Triết Lý, để làm gì ?

Khi ta bế tắc tư tưởng, chân thật công nhận rằng những kiến thức và phương pháp suy luận của ta không cho phép ta sống, tư duy và hành động khớp với khao khát làm người của ta, ngoài vô vàn cách ứng xử khác, ta có thể:

a) Tiếp tục sống, tư duy và hành động như cũ vì, dù sao, ta cũng sống được, không đến nỗi nào

b) Lột áo cũ, khoác áo mới, một tấm áo coi lành lặn đẹp đẽ hơn nhưng cũng hàm hồ không thua gì. Điều ấy luôn luôn khả thi bằng ngôn ngữ.

c) Đi tới cùng bế tắc của chính mình. Nếu không giải quyết được nó, ta ôm nó xuống suối vàng, để lại ở đời chỉ một câu hỏi. Câu hỏi của một con người. Đích thực. Có gì nhục đâu?

Nếu ta tưởng ta đã tìm ra một phần của giải pháp, ít nhất là cho riêng mình, thì cứ viết đi, chẳng cần trích cao nhân nào cả: họ đã là một phần của ta và ta đã phải “vượt” họ để nên mình.

Thế thôi.

(Chungta.com)

Góc nhỏ của Noby Vui Vẻ

Lục lọi, tìm tòi, đọc, cóp nhặt, chia sẻ, ... OK hay không tùy bạn ! ! !

“Nước độc lập mà dân chưa tự do thì độc lập cũng không có ý nghĩa”- Hồ Chí Minh.

4 thg 5, 2011

Một nền văn hóa dân tộc


Phạm Quỳnh

Tiểu luận viết bằng tiếng Pháp trong thời gian 1922-1932

Một cuộc bàn cãi sôi nổi đang diễn ra ít lâu nay trong một số anh em đồng nghiệp báo chí nước Nam chúng tôi. Đó là về việc nước Nam có một nền văn hoá dân tộc không. Một dân tộc nổi danh hiếu học, tự hào về các bậc túc nho, qua bao thế kỷ có sản sinh ra được một nền văn hoá dân tộc mang bản sắc riêng không? Hay rốt cuộc nó chỉ là một cậu học trò, dù đôi khi là một học trò xuất sắc nhưng vẫn là một học trò của nước Trung Hoa, người mẹ của toàn bộ văn hóa và văn minh, cô giáo duy nhất của tất cả các dân tộc Viễn Đông?
Một số người cho rằng nước chúng tôi đã có nền văn hóa riêng và họ dẫn ra tên tuổi của những vị tiến sĩ nổi danh trong quá khứ làm điểm tựa cho lập luận của mình. Một số khác thì vặn lại rằng tất thảy các vị tiến sĩ đó chẳng để lại được cái gì độc đáo mà chỉ nhai nhải lặp lại những kinh điển Nho giáo xưa cũ ai cũng biết, và thực tế là nước Nam chưa bao giờ có một nền văn hoá dân tộc khác biệt với của Trung Hoa.
Xét một cách tuyệt đối, ý kiến của những người sau có lý. Nước Nam bao giờ cũng chỉ là một học trò của Trung Hoa. Trong nghệ thuật, văn học, tôn giáo, triết học, nó luôn sống dựa vào kho tàng quan niệm chính truyền từ Trung Hoa. Khác với Nhật Bản đứng riêng như một quốc đảo chỉ tiếp nhận từ Trung Hoa những gì cần cho sự phát triển những nét riêng biệt của họ, nước chúng tôi toàn sao chép mọi thứ của nước láng giềng khổng lồ. Và nếu có thể nói rằng nghệ thuật nước Nam chẳng hạn, dù có lấy cảm hứng từ Trung Hoa, nhưng vẫn mang dấu vết riêng của nước Nam khiến cho nghệ thuật nước mình khác với nghệ thuật của Thiên Quốc, thì ta khó mà có thể cũng nhận xét như vậy về văn học hay triết học, là những môn không bao giờ vượt thoát được vết xe cũ của Trung Hoa, không bao giờ tự giải phóng được khỏi những nguyên tắc kinh viện nặng nề và cổ hủ.
Rành rành là cái ách tinh thần của Trung Hoa đã đè nặng lên xứ sở này tới mức ngăn cản đầu óc người Nam tấn tới và phát triển theo nguồn mạch riêng của mình. Mặt khác, việc nằm sát nách một nước lớn luôn có cơ hội xâm lược và cướp đi nền độc lập giành được sau gần mười thế kỷ gian khổ đấu tranh đang duy trì chúng tôi trong mối lo thường xuyên khá bất lợi cho sự tự do nảy nở các năng lực vô tư của tinh thần. Uy lực không gì so sánh nổi của nước láng giềng đó với một lịch sử lâu dài và một nền văn minh đáng nể lại đủ sức uy hiếp một dân tộc nhỏ đã táo gan muốn bảo vệ bằng mọi giá nền độc lập chính trị của mình song lại không bao giờ tin rằng nước mình có thể chinh phục được nền độc lập tinh thần và luân lý của mình. Nhưng cái góp phần nhiều nhất vào việc cầm giữ nước Nam trong cái có thể gọi không quá là sự nô lệ tinh thần đối với Trung Hoa, ấy là hệ thống khoa cử mà ở nước chúng tôi, cũng như ở Trung Hoa - và đó chính là nguyên nhân suy tàn của nó - đã thực sự trở thành một thiết chế nhà nước thiết chế quan trọng hơn cả, được trọng vọng hơn cả, trịnh trọng nhất hạng. Chính thể chuyên chế tìm thấy ở thiết chế này một công cụ thống trị tuyệt vời nên đã bao phủ quanh nó những điều hào nhoáng nghi thức thiêng liêng. Và thiết chế đó đã hoành hành trong suốt một thời gian dài đến mức có thể nói là nó đã góp phần hun đúc trí não người Nam vào cùng một cái khuôn cổ truyền và kinh viện.
Thời Trần, Phật giáo và Lão giáo còn được nghiên cứu cùng với Nho giáo. Nhưng kể từ cuối Trần, Nho giáo đã trở thành quốc giáo độc tôn. Các kỳ thi đánh giá công cuộc học tập và là cánh cửa duy nhất mở vào đường làm quan gồm bài kinh sách và văn sách không có chút ích lợi gì cho trí tuệ. Suốt năm trăm năm, những đầu óc ưu tú của đất nước đã bị khuất phục dưới chế độ suy tàn này, một chế độ giết chết mọi tính độc đáo và hủy diệt mọi tư duy độc lập.
Làm thế nào một nền văn hoá dân tộc lại có thể ra đời và phát triển trong hoàn cảnh như vậy được?
Mặt khác, muốn có một nền văn hoá dân tộc thì phải tồn tại một ngôn ngữ dân tộc hoàn thiện xứng đáng là ngôn ngữ văn hóa. Thế nhưng các nhà nho xưa của chúng tôi chỉ luôn viết bằng chữ Hán, một thứ chữ Luận của vùng Viễn Đông. Ít ai nghĩ đến việc trau dồi tiếng mẹ đẻ mặc dù nó rất phong phú và đẹp đẽ. Có một số người đã thử dùng nó để làm thơ và việc họ sáng tác được một số tác phẩm hay bằng tiếng Nam cho thấy nếu người ta biết làm cho nó uyển chuyển hơn, trong sáng hơn nữa thì nó có thể là một công cụ quý báu giải phóng tinh thần cho dân tộc chúng tôi. Nhưng điều mà cha ông chúng tôi không biết làm hay không thể làm - vì họ chịu quá sâu ảnh hưởng Trung Hoa - thì bây giờ chúng tôi phải làm, nhờ vào ánh sáng từ Tây phương rọi tới.
Đó là một sự nghiệp lớn lao đang chờ đợi tất cả những người làm thành giới đặc tuyển tinh thần mới của xứ sở này, bất kể phẩm trật của họ ra sao.
Tạo ra cho nước Nam một nền văn hoá dân tộc, và trước hết, xây dựng một ngôn ngữ dân tộc có thể dùng làm ngôn ngữ văn hóa, theo tôi đó là nhiệm vụ thiết yếu, là sự nghiệp cải biến và đồng thời là công cuộc xây dựng lớn lao đặt ra cho trí tuệ và cho mọi nỗ lực của những nhà trí thức mới ở nước Nam.
Về phần tôi, đó luôn luôn là cái đích mà tôi không ngừng theo đuổi suốt gần hai mươi năm nay.
Ngay khi đầu óc tôi bắt đầu biết nhận dạng một số thực tại nhất định tôi đã có một linh cảm nhanh chóng biến thành niềm tin rằng, để làm công việc giải phóng chính trị cho dân tộc này thì trước hết cần phải làm công việc để giải phóng cho nó về tinh thần và luân lý đã. Và như vậy chủ nghĩa quốc gia của tôi trước khi đem ra thi thố trên trường chính trị đã được bắt đầu thực hiện trong lĩnh vực ngôn ngữ và văn hóa.
Một cộng tác viên của tờ Revue du Pacifque (Tạp chí Thái Bình Dương) đã rất hiểu điều đó khi một năm trước đây ông cho công bố hai bài viết quan trọng về "Chủ nghĩa quốc gia Đông Dương". Đây là đoạn ông đánh giá công việc tôi đang cố làm trong lĩnh vực này. (Tôi trích dẫn không phải vì lời đánh giá của ông ta có thể làm vinh dự cho tôi, mà chỉ vì đó là một thí dụ hiếm thấy của một tác giả Pháp đã bỏ công nghiên cứu và tìm hiểu cuộc tiến hóa tinh thần ở xứ này):
"Trong số những người thuộc "Phái trẻ nước Nam" chỉ có một số ít đáng mặt coi là quốc gia chủ nghĩa qua một số tư tưởng nền tảng của họ: đó là phái của ông PHẠM QUỲNH ở Bắc Kỳ. Ông đã dùng hết tài năng văn học và sự am hiểu ngôn ngữ của mình vào việc phát triển tư tưởng dân tộc. Ông muốn có được một thứ tiếng nước Nam hoàn thiện, được nâng cao lên, có thể vượt lên việc dùng tiếng Pháp. Ông muốn duy trì triết học truyền thống được cập nhật và thích ứng với những nhu cầu của đồng bào mình. Ông muốn cứu vớt nền văn minh nước Nam khỏi sự Âu hóa vội vàng mà ông thấy đó là tác hại vì một khi công việc đó làm hủy hoại thần thái giống nòi thì nó cũng hủy hoại luôn ngay cả tư tưởng về tổ quốc. Những tư tưởng hoàn toàn đáng nể trọng và được bảo vệ một cách rất đáng chiêm ngưỡng này, vả chăng lại không được nói ra dưới dạng một chủ nghĩa quốc gia hiếu chiến đối với nước Pháp. Ông đủ khôn ngoan để vẫn coi uy quyền nước Pháp là cần thiết. Ông chấp nhận nó, thậm chí ông còn thích nó hơn tất cả các uy quyền nào khác, nhưng ông đòi hỏi ở nó một chủ nghĩa tự do và một thái độ vô tư để nó phải tôn trọng nước Nam, cho phép nước Nam dưới sự che chở yên ổn của nó được phát triển hết mức bản sắc độc đáo của mình.
Tôi xin lỗi đã trích dẫn hơi dài những lời tóm tắt rất chính xác điều mà tôi có thể gọi là chủ thuyết của mình. Tác giả bài viết đó ký tên bằng những chữ cái viết tắt họ tên, nếu tôi không nhầm, là một trong những quan chức nổi bật nhất của Sở Nội vụ. Về phần liên quan đến tôi, ông tỏ ra đã hoàn toàn hiểu tôi và tôi chỉ có thể biết ơn một sự sáng suốt rất hiếm có ở các nhà lãnh đạo chúng tôi, nghĩ rằng ta nên thừa nhận điều này.
Như vậy, theo chủ thuyết mà tôi đã xướng lên từ nhiều năm qua, tôi đã gắng nghiên cứu một cách hệ thống việc làm giàu và hoàn thiện tiếng nước Nam, và tôi tin mình đã có thành công nhất định trong việc đó.
Cách đây khoảng mười lăm năm tiếng nước tôi còn rất chật vật trong việc diễn đạt những tư tưởng trừu tượng. Bây giờ thì nó đã làm được việc đó dễ dàng hơn nhiều. Tôi không phải tự phụ mà tin rằng đó là sự nghiệp duy nhất của tôi; nhưng tôi đã góp một phần khá lớn vào đó và trong việc này tôi đã được hỗ trợ nhiều từ sự hiểu biết của mình về ngôn ngữ và văn chương pháp. Người ta sẽ không bao giờ nói hết được việc tiếng nước Nam hiện đại chịu ơn tiếng Pháp đã cấp cho nó sự trong sáng, sự minh bạch, sự chân xác hoàn toàn mới. Công việc hoàn thiện ngôn ngữ này còn cần phải được tiếp tục một cách kỹ lưỡng hơn, nhưng bước đi đầu tiên đã đi rồi, và nó chứng tỏ ngôn ngữ của chúng tôi một khi được đổi mới, được làm giàu thì nó hoàn toàn có khả năng dùng làm ngôn ngữ văn hoá.
Công cụ đã sẵn sàng. Vấn đề bây giờ là phải bắt tay xây dựng một nền văn hoá dân tộc mà chúng tôi đang thiếu. Nó sẽ là kết quả của sự kết hợp hài hòa Đông Tây, giống như ngôn ngữ làm phương tiện chuyển tải cho nó.
Như tôi đã nói ở bên trên, tiếng Nam mới đã thành công trong việc vay mượn ở tiếng Pháp một số phẩm chất: sáng sủa, chính xác, logic. Cái nền, tức là vốn từ vựng và những cách biểu đạt chính của cú pháp thì là của tiếng Nam, những hình hài thì đang chuyển theo dáng dấp Pháp rồi: dù sao đi nữa thì tiếng Pháp cũng đã bắt đầu in dấu vào tiếng Nam. Và đấy là công thức đúng. Công thức này cũng sẽ áp dụng cho nền văn hoá dân tộc mới của nước Nam. Cái nền ở đây sẽ bắt nguồn từ chính lối tư duy Viễn Đông, là Nho, Phật, Lão; nền văn hoá đó phải được tạo nên từ các "cổ học Hán-nôm" này mà việc giảng dạy chứng phải được tổ chức sao cho có phương pháp. Nhưng hình hài thì phải là kiểu khoa học Tây phương trong cả nội dung lẫn phương pháp, với kỹ thuật chắc chắn, khách quan rõ ràng, chính xác hoàn hảo và những nguyên lý chặt chẽ, mà vẫn không loại trừ phần trực giác vốn có của tri thức Đông phương, một thứ tri thức vừa khoa học vừa minh triết.
Tóm lại, “áp dụng hình thức khoa học Tây phương vào nội dung tri thức Đông phương” - như một nhà phê bình xuất sắc đã nói - đó là con đường phải theo để xây dựng một nền văn hoá dân tộc của nước Nam.
Ít ra thì tôi cũng hiểu như vậy về sự nghiệp cải cách trí tuệ và luân lý mà chúng tôi phải tiến hành ngay cùng với cuộc cải cách chính trị mà tôi đã có dịp trình bày nhiều lần liên tiếp.
Nguồn:  Tiểu luận viết bằng tiếng Pháp trong thời gian 1922-1932

Chủ nghĩa dân tộc


Phạm Quỳnh (*)

Tiểu luận viết bằng tiếng Pháp trong thời gian 1922-1932

Có một thực tế là kể từ khi có cuộc Đại chiến ở Châu Âu, thì phong trào dân tộc cũng có mạnh lên và có quy mô lớn chưa từng thấy. Kết quả của cú sốc lớn này của các dân tộc là nó làm tăng thêm tinh thần dân tộc không chỉ ở những nước tham chiến, mà còn cả ở những nước ít nhiều có liên quan đến cuộc xung đột kinh hoàng này. Nó đã thức tỉnh nhiều quốc gia đang ngủ quên, đã khơi dậy ý thức và sức sống cho nhiều quốc gia khác mới chi ở dạng tiềm tàng, đã tái sinh hay khơi dậy ở tất cả các quốc gia sự ham muốn sống cuộc sống tự do và độc lập của mình, duy trì và thèm khát nuôi dưỡng tất cả những gì - ngôn ngữ, truyền thống, phong tục tập quán - tạo nên đặc tính riêng của họ, phân biệt họ ra, khu biệt họ với các dân tộc khác.
Lại còn một trong vô số điều bất thường của cái thời đại chúng ta sống, ấy là nó vừa gia tăng việc coi trọng các đặc thù dân tộc thì tương ứng cũng có một phong trào quốc tế chủ nghĩa không gì kìm hãm nổi, mà mục tiêu của phong trào này không là gì khác hơn là loại bỏ các đường biên giới quốc gia và hòa trộn toàn nhân loại vào trong một vòng tay lớn.
Nhưng làn sóng dân tộc chủ nghĩa này mạnh mẽ nhất là ở những quốc gia bị các cường quốc Châu Âu xâm chiếm, bị biến làm thuộc địa. Cái hệ tư tưởng làm nền cho cuộc chiến - đấu tranh cho các Quyền, cho Công lý, vì sự giải phóng các dân tộc bị áp bức và các vùng "đất phải được đòi lại"(**) quyền tự quyết của các dân tộc, v.v... - đã tác động lên các dân tộc mất nước này mạnh hơn các dân tộc khác, bởi vì hệ tư tưởng đó đáp ứng được các khát vọng bấy lâu bị dồn nén, nay lại càng nóng bỏng và mãnh liệt. Được các chính quốc kêu gọi tham gia vào cuộc chiến, chính hệ tư tưởng này đã trụ đỡ cho họ trong suốt cuộc chiến. Hết chiến tranh thì cũng bắt đầu những điều vỡ mộng và ai ai cũng nhận ra sự tương phản giữa hệ tư tưởng này với cái thực tại rõ ràng là tàn nhẫn. Mối oán hận này chỉ càng làm tăng thêm sự gay gắt của chủ nghĩa dân tộc non trẻ, và ở một số nước người ta được chứng kiến nó liên minh với các luận thuyết cực đoan, cái liên minh này thể hiện ra thành những cuộc biến loạn ít nhiều nghiêm trọng và một tinh thần bài ngoại càng lúc càng gia tăng.
Nước Nam không nằm ngoài phong trào chung này.
Có một chủ nghĩa dân tộc của nước Nam bắt nguồn thậm chí còn trước cả chiến tranh 1914- 1918, từ thời bắt đầu cuộc xâm chiếm, nhưng nó đã gia tăng mạnh mẽ bởi các tác động của cuộc đại chiến thế giới.
Thực ra thì tinh thần dân tộc luôn luôn mãnh liệt ở nước chúng tôi. Chỉ cần đọc lịch sử của chúng tôi là nhận thấy rằng, bất chấp danh nghĩa chư hầu của Trung Quốc, nhưng mỗi cuộc xâm lăng của Trung Quốc, mỗi một tác động tạo ảnh hưởng mới của Trung Quốc lên đất nước này, đều tạo nên một sự bùng nổ tinh thần dân tộc trong quảng đại quần chúng, và các vị vua chúa của chúng tôi đều biết khéo léo khai thác để giành lại giang sơn, để đặt những nền móng cho một triều đại mới, hay là để khôi phục lại sự thống nhất đã bị lung lay vì các cuộc nội chiến.
Lịch sử thiết lập chế độ bảo hộ Pháp tại Trung Kỳ và Bắc Kỳ chỉ là một chuỗi các phong trào khởi nghĩa dưới các dạng khác nhau nhưng đều có khuynh hướng dân tộc chủ nghĩa rõ rệt. Thực tế là giới trí thức nước Nam cho tới tận gần đây vẫn luôn thù địch với trật tự mới. Ban đầu họ đứng ngoài các cuộc nổi dậy do các thủ lĩnh băng đảng xuất thân bình dân phát động, nhưng rồi họ cũng tham gia vào con đường cải cách kể từ sau khi Trung Quốc bị Nhật Bản đánh bại năm 1894. Những cuốn sách của các nhà cải cách Trung Quốc như Khang Hữu Vi, Lương Khải Siêu... đã ảnh hưởng sâu sắc lên giới trí thức cũ chịu ảnh hưởng của văn hóa Trung Hoa trong suốt hai mươi năm, từ 1895 đến khoảng 1914. Lúc đó nhiều trí thức đã chạy sang Trung Quốc và Nhật Bản và tất cả các sự kiện xảy ra trong thời kỳ này, đặc biệt là các sự kiện năm 1897, 1908, 1913, đều có sự kích động ít nhiều trực tiếp của các trí thức lưu vong ở nước ngoài.
Khi Chiến tranh thế giới thứ I sắp bùng nổ, số lượng các nhà nho này bắt đầu ít dần, do không còn người theo học sau khi Nho học và các kỳ thi lớn ba năm một lần bị bãi bỏ. Thay vào đó là một tầng lớp trí thức mới được đào tạo không theo lối Trung Quốc nữa, mà từ trường phái Châu Âu. Có người nghĩ rằng ngọn lửa ái quốc tích cực đã tắt cùng với những người Nho học cuối cùng. Nhưng hoàn toàn không phải như vậy. Giới trí thức mới đã tiếp nối trung thành các bậc cha chú của mình. Nhưng do thiếu kinh nghiệm chính trị, lại tin vào những lời hứa không tiếc lời trong các diễn văn hùng hồn của Toàn quyền Sarraut, họ đã bị hệ tư tưởng chiến tranh mà chúng ta đã nói ở trên cuốn đi. Thời hậu chiến đã mở mắt cho họ. Họ đã thấy rõ hơn hoàn cảnh của đất nước mình và đã tỏ ra một tinh thần dân tộc chủ nghĩa thậm chí còn hơn cả ở những người đi trước.
Qua bài thuyết trình cố gắng sao cho khách quan nhất này, ta thấy rằng chủ nghĩa dân tộc của người nước Nam có những gốc rễ sâu xa từ ngay trong lòng đất nước này, và hoàn cảnh mới đã tạo cho nó một sức mạnh mới. Nó đang trải qua một cuộc cách mạng có thể dẫn nó đi vào hai con đường khác hẳn nhau. Một con đường thứ nhất - nếu có thể nói như vậy - là một sự kết tinh của chủ nghĩa ái quốc nước Nam nhằm thực hiện một lý tưởng tiến bộ, thịnh vượng và độc lập qua các giai đoạn được sắp xếp khôn khéo và thận trọng; và một con đường thứ hai là chủ nghĩa dân tộc ấy sẽ liên minh với các luận thuyết cực đoan, mà các dấu hiệu tiên báo đã bộc lộ rõ ràng và chúng có thể cho ta đoán biết trước những hậu quả không thể lường cho hết được.
Lái cho cuộc cách mạng này theo hướng phù hợp nhất với lợi ích của chúng ta, không để nó chệch sang các hướng ngược lại, là việc hoàn toàn do các nhà cầm quyền của chúng ta quyết định. Định hướng chủ nghĩa dân tộc nước Nam, để bắt nó phục vụ sự nghiệp tiến bộ,cũng là việc hoàn toàn do họ quyết định. Cần phải làm gì để đạt được điều này?
Cần phải làm sao cho người nước Nam không còn có cảm giác họ là những người xa lạ trong tổ quốc của chính họ; họ phải có cảm giác rằng họ đã không mất tổ quốc này, và bằng cách ra sức củng cố trật tự hiện nay, họ phấn đấu cho sự thịnh vượng hôm nay và cho sự lớn mạnh của tổ quốc trong tương lai.
Đây là thời điểm quyết dịnh. Một quyết định khó khăn cần phải được đưa ra. Không biết các nhà lãnh đạo của chúng ta có khả năng đưa ra quyết định này hay không? (1929)

(*) Phạm Quỳnh (17 tháng 12 năm 1892 - 6 tháng 9[1] năm 1945) là một nhà văn hóa, nhà báo, nhà văn và quan đại thần triều Nguyễn (Việt Nam). Ông là người đi tiên phong trong việc quảng bá chữ Quốc ngữ và dùng tiếng Việt - thay vì chữ Nho hay tiếng Pháp - để viết lý luận, nghiên cứu. Ông có tên hiệu là Thượng Chi, bút danh: Hoa Đường, Hồng Nhân.
(**)Tác giả dùng chữ irrédentisme, một học thuyết chính trị có nội dung là đòi lại đất khởi nguồn từ những người dân tộc chủ nghĩa ở ltalia từ năm 1870, về sau đã thành cả một cao trào diễn ra ở hầu khắp các quốc gia trên thế giới, ở đâu cũng thấy “bất công” về đất đai, ở đâu cũng thấy dân tộc mình mất quá nhiều đất (Bolivie và Perou đòi đất vùng ven biển của Chili, Phần Lan đòi vùng Karelie của Nga, Pakistan đòi đất Cachemire của ấn Độ, Argentina đòi các đảo Malouines, Trung Hoa đòi Đài Loan, Pháp đòi vùng Alssace-Lorraine của Đức, Ba Lan đòi vùng Silésie v.v... Phạm Quỳnh muốn liên kết phong trào đòi độc lập tự do của Việt Nam vào bối cảnh chung đó (BT).
Nguồn:  Tiểu luận viết bằng tiếng Pháp trong thời gian 1922-1932

Tổng số lượt xem trang

free counters