Triết Lý, để làm gì ?

Khi ta bế tắc tư tưởng, chân thật công nhận rằng những kiến thức và phương pháp suy luận của ta không cho phép ta sống, tư duy và hành động khớp với khao khát làm người của ta, ngoài vô vàn cách ứng xử khác, ta có thể:

a) Tiếp tục sống, tư duy và hành động như cũ vì, dù sao, ta cũng sống được, không đến nỗi nào

b) Lột áo cũ, khoác áo mới, một tấm áo coi lành lặn đẹp đẽ hơn nhưng cũng hàm hồ không thua gì. Điều ấy luôn luôn khả thi bằng ngôn ngữ.

c) Đi tới cùng bế tắc của chính mình. Nếu không giải quyết được nó, ta ôm nó xuống suối vàng, để lại ở đời chỉ một câu hỏi. Câu hỏi của một con người. Đích thực. Có gì nhục đâu?

Nếu ta tưởng ta đã tìm ra một phần của giải pháp, ít nhất là cho riêng mình, thì cứ viết đi, chẳng cần trích cao nhân nào cả: họ đã là một phần của ta và ta đã phải “vượt” họ để nên mình.

Thế thôi.

(Chungta.com)

Góc nhỏ của Noby Vui Vẻ

Lục lọi, tìm tòi, đọc, cóp nhặt, chia sẻ, ... OK hay không tùy bạn ! ! !

“Nước độc lập mà dân chưa tự do thì độc lập cũng không có ý nghĩa”- Hồ Chí Minh.

3 thg 10, 2011

Một góc nhìn khác về nguyên nhân lạm phát


Bùi Trinh

Trong nghị quyết phiên họp thường kỳ tháng 8.2011 vừa qua, Chính phủ đã yêu cầu bộ Kế hoạch và đầu tư, ngân hàng Nhà nước, bộ Tài chính chỉ đạo các cơ quan chức năng nghiên cứu, phân tích làm rõ nguyên nhân lạm phát ở nước ta, từ đó đề xuất các giải pháp căn bản ứng phó có hiệu quả, phù hợp với tình hình thực tiễn, trình Chính phủ xem xét tại phiên họp thường kỳ tháng 9.

Trước đó, trong quá trình thẩm tra báo cáo tình hình thực hiện nhiệm vụ kinh tế – xã hội sáu tháng đầu năm 2011 của Chính phủ, chuẩn bị nội dung cho kỳ họp đầu tiên của Quốc hội khoá XIII vào cuối tháng 7, nhiều ý kiến cho rằng Chính phủ lý giải nguyên nhân lạm phát cao chưa thuyết phục.
Từ đó đến nay, những thảo luận xung quanh câu chuyện này vẫn đang được tiếp tục. Xin giới thiệu tổng hợp, phân tích và góc nhìn của tác giả Bùi Trinh về vấn đề này.
Lạm phát là sự tăng lên theo thời gian của mức giá chung của nền kinh tế. Bản chất của lạm phát về cơ bản là quan hệ tiền hàng. Tiền (M1, M2,…) nhiều hơn lượng hàng hoá (vật chất và dịch vụ) được tạo ra trong nền kinh tế.
Hiện có hai luồng ý kiến về vấn đề lạm phát của Việt Nam. Luồng ý kiến của đa số những người quản lý, giám sát và một số chuyên gia khá nổi tiếng cho rằng lạm phát của Việt Nam hiện nay đến từ phía cầu và mối quan hệ giữa tổng cầu và lượng cung tiền (M2). Đa số các chuyên gia coi C + I (tiêu dùng cuối cùng và tích luỹ tài sản) là tổng cầu bắt nguồn từ chữ aggregate demand.
Còn theo hệ thống các tài khoản quốc gia (SNA), tổng cầu bao gồm cầu cho sản xuất và nhu cầu cuối cùng. Nhu cầu cuối cùng bao gồm nhu cầu cho tiêu dùng cuối cùng của hộ gia đình (C), chi tiêu dùng cuối cùng của Chính phủ (G – khoản này theo định nghĩa của SNA chỉ là các khoản chi tiêu thường xuyên của Chính phủ), tích luỹ gộp tài sản cố định (I) và xuất khẩu thuần.
Việc sử dụng thuật ngữ đôi khi cũng dẫn đến những ngộ nhận, và đôi khi cũng dẫn đến những nhân định sai lệch về tình hình kinh tế nói chung và vấn đề lạm phát nói riêng.
Việc thắt chặt tiền tệ từ cuối năm 2010 đến nay nhằm giải quyết mối quan hệ giữa lượng tiền và hàng (bao gồm các sản phẩm vật chất và dịch vụ). Một điều cần để ý là lượng hàng hoá ở đây không phải là tương thích với “tổng cầu” theo cách hiểu của nhiều chuyên gia mà tương thích với tổng cầu theo cách hiểu của SNA (output).
Ở Việt Nam dư nợ tín dụng cho tiêu dùng cuối cùng của hầu hết các ngân hàng thương mại chỉ chiếm khoảng từ 10,5 – 12% trong tổng dư nợ (năm 2009). Đến năm 2011, do thắt chặt tiền tệ và mức lãi suất cao, hầu như không ai dám vay cho tiêu dùng, cho vay đối với tiêu dùng chiếm tỷ trọng thấp (ở các nước phát triển tỷ trọng này thường chiếm khá cao trong tổng dư nợ).
Một vấn đề nữa, lạm phát là do mất cân đối giữa lượng cung tiền và lượng hàng hoá trong nền kinh tế, nhưng hầu như các báo cáo của chuyên gia, tổ chức và hành động thắt chặt tiền tệ chỉ tập trung giải quyết vấn đề ở một vế đó là lượng cung tiền. Vế thứ hai là lượng hàng hoá cũng cần được giải quyết. nếu lượng hàng hoá ngày càng ít dần thì việc thắt chặt tiền tệ cũng chẳng có tác dụng gì.
Luồng ý kiến thứ hai của một số chuyên gia cho rằng cần thiết phải tăng cung hàng hoá. Theo họ, đúng là khi chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tăng cao thì người tiêu dùng gặp rất nhiều khó khăn trong cuộc sống, nhưng cũng cần để ý rằng suốt từ các quý trong năm 2010 đến nay chỉ số giá sản xuất (PPI) luôn tăng cao hơn chỉ số giá tiêu dùng. Cộng với việc “hơn 130.000 tỉ đồng “chết” trong hàng tồn kho”, tăng 32% so với cùng kỳ năm ngoái và gần 20% so với đầu năm (theo cafef.vn trên cơ sở phân tích số liệu của hơn 500 doanh nghiệp trên thị trường chứng khoán) thì có thể thấy khó khăn của các doanh nghiệp còn lớn hơn cả khó khăn của người tiêu dùng. Những khó khăn này của doanh nghiệp cộng với việc thắt chặt tiền tệ, lãi suất cao… sẽ khiến lượng hàng hoá giảm đi và những mất cân đối về cung tiền và hàng hoá vẫn còn nguyên.
Tất nhiên, giải quyết vấn đề về phía cung (supply side) không phải là việc của ngày một ngày hai, cần có một quá trình nhưng cũng không thể không bắt đầu từ bây giờ. Phía cung yếu kém cơ bản do hiệu quả đầu tư quá thấp và cơ cấu kinh tế không hợp lý, dẫn đến lượng hàng hoá sản xuất không tương xứng với lượng tiền bỏ ra. Theo tính toán từ nguồn số liệu của tổng cục Thống kê thì yếu tố vốn đóng góp vào tăng trưởng trong giai đoạn hiện nay lên đến hơn 70%, trong khi yếu tố thay đổi về công nghệ, phương thức quản lý… (năng suất nhân tố tổng hợp) chỉ đóng góp vào tăng trưởng trên 15%; trong khi giai đoạn trước đóng góp của yếu tố vốn chỉ là trên 60% (cung đã là không hiệu quả rồi!) và đóng góp của yếu tố năng suất nhân tố tổng hợp là trên 22%. Sự không hiệu quả này chủ yếu diễn ra ở hai khu vực là khu vực doanh nghiệp nhà nước và khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI). Hiệu quả đầu tư và cơ cấu kinh tế như vậy mà lại chạy theo tăng trưởng, nên liên tục tung tiền ra để đầu tư và chạy đua kêu gọi đầu tư từ nước ngoài, không cần biết mình được gì mất gì. Đó mới là nguyên nhân sâu xa của lạm phát.
Như vậy theo cá nhân tôi thì lạm phát của Việt Nam là do cả hai phía. Phía cung tiền thì do việc chạy theo thành tích tăng trưởng nên tung tiền đầu tư quá mức và quá sức[1] từ những năm trước nên việc thắt chặt tiền tệ trong mấy tháng gần đây chưa có tác dụng nhiều. Và do việc thắt chặt cũng như nới lỏng lãi suất không có trọng tâm dẫn đến phía cung (hàng hoá) đã yếu càng yếu. Phía cung mà yếu thì không thể tạo ra mặt bằng giá mới như mong đợi của một số chuyên gia.
Để hướng tới phát triển và ổn định bền vững cần thiết phải tiến hành song song các biện pháp trước mắt và lâu dài và có chủ đích rõ ràng.
Chú thích:
[1] Đầu tư hàng năm phải dựa vào tích luỹ từ nội bộ nền kinh tế (saving), trong khi đầu tư hàng năm chiếm trong GDP trên 40% nhưng tỷ lệ tích luỹ từ nội bộ ngày càng giảm, nếu không tính lượng kiều hối thì ước tính đến năm 2010 tỷ lệ này chỉ trên 20% GDP.
SOURCE: BÁO SÀI GÒN TIẾP THỊ
Trích dẫn từ: http://sgtt.vn/Goc-nhin/153192/Mot-goc-nhin-khac-ve-nguyen-nhan-lam-phat.html

Nhà văn và môn văn


Hà Quảng

Việc dạy - học văn trong nhà trường đã được nhiều thầy giáo, nhiều nhà văn và nhà giáo dục bàn bạc nhiều năm, nhưng cho đến nay thì vấn đề vẫn như là thời sự, vẫn đang sốt dẻo. Trong công cuộc đổi mới về phương pháp giảng dạy trong nhà trường thì môn Văn đang có những điều bất cập. Trong bài viết này chúng tôi thử tìm hiểu vấn đề dưới góc độ xem xét các ý kiến của các nhà văn- chủ thể sáng tạo nên các tác phẩm mà thầy giáo và học sinh tiếp cận (dạy- học), lọc ra những vấn đề hữu dụng cho việc nâng cao chất lượng bộ môn này.
1. Tại sao học sinh kém hứng thú học văn?
Chúng ta thấy có khá nhiều giờ văn tính tư tưởng ( chính trị ) lấn át tính thẩm mỹ, thầy giáo cố gắng khai thác những nội dung xã hội trong bài văn cho kỳ được để thỏa mãn các yêu cầu mà “biểu điểm” đánh giá đưa ra, còn cái tiêu chí “ cho rằng sức mạnh văn chương nói gì thì nói, vẫn cứ nằm nơi con tim. Dạy cho học sinh biết rung động trước những áng văn chương là cần hơn là dạy cho học sinh các thao tác“ tam đoạn luận”,“bắc cầu”vv... (Vũ Xuân Túc - Ngữ văn nó cứ rối tung lên - VNTrẻ số 49 ), thì hầu như chưa thật chú ý đúng mức!
    - Nhiều giáo viên vẫn cho rằng trong môn Văn nội dung là cái quan trọng, hình thức là phụ, là cái vỏ, cái thuyền để chở nội dung nên khai thác càng nhiều nội dung tư tưởng càng đạt. Thực ra, trong văn chương, nghệ thuật, nội dung và hình thức là hai mặt của một tờ giấy, không cái này thì cũng không cái kia, hình tượng văn chương là một chỉnh thể thẩm mỹ, nó không thể “tách rời”, cũng không thể bị “cắt khúc” một cách cơ học làm mất đi tính biểu cảm- một đặc trưng cơ bản của nghệ thuật- cái điều khiến độc giả khoái trá thích thú.
Nhà văn Tô Hoài nói về mối quan hệ giữa nội dung và hình thức trong việc giảng văn và hậu quả tạo nên “ tình trạng kém hứng thú học văn” của học sinh hiện nay :
      “...Trong một sáng tác hình thức và nội dung, cũng ví như da thịt( hình thức) và máu xương (nội dung). Hình thức và nội dung không phải như cái áo cái mũ có thể cởi ra mặc vào thân thể lúc nào cũng được. Sự liên quan giữa nội dung và hình thức một bài văn là sự liên quan của máu thịt với thân thể con người. Không phân tích được như thế, riêng về giảng dạy, không gây được những hiểu biết vô cùng cần thiết về nội dung câu văn, lời văn. Thiếu sót đó cũng một phần nào làm cho đối tượng học sinh ta hiện nay có tình trạng kém hứng thú học văn.” (Tô Hoài- Biết và hiểu trong phê bình và sáng tác-Văn nghệ 1-1 -2011)
 Ông còn chỉ ra cụ thể: nội dung (máu xương), hình thức (da thịt), không thể tách rời. Phân tích hình thức không thể “sơ sài, qua loa, khập khiểng”, phải chú ý đến “vật liệu kiến trúc nội dung ấy”, đó là “nghệ thuật kể chuyện, cấu tạo nhân vật, đặc biệt là ngôn ngữ”, sau nữa tìm hiểu “ cốt cách văn phong”, xem tất cả liên quan nội dung, thể hiện nội dung ra sao. Trong phân tích của mình ông cho rằng giờ Văn hoặc đã tách rời hai yếu tố nội dung và hình thức một tác phẩm làm mất vẻ đẹp của văn chương hoặc chỉ dừng lại việc khen chê chung chung ít đi sâu “mổ xẻ cốt cách văn phong”, giờ văn ít thành công là vì vậy! ( bài đã dẫn)
         - Nhà văn Tạ Duy Anh cho rằng, cách dạy văn của Việt Nam còn nhiều bất cập khi bắt hàng triệu người hiểu như nhau về một tác phẩm: “Ngay cả triệu viên gạch cùng được làm ra từ một khuôn cũng khác nhau huống chi một triệu con người… Một đứa trẻ ở nông thôn đọc Chí Phèo chắc chắn sẽ có những cảm nhận khác với một đứa trẻ ở thành phố. Làm sao giống nhau được! Vậy mà một tác phẩm văn chương bắt người ta hiểu giống nhau bằng cách ra những đáp án. Đó là một sự xúc phạm với tác giả nói riêng và sáng tạo nói chung!” (  Tạ Duy Anh- Cách dạy văn đang lạc hậu bậc nhất thế giới - Thể thao Văn hoá Chủ Nhật, 17/05/2009 - Yên Khương ghi)
   Trong nhà trường không có bộ môn nào tối kỵ lối suy nghĩ và thực hành kiểu “lập trình hoá” theo đáp án chi tiết sẵn như Môn Văn, vì nó là môn học của trái tim, cái vui , cái buồn của nó rất uyển ảo.
         - Nhà văn Nguyên Ngọc khái quát từ môn Văn đến các môn xã hội khác :
        “...Nói trắng ra, hiện nay người ta chán, ghét học văn, học sử, là vì dạy văn thì có thật sự dạy văn đâu mà là dùng văn để dạy chính trị chủ yếu để dạy chính tri. Sử cũng hoàn toàn như vậy, không hề khác.”
( Nguyên Ngọc- Học Sử để biết làm người- Xưa và Nay - số 385- 08- 2011)
2. Về mối quan hệ thầy giáo và học sinh trong giờ văn:
Môn Văn với việc giải mã văn bản nghệ thuât, khám phá ý nghĩa cuộc sống .Đây là hai vấn đề liên quan nhưng có nhiều cách lý giải khác nhau về giờ văn trong nhà trường phổ thông. Chúng ta đều biết tiếp cận tác phẩm văn chương ở ngoài đời cũng như trong nhà trường là nhằm khám phá ý nghĩa cuộc sống đằng sau các hình tượng nghệ thuật.Và muốn khám phá được tốt ý nghĩa đó thì phải biết cách giải mã các hình tượng nghệ thuật nhiều khi khá “ bí ẩn ”. Đây là mối liên quan giữa hai phạm trùcái và cách mà ta thường gặp trong nhiều hiện tượng đời sống chứ không riêng gì nghệ thuật, văn chương. Hai phạm trù này có liên quan mật thiết nhưng lại không đồng nhất, nên xem là hai phương diện độc lập. Việc đọc văn ngoài đời và việc học văn trong nhà trường có cái giống và cái khác nhau. Giống là ở chỗ đều nhằm khám phá ý nghĩa cuộc sống rút ra những bài học bổ ích, nhưng khác ở chỗ, một đằng con người đủ trí khôn để tự tìm ra ý nghĩa, một đằng còn phải được hướng dẫn, trợ giúp để tìm ra kho châu báu đó. Bất cứ một thầy giáo có kinh nghiệm nào cũng hiểu rằng, tác phẩm đem dạy đều nhằm giúp các em khám phá ý nghĩa cuộc sống trong đó, tuy nhiên có những ý nghĩa dễ tiếp cận, nhưng cũng có những ý nghĩa mới mẻ, sâu kín khó khám phá, nhưng chính cái loại ý nghĩa thứ hai này mới làm thầy giáo và học sinh thích thú . Một nhân vật của M. Goocki đã từng nói : Dạy Văn thích vì luôn được tiếp cận cái mới và nói cái mới cho người khác nghe!
Chúng tôi rất đồng tình với cái phương pháp dạy văn “đọc - hiểu” mà GS Trần Đình Sử nêu lên, chúng tôi chỉ muốn lưu ý, trên cơ sở cho các em “đọc” tác phẩm để có cái sự “hiểu”, cần quán triệt thêm : Trong giờ văn, giúp HS giải mã ý nghĩa tác phẩm loại thứ nhất - loại dễ hiếu, thầy giáo nêu vấn đề đối thoại dắt dẫn cho HS tự tiếp cận tìm ra ý nghĩa; loại ý nghĩa thứ hai khá sâu kín với vốn sống của các em thì những câu trả lời thường vụn vặt hời hợt, thầy giáo cần kết hợp trực tiếp giảng bình nâng cao “ tầm đón nhận” cho các em. Không nên xem những học sinh chập chững trước cuộc đời cũng có tư thế như những độc giả tràn trề kinh nghiệm sống, tự mình chiêm nghiệm được các bí ẩn của hình tượng văn chương, dẫu đều tiếp cận tác phẩm với tư cách “đồng sáng tạo”! Vả lại khi thầy giảng bình những đoạn văn giàu suy cảm, trò chỉ ngồi nghe, xúc động, ghi vài ý chính nhưng các liên tưởng, so sánh, những độc thoại nội tâm luôn nảy sinh, trí óc làm việc nhiều , “ngộ” ra nhiều điều thú vị. Chính những lúc đó người thầy gián tiếp giúp các em biết cách thức tìm tòi, biết phương pháp để đi đến hiệu quả,“biết cách giải mã hình tượng nghệ thuật” chứ không phải chỉ những lúc thầy trực tiếp gợi ý, nêu câu hỏi đàm thoại mới thực hiện phương pháp tiếp cận tác phẩm.
Giờ Văn trong nhà trường có “mục tiêu kép”, khác lối đọc văn thông thường, nó giúp học sinh vừa tìm ra cái ý nghĩa cuộc sống đằng sau các con chữ, vừa biết cách thức tìm ra ý nghĩa đó. Tuy nhiên theo ý chúng tôi, môn Văn trong nhà trường phổ thông mục tiêu thứ nhất, khám phá ý nghĩa cuộc sống vẫn là chính yếu, góp phần hình thành nhân cách con người hiện đại, nó sát hợp với mục tiêu đào tạo của nhà trường phổ thông! Nói về mối quan hệ thầy giáo và học sinh trong giờ văn, xin được nhắc lại một ý kiến rất đáng để cho chúng ta suy nghĩ, ý kiến của nhà văn Ma Văn Kháng - một người rất am hiểu về giáo dục:
         “ Lâu nay khi nói về đào tạo nhân tài, theo như tôi hiểu các nhà giáo dục cách tân thường nhấn mạnh quá đáng đến việc phải phát huy tích cực tính của học sinh. Tôi nghi ngờ điều này. Trước sau tôi vẫn đinh ninh: tất cả từ ông thầy[...] tình yêu văn chương và năng lực cảm thụ nó, sáng tạo nó là cả một quá trình hình thành và được thầy vun xới .”    (Ma Văn Kháng- Năm tháng nhọc nhằn, năm tháng nhớ thương- Hồi ký- NXB Hội Nhà Văn- Hà Nội 2009, tr43 )
Vấn đề không là ở chỗ bao nhiêu em tham gia phát biểu, bao nhiêu thời gian học sinh xử dụng trong giờ Văn, mà cái cốt lõi là ở chỗ học sinh đã tiếp cận tác phẩm, chiếm lĩnh được bao nhiêu nội dung ý nghĩa. Với bao nhiêu cách tân của phương pháp người giáo viên có năng lực đem xử dụng cũng chỉ nhằm giúp học sinh tiếp cận tác phẩm, nâng cao “tầm đón nhận” tự phát, để sau giờ học trở thành “một người khác” lớn khôn hơn một ít. Tất cả ý nghĩa của mô thức Dạy- Học văn mà chúng tôi quan niệm được sáng tỏ hơn khi tiếp cận ý kiến nhà văn Ma Văn Kháng.
3- Việc tuyển chọn các tác phẩm văn học đưa vào Sách Giaó Khoa:
Nhà văn Tạ Duy Anh trong một lần trò chuyện trên báo Thể thao Văn hoá có cho rằng 
             “... Sách Giáo Khoa hiện nay đã khắc phục được một vài nhược điểm, đang có xu hướng cho trẻ con tiếp cận với những giá trị mang tính nhân bản hơn và đã tiến gần hơn tới cái bản chất giáo dục- giáo dục về lòng thiện cho con người- đặt cơ sở để từ đó làm nảy sinh những tình cảm tốt đẹp hơn.”( bài đã dẫn ) Tuy nhiên nhà văn cũng lưu ý cần chọn tốt hơn nữa những tác phẩm“đi đúng vào nhịp tâm hồn, tình cảm và khao khát của tâm hòn trẻ thơ”-đặc biệt ở bậc tiểu học, cần bớt đi các bài văn “khô cứng,áp đặt”, nặng tính chất xã hội giáo huấn.
Trong cuộc hội thảo về sách tháng 03-2008 tại thành phố HCM, nhà văn Dạ Ngân có đưa một nhận xét đáng để chúng ta lưu ý, bà cho rằng tác phẩm chọn dạy trong nhà trường yếu về tính thẩm mỹ làm học sinh không thích học văn, cảm xúc này kéo dài cho đến sau này khi ra khỏi trường, sở thích đọc sách không có! Liên hệ chương trình SGK hiện nay với các sách giáo khoa ngày xưa( kiểu Quốc văn giáo khoa thư), thấy các sách cũ tuy có nhiều hạn chế về mặt này mặt khác nhưng sao có nhiều bài học xong nó cứ theo ta mãi suốt cuộc đời. Chưa hẳn là do các thao tác giảng văn mà chính hình tượng văn chương trong các bài được chọn giàu tính thẩm mỹ, thích hợp lứa tuổi nên nó ăn sâu, đậu lâu bền trong tầm hồn trẻ.
Ngoài việc chọn tác phẩm thích hợp lứa tuổi, cần chọn các “tác phẩm hay”.
 “...Văn chương không thiếu tác phẩm hay để đưa vào SGK. Bao giờ dám đưa những tác phẩm, chẳng hạn một số truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp, tác phẩm của Bảo Ninh... vào SGK dạy một cách đàng hoàng. [...] đúng là có những tác phẩm rất hay, đáng in vào SGK đã, đang bị bỏ quên”. ( Tạ Duy Anh, bài đã dẫn )
Chọn như thế nào còn chờ tham bác ý kiến các nhà lý luận, các thầy giáo, các nhà soạn sách, nhưng căn bản ý kiến của ông có những nhân tố hợp lý vì HS cuối cấp rất nhiều em sẽ bước vào đời hoặc học sang các ngành khoa học tự nhiên khác mà không biết đến các tác phẩm nổi tiếng thì cũng thiệt thòi cho các em.
SGK không chỉ không đáp ứng tình cảm thẩm mỹ của lứa tuổi mà còn cần thể hiện đầy đủ diện mạo văn học nước nhà, có những khoảng trống cần bổ sung. Nhà thơ Mai Văn Phấn cùng nhà thơ Nguyễn Quang Thiều đã từng có ý kiến trao đồi vấn đề này: “...các tác phẩm tiêu biểu của các nhà văn xuất hiện sau 1975 cần có mặt trong SGK, nhằm phản ánh trung thưc đời sống tinh thần dân tộc trong giai đoạn lịch sử nhất định.”để tránh tình trạng “...người học sau khi rời ghế nhà trường vẫn thấy khoảng trống mơ hồ nào đấy chưa được bù đắp”( Nguyễn Quang Thiều ghi lại- Báo Văn Nghệ 01- 2004)
Cuối bài viết này chúng tôi muốn giới thiệu thêm ý kiến tác giả Nguyễn Hoà- một nhà văn Thành phố HCM khi ông bàn về nội dung SGK:
“... Nếu bộ môn văn, bỏ quên văn học miền Nam trước 1975 và văn học hải ngoại là một thiếu sót lớn, cũng như bộ môn văn sẽ què quặt, chúng ta phải hiểu thật đúng đắn như vậy, khi chúng ta đúng là người VN và chúng ta không phải là người China.” (Nguyễn Hoà- Văn chương Việt -29-06-2011)
Ý kiến này các tác giả khác cũng đã nhiều lần nhắc đến như Vương Trí Nhàn, Phạm Xuân Nguyên, Lại Nguyên Ân... Có nhiều nhân tố hợp lý, thiết nghĩ nếu biết chọn lọc nó chỉ làm giàu thêm bộ phận văn học viết bằng tiếng Việt trong đại gia đình văn chương Thế giới, trong lâu dài cũng rất hữu ích về biên soạn chương trình Tiếng Việt ở nhà trường người Việt khắp hoàn cầu ./.
H.Q.

Vinashin được kết luận đã làm thất thoát hơn 900 tỷ đồng



Cơ quan anh ninh điều tra (Bộ Công an) vừa kết thúc điều tra vụ án “cố ý làm trái quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng”, xảy ra tại Tập đoàn Công nghiệp tàu thủy Việt Nam (Vinashin).

Theo cơ quan điều tra, ngày 10/8/2005, Thủ tướng đã phê duyệt đề án điều chỉnh phát triển của Tổng công ty Công nghiệp tàu thủy Việt Nam (nay là Tập đoàn Vinashin), giai đoạn 2005 - 2010, định hướng đến 2015. Trong đó nêu rõ, hoạt động của Vinashin theo hướng đa ngành, lấy đóng mới và sửa chữa tàu biển là ngành chính, phát triển các ngành nghề khác trên nguyên tắc hỗ trợ cho ngành đóng và sửa chữa tàu biển.

Tuy nhiên, trên thực tế, Vinashin đã phát triển không đúng với đề án, đầu tư tràn lan vào nhiều dự án, cố ý làm trái quy định của nhà nước, gây hậu quả nghiêm trọng.

Kết quả điều tra của cơ quan an ninh cho thấy, với những việc làm sai trái của Vinashin, ngân sách Nhà nước đã bị thiệt hại gần 907 tỷ đồng.

Ngoài việc xác định thiệt hại về tài chính, cơ quan điều tra cũng đề nghị truy tố 9 bị can có liên quan đến vụ án, gồm: Phạm Thanh Bình, nguyên Chủ tịch Hội đồng Quản trị Tập đoàn Vinashin; Trần Văn Liêm, nguyên Trưởng ban Kiểm soát Tập đoàn Vinashin; Nguyễn Văn Tuyên, nguyên Giám đốc Công ty Cổ phần Công nghiệp tàu thủy Hoàng Anh; Nguyễn Tuấn Dương, nguyên Chủ tịch Hội đồng Quản trị Công ty Cổ phần Đầu tư Cửu Long; Tô Nghiêm, nguyên Tổng giám đốc Công ty Cổ phần Đầu tư phát triển khu kinh tế Hải Hà; Trịnh Thị Hậu, nguyên Tổng giám đốc Công ty Tài chính TNHH một thành viên công nghiệp tàu thủy; Hoàng Gia Hiệp, nguyên Phó Tổng giám đốc Công ty Tài chính TNHH một thành viên công nghiệp tàu thủy; Trần Quang Vũ, nguyên Tổng giám đốc Tập đoàn Vinashin và Đỗ Đình Côn, nguyên Phó Tổng giám đốc Công ty Công nghiệp tàu thủy Hoàng Anh.

Cũng liên quan đến tội danh này, còn có hai bị can đang bỏ trốn, có quyết định truy nã quốc tế nên cơ quan an ninh điều tra tạm đình chỉ điều tra là Giang Kim Đạt, nguyên Trưởng phòng Kinh doanh, Công ty Vận tải viễn dương Vinashin và Hồ Ngọc Tùng, nguyên Tổng giám đốc Công ty Tài chính TNHH Một thành viên Công nghiệp tàu thủy.

Quá trình điều tra, Cơ quan an ninh cũng đã tách hành vi “cố ý làm trái quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng” của các bị can để điều tra, xử lý tại giai đoạn 1 của vụ án này.

Các sai phạm tập trung ở các dự án: mua tàu cao tốc Hoa Sen; đầu tư xây dựng nhà máy nhiệt điện Sông Hồng (tỉnh Nam Định); đầu tư xây dựng nhà máy điện diezel Cái Lân (tỉnh Quảng Ninh); bán vỏ tàu Bạch Đằng Giang và dự án tàu Bình Định Star.

Liên quan đến sai phạm đối với vụ việc mua tàu cao tốc Hoa Sen, cơ quan an ninh xác định, đầu năm 2007, ông Phạm Thanh Bình được một công ty môi giới nước ngoài đặt vấn đề bán cho Vinashin tàu “Cartour” của Italia. Ông Bình đã ký công văn gửi Thủ tướng Chính phủ đề nghị cho Vinashin được đóng mới 6 tàu biển cao tốc chở khách. Ngày 12/4/2007, Văn phòng Chính phủ có công văn truyền đạt ý kiến của Thủ tướng, đồng ý cho Vinashin đóng mới tàu biển cao tốc chở khách, nhưng không đề cập đến việc mua tàu.

Tuy nhiên, ông Bình đã không thông báo ý kiến trên của Thủ tướng đến các thành viên Hội đồng quản trị mà vẫn thực hiện việc mua tàu.

Do vội vã, thiếu tính toán nên khi về Việt Nam, chiếc tàu mang tên Hoa Sen không phù hợp với hệ thống cảng tại Việt Nam. Chạy được thời gian ngắn, tàu Hoa Sen phải “nằm đắp chiếu” vì hoạt động không hiệu quả. “Phi vụ” này, ông Bình và các cộng sự đã gây thiệt hại gần 470 tỷ đồng.

Ngoài ra, cơ quan an ninh điều tra cũng xác định một số phi vụ làm ăn thua lỗ của Vinashin trong suốt một thời gian dài, trong đó phải kể đến dự án nhà máy nhiệt điện Sông Hồng với tổng số tiền thiệt hại cho Nhà nước là hơn 310 tỷ đồng.

Một số dự án khác như: nhà máy nhiệt điện diezel Cái Lân, hoạt động được trong ba năm 2007 - 2009 và cho đến khi dừng hoạt động đã “kịp” gây thiệt hại hơn 60 tỷ đồng; dự án mua bán vỏ tàu Bạch Đằng Giang, thiệt hại hơn 27 tỷ đồng…

Nguồn: Vneconomy.vn

Cà phê cuối tuần: “Cần có đổi mới lần hai” (P/v Ts. Lê Đăng Doanh)



Nguyên Hà

Hỏi ông có bi quan quá không khi khẳng định rằng, “không nghi ngờ gì nữa, tình hình kinh tế - xã hội nước ta đang ở tình trạng xấu nhất từ năm 1991 đến nay”, ông liền hỏi lại, “thế bạn thấy có ai phản đối không?”.

Câu chuyện giữa VnEconomy với TS. Lê Đăng Doanh, nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương, diễn ra khi không khí của cuộc hội thảo về các vấn đề kinh tế vĩ mô do Ủy ban Kinh tế của Quốc hội tổ chức cuối tuần qua tại Tp.HCM vẫn còn đang “nóng hổi”.

Là diễn giả đăng đàn thứ ba với chủ đề “Điều chỉnh kế hoạch 5 năm 2011 - 2015, tái cơ cấu và cải cách kinh tế” tại hội thảo này, ông Doanh đã hơn một lần nhấn mạnh rằng cần phải nhìn thẳng vào sự thật và “cần có đổi mới lần hai” một cách sâu sắc, toàn diện.

Phải nói thẳng

Thưa ông, nhận định nền kinh tế đang ở tình trạng “xấu nhất từ năm 1991” đã được “kiểm nghiệm” ở diễn đàn nào chưa?

Chưa đâu, đây là lần đầu tiên tôi đưa ra nhận định này.

Các ý kiến tại hội thảo đều rất dễ dàng thống nhất là nền kinh tế đang rất khó khăn, song nếu khái quát như ông thì liệu có vội vàng quá không?

Thì bạn đã nghe cả tại hội thảo rồi đấy. Phải nói thẳng là tình hình đang rất xấu.

Xét về tất cả các tiêu chí kinh tế vĩ mô như lạm phát, bội chi ngân sách, thâm hụt thương mại, cán cân thanh toán quốc tế, nợ nước ngoài và nợ công, tỷ giá đồng tiền Việt Nam cũng như sự giảm sút niềm tin của người dân, nhà đầu tư trong nước và ngoài nước… đều đang ở mức trầm trọng.

Đáng chú ý là sức khỏe của hệ thống ngân hàng bộc lộ nhiều vấn đề, tỷ lệ nợ xấu tăng lên. Mức tín nhiệm của Việt Nam bị các công ty nước ngoài hạ thấp đến mức B-, tức là mức thấp nhất trước mức C.

Xếp hạng năng lực cạnh tranh của Việt Nam bị giảm 6 bậc trong năm 2011, xuống vị trí 65 trên 142 nền kinh tế. Tích lũy từ nội bộ kinh tế liên tục giảm sút, để duy trì mức đầu tư cao, nước ta đã tăng vay mượn nước ngoài, không chỉ qua nguồn ODA mà còn cả qua các kênh bán trái phiếu chính phủ trên thị trường tài chính quốc tế và bảo lãnh cho doanh nghiệp nhà nước vay mượn thương mại với lãi suất cao. Số nợ của khu vực doanh nghiệp nói chung, kể cả doanh nghiệp tư nhân kinh doanh bất động sản cũng tăng cao rồi.

Nợ nước ngoài lên đến 42% GDP, cao nhất từ 1998 đến nay. Nếu tính thêm nợ của các doanh nghiệp nhà nước mà chính phủ bảo lãnh và phải trả nợ thay khi doanh nghiệp chưa trả được, như trường hợp xi măng Đồng Bành vừa qua, thì tổng số nợ đã vượt quá 100% GDP.

Một vấn đề nữa rất đáng chú ý hiện nay là chênh lệch giàu-nghèo tăng lên rõ rệt. Đặc biệt, bên cạnh những người nghèo gặp khó khăn rất lớn trong đời sống, chữa bệnh, cho con đi học..., đã xuất hiện những hiện tượng phô bày sự giàu có, xa hoa theo kiểu trọc phú, rất xa lạ với truyền thống dân tộc và định hướng xã hội chủ nghĩa của đất nước.

Rồi, tội ác hình sự, các hành vi bạo lực và các tệ nạn xã hội tăng nhanh, tình hình trật tự xã hội có diễn biến phức tạp, người dân lương thiện cảm thấy kém an toàn khi đi ra đường hay đến nơi đông người.

Nhưng thưa ông, chúng ta vẫn thường nghe các đánh giá là kinh tế - xã hội đang có chuyển biến tích cực?

Tất nhiên hiện thực là bức tranh nhiều màu sắc. Bên cạnh những “khoảng tối” như tôi vừa nói thì cũng có điểm sáng, như sản xuất nông nghiệp đạt khá, xuất khẩu, trong đó có xuất khẩu gạo… vẫn tăng.

Bên cạnh hàng nghìn doanh nghiệp phải ngừng sản xuất thì cũng có doanh nghiệp làm ăn được. Ví dụ doanh nghiệp Mỹ Lan ở Trà Vinh chế ra vật liệu nano xuất khẩu, hay gốm sứ Minh Long cũng có công nghệ tiên tiến, sản phẩm có năng lực cạnh tranh…

Những điểm sáng như vậy có thể tìm thấy ở tất cả các lĩnh vực, các địa phương, nhưng chính những doanh nghiệp này cũng đang gặp khó khăn vì lãi suất cao, lạm phát làm chi phí đầu vào tăng nhanh.

Những điểm sáng đó mình phải thừa nhận, song một vài con én nhỏ không làm nên mùa xuân, không làm thay đổi được cục diện.

Vậy nên đã đến lúc nhìn thẳng vào sự thật, phải có sự chuyển hướng chiến lược để khôi phục lại niềm tin của dân và các nhà đầu tư.

“Đổi mới lần hai”

Xin mạn phép hỏi ông, ông nghĩ sao khi có ý kiến cho rằng, dù sao khi đã nghỉ hưu rồi thì cũng dễ “nói mạnh” hơn khi còn đương chức?

Với tôi thì không phải, tôi luôn luôn nói sự thật, vì thế nhiều phen sóng gió lắm rồi đấy, nhưng chắc bạn không biết rõ vì khi ấy bạn còn trẻ.

Còn ở tình thế hiện nay thì tôi thấy cả các anh đương chức cũng nói thẳng là chúng ta không nên ảo tưởng nữa, và nếu không điều chỉnh cho sát thực tế hơn thì kế hoạch 5 năm tới sẽ không thể thực hiện được.

Bởi thế nên ông mới kiến nghị “tình hình kinh tế-xã hội rất không bình thường này cần được phản ánh trung thực với Quốc hội để có quyết sách thích hợp cho 5 năm tới và năm 2012”?

Theo tôi thì đã đến lúc Quốc hội, cơ quan quyền lực cao nhất cần có quyết định cải cách mạnh mẽ, mà tôi tạm gọi là đổi mới lần thứ hai, để tránh khủng hoảng.

Như đã nói, cần điều chỉnh kế hoạch 5 năm tới. Trước mắt, cần có kế hoạch ổn định kinh tế vĩ mô gắn liền với tái cơ cấu và cải cách toàn diện trong ít nhất là hai năm 2012-2013, trước khi tiếp tục thực hiện các mục tiêu của kế hoạch 5 năm 2011-2015.

Mục tiêu của kế hoạch này là giảm lạm phát, bội chi ngân sách, nhập siêu, cải thiện rõ rệt các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô bằng những cải cách mạnh mẽ trong thu-chi ngân sách, cắt giảm mạnh mẽ đầu tư công, thực hiện công khai minh bạch trong chi tiêu ngân sách, hoạt động đầu tư, thực hiện tinh giảm bộ máy nhà nước đã phình to lên nhanh chóng trong thời gian qua, cắt giảm biên chế hành chính.

Cần sửa đổi, bổ sung Luật Ngân sách, giảm hẳn các khoản chi tiêu còn để ngoài ngân sách, thực hiện sự giám sát đầy đủ, chặt chẽ của Quốc hội và các cơ quan dân cử về chi tiêu ngân sách. Cần sửa đổi, bổ sung Luật Mua sắm công, ban hành Luật Đầu tư công nhằm hạn chế tham nhũng, lãng phí, chia chác trong nhóm lợi ích.

Khâu trọng tâm là cải cách các tập đoàn kinh tế nhà nước, doanh nghiệp nhà nước, đẩy mạnh cổ phần hóa, thực hiện mô hình quản lý‎ dựa trên kết quả, công khai minh bạch như những công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán.

Khác với lần đổi mới thứ nhất - chủ yếu là cởi trói và giải phóng sức sản xuất, được sự ủng hộ của đông đảo nông dân và quảng đại quần chúng - đổi mới lần này đòi hỏi phải nâng cao chất lượng của bộ máy, chính sách, phải tiến hành phẫu thuật, cắt bỏ những ung nhọt đang gây ra những căn bệnh kéo dài của nền kinh tế và xã hội.

Có thể, một số nhóm lợi ích đang được hưởng lợi lớn sẽ không ủng hộ một cuộc đổi mới như vậy. Đó là nhiệm vụ khó khăn cần phải vượt qua, và cũng là sứ mệnh vẻ vang của thế hệ lãnh đạo hiện nay.

Phản biện chính sách cần được làm chu đáo hơn

Trong số các giải pháp để “chữa bệnh” bất ổn, nhiều ý kiến đặc biệt nhấn mạnh đến việc giảm thu, giảm chi và tái cơ cấu doanh nghiệp Nhà nước, ông có chia sẻ?

Giảm thu, giảm chi thì rất đúng rồi. Tập trung ổn định vĩ mô và phải khoan sức dân, bớt thuế bớt chi tiêu đi.

Tôi cho rằng cần phải phát động phong trào toàn dân cần kiệm xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Một vị giáo sư người Nhật nói với tôi trước đây ông ấy đến Việt Nam thì được mời rượu Johnnie Walker đỏ, còn bây giờ thì họ mời Chivas giá mười mấy triệu. Và ôtô người Việt đi cũng sang hơn trước đây nhiều. Ở Nhật, không bao giờ một quan chức nào có thể mời bạn uống rượu sang như vậy bằng tiền ngân sách.

Vì thế cần phải tiết kiệm, trong đó thì cơ quan nhà nước cần gương mẫu trước.

Còn về tái cấu trúc doanh nghiệp nhà nước thì tôi đã nói nhiều lần là cơ chế quản lý của doanh nghiệp Việt Nam rất kém, nhưng không phải là không khắc phục được.

Đi Trung Quốc, tôi được Phó thủ tướng phụ trách công nghiệp của Trung Quốc cho biết là đã áp dụng chế độ quản lý theo hiệu quả, nhưng doanh nghiệp nhà nước bên đó cũng còn rất nhiều vấn đề.

Hỏi thế làm thế nào để khắc phục thì ông ấy cho biết là yêu cầu một nhóm các nhà khoa học, các chuyên gia khảo sát và đề ra một hệ tiêu chí, như phải tăng năng suất bao nhiêu, đổi mới công nghệ thế nào, lương thưởng bao nhiêu… sau đó công khai đăng lên. Ai có phương án thì gửi đến, rồi mời hội đồng nghe báo cáo, bỏ phiếu kín, người được phiếu cao nhất thì bổ nhiệm làm lãnh đạo 3 năm. Năm đầu làm không tốt thì không lên lương, năm thứ hai vẫn không làm được thì hủy hợp đồng không cho làm nữa và thay băng người khác.

Tại sao họ làm được mà Việt Nam mình chưa làm được?

Nhân nói đến vai trò của các nhà khoa học và chuyên gia kinh tế, có chuyên gia tự phê là ý kiến nào cũng nhấn mạnh phải tái cơ cấu nền kinh tế, nhưng để góp ý cho Chính phủ tái cơ cấu bắt đầu từ đâu thì đội ngũ các nhà khoa học cũng chưa làm được nhiều. Ông có thấy “chạnh lòng” không ạ?

Lần gần đây nhất được mời đến hội nghị tham vấn cho Chính phủ thì tôi lại đang hội thảo ở nước ngoài nên không dự được, rất tiếc.

Đóng góp cá nhân thì có cũng có thể chưa đáp ứng được yêu cầu, nhưng tôi nghĩ chúng tôi luôn cố gắng đóng góp.

Chỉ có điều vai trò phản biện cũng chưa được coi trọng đúng mức, thể hiện ở cách làm vội vã. Thông báo trước hai ngày bảo mời anh đến thì làm sao mà chuẩn bị tốt được. Lẽ ra anh phải đặt hàng trước một số vấn đề để người tư vấn có thời gian chuẩn bị thật tốt. Sản phẩm 24 tiếng dĩ nhiên phải khác với sản phẩm được nghiên cứu nghiêm túc trong 2, 3 tháng chứ.

Cho dù như vậy thì có còn hơn không, thưa ông?

Rõ ràng chứ, chỉ có điều cần mở rộng hơn nữa. Tôi tin là nếu có quyết tâm cải cách, chúng ta sẽ làm được, làm tốt.

Nguồn: Vneconomy.vn

Tổng số lượt xem trang

free counters