Hồ Xuân Kiên
Dưới góc độ tổ chức quyền lực nhà nước, hiến pháp thể hiện ba đặc trưng
cơ bản. Một trong số đó là thể hiện quyền lực của công dân, hay nói cách khác
là tuyên bố quyền lực thuộc về nhân dân. Dân chủ ở đây, được hiểu là quyền lực
của công dân. Còn hiến pháp, nó được coi như là một loại “khế ước xã hội”, tức
là như một hợp đồng giữa một bên là nhân dân và một bên là những người được
nhân dân ủy quyền trong việc tổ chức và sử dụng quyền của dân được tổ chức
thành nhà nước.
Trong “khế ước xã hội” đó, quyền lợi của nhân dân bao giờ cũng được đặt
lên hàng đầu, lên trước quyền lực của nhà nước. Trước tiên là nó phải được đưa
lên chương đầu tiên của Hiến pháp như một thông lệ chung.
Trong phạm vi bài này, sẽ bàn tới vị trí quyền của nhân dân trong hiến
pháp được thể hiện như thế nào? Nhưng sẽ không phải là bàn về nội dung hiến
pháp, mà là ở cái cách thể hiện, cách dùng ngôn từ, và cách tư duy trong hiến pháp.
Và chính cái cách tư duy như hiện nay, không chỉ làm ảnh hưởng đến quyền và
nghĩa vụ của công dân mà còn khiến cho bản “hợp đồng hiến pháp” giữa nhà nước
và nhân dân bị xâm phạm.
Như trên đã đề cập, hiến pháp như là một bản hợp đồng giữa nhân dân và
những người được nhân dân ủy quyền, đại diện cho nhân dân trong việc sử dụng
những quyền đó để tổ chức thành nhà nước. Trong vai trò là người được ủy quyền,
thì nhà nước trước hết phải đưa quyền lợi của nhân dân lên trước quyền lợi của nhà nước. Tuy vậy, trong vài trường
hợp, khi cả nhân dân lẫn nhà nước đều thấy cần thiết phải đưa ra những nguyên
tắc chung, mà ở đó đề ra những nguyên tắc để dựa vào đó nhân dân trao quyền cho
nhà nước. Trong trường hợp như thế thì những nguyên tắc chung đó, sẽ được đưa vào
một chương đầu tiên của hiến pháp. Và quyền công dân sẽ được quy định ở chương
hai.
Nhưng trong hiến pháp 1992 của nước ta hiện hành thì quyền và nghĩa vụ
của công dân lại được quy định ở chương năm. Điều này làm cho hiến pháp nước ta
có sự khác biệt so với hầu hết các nước tiên tiến như Đức, Anh, Pháp, Mỹ… Thậm
chí khác cả Trung Quốc, Cu-ba – những nước theo chế độ xã hội chủ nghĩa như
nước ta.
Trong lịch sử hiến pháp nước ta thì chỉ có hiến pháp 1946 là quyền và
nghĩa vụ của công dân được quy định ở chương hai, đến hiến pháp 1959 thì lại
đưa xuống chương ba, và ở hiến pháp 1980 và 1992 thì là chương năm. Vậy vấn đề
của cách trình bày như vậy là ở chỗ nào?
Thứ nhất, là cách trình bày như vậy là không tuân theo logic chung của kỹ
thuật trình bày và thể hiện hiến pháp.
Thứ hai, việc quyền công dân được đưa lùi về phía sau của hiến pháp, dễ
làm cho chúng ta đặt câu hỏi, phải chăng quyền lực của dân đang dần không còn
quan trọng như trước nữa?
Không chỉ trong cách trình bày mà cả cách sử dụng ngôn từ của hiến pháp
1992 cũng mang nặng tính tư duy bao cấp và nếp nghĩ Nho giáo. Sở dĩ nói như vậy
là vì những cụm từ như: “Nhà nước đảm bảo” ; “Nhà nước tạo điều kiện cho công
dân” mang nhiều tính ban ơn của nhà nước cho công dân hơn là các hiểu nhà nước
là một tổ chức được hình thành từ bản “hợp đồng hiến pháp” giữa nhân dân và nhà
nước. Thậm chí cụm từ “nhà nước tạo điều kiện” lại được sử dụng nhiều trong chính
chương năm, chương quy định về quyền và nghĩa vụ của công dân. Hậu quả của việc
này là làm cho trách nhiệm của nhà nước thiếu rõ ràng. Vì nhà nước chỉ “tạo
điều kiện” khi nào và chừng nào mà nhà nước thấy cần và thuận lợi cho bản thân
nhà nước mà thôi. Và như vậy có nghĩa là nhà nước sẽ không có nghĩa vụ đảm bảo
cho các điều kiện ấy tồn tại. Trong một trường hợp nào đó, quyền lợi của nhân
dân bị xâm phạm, thì dân sẽ “kiện ai”. Như thế thì đâu còn là quyền lực của
nhân dân nữa, đâu còn là hợp đồng giữa nhân dân và nhà nước nữa.
Thiết nghĩ, chúng ta nên đưa chương quyền và nghĩa vụ của công dân lên
chương hai. Và thay vì sử dụng ngôn từ theo dạng thức chủ động như “nhà nước
tạo điều kiện”; “nhà nước đảm bảo” thì nên chuyển sang dạng thức bị động, kiểu
như “công dân được hưởng các điều kiện”… Và quan trọng hơn, ẩn sau công thức
đó, là quyền và nghĩa vụ của nàh nước.
Nếu như các điều kiện sống cần thiết của người dân không được tạo ra
trong thực tế thì nhà nước đã vi phạm hiến pháp. Như vậy có thể dẫn đến sự phá bỏ hoặc thay đổi
bản “hợp đồng” giữa nhân dân và những người được nhân dân ủy quyền – tức là nhà
nước.
H.X.K.