Triết Lý, để làm gì ?

Khi ta bế tắc tư tưởng, chân thật công nhận rằng những kiến thức và phương pháp suy luận của ta không cho phép ta sống, tư duy và hành động khớp với khao khát làm người của ta, ngoài vô vàn cách ứng xử khác, ta có thể:

a) Tiếp tục sống, tư duy và hành động như cũ vì, dù sao, ta cũng sống được, không đến nỗi nào

b) Lột áo cũ, khoác áo mới, một tấm áo coi lành lặn đẹp đẽ hơn nhưng cũng hàm hồ không thua gì. Điều ấy luôn luôn khả thi bằng ngôn ngữ.

c) Đi tới cùng bế tắc của chính mình. Nếu không giải quyết được nó, ta ôm nó xuống suối vàng, để lại ở đời chỉ một câu hỏi. Câu hỏi của một con người. Đích thực. Có gì nhục đâu?

Nếu ta tưởng ta đã tìm ra một phần của giải pháp, ít nhất là cho riêng mình, thì cứ viết đi, chẳng cần trích cao nhân nào cả: họ đã là một phần của ta và ta đã phải “vượt” họ để nên mình.

Thế thôi.

(Chungta.com)

Góc nhỏ của Noby Vui Vẻ

Lục lọi, tìm tòi, đọc, cóp nhặt, chia sẻ, ... OK hay không tùy bạn ! ! !

“Nước độc lập mà dân chưa tự do thì độc lập cũng không có ý nghĩa”- Hồ Chí Minh.

1 thg 12, 2010

sự nghiên cứu chính thể của xã hội Hy - La cổ đại.


Lịch sử tư tưởng chính trị Hy – La gắn liền với quá trình hính thành, tiến hóa của xã hội Hy – La cổ đại và nhà nước chiếm hữu nô lệ. Sự ra đời và suy vong của nhà nước chiếm hữu nô lệ Hy Lạp và La Mã luôn gắn liền với các cuộc đấu tranh giai cấp mãnh liệt. Từ đó tạo ra những đòi hỏi sâu sắc trong đời sống xã hội quốc gia – thành thị đã làm nảy sinh một nhu cầu tìm hiểu một cách sâu sắc về quản lý quốc gia. Tư tưởng chính trị từ đó xuất hiện như là một trong những lĩnh vực kiến thức nhằm định hướng cho việc điều hành những công việc phức tạp của quốc gia. Trong thời kỳ này, ở Hy – La cổ đại cũng diễn ra bước phát triển nhảy vọt về trí tuệ, những nghiên cứu ở nhiều lĩnh vực có giá trị phổ quát, trong đó có chính trị học. Vậy những nguyên nhân sâu xa nào dân đến việc đời sống xã hội nảy sinh được nhu cầu tìm hiểu về các cách thức để quản lý quốc gia, mà cụ thể là các chính thể.

Bằng những kiến thức mà tôi được biết thì có mấy nguyên nhân sau khiến cho các chính thể luôn là vấn đề được nhiều nhà tư tưởng chính trị của thời kỳ Hy – La cổ đại nghiên cứu như một xu hướng lặp đi lặp lại. Đó là :

- Vị trí địa lý – chính trị thuận lợi.

- Sự phát triển của công cụ sản xuất làm nảy sinh chế độ tư hữu về của cải vật chất => quan hệ tiền hàng hình thành và phát triển.

- Quá trình phân công lao động của các giai tầng trong xã hội.

- Sự xuất hiện của những con người kiệt xuất trong xã hội.

Một nhà nghiên cứu đã nói Phương Đông trong quá trình tiến hóa của mình, đã đi lên bằng lưỡi cày đồng và quan hệ tập thể. Còn phương Tây thì bằng thanh gươm sắt và ý chí cá nhân. Quả vậy, nhìn vào quá trình lịch sử hình thành và phát triển của xã hội phương Tây và những thành quả mà nó đạt được thì ta có thể thấy được sự khác biệt giữa phương Đông và phương Tây. Và cái tạo nên sự khác biệt ấy chủ yếu là do những nguyên nhân trên đã tạo nên những tư tưởng mà cho đến ngày nay nhiều nước trên thế giới đã kế thừa, phát triển và áp dụng vào thực tiễn.

Do Hy Lạp cổ đại có vị trí địa lý thuận lợi với lãnh thổ rộng lớn, bao gồm miền nam bán đảo Ban Căng, các đảo Egie và miền ven biển phía Tây tiểu Á, rất thuận tiện cho công – thương nghiệp phát triển. Thêm nữa, ngay từ thế kỷ IX – VIII tr.CN, nền sản xuất chiếm hữu nô lệ ở Hy – La cực kỳ phát triển. Đó là thời kỳ nhân loại chuyển từ thời kỳ đồ đồng sang thời kỳ đồ sắt làm cho sản xuất phát triển. Với sự thuận lợi trong việc phát triển thương mại với các khu vực lân cận đã là cho quan hệ tiền hàng xuất hiện. Quan hệ tiền – hàng xuất hiện đã làm cho việc buôn bán ngày càng phát triển, tạo điều kiện cho việc giao lưu kinh tế và văn hóa giữa các vùng, các dân tộc.

Đồng thời sự phát triển của sản xuất đã dẫn đến việc các quan hệ và tổ chức trong xã hội cũ bị đảo lộn. Trong xã hội Nguyên thủy, các tổ chức xã hội là các thị tộc, bộ lạc mang tính cộng đồng cao, thì giờ đây với sự phát triển của quan hệ sản xuất, tư tưởng tư hữu của cải bắt đầu xuất hiện và sau đó phát triển lên thành chế độ tư hữu về của cải. Điều đó làm cho mỗi người buộc phải có ý thức và suy nghĩ hơn về bản thân và về xã hội. Như việc làm sao cho của cải của mình được nhiều hơn mọi người và nắm giữ được một chức vụ gì đó để có tài sản riêng….

Cùng với sự phát triển của công cụ sản xuất là sự tiến xa hơn trong các quan hệ sản xuất mà ở đây là sự phân công lao động. Chế độ chiếm hữu nô lệ không coi người nô lệ là người mà chỉ coi là một công cụ lao động biết nói. Họ không có quyền hành gì hết, chỉ biết tuân theo oong chủ và bị đem đi mau bán trao đổi như hàng hóa. Việc lao động tạo ra của cải vật chất trong xã hội nghiễm nhiên là nhiệm vụ của tầng lớp nô lệ và những người dân tự do. Còn tầng lớp quý tộc chủ nô không phải làm việc mà thực hiện việc quản lý xã hội và bóc lột thậm tệ bọn nô lệ ( những người này được gọi là chủ nô quý tộc). Ngoài ra còn có một bộ phận giai tầng chủ nô không quý tộc, tức là những người làm giàu bằng con đường buôn bán, thương mại.( những người này còn được gọi là chủ nô dân chủ). Kết quả của sự phân công lao động nói ở trên là cho phép xã hội xuất hiện tầng lớp những người lao động trí óc, những người không lao động chân tay có thời gian để nghiên cứu các vấn đề về khoa học, nghệ thuật,…, và do đó, càng tạo điều kiện nảy sinh các tư tưởng chính trị và các tư tưởng gia vĩ đại mà đến này chúng ta được biết.

Những tư tưởng chính trị này ra đời trong hoàn cảnh những cuộc chiến tranh diễn ra không nghừng giữa các thành bang nhắm tranh giành quyền lực và những mâu thuẫn gay gắt giữa giới chủ nô và tầng lớp nô lệ, giữa giới chủ nô dân chủ và chủ nô quý tộc. Giới chủ nô dân chủ thì chủ trương đập tan chế độ độc đoán và chuyên chế của tầng lớp quý tộc. Còn giới quý tộc thì lại muốn duy trì chế độ cũ, và bằng mọi cách để bảo vệ đặc quyền đặc lợi của minh. Song dù cuộc đấu tranh ấy có gay gắt đến đâu đi chăng nữa thì vẫn có một điều không hề thay đổi trong quan niệm của cả hai tầng lớp chủ nô, đó là họ vẫn ủng hộ và chấp nhận chế độ chiếm hữu nô lệ. Sự thừa nhận câu chuyện người bóc lột người là điều phải có. Nhà nước chỉ là thiết chế là của người tự do và chỉ dành cho người tự do.

Song cái mâu thuẫn chủ yếu trong xã hội Chiếm hữu nô lệ là cái mâu thuẫn giữa giới chủ nô và nô lệ. Người nô lệ đã vùng lên để chống lại sự áp bức tàn bạo nghiệt ngã của bọn chủ nô. Tuy vậy, cái xiềng xích nô lệ mà những người nô lệ cố gắng đấu tranh để vứt bỏ đã không thực hiện được. Nhưng những ảnh hưởng của các phong trào đấu tranh ấy đã có những ảnh hưởng nhất định đối với các tư tưởng chính trị. Và nhiều quan niệm về bình đẳng tự nhiên và tự do cho tất cả mọi người đã nảy sinh. Đặc biết là những tư tưởng về cách thức tổ chức xã hội – một xã hội có dân chủ, quyền công dân, sự tôn trọng lý trí, đạo đức và trí tuệ trong đời sống chính trị.

Còn một nguyên nhân cuối cùng, theo tôi đó là sự xuất hiện của các tư tưởng gia vĩ đại. Như Herodot, Plato, Arixtot, Polybe,… cùng những nhà cải cách chính trị như Solon, Crixten, Ephianten và Pericolet,… Chính những tư tưởng chính trị của những vị đó đã góp phần làm cho lịch sử các học thuyết chính trị phương Tây thêm phong phú và có nhiều giá trị. Đặc biệt là những giá trị của những tư tưởng về các vấn đề chính thể cũng như các cách thức tổ chức nhà nước.

Tóm lại, với những nguyên nhân trên, ta có thể dễ dàng nhận thấy vì sao giữa phương Đông và phương Tây có sự phát triển khác nhau đến vậy. Và vì sao mà trong lịch sử các học thuyết chính trị Hy – La cổ đại lại có nhiều nhà tư tưởng chính trị luôn nghiên cứu về các chính thể. Nhìn vào lịch sử Hy – La cổ đại chúng ta có quyền học hỏi các tư tưởng dân chủ và phát triển, kế thừa nó trong bối cảnh xã hội nước ta hiện nay. / .


Hồ Xuân Kiên

Cảm nghĩ nhanh sau khi đọc bài Giải mã "Lợi ích cốt lõi" và "đường lưỡi bò" của Trung Quốc ở Biển đông

Nguyễn Đăng Hưng

Bài Giải mã "lợi ích cốt lõi" và "đường lưỡi bò" của Trung Quốc của tác giả Huỳnh Phan trên “Tuần Việt Nam” có nghi lại những trao đổi với Giáo sư Stein Tonnesson, Viện Nghiên cứu Hoà bình Oslo (Na Uy) - người tham gia cả hai cuộc hội thảo quốc tế về Biển Đông, được tổ chức tại Việt Nam. Đây là những ý kiến của một chuyên gia quan tâm đến Biển Đông một cách khá vô tư. GS Stein Tonnessson lại đồng tình với quan điểm của Giáo sư Leszek Buszynski cho rằng Trung Quốc thực sự cũng chưa biết mình muốn gì.


Blog Nguyễn Xuân Diện đã đăng lại bài này và KTS Trần Thanh Vân đã có những lời bình ngắn phía dưới mà tôi tâm đắc.

Thật vậy, nhà cầm quyền Trung Quốc hiện nay biết rất rõ việc họ làm: họ muốn bành trướng, muốn chiếm đoạt toàn bộ tài nguyên Biển Đông. Tại sao bảo rằng TQ "chưa biết họ thực sự muốn gì" khi chính họ đã có văn bản chính thức lên Liên Hiệp Quốc xác định đòi hỏi của họ... Ta biết ngày 7 tháng 5 năm 2009 phái đoàn thường trực của Trung Quốc tại Liên Hiệp Quốc đã gởi đến Tổng thư ký Liên Hiệp Quốc một công văn (số CML/17/2009) trong đó có đính kèm bản đồ đường lưỡi bò mà ngôn ngữ quốc tế gọi là gọi là “đường chính đoạn đứt khúc” (nine-dotted-lines map) bao gồm gần 80% của tất cả Biển Đông và nói rằng đây là vùng chủ quyền không thể tranh cãi được của Trung Quốc.

Vấn đề đặt ra là ngoài những lời nói lấy được, họ không có một cơ sở nhỏ nào để biện minh cho lòng tham lam vô độ này. Trên thực tế các “học giả” đại diện cho thế lực bành trướng Trung Quốc đã rất phân vân không biết ăn nói làm sao trước công luận và lập trường phi lý này đã cô lập Trung Quốc trên trường quốc tế.

KTS Trần Thanh Vân đã phát biểu rất chính xác:“Những biểu hiện và những tuyên bố mập mờ, không mạch lạc của nhà cầm quyền TQ vừa rồi, không phải vì họ không biết họ muốn gì, mà vì họ lúng túng không biết cách lừa thế giới như thế nào ngoài thái độ ngang ngược trơ tráo và nói quanh”.

Và vì vậy chính bản thân họ cũng tự mâu thuẩn, tự chia rẽ vì hàng động phi lý không tiền khoán hậu này của lịch sử thế giới... Tôi chưa thấy thời đại nào mà một cường quốc lại đi đòi cả một vùng biển bao la trên 3 triệu km2 trở thành "lãnh thổ" của mình với cái tên kỳ quặc là "vùng nước lịch sử". Nói "Lợi ích cốt lõi" là sẳn sàng dùng vũ lực để chiếm đóng, là đòi sát nhập vào lãnh thổ của mình, chứ chẳng có gì khác. Thời thượng cỗ, Đế Quốc La Mã có khả năng và trên thực tế đã kiểm soát gần như tuyệt đối biển Địa Trung Hải nhưng Hoàng Đế La Mã nào có tuyên bố ý đồ ngông cuồng sát nhập biển này vào "lãnh thổ" của Đế Quốc La Mã?.


Tôi lại đồng ý với GS Stein Tonnessson khi ông bảo “Trung Quốc không khôn ngoan tí nào”. Vì quá hăng say với thành tích kinh tế, vì quá chủ quan về sự suy thoái của siêu cường quốc Hoa Kỳ, chính quyền Trung Quốc đã để lộ quá sớm cái đuôi con cáo thâm độc của mình.

Thái độ hung hăng của Trung Quốc tại biển Đông Nam Á đã làm cả thế giới thức tỉnh và Hoa kỳ đã thấy rõ nguy cơ. Đây chính là nguy cơ bậc nhất của thế kỷ 21, đây là sự trỗi dậy của một thứ phát xít mới với tất cả những ứng xử bạo tàn thâm độc mang màu sắc Á đông, phát xuất từ thời nhà Tần...

Đây cũng chính là sai lầm của ê kíp Hồ Cẩm Đào đã quên đi quá nhanh lời dặn dò của Đặng Tiểu Bình: “giấu mình chờ thời”.

Trước nguy cơ bị cả thế giới bao vây, ta thấy hiện nay TQ dịu giọng và trở lại với chính sách câu giờ.

Việt Nam hơn bao giờ hết nên lợi dụng thời cơ. Ngoài việc tìm bạn mới hùng cường còn phải trở về với đoàn kết dân tộc thực sự, mở rộng dân chủ, mưu cầu dân sinh, cải tổ chính trị, sửa đổi hiến pháp cho phù hợp với chính sách hoà nhập để phát triển... Làm bạn với các quốc gia hùng cường trước hết là phải xứng đáng với lòng tin cậy của họ, không ăn nói nước đôi, không hạ mình xin xỏ, không nhân nhượng quá mức, không khiếp sợ trước cường quyền, không bạc nhược trước ngang ngược mà phải tự lực, tự cường, tự trọng, lấy dân làm gốc ...

Việt Nam cần phất cao ngọn cờ chính nghĩa, dựa vào pháp luật quốc tế, quyền bình đẳng các dân tộc, tinh thần tôn trọng quyền lợi chính đáng của các nước, lớn hay nhỏ... Đây chính là những giá trị đã giúp Việt Nam thắng lợi trong hai cuộc kháng chiến gần đây.

Trung quốc cần thế giới văn minh chứ không có chuyện ngược lại, thế giới văn minh cần Trung quốc... Trung Quốc phải tôn trọng lẽ phải mới xứng đáng là đại cường quốc tương lai. Nhược bằng chủ quan hung hăng bành trướng thì sẽ chuốc lấy bại vong... Trung Quốc còn quá nhiều điểm yếu, xã hội quá nhiều bất công, các dân tộc bị quá nhiều áp bức... Mô hình phát triển ở Trung Quốc là một mô hình bất cân đối, bất ổn định, không hài hoà và mọi động thái hiếu chiến hung hăng của tham vọng bành trướng chỉ làm tăng cường nguy cơ sụp đổ..

Nhân nhượng vô nguyên tắc chỉ là bắt cầu cho những ngang nguợc khác rồi dẫn đến thảm hoạ mất nước! Chỉ có kẻ yếu hèn, bất lực, mất lòng tin mới hành động như vậy! Một dân tộc đã bao phen đánh thắng ngoại xâm hung hãn nhất của loài người trong những giai đoạn mà thế giới còn xa xôi phân cách thì trong giai đoạn hiện đại thế giới văn minh toàn cầu có luật lệ hẳn hoi, lẽ nào lại khiếp nhược khuất phục trước bọn cướp biển giết người?

Nguyễn Đăng Hưng,

Giáo sư Danh dự Thực thụ trường Đại học Liège, Bỉ

theo blog nguyen xuan dien

"Đường lưỡi bò" và những nhóm lợi ích ở Trung Quốc


Huỳnh Phan

GS Tonnesson, Na Uy đi sâu phân tích về các nhóm lợi ích ở Trung Quốc với vấn đề Biển Đông, thái độ của từng nhóm với "đường lưỡi bò" cũng như cách tiếp cận xử lí tranh chấp Biển Đông.

LTS: Tổng kết Hội thảo Quốc tế Biển Đông lần thứ hai, diễn ra tại thành phố Hồ Chí Minh vào 11-12/11/2010, Giám đốc Học viện Ngoại giao Dương Văn Quảng đã hứa với các học giả tham dự rằng ông sẽ báo cáo về những phân tích, đánh giá của họ lên các cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam. Với mục đích, theo ông, là giúp các nhà hoạch định chính sách của Việt Nam có những cách tiếp cận hợp lý hơn đối với tranh chấp chủ quyền Biển Đông.

Những phân tích dưới đây của Giáo sư Tonnesson về quan điểm của các nhóm lợi ích đối với cái gọi là "Đường lưỡi bò" hy vọng sẽ là một trong những điều Giáo sư Quảng đặc biệt nhấn mạnh trong báo cáo của mình. Bởi Việt Nam, trong khi triển khai tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh của mình, với nội dung cốt lõi là phân hóa đối thủ, hay "tăng bạn bớt thù", sẽ có có thêm những cơ sở để vạch ra những đối sách "vừa hợp tác, vừa đấu tranh".

Giải mã "lợi ích cốt lõi" và "đường lưỡi bò" của Trung Quốc

Theo Giáo sư, sự bất đồng quan điểm ở Trung Quốc liên quan đến yêu sách chủ quyền và cách giải quyết tranh chấp chủ quyền liệu có phải là điều thực sự đáng lo ngại ở Trung Quốc không? Nhất là đối với những nước muốn giải quyết ổn thoả tranh chấp lãnh thổ với Trung Quốc vì mục đích thúc đẩy hợp tác vì phát triển.

Đúng vậy. Sự bất đồng quan điểm của Trung Quốc còn được thể hiện dưới cái gọi là "mâu thuẫn về chức năng" của từng nhóm lợi ích khác nhau. Đó là ngư dân, doanh nghiệp khai thác dầu khí, cộng đồng doanh nghiệp phi dầu khí, hải quân và ngoại giao.

Ngư dân là nhóm vốn quen với việc đánh cá ở bất cứ đâu họ thích. Ở bất cứ quốc gia nào, việc bắt ngư dân phải tuân thủ những qui định như lệnh cấm biển (cấm đánh cá) trong một khoảng thời gian nào đó đều là điều hết sức khó khăn. Hơn nữa, cá thì không tuân thủ đường phân định lãnh hải do con người đặt ra, mà ngư dân phải đi theo luồng cá, nên họ cũng chẳng thích thú gì với việc đường phân định lãnh hải. Có thể nói nhóm này là nhóm thiếu xây dựng nhất.

Nhóm lợi ích thứ hai là các tập đoàn dầu khí Trung Quốc, như CNOOC (Chinese National Offshore Corporation). Họ luôn muốn được khai thác dầu khí ở thềm lục địa, và chính vì vậy họ muốn thềm lục địa Trung Quốc càng kéo dài càng tốt. Họ phản ứng rất mạnh đối với những thoả thuận giữa PETRO Vietnam, chẳng hạn, với các đối tác bên ngoài (như BP hay Exxon Mobile), mà họ cho là khai thác dầu khí tại thềm lục địa của Trung Quốc.

Hơn nữa, lãnh đạo những doanh nghiệp này có quan hệ chặt chẽ với chính quyền, bởi doanh thu từ khai thác dầu khí thuộc về quốc gia. Phần lớn những nhà lãnh đạo doanh nghiệp này đều ủng hộ cho "đường lưỡi bò". Chính vì vậy đây cũng là nhóm có những ảnh hưởng tiêu cực.

Nhóm lợi ích thứ ba là hải quân. Và, theo tự nhiên, nhóm này rất ủng hộ đường lưỡi bò. Họ có một ý tưởng, hay thậm chí ảo tưởng, rằng toàn bộ khu vực Biển Hoa Nam (Biển Đông) là nơi hải quân Trung Quốc có thể thống trị, và ngăn chặn sự hoạt động của tàu hải quân nước ngoài mà họ gọi là lực lượng thù địch, theo luật về lãnh hải của Trung Quốc và tiềm lực quân sự.

Và vì tranh chấp ở Biển Hoa Nam (Biển Đông) khó mà có thể giải quyết một sớm một chiều được, các nước trong khu vực, trong đó có Việt Nam, đều mong muốn chứng kiến sự hiện diện của hải quân các nước ngoài khu vực tại vùng biển này, chứ không nhất thiết chỉ là hải quân Mỹ. Chẳng hạn như hải quân Ấn độ, hải quân Nhật, hay hải quân Nga.

Riêng Trung Quốc không có lợi ích từ sự hiện diện này ở Biển Hoa Nam (Biển Đông), bởi còn phải mất nhiều năm xây dựng nữa, hải quân Trung Quốc mới có thể sánh ngang sức mạnh với hải quân Mỹ. Mặt khác, sự cấp tập tăng cường sức mạnh hải quân của Trung Quốc vì mục tiêu này, nếu theo hướng khiêu khích, hay đối đầu, với các nước khác như Ấn Độ, Nhật Bản, và tất nhiên, cả Mỹ, họ chắc chắn sẽ thất bại.

Trung Quốc có thể nhìn thấy những tấm gương nhãn tiền của những thế lực nổi lên trước Đệ Nhị Thế Chiến như Quân phiệt Nhật, hay Đức Quốc Xã. Lãnh đạo Trung Quốc chắc ý thức được điều này. Và những người đứng đầu ngành hải quân Trung Quốc cũng vậy. Cuối cùng họ cũng hiểu ra rằng trong thời gian 20-30 năm tới việc tăng cường sức mạnh hải quân phải diễn ra bí mật.

Chính vì vậy, họ muốn ngăn những tàu khảo sát của Mỹ ở khoảng cách càng xa căn cứ hải quân Tam Á của họ càng tốt.

Nhóm lợi ích thứ tư ở Trung Quốc là bộ ngoại giao. Có lẽ đây là nhóm có sự hiểu biết luật pháp quốc tế tốt nhất, bởi họ có nhiều chuyên gia được đào tạo bài bản về lĩnh vực này. Hơn nữa, đây là nhóm đã đầu tư rất nhiều công sức vào việc xây dựng quan hệ hữu hảo với các nước láng giềng.

Và nhóm cuối cùng có thể quan tâm đến Biển Hoa Nam (Biển Đông) là cộng đồng doanh nghiệp phi dầu khí. Tuy không mặc quân phục, nhưng đội quân đông đảo này thực sự có sức mạnh. Họ quan tâm đến việc thúc đẩy quan hệ hợp tác, giao thương trên cơ sở thực hiện đầy đủ một khu vực thương mại tư do Trung Quốc - ASEAN.

Đây chính là nhóm mong muốn những tranh chấp trên biển được giải quyết ổn thoả, để cho những quan hệ kinh tế thương mại giữa Trung Quốc và 10 nước ASEAN trở nên suôn sẻ.

Như vậy, theo phân tích của Giáo sư, dường như chỉ có hai nhóm cuối là có thể có cái nhìn tích cực đối với những giải pháp cho tranh chấp chủ quyền trên Biển Đông. Tuy nhiên, liệu lợi ích từ tự do hoá thương mại giữa ASEAN và Trung Quốc có đủ lớn để đối trọng với lợi ích từ khai thác nguồn năng lượng biển vẫn là một dấu hỏi lớn. Cũng tương tự như vậy đối với mối quan hệ giữa giới ngoại giao Trung Quốc và giới quân sự, nhất là hải quân.

Như vậy, liệu có hy vọng gì cho một cách tiếp cận thống nhất và dễ chấp nhận hơn từ Trung Quốc đối với các nước trong khu vực không, thưa ông? Nhất là khi mà ông Đới Bỉnh Quốc chỉ là nhân vật đứng thứ 50 trong hàng ngũ lãnh đạo Đảng Cộng Sản Trung Quốc, theo như tạp chí Foreign Affairs.

Đúng là có chuyện đó. Nhưng vẫn có những dữ kiện khác để chúng ta có cách nhìn đỡ bi quan hơn.

Chẳng hạn, ngay đối với nhóm doanh nghiệp dầu khí, cũng đã có những dấu hiệu hứa hẹn của sự thay đổi thái độ về tranh chấp chủ quyền ở Biển Hoa Nam (Biển Đông). CNOOC hiện đang rất quan tâm đến việc quốc tế hoá hoạt động của mình, tức là muốn tham gia vào những hoạt động thăm dò - khai thác bên ngoài thềm lục địa Trung Quốc. Chính vì vậy, hoạt động của họ sẽ thuận lợi nếu khuôn khổ pháp lý liên quan đến thăm dò - khai thác dầu khí trở nên rõ ràng hơn, tức là có sự phân định rõ ràng về chủ quyền đối với các nguồn năng lượng biển.

Chúng ta cần nhớ rằng để hoạt động thăm dò dầu khí là rất tốn kém và mang tính rủi ro cao, vì vậy đây chính là lợi thế của CNOOC, với khả năng vay tiền ngân hàng với lãi suất thấp và dài hạn. Đó là chưa nói đến một ưu thế rất lớn khác của CNOOC là họ có một đội ngũ chuyên gia dầu khí rất giỏi.

Vậy tại sao với việc phân định rõ ràng về thềm lục địa, CNOOC lại không thể thắng thầu thăm dò khai thác ở các lô trên thềm lục địa của Việt Nam, hay Philippines, cơ chứ?

Lãnh đạo Trung Quốc cần học tập những người đồng chí, đồng cấp từ Việt Nam

Hơn nữa, những diễn biến trong khu vực trong khoảng thời gian một năm rưỡi qua đã khiến cho nỗ lực trong suốt hơn một thập kỷ qua của bộ ngoại giao có nguy cơ trở nên công cốc. Chính nguy cơ này khiến cho bộ ngoại giao cảm thấy lo ngại sâu sắc.

Tôi cho rằng bộ ngoại giao là nhóm mong muốn thay đổi quan điểm của Trung Quốc, theo hướng thực tiễn và dựa trên cơ sở luật pháp quốc tế. Tôi hy vọng rằng khi vạch ra chính sách biển cho giai đoạn sau 2012, giới lãnh đạo Trung Quốc, đặc biệt là Chủ tịch Hồ Cẩm Đào và Thủ tướng Ôn Gia Bảo sẽ tham vấn kỹ với các chuyên gia giỏi và có chính kiến riêng của họ để có những cách tiếp cận thực tế.

Những diễn biến trong khu vực trong thời gian một năm rưỡi vừa qua là quá đủ để cho họ hiểu rằng nếu chính sách của Trung Quốc được xây dựng theo hướng củng cố quan hệ láng giềng và hợp tác, trên cơ sở thúc đẩy quá trình xây dựng lòng tin. Và, nếu họ làm được như vậy, các nước ASEAN có liên quan cũng không cần trông mong vào sự can dự ngày càng mạnh mẽ của những thế lực ngoài khu vực như Mỹ.

Vả lại, trong trường hợp này, một nhóm lợi ích quan trọng là hải quân Trung Quốc cũng sẽ hưởng lợi. Họ có thể ít bị chú ý hơn trong việc xây dựng năng lực phòng thủ, như họ vẫn tuyên bố.

Tại sao Giáo sư lại có niềm tin như vậy vào giới lãnh đạo Trung Quốc? Nhất là theo thông lệ, khó có sự thay đổi chính sách từ nay đến khi đại hội Đảng Cộng sản Trung Quốc diễn ra vào năm 2012.

Nhưng lại có một tiền lệ khác diễn ra ở một nước lánh giềng gần gũi của Trung Quốc. Đó là Việt Nam. Thời gian qua, Việt Nam đã có sự thay đổi khá mạnh về cách tiếp cận, nhất là trong chính sách đối ngoại. Và Việt Nam có thể tự hào rằng họ đã thành công trong cách tiếp cận mạnh dạn này.

Vậy tại sao các ông Hồ Cẩm Đào và Ôn Gia Bảo lại không học tập những người đồng chí và đồng cấp từ Việt Nam nhỉ? Nếu làm được như vậy, hai vị lãnh đạo này sẽ để lại cho hai người kế nhiệm, nhiều khả năng là Tập Cận Bình và Lý Khắc Cường, một di sản cực kỳ quan trọng: Giới thiệu với khu vực, và thế giới nói chung, một Trung Quốc với cách nhìn mới, thực tế và thân thiện hơn.

Nguồn: Tuần Việt Nam.

hàng rào chống chuột hiệu quả _ một điều thiết thực trong cuộc sống.

Hàng rào chống chuột hiệu quả

10/08/2010, 07:45:11 PM

(Vfej.vn)-Việc bảo vệ mùa màng chống khỏi chuột phá hoại của đồng bào nông dân các tỉnh, nhất là ở miền Nam bằng cách kéo điện lưới ra ruộng đã gây ra nhiều cái chết, số lượng ngày càng tăng. Đây là cách làm liều lĩnh và nguy hiểm.


Để có thể chấm dứt hiện tượng này xin phổ biến đến đồng bào nông thôn một cách làm hàng rào chống chuột điện tử hiệu quả mà vẫn đảm bảo an toàn cho con người – Hàng rào này được thiết kế phỏng trên tài liệu nước ngoài (“Người bảo vệ vô hình – NXB khoa học Kỹ thuật Kiep – 1971”) hàng rào này đã được ứng dụng ở nước ngoài rất hiệu quả phạm vi bảo vệ xa 3000 – 5000m.

Đây là một mạch dao động 3 điểm điện cảm sử dụng bộ cao áp là cao áp của xe máy (xe dream Trung Quốc).

Đèn dao động dùng: C2335, H1061, 2N3055… trên sơ đồ có thể thay đổi R1 để chọn cao áp lớn nhất, thay đổi R2 để đèn không nóng – dòng nhỏ - hàng rào làm việc trong thời gian lâu dài.

Trên phần sắt từ của cuộn cao áp cuốn thêm cuộn dây AB số vòng 50 – 60 vòng đường kính 0,31mm một đầu dây bắt chặt vào khối sắt từ, đầu còn lại qua R1 về B đèn dao động.

Khi lắp ráp nếu không dao động được đổi hai đầu AB.

Khi lắp nên lắp vào một hộp ví dụ lắp vào hộp nguồn hỏng của máy tính (ngoài hàng sắt vụn bán rất nhiều).

Chạy thử khi cấp nguồn DC12v – mạch dao động ngay dùng bút thử điện thử vào đầu HV bút điện đỏ - đã có cao áp.

Mạch có thể dùng ắc quy xe máy hay bộ nắn để dùng điện xoay chiều – vì mạch nguồn và mạch cao áp cách ly nhau hoàn toàn nên hàng rào sẽ an toàn cho người.

Các bạn thợ vô tuyến ở các địa phương đều có thể lắp ráp được – hãy giúp đồng bào chặn đứng những cái chết vô lý.

Nếu bạn đọc có khó khăn xin điện thoại đến:

Sơ đồ nguyên lý:



Tổng số lượt xem trang

free counters