng.



Một hôm, anh Trần Tử Bình – Thiếu tướng, Phó cục trưởng Cục Thanh tra quân đội - tìm tôi, hỏi: “Anh nghe tin tức gì về vụ Châu không?”. Tôi trả lời: “Tôi có nghe. Bộ đội công phẫn lắm”.



Xong, anh Bình nói với tôi về chỉ thị của Trung ương Đảng: “Ta phải mở cuộc điều tra về vụ này. Chỉ thị này tối mật. Ngoài mấy ông Trung ương, chỉ có tôi và anh biết. Nếu để lộ, Trần Dụ Châu mà dinh-tê vào thành thì chúng mình mất đầu”. (Vì Châu nắm vững nơi đóng quân, quân số, người chỉ huy, chính ủy... các đơn vị toàn quân).



Rồi anh Bình giao nhiệm vụ: “Anh tiến hành cuộc điều tra này”. (Phải mở ngoặc nói thêm, những vụ phạm pháp mức độ nào có thể là xử lý trong nội bộ thì Cục Thanh tra giải quyết. Nếu nặng thì chuyển sang Quân pháp).



Thế là tôi cử 1, 2 anh rất tâm phúc nghe ngóng tình hình Cục Quân nhu. Điều tra sơ bộ xong, anh em về báo cáo lên Trung ương. Sau khi được nghe báo cáo, anh Trần Tử Bình có hỏi tôi: “Theo điều tra sơ bộ như vậy, có thể truy tố ra Tòa án binh không?”. Tôi đã nói rằng: “Đáng truy tố theo tội trạng như vậy. Nhưng cần tiếp tục điều tra nữa để có thêm tài liệu, dẫn chứng cụ thể, để căn cứ mà kết tội”.



Ông Phạm Trinh Cán kể thêm: “Khi xử vụ Trần Dụ Châu, bắt Toàn trước, Cửu sau.

Trước khi điều tra vụ Châu, Bộ Tổng tư lệnh cho bắt Phạm Toàn để lấy lời khai. Tạm giam Toàn để lấy khẩu cung tại nhà dân, giao cho bộ đội canh giữ. Tôi trực tiếp hỏi về vụ bê bối của Cục Quân nhu. Đêm ấy, Toàn tự tử bằng cách lấy cắp lựu đạn, mở chốt, úp mặt cho nổ.



Cửu cho bắt trước khi bắt Châu. Người ký giấy bắt Cửu, Toàn là tôi. Giam cạnh nhà đơn vị Cục Quân pháp đóng. Mấy ngày sau, Cửu cũng tự tử bằng cách bẻ que nứa cắt mạch máu cổ tay”.



Đến thời gian này thì Bộ Quốc phòng tổ chức lại. Sang năm 1950, ông Phạm Trinh Cán chuyển sang Bộ Tổng tham mưu. Vốn là cử nhân Luật (Đại học Đông Dương) nên ông được điều động vào quân đội, xây dựng luật nhà binh và tổ chức Tòa án binh, chứ không phải người được đào tạo quân đội chính quy.



Sau đó ông được cử làm Chánh Văn phòng Bộ Tổng tham mưu kiêm Chánh án Tòa án binh khu Trung ương. Vì thế vụ này được bàn giao cho Cục trưởng Cục Quân pháp mới là ông Ngô Minh Loan.



- Cụ thể vụ này là: ngoài tội tham ô ra còn bị tội phá hoại đoàn kết nội bộ Đảng trong Cục Quân nhu, trù dập đảng viên tốt. Sau khi bàn giao công việc, anh Bình có hỏi ý kiến tôi: “Nếu tiếp tục điều tra thêm thấy rõ tin đồn là đúng sự thật thì mức độ kết án thế nào?”. Tôi đã nói: “Tùy theo mức điều tra như thế nào. Theo riêng tôi, nặng nhất phải tử hình, dưới nữa phải 15-20 năm tù. Kể cả mức điều tra quan trọng sau lần điều tra báo cáo Trung ương để có chỉ thị. Nếu kết quả cuối cùng của việc điều tra thấy Châu tội nặng cộng với ảnh hưởng công phẫn trong quân đội thì có thể kết án tử hình được”.

Tôi còn nói thêm: “Tới mức ấy không chỉ xin chỉ thị Trung ương mà còn phải xin chỉ thị của Bác”. Việc này phải hết sức thận trọng vì là lần đầu đưa cán bộ cao cấp ra xử, lại là cán bộ hoạt động trước cách mạng.



Hè năm 1950, Tòa án binh tối cao xét xử. Chánh án: Thiếu tướng Chu Văn Tấn – Uỷ viên Chính phủ. Công cáo viên: Thiếu tướng Trần Tử Bình.



- Châu nghe tuyên án không ngờ mình bị tử hình, mặt tái đi, run lên. Đó là tôi (Phạm Trinh Cán) nghe kể lại chứ tôi không dự vì lúc đó đang đi tìm địa điểm khác để tránh hậu quả sau vụ xử Trần Dụ Châu. Nhỡ còn chân tay của Châu có thể tiếp theo sẽ phá hoại cách mạng.



Theo luật, án tử hình được quyền đệ đơn lên Chủ tịch nước xin ân giảm. Nếu Chủ tịch nước cho ân giảm, không bị đưa ra xử tử thì sẽ đưa về tù chung thân. Khi Tòa án binh tối cao tuyên án, Thiếu tướng Chu Văn Tấn hỏi: “Có xin ân giảm không?” thì Trần Dụ Châu nói: “Có”. Khi đệ đơn xin ân giảm lên Chủ tịch Chính phủ thì Hồ Chủ tịch đã bác đơn xin ân giảm. 6 giờ chiều hôm sau, Trần Dụ Châu được đưa ra trường bắn trước sự có mặt của đại diện Bộ Tư pháp, Nha Công an, Cục Quân nhu và một số cơ quan.



Cụ Phạm Trinh Cán kết luận: “Kể việc này để thấy Bác Hồ rất nghiêm với những cán bộ cao cấp không những không hoàn thành nhiệm vụ mà còn thoái hóa, biến chất!”.

* Cụ Phạm Trinh Cán (1912-2003).

Hà Nội, ngày 1/12/2010



Kiều Mai Sơn

theo bee.net


Tổng số lượt xem trang

free counters