LỊCH SỬ TƯ TƯỞNG
VIỆT NAM THẾ KỶ XIX VÀ ĐẦU THẾ KỶ XX
(ĐỀ CƯƠNG CHI
TIẾT)
Trần Đình Huợu
IV. Đông Kinh
nghĩa thục và tư trào khải mông đầu thế kỷ XX
1. Chế độ thực
dân nửa phong kiến
Phải mất gần 30
năm thực dân Pháp mới làm chủ được lãnh thổ và chính quyền cả nước. Việc cai
trị thuộc địa được tổ chức dần trên những vùng đất chiếm được. Có 3 nét đáng
chú ý là thực dân duy trì chính quyền và
luật lệ phong kiến làm công cụ, làm tay sai, với tay xuống nắm lấy thôn xã và
tổ chức chính quyền theo lối phương Tây ở các đô thị nhương địa. Khi đã ổn định
được tình hình thực dân bắt tay vào khai thác thuộc địa. Việc phát triển thương
nghiệp, đường giao thông và các thành phố làm thay đổi khá nhiều bộ mặt kinh tế
cả nước. Về văn hóa giáo dục bên cạnh các trường Nho học tổ chức như trước,
chính quyền thực dân dùng chữ quốc ngữ ra báo chí, mở trường học từ thông ngôn
đến Pháp-Việt, Cao đẳng truyền bá văn hóa Pháp…Một xu hướng tư sản hóa hình
thành trước hết ở các thành phố, một xu hướng tư sản hóa kiểu thực dân ở thuộc
địa. Với sự đổi mới về kinh tế và văn hóa kiểu đó nước ta tham gia vào quỹ đạo
của thế giới hiện đại.
Đời sống đô thị,
kết cấu kinh tế-xã hội tư sản, lớp trí thức tân học, sự tiếp xúc với thế giới
là những điều kiện mới trong cuộc sống của đất nước.
2. Phong trào
Duy tân
Trong tình hình
sôi sục của châu á sau cuộc Duy Tân của Nhật bản và Mậu tuất chính biến ở Trung
Quốc các nhà Nho trẻ tuổi và yêu nước Việt nam đầu thế kỷ phát động một cuộc
vận động duy tân theo gương các nước trên. Đến năm 1907 thì thành lập Đông kinh
nghĩa thục và nhiều trường khác theo mẫu đó ở nhiều tỉnh. Trước hết đó là
một phong trào yêu nước, một cuộc vận động giành độc lập. Nhưng đồng thời, về
tư tưởng đó cũng là một cuộc vận động dân chủ, cải cách văn hóa, một phong trào
Khải mông.
Tư tưởng duy tân
cải cách văn hóa lan tràn khắp nước vào tận đến cả hoạt động tôn giáo (Kinh Đạo
nam).
3. Nội dung tư
tưởng của phong trào Khải mông cải cách văn hóa
Những nhà yêu
nước trẻ tuổi dầu theo chủ trương bạo động hay cải cách cũng đều gắn yêu nước
với duy tân, đều ra sức chủ trương cải cách văn hóa giáo dục, khia dân trí chân
dân khí. Lần đầu tiên trong lịch sử các nhà Nho tố cáo nọc độc của cái học
khoa cử, đưa người "hủ nho" mà thực tế chính là nhà nho, ra bêu diếu,
đả kích. Họ phê phán các nhân vật của xã hội phong kiến, công kích các hủ tục
từ ma chay, lễ lạt đến khao vọng, từ cách để tóc đến cách ăn bận. Cái mà họ đề
xướng là thay đổi nền giáo dục để đào tạo con người mới. Con người mà họ muốn
đào tạo là những công dân yêu nước thương nòi, trọng nghĩa đồng bào, chuộng
thực nghiệp, dám mạo hiểm trong trường cạnh tranh. Cách giáo dục vừa nhằm nâng
tinh thần (dân khí) vừa nhắm mở rộng tri thức lịch sử, địa lý, khoa học theo
kiểu phương Tây. Và biện pháp đầu tiên là dùng chữ quốc ngữ, dịch sách vở Châu
Âu ra tiếng Việt. Trong khi phe phán xã hội cũ và con người cũ, các nhà Duy tân
lên án không ít những điểm khá cơ bản trong thế giới quan, lịch sử quan, chính
trị quan Nho giáo. Thế nhưng họ cũng không lên án Nho giáo, thậm chí vãn rất
sùng kính Thánh hiền, coi nó là cái của dân tộc, vẫn chủ trương học chính văn
của kinh truyện.
Cách hiểu văn
minh, văn hóa Phương Tây và cách nhìn truyền thống văn hóa dân tộc của họ quy
định trình độ tư tưởng dân chủ của họ.
Trong lịch sử
đầu thế kỷ, tư tưởng các nhà Nho duy tân có vận mệnh vài chục năm, biểu hiện
không giống nhau ở một số đại biểu. Qua thời gian vài chục năm đó nó đi
từ là cách mạng , tiền tiến đến lạc hậu bảo thủ và người nào cũng trải qua
quá trình bắt đầu từ giác ngộ từ bỏ Nho giáo, say mê văn minh phương Tây đến
nói suông, lạc lõng, không am hiểu và "lại giống" trở về là nhà Nho.
Có vị trí mở đầu
là Nguyễn Thượng Hiền, trên dưới 20 tuổi đã đậu thám hoa, Hoàng giáp, là một
trong những người đầu tiên đọc và truyền bá Tân thư. Thơ văn thời trẻ của ông
chứa chan lòng trung nghĩa và xúc cảm của người ẩn sĩ giữ khí tiết. Sau khi
được cảm hóa vì tư tưởng mới, ông hăng hái hô hào hợp đoàn doanh sinh, đốt văn
tập, lên án văn chương cử tử rồi xuất dương cứu nước. Tiếp theo Nguyễn Thượng
Hiền là cả một thế hệ mà hai người tiêu biểu là Phan Bội Châu và Phan Châu
Trinh. Hai người nhận thức khác nhau, chủ trương khác nhau và phát triển theo
hai đường khác nhau. Hai cụ Phan trở thành lãnh tụ của cả phong trào lúc đó, và
cũng là đỉnh cao nhất của tư tưởng yêu nước, tư tưởng duy tân, tư tưởng khải mông
lúc đó.
Vào những năm 10
của thế kỷ các nhà yêu nước người thì xuất dương, người thì vào tù. Thực
dân Pháp đề phòng tái diễn những phong trào như vậy cho tay sai ra mở trường
(như Đông Kinh nghĩa thục), mở báo (như chủ trương của các nhà Duy Tân), dịch
sách , giới thiệu văn minh phương Tây (như chủ trương của các nhà Duy Tân).
Nhưng việc làm của nhóm Phạm Quỳnh, Nguyễn Văn Vĩnh chỉ là biến cải cách cách
mạng thành cải lương, biến học tập văn minh phương Tây thành tuyên truyền
và đề cao văn hóa Pháp, đưa yêu nước giành độc lập vào con đường xây dựng
quốc văn.
Đầu những năm 20
các chí sĩ như Ngô Đức Kế, Huỳnh Thúc Kháng từ nhà tù Côn Đảo được thả về. Họ
lại hăng hái tiếp tục công việc bị tù đày gián đoạn. Các cụ đã tỏ ra rất sắc
sảo vạch mặt thực dân và tay sai nhưng những kiến giải của các cụ về chính trị,
xã hội, văn hóa, có thể nói là tiền tiến với nhà Nho nhưng lại là cổ lộ, lạc
hậu với thực tế, với sự hiểu biết của lớp thanh niên yêu nước có tân học.
Vì lòng yêu nước
thương dân các nhà Nho không ngần ngại lột xác, tự phê phán, sẵn sàng tiếp nhận
cái văn minh phương Tây tuy xa lạ nhưng cũng mới lạ. Họ được mở rộng tầm nhìn
và tri thức. Nhưng với cái vốn hiểu biết về văn minh, về khoa học, về tư tưởng,
phương Tây được báo chí Trung quốc lúc đó giới thiệu, các cụ còn xa mới hiểu
đúng nội dung thực.
Cuối cùng khi
trở thành lạc lõng, họ trở nên cô độc, làm thơ tâm sự giãi bày nỗi uất ức, đi
vào con đường xa lánh giữ khí tiết. Vô tình họ bước theo vết chân của các nhà
Nho xưa.
Nhà Nho không
vác thay được lá cờ tư tưởng của giai cấp tư sản mà trong lực lượng dân tộc lúc
đó lại chưa có lực lượng giai cấp mới. Nho giáo làm vướng víu nghiêm trọng đến
nhận thức của những người thực sự nhiệt thành yêu nước và duy tân thời đó.
V. Phan Bội Châu
1. Phan Bội Châu
nhà tư tưởng
Trong lịch sử
dân tộc ta, Phan Bội Châu là người tiêu biểu cho một thời kỳ lịch sử; thời cận
đại; thời cận đại ngắn ngủi, từ lúc thời trung cổ kết thúc (thế kỷ XIX) mà thời
hiện đại chưa bắt đầu (1930). Phan Bội Châu là nhà yêu nước, nhà hoạt động
chính trị, là một nhà thơ lớn. Ông cũng là nhà duy tân , cách mạng, muốn đưa
đất nước theo kịp các nước văn minh, và vì vậy nhiều lần nhận ra cái sai lầm cũ
của mình, tiếp thu cái mới, đi từ tư tưởng quân chủ lập hiến đến tư tưởng cộng
hòa, đến chủ nghĩa xã hội. Quá trình nhận ra cái cũ và tiếp nhận cái mới làm
cho ông trở thành nhà tư tưởng.
Là nhà Nho ở
vùng nông thôn Nghệ Tĩnh Phan Bội Châu vào kinh đô Huế, gặp Nguyễn Thượng Hiền,
gặp Nguyễn Thành, được đọc Tân thư bàn tính một chương trình cứu nước có
quy mô toàn quốc, dựa vào chính Đảng, liên kết cầu viện nước ngoài. Từ 1905 đến
1925 trong môi trường Châu á đang sôi sục chống đế quốc. Phan Bội Châu làm quen
với nhiều hệ tư tưởng khác nhau. Với tầm nhìn và cách nhận thức của một nhà nho
yêu nước, Phan Bội Châu đã xây dựng tư tưởng của mình từng bước. Tư tưởng Phan
Bội Châu bao gồm cả tư tưởng chính trị-xã hội, tư tưởng mỹ học, tư tưởng triết
học. Tư tưởng Phan Bội Châu tiêu biểu cho tư tưởng Việt Nam thời đó, đúng hơn
là tiêu biểu cho chặng đường tất yếu từ thời trung cổ phương Đông tiến đến tư
tương hiện đại.
2. Phan Bội Châu
và tư tương yêu nước
Với Hải ngoại
huyết thư, Việt Nam quốc sử khảo, Tân Việt Nam, Phan Bội Châu đã trình bày quan
niệm mới về nước, về dân, về quan hệ nước và dân, phủ nhận tư tưởng yêu nước là
trung nghĩa, quốc sử chỉ là gia sử. Với tư tưởng yêu nước mới Phan Bội Châu đề
xướng đoàn kết dân tộc, nêu ra đạo lý làm người Việt Nam: yêu nước, căm thù
giặc, không chịu làm nô lệ, đề xướng một chế độ cộng hoà của nhân dân…
Cách hiểu truyền
thống dân tộc, con đường giành độc lập, phương hướng duy tân, chế độ cộng hoà
của Phan Bội Châu có nhiều chỗ khác Phan Chu Trinh. Điều đó có? ý nghĩa
lịch sử rất lớn.
3. Phan Bội Châu
và các hệ tư tưởng truyền thông
Phan Bội Châu là
nhà Nho nổi tiếng, chịu ảnh hưởng Nho giáo khá sâu sắc. Để kết hợp yêu
nước và duy tân, Phan Bội Châu đã phải chia tay với đạo lý thánh hiền ở nhiều
điểm. Nhưng trong quá trình tiếp nhận tư tưởng mới (dân chủ, xã hội chủ
nghĩa) Phan Bội Châu đã phải nhìn lại và chịu không ít những ràng buộc với
tư tưởng Nho giáo.
Vào những năm 30
Phan Bội Châu viết mấy tác phẩm có ý nghĩa đánh giá các hệ tư tưởng truyền
thống; Khổng học đăng, Phật học đăng, Dịch kinh chú giải. Trong các tác phẩm đó
ngoài? ý nghĩa
trình bày giới thiệu các học thuyết ta cũng thấy rõ cách đưa nội dung yêu nước,
duy tân vào các học thuyết cổ, cách sauy nghĩ, cách nhận thức của ông về
các vấn đề tư tưởng.
4. Phan Bội Châu
và chủ nghĩa xã hội
Phan Bội Châu có
viết Chủ nghĩa xã hội, Nhân sinh triết học và trong một số bài thơ, truyện
ngắn, theo ý của tác giả nói đến sự đấu tranh cho chủ nghĩa xã hội. Đọc các tác
phẩm ấy ta thấy rõ Phan Bội Châu đi từ tư tưởng bình quân của nông dân, tư
tưởng Đại đồng của Nho gia đến chủ nghĩa xã hội thế nào.
Trong lịch sử tư
tưởng phương Đông cận hiện đại, Phúc Trạch Dụ Cát của Nhật Bản, Khang Hữu Vi,
Lương Khải Siêu của Trung Quốc và Phan Bội Châu của Việt Nam đã đi bằng bước
chân của dân tộc mình mà đến thế giới hiện đại.