Triết Lý, để làm gì ?

Khi ta bế tắc tư tưởng, chân thật công nhận rằng những kiến thức và phương pháp suy luận của ta không cho phép ta sống, tư duy và hành động khớp với khao khát làm người của ta, ngoài vô vàn cách ứng xử khác, ta có thể:

a) Tiếp tục sống, tư duy và hành động như cũ vì, dù sao, ta cũng sống được, không đến nỗi nào

b) Lột áo cũ, khoác áo mới, một tấm áo coi lành lặn đẹp đẽ hơn nhưng cũng hàm hồ không thua gì. Điều ấy luôn luôn khả thi bằng ngôn ngữ.

c) Đi tới cùng bế tắc của chính mình. Nếu không giải quyết được nó, ta ôm nó xuống suối vàng, để lại ở đời chỉ một câu hỏi. Câu hỏi của một con người. Đích thực. Có gì nhục đâu?

Nếu ta tưởng ta đã tìm ra một phần của giải pháp, ít nhất là cho riêng mình, thì cứ viết đi, chẳng cần trích cao nhân nào cả: họ đã là một phần của ta và ta đã phải “vượt” họ để nên mình.

Thế thôi.

(Chungta.com)

Góc nhỏ của Noby Vui Vẻ

Lục lọi, tìm tòi, đọc, cóp nhặt, chia sẻ, ... OK hay không tùy bạn ! ! !

“Nước độc lập mà dân chưa tự do thì độc lập cũng không có ý nghĩa”- Hồ Chí Minh.

19 thg 1, 2011

VÀI Ý KIẾN VỀ SỰ RA ĐỜI CỦA CÁC NHÀ NƯỚC Ở PHƯƠNG ĐÔNG VÀ PHƯƠNG TÂY

THS. BÙI XUÂN PHÁI – Giảng viên khoa Hành chính – Nhà nước, Đại học Luật HN

Cho đến nay, đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về sự xuất hiện của nhà nước. Các công trình đó ít nhiều đã chỉ ra những nội dung khoa học cho biết về cách thức, thời gian, điều kiện cho sự ra đời của các nhà nước như công trình nghiên cứu có tính chất kinh điển[1], các giáo trình lịch sử hay lý luận nhà nước và pháp luật của các cơ sở đào tạo luật…

Nó cho thấy sự phức tạp của việc nghiên cứu quá trình ra đời của nhà nước. Sự phức tạp đó không chỉ ở chỗ các nguồn tư liệu rất phong phú, có rất nhiều quan điểm chưa phải là đã nhất trí với nhau mà còn ở chỗ biểu hiện của bản thân sự ra đời của nhà nước. Hiện nay, có một quan điểm có thể coi như được thừa nhận chung là nhà nước ra đời trên cơ sở của xã hội đã phát triển đến một trình độ nhất định với sự xuất hiện của chế độ tư hữu sau khi có sự phân công lao động xã hội và trong xã hội đã xuất hiện giai cấp và đấu tranh giai cấp.

Tuy nhiên, cho đến nay, những thông tin có được từ các hoạt động như khảo cổ với những thư tịch cổ, các công cụ lao động, sinh hoạt… của con người thời kỳ cổ đại, từ các công trình nghiên cứu lịch sử đã cho chúng ta những cách nhìn toàn diện hơn về sự ra đời của các nhà nước cũng như pháp luật. Bài viết này là sự bày tỏ một số suy nghĩ của bản thân về sự xuất hiện của nhà nước, trong đó có sự so sánh và đưa ra cách luận giải về sự khác nhau trong sự xuất hiện của các nhà nước ở phương Đông và phương Tây và ý nghĩa của việc xác định sự khác nhau đó.

Trong bài viết này, xin được ngược dòng thời gian để trở về quá khứ, thông qua những kết quả của lịch sử để lại và hiện thực cuộc sống để lý giải về sự xuất hiện của nhà nước dưới các góc độ văn hóa, kinh tế, chính trị…

Ta bắt đầu từ sự xuất hiện của nhà nước ở Phương Đông. Dưới góc độ văn hóa,người phương Đông sống trong văn hóa duy tình. Nếu như nhà nước ra đời là kết quả của nhiều yếu tố trong đó có văn hóa, thì văn hóa lại là sự kết tinh của quá trình con người sáng tạo ra các giá trị làm cho cuộc sống trở nên tốt đẹp hơn. Văn hóa duy tình ở phương Đông có thể thấy qua rất nhiều hiện tượng của cuộc sống hàng ngày ,chẳng hạn nếu phức tạp thì quan hệ trong cộng đồng làng xã ,như kết cấu gia đình bền vững “tam đai đồng đường, tứ đại đồng đường”, nhà thờ họ, còn đơn giản thì bát canh, bát nước chấm chung của cả gia đình, ấm nước trà uống chung cả xóm … Nếu nhìn ra một phạm vi rộng hơn ra nhiều nước ở phương Đông, ta nhìn thấy “văn hóa ăn bằng đũa”. Đó vừa là yếu tố văn hóa, là tập quán, là phong tục hình thành dần do lối sống, vừa là biểu hiện của phương thức làm kinh tế, của quan hệ cộng đồng trong những điều kiện tự nhiên gắn liền với con người trong các cộng đồng dân cư. Đã có nhiều ý kiến về sự ảnh hưởng của yếu tố địa lý đến văn hóa làm hình thành nên phong tục tập quán nhưng những yếu tố tự nhiên này đã ảnh hưởng như thế nào đến sự ra đời của nhà nước ở phương Đông thì cần làm rõ hơn. Có thể nói các yếu tố kinh tế, văn hóa, chính trị có quan hệ qua lại với nhau rất mật thiết. Từ yếu tố này, có thể nhìn thấy yếu tố kia ở những khía cạnh nhất định. Chẳng hạn như “văn hóa ăn bằng đũa” của nhiều dân tộc phương Đông cho ta thấy khía cạnh kinh tế. Đó là các dân tộc này thiên về các loại thực phẩm là sản phẩm của nền kinh tế trồng trọt. Đó là biểu hiện của điều kiện tự nhiên ở phương Đông chủ yếu gắn với văn minh nông nghiệp. Điều đó làm cho con người lệ thuộc vào điều kiện tự nhiên rất nhiều và muốn tồn tại và phát triển, con người phải biết liên kết với nhau để tạo nên sức mạnh của cộng đồng để khắc phục sự khó khăn của điều kiện tự nhiên đó để có thể tồn tại và phát triển.

Do sử dụng các sản phẩm chủ yếu từ hoạt động sản xuất nông nghiệp trồng trọt nên con người thuần tính hơn. Điều này đã được khẳng định về mặt sinh học ở chỗ những sinh vật nào ăn thức ăn từ thực vật, loài vật đó sẽ “hiền lành” hơn” thích sống theo bầy đàn, ít có sự cạnh tranh hơn so với các loài mà thức ăn của chúng lấy từ động vật vì loài này phải săn mồi nên thường phải rèn luyện kỹ năng săn mồi nên chúng cũng trở nên mạnh mẽ hơn. Điều này ảnh hưởng rất lớn đến cách sống, đến tổ chức cuộc sống và quan hệ xã hội. Có thể vì sử dụng các sản phẩm từ nông nghiệp trồng trọt nên con người có thể không có nhiều sức mạnh về mặt thể chất nên cũng ít có xu hướng xung đột lẫn nhau. Những xu hướng mở rộng các quan hệ ra bên ngoài cũng ít được thực hiên do nhu cầu bị bó hẹp. Mặt khác, trong điều kiện địa lý phức tạp của phương Đông, việc đi lại cũng khó khăn hơn nên việc giao tiếp với bên ngoài cũng trở nên bị hạn chế. Khi con người sống trong điều kiện quần cư đó, sự liên kết trở nên bền vững hơn. Chính vì sức mạnh về thể chất hạn chế mà con người cần phải liên kết để chinh phục thiên nhiên, chống lại thú dữ, chống lại sự tấn công của các thế lực từ bên ngoài. Chưa nói tới yếu tố giai cấp, sự quần cư của các cư dân là một yếu tố có thể coi là tiên quyết cho sự hình thành nhà nước ở phương Đông.

Bên cạnh đó, ta còn thấy tiếp cận yếu tố văn hóa thì cần quan tâm đến những công trình vĩ đại mà con người đã tạo ra. Các công trình này thậm chí còn được coi là kỳ quan của thế giới trong thời kỳ cổ đại còn được con người biết đến lại tập trung hầu như ở phương Đông. Đây là kết quả lao động của người phương Đông với sức mạnh chủ yếu của cơ bắp và sự khôn ngoan lại khẳng định sức mạnh của họ. Có thể nhìn thấy nhiều khía cạnh của vấn đề rất gần gũi với sự ra đời của nhà nước:

Thứ nhất, đó phải là biểu hiện sức mạnh của một cộng đồng lớn trong quá trình xây dựng các công trình quy mô như vậy và rất cần một sự quản lý và phối hợp hoạt động chặt chẽ từ một tổ chức có uy tín và sức mạnh;

Thứ hai, có nhiều công trình mang yếu tố tâm linh, chứng tỏ mối quan hệ bền chặt của con người vào đấng tối cao mà người đại diện cho quyền lực tối cao ấy là những người đứng đầu cộng đồng do uy tín tự nhiên của họ (các Kim tự tháp ở Ai cập, đền Ăng co ở Campuchia, đền Tamahan ở Ấn độ…). Điều này cho ta biết về mối liên hệ của các yếu tố thiên nhiên khắc nghiệt mà con người chưa khám phá và chinh phục được, trong đó mong muốn chinh phục đã thúc đẩy con người cố gắng thực hiện những công việc mà cho đến ngày nay người ta vẫn còn chưa lý giải nổi nó đã được thực hiện như thế nào;

Thứ ba, các công trình này có ý nghĩa góp phần tổ chức và bảo vệ cuộc sống, sản xuất trước sự khắc nghiệt của thiên nhiên và nguy cơ bị tấn công của các thế lực bên ngoài (Vạn lý trường thành, các các con sông đào ở Trung quốc, ngọn Hải đăng ở Ai cập);

Thứ tư, các công trình này thường gắn với những khu vưc địa lý đặc biệt, nhất là những dòng sông hay ngọn núi (hay dãy núi lớn) liên quan rất nhiều đến hoạt động sản xuất hay sinh hoạt tín ngưỡng của một cộng đồng. Điều nay cho thấy một thực tế là địa hình cắt xẻ, phức tạp là một hạn chế cho sự đi lại giao lưu giữa các khu vực về cả kinh tế, văn hóa. Nó dẫn đến một kết quả là sự cạnh tranh giữa các dân tộc hay cộng đồng người không nhiều, sự học hỏi nhau gần như không có nên sự phát triển trở nên chậm chạp hơn rất nhiều so với phương Tây nên có những phát minh khoa học từ rất sớm nhưng không được phổ biến rộng rãi.

Thứ năm, là các công trình này được thực hiện bởi sự tham gia của rất nhiều nô lệ của nhà nước. Nô lệ ít tham gia vào các quá trình sản xuất ra của cải vật chất và không phải là đối tượng bóc lột chủ yếu như ở phương Tây.

Nói chung, có thể rút ra một số nhận xét về sự xuất hiện của các nhà nước ở phương Đông cổ đại như sau:

Trước hết, có thể thấy, các nhà nước ở phương Đông ra đời sớm hơn khá nhiều so với các nhà nước ở phương Tây. Các nhà nước phương Đông có sự ra đời sớm có thể được lý giải là do yêu cầu của việc tổ chức quá trình sản xuất, bảo vệ sản xuất, bảo vệ sự tồn tại và phát triển của cộng đồng.

Thứ hai, thời điểm của sự ra đời một tổ chức nhà nước khó xác định chính xác vì tính chất quá độ của xã hội cộng sản nguyên thủy lên xã hội có nhà nước là rất lâu dài. Nói cách khác thì các nhà nước có quá trình “thai nghén và trở dạ rất lâu”. Bằng chứng là sự tồn tại của các công xã nông thôn kéo dài rất lâu mà Mác đã có một khẳng định về phương thức sản xuất Á đông đã ảnh hưởng tới tổ chức xã hội và nhà nước. Điều này được lý giải bởi một căn cứ như đã nêu ở trên là do tính cạnh tranh không cao, con người ít có xung đột, mâu thuẫn ít xảy ra hơn nên ít có cách mạng xã hội hơn.

Thứ ba, nhà nước phương Đông cổ đại phát triển chậm chạp hơn. Điều này được lý giải ở việc tính chất duy tình trong các quan hệ xã hội làm cho con người tuy có gắn bó với nhau bền chặt hơn nhưng sẽ làm cho người ta trở nên bảo thủ ít chịu thay đổi vì thích sống trong hòa bình. Điều này được chứng minh bởi quan niệm của người phương Đông trong quan hệ giữa con người với trời, đất ( Thiên- Địa- Nhân). Người ta chỉ chịu làm cách mạng khi mà không còn cách nào khác sau khi đã cam chịu. Cũng vì lý do này mà quan hệ giai cấp trong xã hội phương Đông cũng trở nên ít gay gắt hơn rất nhiều so với phương Tây mà kết quả của nó là nhà nước phương Đông ra đời gắn liền với chế độ nô lệ gia trưởng. Hơn thế nữa, do quan hệ gắn bó, gần gũi với nhau con người phương Đông hay vì sĩ diện nên hay tự che giấu hoặc bao che cho nhau những khuyết tật của bản thân làm cho họ trở nên thủ cựu, ảnh hưởng đến sự phát triển chung của xã hội.

Thứ tư, càng gần với phương Tây và phương Bắc, các nhà nước càng có xu thế ra đời sớm hơn. Điều này được lý giải ở khía cạnh yêu cầu của việc tổ chức chống chiến tranh của các cộng đồng người. Các dân tộc ở phía Tây và phía Bắc thường là các dân tộc du mục, giỏi cưỡi ngựa, săn bắn mà thức ăn của họ chủ yếu là từ chăn nuôi và săn bắn nên họ có sức mạnh và thường trở nên hiếu chiến và cũng thiện chiến hơn.Việc chống lại các thế lực ngoại xâm này đòi hỏi các dân tộc này phải liên kết với nhau chặt chẽ hơn. Việc tổ chức chiến đấu đòi hỏi những người có bản lĩnh, kinh nghiệm và có uy tín cao. Điều này mang lại một kết quả là sự phục tùng của xã hội đối với họ gần như là lẽ tự nhiên vì sự phục tùng đó vừa mang lại sự gắn kết trong cộng đồng để tạo nên sức mạnh, vừa nâng cao tính trách nhiệm của những người chỉ huy, quyền lực của người chỉ huy dễ được thần thánh hóa. Nó được coi như là một nguyên nhân dẫn đến sự “ngại làm cách mạng” của người phương Đông.

Thứ năm, tổng kết về quá trình xâm lược các quốc gia phong kiến ở phương Đông của các thế lực thực dân phương Tây, người ta thấy chỉ có hai nhà nước phong kiến Nhật bản và Thái lan tránh được sự xâm lược và ách cai trị của người phương Tây. Đây là hai nhà nước phong kiến đã tự làm cuộc cách mạng xã hội, mở cửa và tiếp nhận văn minh phương Tây, không thi hành chính sách bế quan tỏa cảng như các nhà nước phong kiến còn lại. Điều đó cho thấy việc hạn chế giao lưu của các dân tộc phương Đông là một trong những nguyên nhân dẫn đến sự chậm phát triển của khu vực này ngay từ thời kỳ cổ đại gắn với những điều kiện tự nhiên;

Thứ sáu, sự chậm phát triển của các nhà nước ở phương Đông còn được lý giải qua tinh thần các giáo lý tôn giáo ở phương Đông mà điển hình là tư tưởng diệt dục, triệt tiêu các ham muốn, các nhu cầu của con người được thể hiện trong đạo Phật, làm cho con người tự thu mình lại, không thúc đẩy sự phát triển của xã hội. Có quan điểm cho rằng nhu cầu của con người chính là động lực cho sự phát triển của xã hội loài người, giáo lý đạo Phật lại đi ngược lại với quan điểm này. Ta thấy một điều rất rõ ở các nhà sư- những người đi theo đạo Phật thường ăn chay, tính tình của họ cũng vì thế mà trở nên nhu mì, hiền lành hơn. Nó rất gần với thói quen trong ăn uống của người phương Đông là ăn lương thực là chủ yếu và nhu cầu của họ cũng trở nên bị thu hẹp.

Việc đưa ra những kết luận trên đây có ý nghĩa góp phần nhìn nhận lại sự chậm phát triển và tính chất dân chủ hạn chế của các dân tộc phương Đông với những nguyên nhân và điều kiện tự nhiên liên quan và để có thể phần nào đó có thể khắc phục những truyền thống lạc hậu của người Phương Đông ,trong đó có Việt nam trong giai đoạn hội nhập quốc tế hiện nay.

Đối với sự xuất hiện của các nhà nước ở phương Tây, cách tiếp cận cũng tương tự như trên. Theo cách tiếp cận này, ta thấy truyền thống của lối sống phương Tây là duy lý. Truyền thống văn hóa duy lý là kết quả được hình thành từ thói quen sinh hoạt, sản xuất và chiến đấu của người phương Tây. Nó gắn liền với điều kiện tự nhiên ở phương Tây rất khác so với phương Đông. Đó là khí hậu tương đối điều hòa, địa hình khá bằng phẳng, rất ít thiên tai, các dòng sông thì yên ả, êm đềm. Khi đó ta thường có cảm nghĩ về cuộc sống dễ chịu của người phương Tây. Nhưng hãy nhìn vào “văn hóa ăn bằng dao dĩa” của người phương Tây để phân biệt với “văn hóa ăn bằng đũa” của người phương Đông. Thông thường ta thấy con người ở phương Tây tự lập từ rất sớm. Họ có thể thoát ly khỏi gia đình ngay từ bắt đầu sang tuổi thành niên để sống cuộc sống tự lập. Chính vì thế mà quan hệ theo thiết chế gia đình “tam đại, tứ đại đồng đường” thường rất hiếm. Điều này có thể được giải thích là tính cách và khí chất mạnh của người phương Tây. Nhưng tính cách và khí chất mạnh này có nguồn gốc từ đâu? Ta lại xuất phát từ nguồn thức ăn mà họ sử dụng. Văn hóa ăn bằng dao dĩa của họ cho ta thấy thức ăn của họ chủ yếu là thực phẩm- sản phẩm của chăn nuôi và săn bắt. Điều kiện tự nhiên thuận lợi như đã nêu ở trên đã làm cho nền kinh tế tự nhiên của người phương Tây kéo dài hơn. Đó là nền kinh tế mà hoạt động của con người chủ yếu là khai thác các sản phẩm tự nhiên sẵn có mà ít phải chinh phục thiên nhiên, chưa phải lao động sản xuất. Trong khi đó, điều kiện địa hình bằng phẳng ít cách trở bởi sông núi đã tạo cho con người có khả năng mở rộng phạm vi hoạt động và giao lưu. Điều này kéo theo các hệ quả:

Thứ nhất, con người mang đến trao đổi cho nhau các yếu tố văn hóa, kinh tế, kinh nghiệm sản xuất… Biểu hiện cụ thể là các biểu hiện văn hóa của các dân tộc phương Tây là khá gần nhau (từ kiến trúc, chữ viết, âm nhạc đến ăn uống…) Điều đó làm cho phương Tây phát triển nhanh hơn do con người phát huy được các giá trị mà họ đã sáng tạo ra và thường xuyên được trao đổi;

Thứ hai, việc mở rộng phạm vi hoạt động cũng có nguy cơ dẫn đến sự xung đột là rất cao. Chiến tranh xảy ra cũng rất khắc nghiệt và cũng rất nhanh chóng do tính chất thiện chiến của các tộc người vốn rất giỏi săn bắn và chăn nuôi. Giữa người đi chinh phục với người bị chinh phục có quan hệ phân biệt rất rõ ràng, trong đó ai là kẻ mạnh người đó sẽ chiến thắng và thống trị, người kia trở thành nô lệ. Nhiều khi cả một dân tộc bị nô lệ hóa như người Hilốt bị người Xpác xâm lược. Cũng vì lẽ đó mà việc áp đặt sự cai trị cần có một lực lượng đủ mạnh để đàn áp sự chống đối của người bị trị nên nhà nước hình thành sẽ rất nhanh chóng;

Thứ ba, sự xung đột trong xã hội sẽ giúp cho việc loại trừ nhanh chóng những gì không phù hợp, yếu đuối. Tính chất cách mạng còn xuất phát từ chỗ người bị trị khi bị đàn áp dã man , tàn bạo quá cũng sẽ đấu tranh mạnh mẽ hơn, từ đó dẫn đến chỗ giai cấp thống trị cũng cần có sự thay đổi chính sách cai trị cho phù hợp để duy trì trật tự xã hội nên nền dân chủ ở phương Tây sớm được hình thành hơn;

Thứ tư, sự giao lưu giữa các cộng đồng người do điều kiện tự nhiên thuận lợi sẽ góp phần cải tạo giống nòi do chế độ quần hôn nhanh chóng bị phá bỏ hơn. Trong hoàn cảnh như vậy, kẻ mạnh càng có điều kiện để chứng minh ưu thế của mình so với những người khác. Kết quả là nguồn gen để lại cho các thế hệ sau cũng có chất lượng hơn. Điều này được chứng tỏ ở tầm vóc và sức khỏe của người phương Tây là hơn hẳn so với người phương Đông mặc dù ngày nay đã có ít nhiều thay đổi.

Thứ năm, nhu cầu của người phương Tây cũng cao hơn so với người phương Đông. Điều này có được là do khí chất rất mạnh của người phương Tây. Họ vừa là những thế lực hay gây chiến tranh xâm lược nhưng họ cũng là những người có nhiều phát minh khoa học để đáp ứng nhu cầu của mình. Có thể nói đây là một nguyên nhân quan trọng dẫn đến sự phát triển nhanh chóng của phương Tây. Các thế lực xâm lược phải là các thế lực có sức mạnh để có khả năng chinh phục các dân tộc khác. Điều này đã được lịch sử chứng minh một cách khá đầy đủ.

Với những phân tích trên đây, ta có thể đi đến một số nhận xét như sau:

Thứ nhất, các nhà nước phương Tây ra đời muộn hơn so với các nhà nước ở phương Đông. Nguyên nhân của sự ra đời muộn này là do ở phương Tây, nền kinh tế tự nhiên kéo dài hơn, con người được hưởng các sản phẩm có sẵn nhiều hơn do sự ưu đãi của thiên nhiên. Sự ưu đãi này làm cho con người ít phải đấu tranh với thiên nhiên khắc nghiệt, mức độ cạnh tranh của con người với nhau ở phạm vi rộng vì lý do sinh tồn vì vậy cũng không quyết liệt như ở phương Đông;

Thứ hai, thời kỳ quá độ chuyển tiếp từ chế độ cộng sản nguyên thủy lên xã hội có giai cấp nhanh hơn, thời điểm ra đời của nhà nước ở phương Tây có tính xác định hơn do qua trình thai nghén của nhà nước ngắn hơn như đã phân tích ở trên;

Thứ ba, tính chất của quan hệ giai cấp trong các nhà nước ở phương Tây là rất gay gắt mà biểu hiện cụ thể của nó là chế độ nô lệ ở phương Tây có tính chất điển hình qua sự thống trị của chủ nô đối với nô lệ, trong đó vai trò sản xuất của cải vật chất cho xã hội chủ yếu do người nô lệ thực hiện. Đó vừa là kết quả của điều kiện sống, vừa là nguyên nhân của sự phát triển về sau ở phương Tây. Điều này có sự khác biệt so với chế nộ nô lệ gia trưởng ở phương Đông với vai trò không lớn của nô lệ (chủ yếu là phục dịch trong các gia đình quyền quý và thực hiện công việc xây dựng các công trình công cộng). Việc đấu tranh giai cấp vì vậy mà cũng trở nên quyết liệt hơn, các cuộc cách mạng xã hội diễn ra nhiều hơn mà kết quả của nó là những cải cách xã hội có tính chất tiến bộ đã sớm mang lại một nền dân chủ và nhanh chóng trở thành truyền thống của phương Tây;

Thứ tư, đã có một số nhà nước hình thành từ kết quả của các cuộc chiến tranh xâm lược mà kẻ đi xâm lược do có sức mạnh nên đã chiến thắng và thiết lập nên nhà nước để áp đặt sự thống trị với người bị thất bại. Đây cũng là một trong những phương thức giúp cho nhà nước ở phương Tây ra đời nhanh hơn. Đây cũng là một lý do giải thích cho sự hiếu chiến và cũng rất thiện chiến của người phương Tây và sau này, các nước thực dân cũng là các nước ở phương Tây. Trong khi đó các dân tộc phương Đông lại là những nạn nhân của các đế quốc, thực dân phương Tây. Trong chiến tranh thế giới, các nước phát xít cũng là các nước có truyền thống bá quyền xâm lược ( La mã và Giéc – manh). Riêng nước Nhật phát xít là nước rất mạnh ở phương Đông là nhà nước đã mở cửa với bên ngoài, phát triển kinh tế do có sự giao lưu rộng rãi với bên ngoài hơn hẳn các dân tộc khác ở phương Đông.

Những nội dung được phân tích và so sánh ở trên đây có thể cho chúng ta một cách nhìn về thời đại hiên nay. Xu thế hội nhập và mở rộng các quan hệ với bên ngoài sẽ làm thay đổi rất nhiều lối sống truyền thống của người phương Đông, trong đó có Việt nam chúng ta. Cơ hội cho chúng ta trở nên nhiều hơn nhưng nó cũng là thách thức với điều kiện hiện tại của chúng ta, buộc chúng ta phải rèn luyện bản lĩnh để tăng khả năng cạnh tranh, tận dụng cơ hội. Việc Việt nam chính thức trở thành thành viên của WTO trong thời gian gần đây cũng chính là kết quả nhận thức về xu thế hội nhập và mở rộng các quan hệ ra bên ngoài. Việt nam đã từng mất một cơ hội phát triển, đồng thời phải chịu ách đô hộ của thực dân phương Tây khi các vua nhà Nguyễn không chịu nghe lời khuyến nghị của Nguyễn Trường Tộ trong việc mở rộng giao lưu với phương Tây. Khó khăn thách thức với Việt nam khi vào WTO chỉ nên coi là cơ hội cho Việt nam vươn lên để khẳng định mình vì chưa có một Quốc gia nào lại xin ra khỏi tổ chức này do lợi ích mà nó mang lại. Mặt khác, việc gia nhập WTO sẽ giúp cho ta “nhăt sạn”, loại trừ những yếu tố tiêu cực trong cả hoạt động của bộ máy nhà nước lẫn các hoạt động của xã hội. Hy vọng vào sự phát triển của đất nước trong tương lai gắn liền với sự mở rộng và giao lưu với thế giới.


[1] Mác-Ănghen, Tuyển tập, tập VI, NXB Sự thật, HN.1984, từ trang 250 đến 261.

theo blog thongtinphapluatdansu

VỀ ĐẶC ĐIỂM TƯ TƯỞNG VIỆT NAM

Trần Đình Hượu

VỀ ĐẶC ĐIỂM TƯ TƯỞNG VIỆT NAM

Lịch sử tư tưởng Việt Nam có hai đoạn hoàn toàn khác nhau - Từ khi nước ta tiếp xúc với phương Tây, du nhập tư tưởng phương Tây tức là từ đầu thế kỷ XX cho đến nay. Đó là thời đại mới. Tư tưởng Việt Nam tiếp cận và hoà giòng vào tư tưởng đương đại của thế giới. - Đoạn trước đó, khi nước ta còn nằm trong văn hoá có tính chất khu vực - vùng Đông Á và Đông Nam Á - tư tưởng nước ta có những nét chung của tư tưởng cả khu vực đó.

Đối với đoạn sau vấn đề đối tượng và phương pháp nghiên cứu không có gì phải bàn cãi nhiều. Đó là đối tượng và phương pháp chung khi nghiên cứu tư tưởng triết học cận hiện đại của các nước. Nhưng với đoạn trước thì công việc phức tạp hơn. Tư tưởng hay triết học ở đây cũng đặt ra rất nhiều vấn đề nhưng không giống cách ở phương Tây, nơi đã cung cấp cơ sở để hình thành phương pháp nghiên cứu hiện đại.


Trong một thời gian dài ước tính từ thế kỷ II sau công nguyên cho đến đầu thế kỷ này, ở nước ta có sự tồn tại song song của Tam giáo, du nhập từ Trung Quốc vào. Tam giáo có thay thế nhau giữ vai trò hàng đầu nhưng thực tế là kết hợp với nhau, thẩm thấu vào nhau, chia phạm vi với nhau, chi phối đời sống tinh thần của nhân dân ta. Bên cạnh Tam giáo là sự tồn tại của cách suy nghĩ dân gian để dấu vết lại trong các truyện kể và kết tinh trong tục ngữ. Cũng cần nói đến học thuyết Âm dương, Ngũ hành, cách phân tích Thời, Thế... cũng là những tư tưởng du nhập từ Trung Quốc và cũng tồn tại không hoàn toàn độc lập với Nho giáo. Tư tưởng đó ảnh hưởng lớn đến các khoa học, giả khoa học và cách suy nghĩ, tính toán trong cuộc sống. Sự kết hợp phức tạp giữa Nho, Phật, Đạo, giữa Tam giáo với cách suy nghĩ dân gian, giữa những thứ đó với Âm dương, Ngũ hành để tìm cách quan niệm thế giới, quan niệm con người, cuộc sống, quan niệm sự vận động, sự đổi thay lịch sử... đó mới đúng là cách tư duy Việt Nam.


Tư tưởng Việt Nam không chỉ là cái thổ sản thuần Việt, mà còn có cả nhiều cái từ ngoài đến, có khi được cải tạo, có khi để nguyên dạng, nhưng đều được sắp xếp theo một cách nào đó hay sử dụng theo một cách nào đó. Cái này mới là mấu chốt của bản lĩnh và ưu nhược điểm của cái này mới là cái chi phối sâu xa tư duy Việt Nam.


Tam giáo đều từ Trung Quốc truyền vào nước ta, được truyền bá với sự xâm lược quân sự từ đời Hán, với chính quyền đô hộ hàng ngàn năm và với những lớp người Hán tỵ loạn sang Giao châu, mảnh đất lúc ấy yên ổn hơn nội địa. Những người Hán quan lại hay không phải quan lại, mang đến đây cả Nho giáo cả Đạo giáo (cả Đạo giáo thần tiên và Đạo giáo phù thủy). Đối với Phật giáo thì tình hình có khác. Nằm trên con đường biển từ Ấn Độ sang phương Nam và Trung Quốc, vùng ven biển nước ta đã biết đến Phật giáo từ trước. Cuối đời Hán, Luy lâu (Thuận Thành - Hà Bắc) đã là một trung tâm Phật giáo thịnh vượng. Các nhà nghiên cứu đã chứng minh trung tâm Luy lâu còn ra đời trước cả trung tâm Bành thành và Lạc dương ở Trung Quốc[1], và về đường biển thì Phật giáo từ Việt Nam mà vào Trung Quốc. Thế nhưng đối với chính quyền và từng lớp trí thức thượng lưu thuộc người Hán vào mấy thế kỷ sau thì Phật giáo ở đây cũng đã phát triển theo ảnh hưởng Phật giáo Trung Quốc. Ở Trung Quốc từ Hán Võ đế đã tìm ra phương thức Nho Pháp tĩnh dụng cho việc trị nước, bảo vệ chế độ chuyên chế. Tư tưởng, học thuật trong tình hình đó cũng phát triển theo xu hướng dung hợp Hoàng Lão, Âm dương, Ngũ hành với Nho giáo. Nho giáo, được tôn làm quốc giáo, cũng đến đây mới bắt tay vào công việc hệ thống hoá: xác định thành phần kinh điển, xác định văn bản và giải thích chính thức các luận điểm. Gói hành lý tinh thần mà các nhà trí thức người Hán mang vào vùng đất mới Giao châu là hỗn tạp như vậy. Nhưng liệu những thứ đó truyền bá được đến mức nào trong đám cư dân vốn giữ nguyên tổ chức công xã với những phong tục, tín ngưỡng của mình? Và nền học thuật đó quan hệ như thế nào với Phật giáo đã có thời gian trước để bám rễ vào nhân dân? Điều đáng chú ý là Nho giáo tuy vào sớm và chắc chắn được bộ máy thống trị ưu tiên truyền bá - chứng cớ là những điều sử sách ghi chép về sự nghiệp của Nhâm Diễn, Tích Quang, Sỹ Nhiếp - thế nhưng trong thực tế thì nó phát triển chậm, chậm so với Phật giáo và Đạo giáo. Mãi đến thế kỷ XI, nhà Lý mới xây dựng Văn miếu, tổ chức thi cử. Tuy vậy các vua nhà Lý và cả Trần nữa, vẫn tìm chỗ dựa chính ở Phật giáo. Từ giữa thế kỷ XV Nho giáo mới thành độc tôn, chi phối mọi mặt hoạt động. Nói độc tôn là nói Nho giáo thay Phật giáo, nhà nho thay nhà sư trong đời sống chính trị nhà nước, còn trong xã hội thì Phật giáo, Đạo giáo vẫn còn ảnh hưởng rộng rãi trong nhân dân.


Nho giáo vốn không phải thuần nhất, có hệ thống chặt chẽ, càng về sau, khi đồng chức năng ý thức hệ chính thống, để giải đáp nhiều vấn đề thực tế và ứng phó với các học thuyết khác (nhất là Phật giáo) Nho giáo lại càng phải vay mượn, dung hợp nhiều hơn. Nhà Nho, nhất là nhà Nho từ Đường Tống về sau, càng ít thuần nhất; trong họ thành phần tư tưởng Âm dương, Lão Trang, Phật thường là không nhỏ. Thứ Nho giáo được truyền bá vào và có ảnh hưởng nhiều ở Việt Nam là thứ Nho giáo hậu kỳ. Trong lịch sử Nho giáo ở Trung Quốc từ thời Xuân thu, Chiến quốc cho đến đời Hán, việc học tập kinh điển tiến hành theo lối sư truyền trực tiếp, ảnh hưởng khó rộng rãi. Sau nạn đốt sách của nhà Tần, triều đình nhà Hán mới sưu tập lại kinh điển, đặt các chức bác sĩ ngũ kinh để giảng dạy và tiến hành với quy mô to lớn và lâu dài việc xác định thành phần kinh điển, văn bản và nội dung kinh điển. Đến đời Hán Linh đế (Hy bình năm thứ 4) mới chọn định bản khắc vào bia đá, dựng trước nhà Thái học. [2] Qua một thời gian loạn ly dài, nhất là do tình hình phân tranh Nam Bắc từ thế kỷ II đến thế kỷ VII, ý kiến đã trở thành rất phân tán. Đường Thái Tông lại sai Khổng Dĩnh Đạt cùng một số người khác soạn Ngũ kinh chính nghĩa để thống nhất kinh điển[3] một lần nữa. Từ Hàn Dũ (768 - 824) đời Đường đến đời Tống có một xu hướng khôi phục lại Nho giáo đối lập với Phật giáo và Đạo giáo - với ý nghĩa là tôn giáo - kết tinh lại thành học thuyết Tống Nho với tên tuổi nổi bật là Chu Hy (1130 - 1200).[4] Về mặt lịch sử tư tưởng, ở đời Tống, Trình Chu không phải là phái duy nhất, cũng không phải là phái tiến bộ nhất. Nhưng ảnh hưởng của học phái đó ngay từ đời Nguyên ở phương Nam đã rất lớn. Đến đời Minh mà giòng họ trị vì là con cháu Chu Hy thì cách giải thích kinh điển của Chu Hy được coi là chính thống. Năm 1414 Minh thành tổ giao cho Hồ Quảng biên soạn Tính lý đại toàn, trình bày học thuyết Tống nho. [5]


Trong lịch sử tư tưởng nước ta thứ Nho giáo đời Hán, đời Đường chắc cũng có vào nước ta nhưng ảnh hưởng chắc chỉ hạn chế trong đám người Hán di cư. Còn Tống nho thì do sự tiếp xúc khá mật thiết của nước ta dưới thời Lý Trần với phương Nam Trung Quốc, do sự đô hộ của nhà Minh nên ảnh hưởng nhanh chóng và rộng rãi hơn. "Đại Việt sử ký toàn thư" chép: "Năm Kỷ Hợi (1419). Mùa xuân. Tháng hai. Nhà Minh sai giám sinh Đường Nghĩa sang ban các sách Ngũ kinh, Tứ thư, Tính lý đại toàn, Vi thiện âm chất, Miếu thuận sự thực cho Nho học các phủ châu huyện" (T. Đ.H. gạch dưới). [6]Đến năm 1435 nhân có phái đoàn sang chúc mừng vua Minh lên ngôi, vua nhà Minh lại "ban sách Tứ thư đại toàn mới in xong." [7] Cũng cần nhắc đến chiếu định khoa thi của Lê Thái Tôn năm 1434 và quy định môn thi "kỳ thứ nhất một bài kinh nghĩa, Tứ thư mỗi sách một bài." [8] Tách hai thiên Trung dung, Đại học trong Lễ ký thành sách, phân chương mục, chú thích và đưa hai quyển điển như Ngũ kinh là việc làm của Trình Di và Chu Hy. Đến thời Nguyên Nhân tôn (1312 - 1320) thì Tứ thư thành kinh điển dùng cho việc thi cử.[9]Ở nước ta năm 1396 cũng bắt đầu "theo phép thi của nhà Nguyên."[10] Cũng cần nhắc thêm là trước đó Chu Văn An (... - 1370) đã soạn Tứ thư thuyết ước. Từ đó cho đến thế kỷ XIX uy tín của Trình Chu trong việc giải thích kinh điển là tuyệt đối.


Nói Nho giáo được độc tôn không có nghĩa là Phật giáo, tư tưởng Lão Trang và Đạo giáo bị phủ định. Về mặt nội dung, Tống nho là một hệ thống hỗn hợp Nho Phật. Về mặt vai trò xã hội hầu như đã thành sự thoả thuận với nhau giữa Tam giáo về một sự phân công, phân vùng. Nho giáo dành toàn quyền trong việc học hành thi cử - với ý nghĩa đào tạo nhân tài cho bộ máy nhà nước.Trong các địa hạt khác như xã hội, văn học nghệ thuật tín ngưỡng... Tam giáo song song tồn tại. Có những địa hạt, có những địa phương Nho giáo không phải là có thế lực nhất. Trong một con người - kể cả nhà Nho - về mặt người dân, họ chịu sự chi phối của tư tưởng Nho giáo, nhưng về mặt con người, về đạo đức, tín ngưỡng, cách sống... nhiều khi họ chịu ảnh hưởng Phật hay Lão Trang còn nhiều hơn.


Điều cần đặc biệt lưu ý là một khi các triều đại giành được độc lập, chấm dứt sự đô hộ của phong kiến Trung Quốc, thì cũng không thể tự do xoá bỏ những tổ chức, thể chế đã hình thành qua hàng ngàn năm Bắc thuộc. Các triều đại Lý Trần Lê đều đã kế thừa và bắt chước cách tổ chức chính quyền (cùng với chế độ chọn người bằng khoa cử) theo kiểu Trung Quốc. Với mô hình tổ chức nhà nước trung ương tập quyền cao độ + làng xã tự trị + tôn tộc thì Nho giáo tỏ ra có ưu thế nhất, thích hợp nhất. Nho giáo giúp các triều đại đó củng cố sự thống trị mà cũng giúp nó củng cố sự thống nhất đất nước vào chính quyền trung ương, tăng cường trách nhiệm của người dân đối với nhà nước. Các vị anh quân và cả những nhà yêu nước lớn như Nguyễn Trãi chăm lo, phát triển Nho giáo học, xây dựng Tư văn, tổ chức học hành thi cử, lo biên soạn quốc sử, khuyến khích văn học... đều theo lời khuyên của thánh hiền, đều theo trị đạo của Nho giáo. Việc phát triển nho học, đưa nhà nho vào chính quyền thay thế nhà sư và quý tộc, kéo dài từ thế kỷ XIV đến thế kỷ XIX, cho ta thấy xu hướng chung là Hán hoá. Về tư tưởng thực tế Hán hoá không chỉ là ở việc Thiền tông thay cho Phật giáo chịu ảnh hưởng Ấn Độ, ở việc Nho giáo có ảnh hưởng càng ngày càng sâu rộng trong thời độc lập mà còn cả ở việc tông phái Lâm tế của Phật giáo Trung Quốc được truyền bá phổ biến cả ở Bắc hà và Nam hà vào quãng thế kỷ XVII [11] thay cho Thiền phái Trúc lâm. Ở đây trong lịch sử đã có một sự chuyển vùng về văn hoá từ Đông Nam Á sang Đông Á. Bọn xâm lược Trung Quốc chiếm được vùng đất miền Bắc nước ta, biến nó thành quận huyện nội thuộc là tách nó ra khỏi thế phát triển của vùng Đông Nam Á. Trong hàng ngàn năm chính quyền đô hộ xúc tiến quá trình Hán hoá, khi đã dành được độc lập, các triều đại, kể cả chính quyền chúa Nguyễn ở Nam hà, cũng tiếp tục con đường Hán hoá đó. Đó là quyền lợi của giai cấp thống trị nhưngkhông phương hại cho sự nghiệp bảo vệ độc lập và phát triển dân tộc. Nước ta từ đời Lý Trần đã thành nước có văn hiến cao hơn các nước Đông Nam Á cùng thời. Hậu quả tất nhiên không chỉ có một mặt tích cực. Tuy chính quyền ra sức xúc tiến nhưng trong một đất nước tuy đã thống nhất về lãnh thổ, về ngôn ngữ, về lịch sử - tức là đã có sự hình thành dân tộc về cơ bản - mà sự giao lưu giữa các vùng rất bị hạn chế và chưa có ý nghĩa kinh tế; trong trong điều kiện tổ chức xã hội làng xã khép kín, sống bằng nền kinh tế nông nghiệp và thủ công nghiệp tự túc, thoả mãn nhu cầu trao đổi hàng hoá ở các chợ nhỏ địa phương; trong điều kiện sự gia nhập của các vùng vào đời sống dân tộc trên quá trình Nam tiến xảy ra vào những thời điểm xa nhau thì có những vùng có thể nói thực tế Hán hoá, ảnh hưởng Nho giáo hay Phật giáo kiểu Trung Quốc là không đáng kể. Có thể nói trong đời sống chung của cả đất nước thì sắc thái Đông Nam Á vẫn là nền tảng, nhiều khi các yếu tố Hán tuy có vào, thậm chí là vào lâu, vẫn không phá vỡ được. Điều đó có thấy rất rõ ở các vùng trước đây không được coi là "đất văn vật". Sự phá vỡ không nổi sắc thái bản địa đó là cơ sở cho một số người nói quá trình phát triển lịch sử ở Việt Nam là quá trình phi Hán hoá hay nói trong tư tưởng Việt Nam, Nho giáo chỉ là cái vỏ, cái áo khoác ngoài. Tôi không bàn vấn đề này trên bình diện văn hoá một cách rộng và tổng quát. Địa bàn mà ta bàn ở đây hay đối tượng mà xem xét ở đây là tư tưởng - và tư tưởng không phải hiểu theo nghĩa là tổng số các thành tựu về tư duy, tổng cộng các tư tưởng về kinh tế, chính trị, văn hoá, quân sự, khoa học... Mà là tư tưởng khái quát đi đến triết học. Ở đây giai cấp cầm quyền, những lớp người trí thức, những vùng văn vật có vị trí chi phối. Hán hoá về tư tưởng thực ra không đơn giản chỉ là khoác áo Nho giáo hay Tam giáo ra ngoài cái nội dung tư tưởng bản địa hay nhét cái nội dung tư tưởng bản điạ vào cái vỏ Tam giáo Trung Quốc. Không nên coi thường khả năng đồng hoá, khả năng thích ứng, khả năng liên kết - nhiều khi là bằng cách nhét nội dung của nó hay khoác cái áo của người khác - của Nho giáo, thứ tư tưởng điển hình Trung Quốc. Thế nhưng một hệ tư tưởng cũng phải phát triển đến mức cao mới có đủ sức quy tụ và chi phối mọi mặt hoạt động, mà Nho giáo thì chưa phát triển đến trình độ như vậy. Về căn bản nó chỉ là một học thuyết đạo đức - chính trị chưa giải đáp được nhiều vấn đề của nhu cầu trí tuệ con người. Có những mảnh đất nó chưa với tay tới, có những điạ hạt nó bất lực.


Hán hoá đã thành một xu thế, một thực tế lâu dài trong lịch sử. Xu thế, thực tế đó làm cho nước ta, cũng như Trung Quốc, ở những thế kỷ cuối rơi vào tình trạng trì trệ. Phi Hán hoá không phải đã là một xu thế mạnh mẽ trong quá khứ là một yêu cầu cấp thiết của ngày nay đòi hỏi tự ý thức, tự phê phán để giải phóng tư tưởng, để hiện đại hoá đất nước.


Trong lịch sử các nước, hiện tượng du nhập các hệ tư tưởng từ ngoài vào phổ biến hơn nhiều so với hiện tượng phát sinh ở bản địa. Ngay cả ở các nước có thể tự hào là có nền triết học phát triển cao cũng thường bắt đầu bằng việc du nhập tư tưởng từ ngoài vào rồi sau đó mới phát triển nền triết học của mình qua một cuộc cách mạng tư tưởng. Phát triển thành hệ tư tưởng triết học phải trải qua sự phủ định bằng lý luận hệ tư tưởng cũ. Đó là một bước nhảy vọt trong tư duy. Bước phát triển như thế nhất định phải có những nhu cầu thực tế mới và những điều kiện mới, những điều kiện cho phép nhìn ra sự phi lý của cách nhìn thế giới cũ, những nhu cầu san phẳng trở lực lớn trên con đường phát triển. Ở đây những phát kiến vang dội về khoa học có vai trò cực kỳ quan trọng. Và tất nhiên là phải có người làm, có loại trí thức làm chủ được tri thức của thời đại, có người đủ điều kiện vật chất và tinh thần đảm đương nhiệm vụ tổng kết lịch sử đó. Trong lịch sử nước ta không phải không có những lúc có biến động lớn, gặp trở lực lớn. Có những thời đại rực rỡ, mở ra viễn cảnh huy hoàng, chắp cánh cho tư duy con người. Nhưng những thời đại đó thường là liên quan với chống ngoại xâm; chiến thắng oanh liệt của Ngô Quyền, Lê Hoàn xoá bỏ tình trạng Bắc thuộc, chiến thắng oanh liệt đời Lý, Trần, đời Lê, đời Tây sơn... Đó là những thời đại tinh hoa dân tộc phát triển đến cao độ nhưng dốc hết vào đấu tranh quân sự để dành độc lập. Thắng lợi huy hoàng đã chắp cánh cho thơ ca, cho nghệ thuật nhưng lại không tạo được những điều kiện thực tế cho việc tổng kết triết học. Trong một xã hội mà quan tâm hàng đầu là giữ gìn sự ổn định, sự nhất trí đề phòng giặc ngoài xâm lược, với một thể chế mà làng xã là thành lũy, với một nền sản xuất mà năng suất dựa vào kinh nghiệm, sự cần cù, bàn tay khéo léo thì kĩ thuật không đòi hỏi nhiều khoa học, khoa học không cần nhiều triết học. Nếu có những thời điểm mà có thể nói là nóng bỏng, xuất hiện những nguy cơ xã hội như thế kỉ XIV, XVI, XVIII còn lại vang bóng trong văn học thì cũng cũng không có điều kiện gì để nhìn thế giới theo một cách khác. Với nhu cầu và điều kiện như thế đặt ra làm gì và ai đặt ra được vấn đề quan niệm thế giới theo một cách khác?


Trong lịch sử tư tưởng ta đã có ba lần nhận ngoại viện từ Ấn Độ, từ Trung Quốc, từ phương Tây nhưng không trải qua cuộc cách mạng tư tưởng nào. Ta không có thói quen cuồng tín đổ máu tranh chấp tôn giáo mà ta cũng không có thái độ xác tín đổ mực để cãi nhau cho ra lẽ. Ta không quen đòi hỏi tính chính xác, tính hệ thống, tính nhất quán; ta không có thói quen tư duy triết học. Nếu như đội ngũ trí thức của ta trước đây - những nhà sư và nhà nho - không để lại cho chúng ta một di sản triết học thì ta cũng không nên trách cứ họ. Chưa thoát khỏi xã hội nguyên thủy thì người Việt đã gặp ngay nạn xâm lăng từ phương Bắc và nạn ngoại xâm đe doạ thường trực suốt hai mươi thế kỷ. Hoàn cảnh dẫn ta đi theo con đường tiếp nhận, bắt chúng ta chỉ được nghĩ những chuyện thực tế, dạy chúng ta cách ứng dụng nhanh chóng cái học được để ứng phó. Nhằm mục đích thực tế, cha ông chúng ta đã lựa chọn những cái đã có sẵn, chấp nhận nó, không tính cả chuyện những cái đó hoà hợp hay chống đối nhau, nhưng lại biết cách sử dụng cho có ích không gây ra chống đối. Ðối với thực tế mà nhu cầu đặt ra chỉ như vậy kho Kinh, Tạng của Tam giáo Trung Quốc là quá dư thừa, thậm chí là quá mênh mông, ít ai có điều kiện học đủ. Những trường hợp như Nguyễn Trãi thừa hưởng gia tài sách vở của ông ngoại, một học giả quý tộc làm Tể tướng, tiếp xúc rộng rãi, hay như Lê Quý Đôn nhiều lần đi sứ, lưu lại ở kinh đô Trung Quốc đọc sách và tiếp xúc với nhiều học giả nước ngoài là trường hợp rất hiếm. Đại đa số chỉ học đủ kinh sử để đi thi. Đối với họ Đại toàn còn là quá rườm ra nên phải làm Thuyết ước, phải làm Toản yếu [12] những bản tóm tắt - cho dễ học. Trong lịch sử học thuật của ta không có những nhà kinh học để cả cuộc đời tra cứu, biện bác làm sáng tỏ nghĩa kinh điển mà cũng không có những nhà tư tưởng nhìn tổng quát cả học thuật quá khứ để phê phán, đề xuất kiến giải riêng. Những người lỗi lạc, có tinh thần tự hào dân tộc đều muốn phát triển Tư văn ở Việt Nam bằng cách đi theo và tiến kịp không thua Trung Quốc chứ không phải phê phán nó để tìm cái của mình. Trên tinh thần đó những nhà sử học viết quốc sử cho giống Thông giám Cương mục [13], những nhà thơ nhà văn viết cho được như Lý, Đỗ, Âu, Tô.[14] Những cái gọi là phương kỹ như nghề làm thuốc, nghề bói toán, địa lý, thiên văn... cũng là học theo sách Tàu hoặc làm theo kinh nghiệm bản địa nhưng giải thích theo Âm dương, Ngũ hành.


Có một hệ tư tưởng tồn tại trong lịch sử Việt Nam nhưng không có triết học Việt Nam. Người Việt Nam có một cách nghĩ và cách nghĩ đó có khác Trung Quốc. Người Việt Nam có ý thức rõ ràng về thực tế của mình, cởi mở, dễ tiếp nhận cái khác mình, giỏi bắt chước và biết ứng dụng linh hoạt. Cho nên họ đã chuyển từ Đông Nam Á sang Đông Á về mặt văn hoá, đã vay mượn rất nhiều ở tư tưởng Trung Quốc nhưng ở đâu cũng có sự lược bỏ, lược bỏ những chỗ khắt khe, tế toái. Lược bỏ cũng có nghĩa là đơn giản hoá, sơ lược hoá. Thế nhưng làm như thế mà giảm bớt đi được những cái tế toái, cứng nhắc, những cái trái tự nhiên, trái nhân đạo, vốn có nhiều trong cách giải thích kinh điển Trung Quốc thì không phải là dở. Sự linh hoạt - không biết nên giải thích là tinh thần trung dung của Nho giáo, tinh thần nhu đạo, bất tranh của Lão - Trang, tinh thần hỉ xả, từ bi của Phật hay chỉ là tập quán chín bỏ làm mười bản địa - tất nhiên là hạn chế lớn cho cách tư duy chính xác, hệ thống, nhất quán cần thiết để tìm chân lí, để có tư duy khoa học, triết học. Nhưng trong điều kiện nhu cầu đơn giản, hoàn cảnh căng thẳng thì như vậy thường lại có hiệu quả.


Cách tư duy Việt Nam có ưu điểm và nhược điểm. Có thể trước đây là ưu điểm mà ngày nay, từ khi bước vào thời cận hiện đại, thì lại là nhược điểm cực lớn.

*


Xử lý một đối tượng như trên đã trình bày sẽ gặp rất nhiều khó khăn. Khó khăn vì chúng ta thiếu tư liệu, khó khăn vì nó là phức hợp. Trong tình hình như vậy chúng ta rất dễ phạm sai lầm. Hoặc là chúng ta đưa vào nhiều cái không phải của nó mà là của sử học, của văn học, thậm chí của truyền thuyết dân gian. Hoặc là chúng ta đưa vào những cái của tư tưởng Trung Quốc làm lẫn lộn khái niệm "triết học Việt Nam" mà ta xác định làm đối tượng. Cũng có thể vì thiếu tài liệu mà sinh ra suy đoán chủ quan, không dừng lại ở chỗ cần thiết, làm sai lạc diện mạo, thực chất đối tượng.


Trong lịch sử của ta có hiện tượng các phương thức sản xuất không đầy đủ, không thay thế nhau bằng cách cái sau phủ định cái trước. Những tàn dư của xã hội nguyên thủy (như ruộng công làng xã), của một chế độ nô lệ không điển hình (như nô tì công và tư), của một chế độ phong kiến phân tán chưa thành hình (như các hào trưởng, hào cường), một chế độ phong kiến tập trung quá sớm nhưng không trọn vẹn vì thiếu kinh tế đô thị, tồn tại song song, đan chéo vào nhau như một dạng trầm tích. [15] Cho nên trong tư tưởng cũng có dạng trầm tích như vậy. Nhưng nước ta lại sớm thống nhất, thống nhất dưới hình thức quận huyện của chính quyền đô hộ rồi thống nhất thành quốc gia độc lập tạo ra điều kiện để dân tộc hình thành sớm. Cho nên ý thức hệ cũng có dạng thống nhất. Sự thống nhất ở đây được thực hiện đơn giản bằng cách kết hợp tư tưởng bản địa với tư tưởng Tam giáo, Âm dương, Ngũ hành và các yếu tố khác. Đó là một mô hình phức hợp, có thể nhìn nó như một khối mà không phải là một chỉnh thể, liên hệ hữu cơ với nhau. Theo tôi hình dung trong mô hình phức hợp các thành tố kể trên không chồng chất lộn xộn mà liên kết nhiều cấp quanh một cái trục là Nho giáo. Sự liên kết các yếu tố đó có mức độ chặt chẽ khác nhau. Có cái chỉ là ghép hờ, có cái được liên kết chặt, có những cái được liên kết thành khối riêng nằm trong cái toàn bộ. Tôi cho rằng Nho giáo là xương sống của khối liên kết đó. Rõ ràng là trong cái toàn thể mà ta hình dung thì Nho giáo là một phần trong nhiều phần, thế nhưng nó là bộ phận then chốt, quy định sự chọn lọc, sự sắp xếp vì nó là học thuyết thống trị, và hơn thế, nó thích hợp với cơ chế chính trị - kinh tế - xã hội.


Viết lịch sử tư tưởng Việt Nam, tư tưởng một dân tộc, trong tình hình tư liệu chủ yếu là tác phẩm văn học, sử học, khoa học kỹ thuật chúng ta lại càng cần lưu ý tới tình trạng liên kết, thẩm thấu hỗn tạp trên. Những mặt ảnh hưởng như thiên đạo, trị đạo, cách tu thân, quan niệm văn, quan niệm lịch sử... không hoàn toàn gắn với vũ trụ quan, nhận thức luận như tư tưởng triết học phương Tây.


Từ những đặc điểm như vậy của đối tượng, ta có thể tìm những biện pháp tiếp cận và giải quyết những vấn đề cụ thể của việc nghiên cứu nó.


7/V/1984



[1]
Nguyễn Lang, Việt Nam Phật giáo sử luận, Nxb Lá Bối, Sài Gòn 1974, Chương I; Lịch sử Việt Nam, Tập I, Nxb Đại học và THCN, Hà Nội 1983, trang 399.

[2]Bì tích Thụy. Kinh học lịch sử. Nxb Trung hoa thư cục, Bắc Kinh, 1959, tr. 117.

[3]Sđd, tr. 198.

[4]Konrat, N.I., Phương Tây và phương Đông, Nxb Khoa học, Maxcơva 1972. Xem bài Hàn Dũ và sự bắt đầu thời Phục hưng Trung Quốc và bài Triết học thời Phục hưng Trung Quốc (về phái Tống nho).

[5]Bì tích Thụy, Sđd, tr. 281.

[6]Đại Việt sử ký toàn thư. Tập III. Nxb Khoa học xã hội. Hà Nội 1972, trang 7.

[7]Sđd, tr. 111.

[8]Sđd, tr. 91.

[9]Bì tích Thụy. Sđd. Trang 278

[10]Lịch triều hiến chương loại chí. Tập III. Nxb Sử học. Hà Nội 1961. Trang 9

[11]Nguyễn Lang, Việt Nam Phật giáo sử luận. Tập II

[12]Tứ thư thuyết ướccủa Chu Văn An (thế kỷ XIV) ; Tứ thư Ngũ kinh Toản yếu của Nguyễn Huy Ánh (thế kỷ XVIII); Tính lý toản yếu (Thế kỷ XVIII).

[13] Thông giám cương mục: cách viết sử theo Tư Mã Quang trong Tư trị thông giám và của Chu Hy trong Tư trị thông giám cương mục.

[14]Lý Bạch, Đỗ Phủ, Âu Dương Tu, Tô Thức.

[15]Xem thêm Phan Huy Lê, “Vấn đề truyền thống và cách mạng” trong Về giá trị văn hoá tinh thần Việt Nam. Nxb Thông tin lý luận, Hà Nội, 1982, trang 80 – 95.

Vài so sánh giữa triết học phương Đông và triết học phương Tây (Read 3025 times)

Nguyễn Tường Bách dịch Việt ngữ của "The Tao of Physics" (Đạo của vật lý) của tác giả Fritiof Capra ( trích )

Sao giờ lắm sách cổ học như kinh dịch, nho lão, tôn tử, đạo lão... thế nhỉ? Liệu hoài cổ quá có hay lắm không? Luận sâu sắc về lời Hegel - Mác dạy có khi còn ít hơn cả luận Kinh Dịch, Mạnh Tử, Tôn Tử ấy...
Bài này mong các bạn chia sẻ vài điểm khác biệt về triết học, triết lý Đông - Tây, từ đó quyết định xem cân đối kiến thức sao cho hợp lý, hiệu quả cho cuộc sống.
- Thứ nhất, ta sẽ phân biệt đâu là Đông, đâu là Tây.
- Thứ hai, ta so sánh bối cảnh xã hội ra đời, pt triết học phương Đông, phương Tây
- Thứ ba, ta so sánh đối tượng nghiên cứu của triết học Đông, Tây
- Thứ tư, ta so sánh phương pháp nhận thứ của 2 nền triết học đó
- Thứ năm, những nhận xét về vận dụng hai dòng kiến thức đó sao cho hợp lý
Phương Đông
để chỉ các nước châu Á các nên văn minh trên ba lưu vực sông lớn: sông Nin, sông Hằng, sông Hoàng Hà, chủ yếu là Ai Cập, ả rập, ấn độ và Trung Hoa. Hầu hết các nền tôn giáo lớn của thế giới đều xuất hiện ở đây.
Phương Tây
Phương Tây chủ yếu là các nước Tây âu như Anh, Pháp, Đức, Ý, Áo, Tây Ban Nha... Ngày nay chúng ta gộp cả Mỹ vào.
Đặc điểm hai loại hình cơ sở xã hội Đông - Tây là tĩnh, ổn định đối nghịch với động, biến động nhanh. Triết học lỏng lẻo, mềm dẻo của Đông đối lại là triết học chặt chẽ, thống nhất thành hệ thống của Tây. Triết học phương Tây đi từ gốc lên ngọn (từ thế giới quan, vũ trụ quan, bản thể luận... từ đó xây dựng nhân sinh quan con người;) trong khi triết học phương Đông đi từ ngọn xuống gốc (từ nhân sinh quan, vấn đề cách sống, lối sống sau đó mới là vũ trụ quan, bản thể luận...). Đó là 2 nét chính của hai nền triết học Đông - Tây.
Nếu như ở phương Tây, triết học được xây dựng bởi chủ yếu là các nhà khoa học, gắn liền với các thành tựu khoa học, đặc biệt là khoa học tự nhiên thì ở phương Đông, triết học gắn với những hiền triết - nhà tôn giáo, nhà giáo dục đạo đức, chính trị-xã hội.
Vậy nên đặc điểm chủ đạo là các nhà Triết học phương Tây thiên về giải thích thế giới theo nhiều cách còn mục đích chính của phương Đông là cải tạo thế giới gồm có: ổn định xã hội, giải thoát cho con người và làm sao cho con người hoà đồng với thiên nhiên.
Nguồn gốc là do ở phương Đông, thượng tầng kiến trúc ra đời trước và thúc đẩy dự phát triển của hạ tầng cơ sở, còn ở phương Tây hạ tầng cơ sở quyết định đến thượng tầng kiến trúc.
Về đối tượng nghiên cứu của triết học Đông, Tây
Đối tượng của triết học phương Tây rất rộng gồm toàn bộ tự nhiên, xã hội, tư duy mà gốc là tự nhiên. Nó ngả theo hướng lấy ngoại (ngoài con người) để giải thích trong (con người), nói chung xu hướng nổi trội là duy vật.
Trong khi đó phương Đông lấy xã hội, cá nhân làm gốc là tâm điểm để nhìn xung quanh. Do đó đối tượng của triết học phương Đông chủ yếu là xã hội, chính trị, đạo đức, tâm linh và do vậy xu hướng là hướng nội, lấy trong để giải thích ngoài. Đa số trường phái thiên về duy tâm.
Về phương pháp nhận thức của 2 nền triết học đó
Triết học phương Tây ngả về tư duy duy lý, phân tích mổ xẻ còn phương Đông thì ngả về dùng trực giác.
Cái mạnh của phương Tây là cho khoa học, kỹ thuật và về sau là công nghệ phát triển... và nhận thức luôn hướng đến nhận thức cái chân lý vô hạn cùng. Phương Tây đi gần mãi đến chân lý qua hàng loạt những trừu tượng, khái niệm, quy luật... của toàm thể vũ trụ, liên tiếp đi từ cấp độ bản chất thấp đến mức độ bản chất cao hơn... cũng do vậy họ có xu hướng cô lập hoá , cách ly hoá, làm mất đi tính tổng thể.
Triết học phương Đông ngược lại thường dùng trực giác, tức là đi thẳng đến sự hiểu biết, vào cái sâu thẳm bản chất của sự vật, hiện tượng. Trực giác giữ được cái tổng thể mà tư duy phân tích, mổ xẻ đạt đến. Nhưng nó có tiềm tàng nhược điểm là không phổ biến rộng được. Trực giác mỗi người mỗi khác. Và không phải lúc nào trực giác cũng đúng. Thực ra 2 biện pháp kết hợp lẫn nhau, nhưng ở đây nói về thiên hướng.
Triết học phương Tây có xu hướng tách chủ thể với khách thể để nhận thức cho khách quan còn triết học phương Đông lại cho rằng người nhận thức và đối tượng nhận thức cùng hoà hợp vào nhau (đặt cùng trong 1 hệ quy chiếu.) thì nhận thức sẽ dễ dàng.
Phương tiện nhận thức của triết học phương Tây là khái niệm, mệnh đề, biểu thức lôgíc để đối tượng mô tả rõ ràng, thống nhất hơn thì trong triết học phương Đông lại là ẩn dụ, liên tưởng, hình ảnh, ngụ ngôn... để không bị lưới giả về nghĩa do khái niệm che phủ. Nhưng điểm yếu của triết học phương Đông chính là sự đa nghĩa, nhập nhằng khác biệt khi qua các phân tích khác nhau.
Triết học phương Đông biến đổi tuần tự thay đổi dần về lượng, dù thay đổi bao nhiêu vẫn giữa lấy phần gốc phần lõi làm nền, không rời xa gốc đã có.
Triết học phương Tây thay đổi theo hướng nhảy vọt về chất, nên càng tiến hoá càng phong phú hơn, xa rời gốc ban đầu. Thậm chí có xu hướng cái sau phủ định hoàn toàn cái ở giai đoạn trước.
Trong phép biện chứng giải thích quy luật của sự vận động - phát triển cũng có nét khác biệt. Phương Đông nghiêng về thống nhất hay vận động vòng tròn, tuần hoàn. Phương tây nghiêng về sự đấu tranh và vận động, phát triển theo hướng đi lên.
Một nét nữa của triết học Tây - Đông là theo thống kê thì triết học phương Tây thiện về hướng ngoại, chủ động, tư duy lý luận, đấu tranh sống còn, hiếu chiến, cạnh tranh, bành trướng, cá thể, phân tích, tri thức suy luận, khoa học, tư duy cơ giới, chú ý nhiều đến thực thể...
Khuynh hướng nổi trội của phương Đông lại là hướng nội, bị động, trực giác huyền bí, hoà hợp, quân bình chủ nghĩa, thống nhất, hợp tác, giữ gìn, tập thể, tổng hợp, minh triết, tôn giáo, tâm lý, tâm linh, tư duy hữu cơ, chú ý nhiều tới quan hệ...
Đông (Á) Tây (Âu)
Tinh thần - Đời người - Tĩnh lặng cảm nhận các mối quan hệ Vật chất - Máy móc - Mạnh mẽ, quyết liệt, Sức động, quan tâm thực thể độc lập
Thiên về tôn giáo, mỹ thuật, nghệ thuật Thiên về khoa học công nghệ
Sử dụng tình cảm, quan tâm đạo đức -- Con người, đạo học Sử dụng trí tuệ, tư tưởng, quan tâm sự vật/hiện tượng -- Vũ trụ, học thuyết
Dùng trực giác, tổng thể vẫn loanh quanh những lối cũ, bề ngòai Dùng lý trí, mất dần tổng thể, ngày càng phong phú, cụ thể
Quan tâm phần ngọn: nhân sinh quan, cách sống, lối sống Quan tâm phần gốc: thế giới quan, bản thể luận, nhận thức luận
Ảnh hưởng tới: kinh nghiệm/hoàn thiện cá nhân, ổn định xã hội Ảnh hưởng tới: giải thích/lý luận về thế giới, thực hành kỹ nghệ, tự do cá nhân, cách mạng xã hội

Ông Nguyễn Phú Trọng đắc cử Tổng bí thư

- Ông Nguyễn Phú Trọng đã được Ban chấp hành TƯ Đảng khóa XI bầu làm Tổng bí thư nhiệm kỳ 2011 - 2015, theo thông tin vừa được công bố tại lễ bế mạc Đại hội Đảng.

Ông Nguyễn Phú Trọng, tân Tổng bí thư Đảng cộng sản Việt Nam. Ảnh: HLong

Ông Nguyễn Phú Trọng sinh ngày 14/4/1944, quê Hà Nội, hiện là Chủ tịch Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam. Là cử nhân ngữ văn, tiến sĩ về chính trị học, ông Trọng được kếp nạp Đảng năm 1967.

Ông tham gia Bộ Chính trị từ khóa VIII. Trước khi đắc cử vị trí Tổng Bí thư khóa XI, ông đã đảm nhiệm nhiều chức vụ: Tổng biên tập Tạp chí Cộng sản, Phó Chủ tịch Hội đồng Lý luận Trung ương, Bí thư Thành ủy Hà Nội (khóa XII, XIII, XIV).

Tháng 6/2006, tại kỳ họp thứ 9, Quốc hội khoá XI đã bầu ông Nguyễn Phú Trọng làm Chủ tịch Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam..

BCH TƯ giao Bộ Chính trị phân công một số ủy viên tham gia Ban Bí thư. Tại hội nghị, BCH bầu 4 người vào Ban Bí Thư gồm: Ngô Xuân Lịch, Trương Hòa Bình, Hà Thị Khiết, Nguyễn Thị Kim Ngân.
BCH bầu Ủy ban Kiểm tra Trung ương gồm 21 thành viên, đứng đầu là ông Ngô Văn Dụ.

Ảnh: HLong

Chiều qua, BCH TƯ đã họp hội nghị lần thứ nhất để bầu Bộ Chính trị, với 14 người: Trương Tấn Sang, Phùng Quang Thanh, Nguyễn Tấn Dũng, Nguyễn Sinh Hùng, Lê Hồng Anh, Lê Thanh Hải, Tô Huy Rứa, Nguyễn Phú Trọng, Phạm Quang Nghị, Trần Đại Quang, Tòng Thị Phóng, Ngô Văn Dụ, Đinh Thế Huynh, Nguyễn Xuân Phúc.

Sau khi BCH và Tổng bí thư khóa mới ra mắt, Tổng bí thư khóa X Nông Đức Mạnhđã có bài phát biểu chúc mừng người kế nhiệm.

Theo ông Mạnh, ĐH bầu ra BCH mới, do ông Trọng làm Tổng bí thư sẽ mang lại sức sống mới để toàn Đảng vượt qua khó khăn.

“Tôi có một niềm tin mãnh liệt vào điều đó”, ông Mạnh nói.

Theo cựu Tổng bí thư, bản thân ông vừa qua còn có những việc chưa được như mong muốn của Đảng, dân. Như hạn chế đã nêu trước Đại hội. “Trong các hạn chế đó có phần của tôi”, ông Mạnh nói.

Ông Mạnh cho rằng sẽ tiếp tục phấn đấu để giữ vững phẩm chất, đạo đức.

Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng đã lên nhận bó hoa do người tiền nhiệm Nông Đức Mạnh trao.

Toàn tâm, toàn ý phụng sự dân tộc

Phát biểu bế mạc Đại hội, tân Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng nói, ĐH đã thảo luận thẳng thắn, dân chủ thông qua các quyết sách phát triển, có giá trị định hướng và triển khai nhiệm vụ xây dựng đất nước 20 năm tới. Đó là bổ sung, sửa đổi Cương lĩnh 91, bổ sung sửa đổi văn kiện, thông qua chiến lược phát triển giai đoạn mới

Tổng bí thư khóa X Nông Đức Mạnh chúc mừng người kế nhiệm Nguyễn Phú Trọng. Ảnh: HLong

Theo ông Trọng, các văn kiện được thông qua lần này là sự tổng kết sâu sắc các chiến lược phát triển vừa qua. Là sự kết tinh trí tuệ, ý chí và nguyện vọng của toàn Đảng, toàn dân, kết tinh chủ nghĩa Mác - Lê.

“Sự thống nhất ý chí của Đại hội biểu thị quyết tâm của Đảng ta là tiếp tục nâng cao sức chiến đấu của Đảng, đẩy mạnh công cuộc đổi mới, để nước ta trở thành một nước công nghiệp hóa hiện đại”, ông Trọng nói.

Đại hội đã thông qua những nhiệm vụ mới về nâng cao năng lực của Đảng, để Đảng ngày càng vững mạnh.

Xây dựng Đảng là nhân tố trọng yếu, để Đảng là đội tiên phong của nhân dân lao động, giai cấp công nhân”, ông Trọng nói.

Tân Tổng bí thư cũng bày tỏ lòng “tri ân” với những người do quá tuổi đã không ứng cử vào BCH Trung ương khóa mới để tạo điều kiện và cơ hội cho những người trẻ: “Xin ghi nhận đóng góp và nghĩa cử của các đồng chí và xin các đồng chí tiếp tục đóng góp cho đất nước”.

Thay mặt Ban chấp hành Trung ương khóa mới, ông Trọng khẳng định, “BCH khóa XI xin đem hết sức, toàn tâm, toàn ý phụng sự đất nước, dân tộc”.

Sửa đổi Cương lĩnh, điều lệ Đảng

Trước đó, ở đầu phiên bế mạc Đại hội, ông Đinh Thế Huynh đã trình bày một số điểm tiếp thu sửa đổi Cương lĩnh và điều lệ Đảng.

Có 65,04% đại biểu đồng ý sửa đặc trưng chủ nghĩa xã hội thành có nền kinh tế phát triển cao, dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất tiên tiến, phù hợp.

Trưởng Ban Kiểm tra Trung ương Nguyễn Văn Chi đề nghị nên bổ sung thêm vào Điều lệ một điểm là: “đảng viên cấp dưới, tổ chức Đảng cấp dưới có quyền giám sát đảng viên và tổ chức cấp trên. Giao BCH Trung ương đưa ra quy định cụ thể, để chống lộng hành, gi trưởng, mất dân chủ”.
Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết: Khi xây dựng quy chế giám sát, nên tiếp thu ý kiến của ông Nguyễn Văn Chi để cụ thể hóa.

Dự thảo Cương lĩnh trước đó đưa ra Đại hội ghi là “có nền kinh tế phát triển cao, dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và chế độ công hữu về tư liệu sản xuất”. Quy định này trong dự thảo đã được thảo luận sôi nổi. Một số đại biểu như Chủ nhiệm UB Pháp luật QH Nguyễn Văn Thuận, Bộ trưởng Kế hoạch - Đầu tư Võ Hồng Phúc cho rằng, Đảng vẫn xác định quan hệ đa sở hữu, có công, có tư. Vậy bây giờ chỉ nói "công hữu tư liệu sản xuất" thì ai yên tâm đầu tư cho chúng ta?

Như vậy, sau rất nhiều tranh luận, đây là điểm sửa đổi mới trong Cương lĩnh, khác dự thảo ban đầu.

Cũng trong phiên khai mạc sáng nay, ông Đinh Thế Huynh đã trình bày một số điểm tiếp thu sửa đổi khác vào điều lệ Đảng.

Về việc Nhà nước thống nhất quản lý đối với quân đội và công an và sự nghiệp quốc phòng, an ninh theo quy định của Hiến pháp và pháp luật, có 1103 phiếu đồng ý, chiếm 80,16%. Phương án 2 - giữ như điều lệ hiện hành - có 261 phiếu đồng ý, chiếm 18,9%.

Như vậy Đại hội đồng ý bổ sung hai nội dung vào khoản 1 điều 25:

Nội dung 1: sự lãnh đạo của Đảng được tập trung thống nhất vào Ban chấp hành TƯ, mà trực tiếp, thường xuyên là Bộ Chính trị, Ban Bí thư. Đảng quyết định những điều cơ bản xây dựng quân đội nhân dân, công an nhân dân.

Nội dung 2: Nhà nước thống nhất quản lý đối với quân đội và công an và sự nghiệp quốc phòng, an ninh theo quy định của Hiến pháp và pháp luật.

Cụ thể hóa một số chức danh và vai trò chỉ đạo của Đảng đối với quân đội.

Phương án 1: sửa một số khoản của điều 26, điều 27 về việc nêu rõ các chức danh Tổng bí thư là Bí thư Quân ủy TƯ, Bí thư cấp ủy địa phương trực tiếp là Bí thư đảng ủy quân sự cùng cấp. Có 1166 phiếu đồng ý, chiếm 84,74%.

Phương án 2: giữ như điều lệ hiện hành, có 198 phiếu đồng ý, chiếm 14,39%.

Như vậy Đại hội đồng ý sửa một số điều 26, 27 về việc nêu rõ một số chức danh như Tổng bí thư là Bí thư Quân ủy TƯ, Bí thư cấp ủy địa phương trực tiếp là Bí thư đảng ủy quân sự cùng cấp.

Theo VietNamNet


Tổng số lượt xem trang

free counters