Triết Lý, để làm gì ?

Khi ta bế tắc tư tưởng, chân thật công nhận rằng những kiến thức và phương pháp suy luận của ta không cho phép ta sống, tư duy và hành động khớp với khao khát làm người của ta, ngoài vô vàn cách ứng xử khác, ta có thể:

a) Tiếp tục sống, tư duy và hành động như cũ vì, dù sao, ta cũng sống được, không đến nỗi nào

b) Lột áo cũ, khoác áo mới, một tấm áo coi lành lặn đẹp đẽ hơn nhưng cũng hàm hồ không thua gì. Điều ấy luôn luôn khả thi bằng ngôn ngữ.

c) Đi tới cùng bế tắc của chính mình. Nếu không giải quyết được nó, ta ôm nó xuống suối vàng, để lại ở đời chỉ một câu hỏi. Câu hỏi của một con người. Đích thực. Có gì nhục đâu?

Nếu ta tưởng ta đã tìm ra một phần của giải pháp, ít nhất là cho riêng mình, thì cứ viết đi, chẳng cần trích cao nhân nào cả: họ đã là một phần của ta và ta đã phải “vượt” họ để nên mình.

Thế thôi.

(Chungta.com)

Góc nhỏ của Noby Vui Vẻ

Lục lọi, tìm tòi, đọc, cóp nhặt, chia sẻ, ... OK hay không tùy bạn ! ! !

“Nước độc lập mà dân chưa tự do thì độc lập cũng không có ý nghĩa”- Hồ Chí Minh.

2 thg 4, 2011

Hiến pháp và văn hóa bản địa



Bùi Ngọc Sơn

Bài học quan trọng nhất mà văn hóa Hiến pháp Mỹ có thể đem lại cho Việt Nam là: khác với Coca-Cola, KFC, Rock&Roll, thể chế không phải là một thứ mà người ta có thể dễ dàng nhập khẩu và thưởng thức. Bài viết khẳng định rằng các vấn đề hiến pháp cần phải được bối cảnh hóa trong điều kiện văn hóa bản địa, mặc dù không phủ nhận khả năng tiếp nhận các giá trị hiến pháp nước ngoài.
Trong một bài viết bàn về sửa đổi Hiến pháp ở Việt Nam, GS Tương Lai dẫn lại nhận xét của William Ewart Gladstone, Thủ tướng nước Anh (1809 - 1898) về Hiến pháp Mỹ như là “tác phẩm tuyệt vời nhất từng được sản sinh ra vào một thời điểm nhất định bởi trí óc và mục đích của con người".

Giáo sư không quên chú thích thêm rằng Hiến pháp Mỹ là “bản hiến pháp lâu đời nhất và nổi tiếng nhất với trên 200 năm lịch sử. Từ khi có hiệu lực năm 1789, bản Hiến pháp này đã là mô hình tham khảo để xây dựng hiến pháp của nhiều quốc gia phương Tây khác.”(1)  Thực sự trong việc sửa đổi Hiến pháp, Việt Nam có thể học được gì từ văn hóa Hiến pháp Mỹ?

Bài viết này trả lời rằng bài học quan trọng nhất mà văn hóa Hiến pháp Mỹ có thể đem lại cho Việt Nam là: khác với Coca-Cola, KFC, Rock&Roll, thể chế không phải là một thứ mà người ta có thể dễ dàng nhập khẩu và thưởng thức. Bài viết khẳng định rằng các vấn đề hiến pháp cần phải được bối cảnh hóa trong điều kiện văn hóa bản địa, mặc dù không phủ nhận khả năng tiếp nhận các giá trị hiến pháp nước ngoài.

Hiến pháp hay là lòng mộ đạo?

Thomas Jefferson, tác giả của Tuyên ngôn Độc lập của nước Mỹ, viết năm 1861 rằng: “Một số người nhìn hiến pháp với một lòng mộ đạo quá mức.” (2) Tinh thần mộ đạo đối với hiến pháp không chỉ giới hạn ở một số người mà trở thành đặc trưng chung của văn hóa hiến pháp của người dân Mỹ. GS Satanford Levinson ở ĐH Texas khái quát rằng “sự tôn kính” đối với Hiến pháp trở thành khía cạnh trung tâm của truyền thống chính trị Mỹ. Bản Hiến pháp, cùng với Quốc kỳ và Tuyên ngôn độc lập được coi là “bộ ba thánh thần” của “tôn giáo dân sự” của nước Mỹ (3).  GS Thomas C. Grey ở ĐH Stanford cũng nhận định: “Ngay từ thời điểm nó được phê chuẩn, người Mỹ đã coi Hiến pháp của Hợp chúng quốc không chỉ là một phương tiện pháp lý mà còn là một biểu tượng có tính chất thần thánh. Cùng với Quốc kỳ, nó là vật tổ của chúng ta.” (4)
2/3 dân số trên thế giới sống dưới các chính quyền hợp hiến không ít thì nhiều chịu ảnh hưởng của chủ nghĩa hợp hiến tự do phương Tây mà chủ nghĩa hợp hiến phương Tây đến lượt nó lại chịu sự chi phối của chủ nghĩa hợp hiến Mỹ.
Khi người ta sùng bái một vật thể, vật thể đó tất có tính chất quyết định đối với cuộc sống của người ta. Cũng tương tự như vậy, việc sùng bái Hiến pháp của người Mỹ được lý giải từ một thực tế là Hiến pháp có tính chất quyết định đối với cuộc sống của người dân. Mọi người dân Mỹ đều có thể xác định cương vị của mình bằng ngôn ngữ Hiến pháp; nói cách khác, người dân dựa vào hiến pháp để định vị thân phận của họ. Từ việc đi xe buýt, chào cờ ở các trường tiểu học đến vấn đề nạo phá thai, hôn nhân đồng giới, hình phạt tử hình, và nói chung những vấn đề chính trị quan trọng của quốc gia, cuối cùng rồi người ta cũng viện dẫn đến Hiến pháp để giải quyết. Các vấn đề luật pháp Mỹ chẳng chóng thì chầy sẽ trở thành các vấn đề Hiến pháp.

Điều đáng nói là sự sùng bái Hiến pháp Mỹ không chỉ giới hạn ở những người dân Mỹ: các quốc gia khác nhau trên thế giới cũng ngưỡng mộ bản Hiến pháp này. Một thực tế có tính chất toàn cầu là các chuẩn mực của chủ nghĩa hợp hiến phương Tây như phân quyền, pháp quyền, nhân quyền, tài phán hiến pháp đang chiếm ưu thế và được “cấy” vào những vùng khác nhau của thế giới. 2/3 dân số trên thế giới sống dưới các chính quyền hợp hiến không ít thì nhiều chịu ảnh hưởng của chủ nghĩa hợp hiến tự do phương Tây mà chủ nghĩa hợp hiến phương Tây đến lượt nó lại chịu sự chi phối của chủ nghĩa hợp hiến Mỹ.

Tuy nhiên, con đường vay mượn thể chế gian nan hơn rất nhiều việc trực chờ để được sở hữu phiên bản mới nhất của một sản phẩn công nghệ thông tin. Xây dựng thể chế về mặt hình thức là một chuyện, nhưng thực thi nó lại là chuyện khác.

Một học giả Mỹ cho rằng những văn bản hiến pháp được xây dựng nửa cuối thế kỷ 20 chỉ là những sự sao chép về mặt hình thức, còn thực tế chính trị lại khác xa. (5) Người ta có thể dễ dàng giải khóa các sản phẩm công nghệ có bản quyền, nhưng không dễ kích hoạt các thể chế Mỹ, dù rằng không có bản quyền, trong những môi trường khác. Lý do nằm ở chỗ các thể chế có điều kiện hoạt động của nó. Thể chế có thể hoạt động tốt ở nước này nhưng lại trục trặc ở nước khác do điều kiện bản địa khác nhau.

Người Mỹ đã “vay mượn hiến pháp” như thế nào?

Trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay, khi các giá trị hiến pháp của một quốc gia được tiếp nhận và thực hiện ở các nền tài phán khác, các học giả quốc tế bàn nhiều hơn đến sự “vay mượn hiến pháp” (constitutional borrowing). Trong bối cảnh đó, Hiến pháp Mỹ được “vay mượn” ở nhiều khu vực khác nhau, và đâu đó người ta cho rằng Hiến pháp là mặt hàng xuất khẩu quan trọng nhất của nước Mỹ. Tuy nhiên, bản thân Hiến pháp Mỹ cũng là một sự “vay mượn.” Các nhà lập hiến Mỹ đã vay mượn khá nhiều từ hệ thống hiến pháp của Anh (kể cả các tập quán chính trị lẫn các văn bản hiến pháp như Đại hiến chương Magna Carta, Luật dân quyền, Luật đình quyền giam giữ…)

Hơn một trăm năm trước đây, GS Christopher Tiedeman (1857-1903), một nhà hiến pháp học kinh điển của nước Mỹ, thuộc ĐH Missouri, đã cho rằng: “Hiến pháp của Liên bang cũng như các hiến pháp của tiểu bang ở Mỹ là sự phát triển tiếp theo một cách tự nhiên của Hiến pháp Anh, được điều chỉnh một số chi tiết và nguyên tắc bởi bối cảnh mới.” (6)

Thực vậy, không khó để chỉ ra những dấu ấn của Hiến pháp Anh trong Hiến pháp Mỹ: hệ thống phân chia quyền lực, những giới hạn của quyền lực hành pháp, chế độ lưỡng viện, hệ thống tư pháp độc lập… Nhà chính trị học Robert Lowry Clinton giúp chỉ ra rằng trong 21 khoản của 4 điều đầu tiên của Hiến pháp Mỹ (những điều khoản chính về cấu trúc lập pháp, hành pháp và tư pháp), ít nhất có 16 khoản có nguồn gốc từ các quy tắc Hiến pháp của Anh.

Không chỉ hiến pháp gốc, các tu chính án của Hiến pháp Mỹ cũng vay mượn nhiều từ nguồn Anh. Cũng theo Clinton, Luật dân quyền Anh đã cung cấp những quy tắc cho các nhà thảo hiến Mỹ trong những tu chính án liên quan đến dân quyền của nước Mỹ. Cụ thể, ít nhất 17 trong số 28 quy phạm ở 8 tu chính án đầu tiên của Hiến pháp Mỹ có nguồn gốc từ hệ thống thông luật Anh (7).

Nói như vậy không có nghĩa Hiến pháp Mỹ không có bản sắc riêng. Kỳ thực, nhiều quy tắc của Hiến pháp Mỹ phản ánh những đòi hỏi của bối cảnh mới khi các thuộc địa mới dành được độc lập như như hệ thống liên bang, chế độ tổng thống, chủ quyền nhân dân thay cho chủ quyền nghị viện…

Dù vay mượn từ Hiến pháp Anh, Hiến pháp Mỹ đã hoạt động thành công và tạo nên sự ngưỡng mộ của thế giới. Lý do của sự thành công này là gì? Các thể chế của Hiến pháp Anh hoạt động thành công ở Mỹ thực chất là vì chủ nghĩa hợp hiến Mỹ là vì sự liên tiếp của văn minh Anglo-Saxons ở vùng đất mới bên bờ kia Đại Tây Dương. Tiedeman đã nhận xét: “Hiến pháp Anh và Mỹ hoạt động hiệu quả, tạo nên sự ngưỡng mộ của những người nghiên cứu chính trị không phải do sự xuất sắc trừu tượng cố hữu của chúng- vì không khó chỉ ra những khiếm khuyết rõ ràng, mà do chúng là sản phẩm tự nhiên của nền văn minh Mỹ-Anglo. Các đặc tính của văn minh Anglo-Saxons như yêu chuộng tự do, tuân thủ pháp luật, và tinh thần bảo thủ, dù không tìm thấy trong bản văn hiến pháp, nhưng là những yếu tố bảo đảm cho sự vững bền của chính phủ tự do ở nước Anh và nước Mỹ.” (8)

Với thực tế đó, chúng ta cần suy nghĩ lại nhận xét Thủ tướng Anh Ewart Gladstone về Hiến pháp Mỹ như là “tác phẩm tuyệt vời nhất từng được sản sinh ra vào một thời điểm nhất định bởi trí óc và mục đích của con người.” “Sự tuyệt vời” của tác phẩm không phải ở chỗ nó chứa đựng các định chế tân tiến mà chính là ở chỗ nó phản ánh một cách trung thành nhất sự liên tục tự nhiên của văn hóa. Nếu như vậy, nó không phải được sản sinh “bởi trí óc và mục đích của con người”. Nó giản đơn chỉ là sự phản chiếu tự nhiên của một nền văn minh được mở rộng.

Tóm lại, văn hóa hiến pháp Mỹ đem lại một bài học quý giá rằng các hiến pháp chỉ thành công khi được cấy rẽ vào nguồn của nền văn hóa bản địa. Sự vay mượn hiến pháp chỉ thành công khi được sự ủng hộ của bối cảnh bản địa.

Tiếp nhận hiến pháp ở Việt Nam: một ví dụ từ quy định bỏ phiếu tín nhiệm

Đầu năm 2001 Việt Nam cải cách hiến pháp và một số thể chế nước ngoài được tiếp nhận. Điển hình nhất là chế độ bỏ phiếu tín nhiệm, theo đó, Quốc hội được trang bị thêm thẩm quyền mới là “bỏ phiếu tín nhiệm đối với những người giữ các chức vụ do Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn.” (khoản 7, Điều 84). Dễ nhận ra rằng đây là một sự tiếp nhận có điều chỉnh của chế độ bỏ phiếu bất tín nhiệm được áp dụng phổ biến trong các chế độ đại nghị ở Châu Âu.
Chế độ bỏ phiếu tín nhiệm của Quốc hội Việt Nam là một sự tiếp nhận có điều chỉnh của chế độ bỏ phiếu bất tín nhiệm được áp dụng phổ biến trong các chế độ đại nghị ở Châu Âu nhưng đã được điều chỉnh cho phù hợp với môi trường chính trị Việt Nam: bỏ phiếu bất tín nhiệm được mềm hóa thành bỏ phiếu tín nhiệm; bỏ phiếu đối với cá nhân thay cho bỏ phiếu đối với tập thể.
Bỏ phiếu tín nhiệm hay bỏ phiếu bất tín nhiệm là thể chế được thiết kế để ngành lập pháp có thể bày tỏ thái độ không hài lòng và áp đặt trách nhiệm đối với ngành hành pháp. Thể chế được điều chỉnh cho phù hợp với môi trường chính trị Việt Nam: bỏ phiếu bất tín nhiệm được mềm hóa thành bỏ phiếu tín nhiệm; bỏ phiếu đối với cá nhân thay cho bỏ phiếu đối với tập thể. Mặc dù vậy, thể chế này, trong một thập kỷ qua chưa từng hoạt động. Cũng cần lưu ý rằng điều này không có nghĩa vấn đề bỏ phiếu tín nhiệm chưa từng được đặt ra trước Quốc hội. Chúng ta có thể nhớ lại ấn tượng gần đây nhất về một vị đại biểu Quốc hội đặt vấn đề bỏ phiếu tín nhiệm đối với người đứng đầu ngành hành pháp nhân vụ Vinashin. Tuy nhiên, Quốc hội chưa từng bỏ phiếu tín nhiệm đối với ai kể từ khi thể chế này được xây dựng từ năm 2001.

Có lẽ có nhiều nguyên nhân khác nhau, nhưng một trong những nguyên nhân quan trọng là thể chế không nhận được sự ủng hộ của văn hóa bản địa. Liên quan đến những cọ xát giữa lập pháp và hành pháp, tinh thần bằng hữu hay văn hóa hài hòa có giá trị chi phối hơn là các thể chế chính thức. “Dĩ hòa vi quý” có lẽ không chỉ là một phương châm giải quyết tranh chấp dân sự để tránh con đường kiện tụng nơi tòa án mà còn trở thành quy tắc ứng xử mang tính chất bao quát hơn trong đời sống chính trị.

Vài lời kết

Hiến pháp cũng như luật pháp là một bộ phận của văn hóa. Các hiến pháp chân thực, không phải hiến pháp hình thức, bao giờ cũng là sự phản ánh trung thành văn hóa bản địa. Sự gắn kết với văn hóa bản địa là điều kiện để hiến pháp vận hành trên thực tiễn thay vì trở thành hữu danh vô thực. Nếu hiến pháp được xem như khế ước của một cộng đồng, nó phải được xây dựng và điều chỉnh trên nền tảng lối sống, cách nghĩ, những mong muốn chung, những xu hướng chung được một cộng đồng chấp nhận.

Bài viết này, trong khi không có ý dựa vào “chủ nghĩa liên quan văn hóa” để phủ nhận khả năng tiếp nhận thể chế ngoại sinh, đề nghị rằng học thuật trong nước cũng như các nhà xây dựng thể chế quốc gia cần xem xét nhiều hơn đến sự tương quan của văn hóa bản địa đối với việc thiết lập, điều chỉnh và vận hành thể chế.

1. Xem: Để dân trao quyền mà không mất quyền: http://tuanvietnam.net/2010-08-29-de-dan-trao-quyen-ma-khong-mat-quyen.

2. David N.Mayer. The Constitutional Thought of Thomas Jefferson (Virgina: University of Virgina Press, 1994), p 296.

 3. Satanford Levinson, Constitutional Faith (New Jersey: Princeton University Press, 1988), p11.

 4. Thomas C. Grey, “The Constitution as Scripture” 37 Stanford Law Review p 17

5. David T Butle Ritchie, “Critiquing Modern Constitutionalism” (2004) Vol 3: 37 Appalachian Journal of Law p 45.

6. Christopher Tiedeman, The Unwritten Constitution of the United States (New York: William S.Hein& Co., Inc, 1974), p 26.

7. Do khuôn khổ bài viết có hạn, chúng tôi không tiện chỉ ra nội dung cụ thể. Ban đọc quan tâm xin tham khảo: Robert Lowry Clinton, God and Man in Law: The Foundations of Anglo-American Constitutionalism (Lawrence, Kansas: University Press of Kansas, 1997), pp 96-98. Trong phần viết này, Clinton chỉ ra cụ thể điều khoản nào của Hiến pháp Mỹ có nguồn gốc từ văn bản nào trong hệ thống Hiến pháp nước Anh.

8. Christopher Tiedeman, tlđd, p 26.

Dẫn theo T/c Tia Sáng

"Cái tôi" của người Việt Nam qua một giai đoạn phát triển



Tạp chí Hoạt động khoa học
Những nghiên cứu về “cái tôi”, “tôi - không tôi”, “tôi - chúng ta”, “tôi - tôi”, cũng như tính cộng đồng và tính cá nhân đã được tiến hành trong lĩnh vực tâm lý học, nhưng đây mới chỉ là bước đi đầu tiên. Bằng phương pháp phân tích các cứ liệu ngôn ngữ(*), tác giả đã chỉ ra “cái tôi” - sự tự ý thức của mình trong quan hệ với người xung quanh. Qua đó, chúng ta cũng hiểu thêm về nhân cách người Việt.
“Cái tôi” của con người là một hiện tượng tâm lý, một hiện tượng xã hội. Về cơ bản, “cái tôi” có liên quan đến tự ý thức về những khác biệt giữa bản thân mình với những người xung quanh. “Cái tôi” nổi lên trước hết với tư cách là một chủ thể ý thức, chủ thể của các hiện tượng tâm lý trong một chỉnh thể thống nhất. Những đặc trưng nổi bật của “cái tôi” là chủ thể, tính ý thức, tính khẳng định. Đó là khởi nguyên, là sự bắt đầu của quá trình điều hoà hành vi bởi hệ giá trị, bởi các hiện tượng tâm lý và hoạt động tâm lý. Đó cũng là hạt nhân, là cái cốt lõi đầu tiên của con người, của động cơ người: Tại sao tôi hành động? Tôi hành động vì mục đích gì và tuân theo những giá trị gì?
Từ “cái tôi” bị che khuất…
Người Việt Nam từ khi biết nói đến khi trưởng thành ít xưng “tôi”. Phải chăng như thế là không có “cái tôi” và những người ở các nước khác do dùng đại từ nhân xưng “tôi” mà nghiễm nhiên đã có “cái tôi”. ở đây, chúng tôi muốn từ cách tiếp cận ngôn ngữ học để tìm hiểu những biểu hiện đặc thù của “cái tôi” ở người Việt Nam và sự phụ thuộc của nó bởi các quan hệ xã hội, các quan hệ người - người.
Từ lúc tập nói - theo truyền thống và giáo dục gia đình, đứa trẻ không tự xưng tôi, mà xưng và gọi người khác bằng vị trí và vai trò có trong quan hệ với nó. Đứa trẻ xưng là con, cháu, em… trong quan hệ với các thành viên trong gia đình. Với bạn bè cùng lứa tuổi, ở phạm vi gia đình, đứa trẻ mới xưng là “tao”, “tớ”, “choa” và gọi đối tượng giao tiếp là “bạn”, “cậu”, “mày”… Đằng sau vị trí và vai trò mà đứa trẻ tự nói ra là những quy tắc, quy phạm của hành vi ứng xử xã hội tương ứng. Đã là con, là em, là cháu thì phải ứng xử với vai trò, vị trí, vị thế đã được quy định trong quan hệ với mọi đối tượng. Giao tiếp với các thành viên trong gia đình, cũng như ngoài họ mạc, đứa trẻ được thừa hưởng những tình cảm yêu thương, đùm bọc, nâng niu dưới nhiều hình thức. Mặt khác, đứa trẻ cũng phải chấp nhận những thứ bậc được quy định theo huyết thống và bậc thang xã hội của nó, của bố - mẹ nó. Là con trưởng hay con thứ, là nam hay nữ, là cháu đích tôn hay không, là thành viên của chi trên hay chi dưới trong dòng họ…, tất cả đều gắn liền với quan hệ huyết thống và liên quan với nó là những quyền và lợi ích cụ thể. Thứ bậc huyết thống và xã hội đè nặng lên “cái tôi”. “Cái tôi” gửi gắm, phó thác và tan biến vào các quan hệ huyết thống, quan hệ xã hội, nên bị che khuất và lu mờ.
Những quan hệ giữa chủ thể và khách thể mang tính huyết thống không chỉ được mở rộng trong phạm vi một họ, một làng mà cả dân tộc. Trong giao tiếp với nhau, người Việt thường lấy danh từ chỉ họ hàng như bố, mẹ, chú, bác… để thay thế cho đại từ nhân xưng. Cách xưng hô bằng danh từ quen thuộc chứ không phải bằng đại từ được sử dụng rộng rãi trong phạm vi toàn xã hội. Điều này có tác dụng làm thân thiết hoá, gần gũi hoá các quan hệ người - người. Vậy là mô thức ứng xử trong ra đình được mở rộng và kéo dài đến phạm vi toàn xã hội. Người ta tự xưng hô và tự gọi nhau một cách tự nhiên bằng những từ bố, mẹ, chú, dì, anh, chị… Quan hệ giữa tướng và lính được ví như cha - con. Trong hai cuộc kháng chiến vừa qua, các chiến sỹ đi khắp mọi miền của Tổ quốc, đến đâu họ cũng có các bà mẹ, các ông bố, các chị, các anh… Tình hình đó cho thấy, “cái tôi” dường như đã lẫn vào các quan hệ “máu thịt” của cộng đồng, vào khối đoàn kết của dân tộc. “Cái tôi” thiên về tình cảm hơn là về lý trí, thiên về phong tục tập quán hơn là về pháp luật, thiên về tâm lý xã hội hơn là hệ tư tưởng. Với quan niệm “một giọt máu đào hơn ao nước lã”, với nếp nghĩ “một người làm quan, cả họ được nhờ”, người ta ít ý thức về “cái tôi” của mình, do đó trở thành mờ nhạt, thấp thoáng trong quan hệ người - người trong xã hội.
Một xu hướng đã hình thành như là một nét truyền thống trong giao tiếp của người Việt từ xa xưa là các chủ thể thường tự gọi mình bằng các từ chỉ một vị thế thấp hơn với nghĩa khiêm nhường. Không kể quan hệ bất bình đẳng về vị thế, mà ngay trong giao tiếp rất thân mật, rất bình đẳng không quy định đẳng cấp xã hội và đẳng cấp huyết thống, người ta không muốn bộc lộ mình ở vị thế xã hội cao. Những người hát quan họ ở những làng kết chạ, kết nghĩa với nhau, khi tiếp xúc đều gọi nhau là “liền anh”, “liền chị” và ai cũng là “liền em” từ hai phía giao tiếp. Ngay cả những trí thức, những học giả ở những thập niên đầu của thế kỷ XX, trong ngôn ngữ giao tiếp, trong những bức thư gửi cho nhau, họ vẫn theo xu hướng khiêm nhường, thông qua cách gọi khách thể bằng “đại ca”, “đại huynh” và tự xưng mình là “tiểu đệ”, “kẻ mạo muội này”… Trong cách xưng hô ấy, người Việt muốn biểu thị sự tôn kính, sự lễ độ và lòng khiêm nhường, đôi khi là sự khúm núm, nhu nhược, sợ hãi. ở đây, “cái tôi” (đã hình thành trong chủ thể ở một mức độ nào đó) vẫn không dám tự khẳng định trong đại từ “tôi” mà vẫn muốn hoà tan vào cộng đồng những người ở cạnh, không dám tách bạch để phân biệt với “mọi người”, theo châm ngôn “xấu đều còn hơn tốt lỏi”.
Hiện tượng gọi nhau bằng một tên chung vẫn duy trì cho đến ngày nay và chắc chắn sẽ còn được bảo lưu trong một thời gian lâu dài. Người ta đã lấy con số để gọi tên cho mỗi người. Tất cả những người con thứ đều được gọi theo thứ tự, chẳng hạn bằng chú Ba, dì Ba, và cứ như thế cho đến bác Mười, thím Mười… bên cạnh tên thật vốn có. Với cách giao tiếp đó, quan hệ người - người đã được “huyết thống hoá” trên một phạm vi rộng lớn của xã hội, một mặt nó làm thân mật hoá quá trình tiếp xúc, xoá đi bức rào về đẳng cấp, thứ bậc, tâm lý; mặt khác, nó cũng dẫn đến tính chất gia đình chủ nghĩa, làm cho “cái tôi” trở nên không xác định, không tách bạch. Chúng ta hẳn chưa quên tục gọi đứa trẻ bằng một tên gọi chung. Tất cả những bé trai khi sinh ra đều có sẵn một cái tên giống nhau là thằng “Cu”, thằng “Cò”. Tất cả những bé gái cũng có một tên chung không phân biệt để gọi là con “Thẽm”, cái “Hĩm”. Cái tên chung đó không chỉ được sử dụng trong giao tiếp cho mọi đứa trẻ, mà còn được dùng để gọi cả bố - mẹ chúng (anh Cu, chị Thẽm). Mặc dù đã có tên riêng từ lúc khai sinh nhưng đến khi bắt đầu lớn, đứa trẻ mới được gọi là tên chính thức, tên thật của mình. Tuy nhiên, tên thật đó cũng không hẳn là tên riêng của nó, vì nó còn dùng để gọi cả cha - mẹ, ông - bà nó. Đứa trẻ tên là Thành thì bố - mẹ được gọi là ông Thành, bà Thành; ông - bà nội thì được gọi là cụ Thành. “Cái tôi” như thế còn mang nặng tính cộng đồng và trở thành “cái tôi - nhà”. Về mặt sinh học, đứa trẻ đã là một thực thể liên đới và phụ thuộc ở một mức độ rất lớn. Thế nhưng “cái tôi” của nó vẫn chưa thực sự là “tôi”.
Chính sự hoá thân vào cái “ta” nói trên đã tạo ra sự giáo hoán dễ dàng trong nhận thức của người Việt giữa “tôi” và “ta”, “mình” và “ta” và sự phân tích khúc triết đâu là chính mình với cái ta ngay ở trong một tiếng “mình”, xa hơn là tiếng “ai” đang đòi hỏi được giải đáp. Đó là trường hợp cả chủ thể và khách thể đều lấy từ “ai”, từ “mình” để tự biểu hiện. Chẳng hạn như: “Ai về Đồng tỉnh, Huê cầu/Để thương để nhớ để sầu cho ai” hoặc “Nhớ ai ra ngẩn vào ngơ/Nhớ ai, ai nhớ, bây giờ nhớ ai”. Người ngoài cuộc giao tiếp chỉ có thể căn cứ vào hoàn cảnh cụ thể mà xét đoán ai là chủ thể, ai là khách thể. Còn người trong giao tiếp thì dựa vào chỗ ai là người nói, ai là người nghe mà tự hiểu lấy. Đây cũng là một biểu hiện không xác định của “cái tôi”.
“Cái tôi” của chủ thể còn được thể hiện bằng vật đối xứng này trong quan hệ với đối xứng kia. Đó là những trường hợp như “trúc - mai”, “thuyền - bến”, “rồng - mây”, “mận - đào”. Thậm chí cả những cặp trạng từ chỉ địa điểm như “đây - đấy”, “bên này - bên kia”, “đằng này - đằng ấy”, “tấn - tần”… cũng được sử dụng để biểu trưng cho quan hệ chủ thể - khách thể. “Cái tôi” ở đây được bộc lộ một cách thi vị, một cách tế nhị, nhưng vẫn ở một vị trí đằng sau, bị che khuất, không muốn đứng soi đôi, không muốn cùng đối diện. Ngay cả quan hệ đã được thừa nhận cả về mặt tình cảm đạo đức và pháp lý như quan hệ vợ chồng, mà người ta vẫn không dám đi cùng với nhau ở những chỗ đông người.
Tuy vậy, “cái tôi” với cá tính và nhân cách của mình cũng được người Việt khai thác trong những tình huống giao tiếp nhất định, phần lớn là giao tiếp không chính thức. Chẳng hạn, khi cãi lộn, đánh chửi nhau, một đứa trẻ chưa hề được ai gọi là “bố”, là “ông”, là “cụ” nhưng nó vẫn nói kiểu như: “Lại đây bố mày bảo!”, “Đến đây ông mày dạy!”, “Để cụ mày dạy cho mày một bài học!” - những vị trí mà trên thực tế trẻ không có, nhưng chúng vẫn sử dụng để đề cao vị trí của mình. Hồ Xuân Hương cũng từng viết: “Lại đây chị dạy làm thơ” hay như Nguyễn Trãi từng nói: “Cho biết rõ cái thằng tao”. Đó chính là tự sự khẳng định lâm thời, có điều kiện, thiên về tình huống chứ không mang tính xã hội của “cái tôi” ở vị thế cao hơn hoặc ngang bằng. “Cái tôi” của người Việt trong quá khứ vẫn chủ yếu được gửi gắm, phó thác vào “cái ta” và “cái mọi người”. Không bộc lộ cá nhân, người ta nói: “Xấu đều còn hơn tốt lỏi”; không muốn tách biệt khỏi cộng đồng, người ta cho rằng: “Chết một đống hơn sống một người”; thiếu trách nhiệm cá nhân, đổ lỗi cho tập thể, người ta biện bạch: “Toét mắt là tại hướng đình/Cả làng toét mắt chứ mình tôi đâu”… Còn biết bao nhiêu nếp nghĩ, nếp cảm nói lên sự hoà tan, cào bằng - nhân cách trong cộng đồng. “Cái tôi” chỉ biết phục tùng cái mà cộng đồng tuân thủ, chỉ biết bảo vệ cái mà mọi người giữ gìn, chỉ biết bắt chước cái mà các thành viên khác đang làm. Đó chính là dấu hiệu của cái tôi chưa phát triển.
Đến “cái tôi” tự khẳng định hơn
Với ảnh hưởng của các cuộc vận động xã hội của cách mạng, “cái tôi” ở người Việt Nam hiện nay đã có những biến đổi sâu sắc, được biểu hiện khá rõ rệt và rất đa dạng. Quá trình xã hội hoá cá nhân ngày càng nhanh, quá trình dân chủ hoá xã hội càng sâu sắc thì “cái tôi” ngày càng vững vàng và tự khẳng định mạnh mẽ.
Văn học Việt Nam từ thập kỷ đầu của thế kỷ XX đã bắt đầu đề cao cá nhân và đề cao sự giải phóng con người. Ngôn ngữ văn học, bên cạnh những đại từ nhân xưng vốn là những danh từ ngôi thứ ba như “chàng”, “nàng”, “anh”, “em”, “ta”, “mình”… đã bắt đầu xuất hiện bóng dáng của “cái tôi”. Qua câu thơ: “Nhà nàng ở cạnh nhà tôi/cách nhau cái dậu mùng tơi xanh rờn”, có thể thấy một sự quá độ từ cộng đồng sang cá nhân, từ chỗ chưa xác định đến chỗ xác định. Với nhiều tiểu thuyết và thi ca khác, “cái tôi” xuất hiện nhiều hơn và rõ hơn. Cho đến câu thơ của Chế Lan Viên: “Đường về thu trước xa xa lắm/Mà kẻ đi về chỉ một tôi” thì “cái tôi” ở đây mới được biểu hiện ra một bản chất đích thực của nó: tự ý thức, tự chủ, tự thân, tự khẳng định, độc lập, khác với người xung quanh, với đồng loại, đứng đối diện với mọi người, chứ không phải nép vào bên cạnh, đứng đằng sau người khác như trước đây. Từ chỗ chỉ dám dùng những từ “mình”, “ta”, “ai” không tách bạch, không xác định giữa chủ thể và khách thể đến chỗ “mà kẻ đi về chỉ một tôi” là một bước ngoặt lớn, một bước tiến trên con đường tự khẳng định, tự xác định, tự chủ của “cái tôi”. Như vậy, tự khẳng định, tự xác định, tự chủ, tự thân, tự ý thức về chính mình, về cá tính của mình đã có những biểu hiện rõ ràng hơn trong sự tiến hoá từ cá thể đến con người, đến cá nhân, đến cá tính và nhân cách. Đó cũng chính là nội hàm của khái niệm nhân cách.
Một số đặc điểm về “cái tôi” của người Việt
- “Cái tôi” hiện hữu không chỉ trong mỗi chủ thể cá thể, mà cả trong chủ thể tập thể. ở Việt Nam, có thể thấy các tầng bậc phát triển của “cái tôi - cá thể” và “”cái tôi - tập thể”. Nói cách khác, “cái tôi - cá thể” ở người Việt Nam không tách rời với “cái tôi - nhà”, “cái tôi - họ”, “cái tôi - làng”, “cái tôi - nước”. Đó là bốn chủ thể tập thể đại diện cho mỗi người cá thể. Chủ thể tập thể càng nhỏ thì tác động của nó lên mỗi thành viên càng lớn, càng trực tiếp và tính không chính thức càng nhiều. Sự thiếu hụt của “cái tôi - cá thể” được bù đắp bởi “cái tôi - tập thể”. Vị thế của “cái tôi - cá thể” lớn dần thì vị thế của “cái tôi - tập thể” nhỏ dần.
- “Cái tôi” ở người Việt Nam với tư cách là một chủ thể cá thể thường xuất hiện chậm. Nó chỉ là một cá thể mảnh mai, yếu ớt, bé nhỏ như cây sậy biết nói, như từng chiếc đũa trong một bó đũa. Nó bị che khuất, bị giấu kín, bị nhạt nhoà, ẩn nấp đằng sau những nhóm xã hội gần gũi nhất. Nó phải phụ thuộc, phải nương nhờ, phải trông cậy vào “cái tôi - nhà”, “cái tôi - họ”, “cái tôi - làng”. Các chủ thể tập thể này hình thành càng sớm, tồn tại càng lâu thì tính cách của nó càng ổn định, càng bền vững và sự chi phối, sự chế ước của nó đối với từng chủ thể cá thể càng mạnh, càng lớn, xét về mặt tích cực cũng như tiêu cực.
- Sự tồn tại lâu dài của “cái tôi - nhà”, “cái tôi - họ”, “cái tôi - làng”, “cái tôi - nước” là tất yếu và không thể tránh khỏi. Thiên tai và địch hoạ xảy ra liên tục từ ngàn xưa cho đến tận bây giờ là những lý do khách quan làm cho “cái tôi cộng đồng” ưu trội hơn “cái tôi cá nhân”. Dẫu rằng từ trong bản chất, mỗi cá nhân đã là một đơn vị cuối cùng, là một đơn vị không thể cắt chia, nhưng nó vẫn chỉ là một thành viên của cộng đồng. Nó luôn được chủ thể tập thể động viên, khích lệ, duy trì, củng cố một tình cảm, một ý chí, một năng lực, một tính cách cộng đồng, nhân sức mạnh của mỗi cá nhân lên gấp bội trong cuộc sống và trong hoạt động cộng đồng.
- Những tiêu cực của “cái tôi - nhà”, “cái tôi - họ”, “cái tôi - làng”, “cái tôi - nước” bộc lộ ở chỗ nó kìm hãm, làm chậm sự phát triển của cá nhân, của “cái tôi - cá thể”. Do vậy, dẫn đến thiếu tự chủ, tự lập, trách nhiệm, sáng kiến, dũng cảm, quyết đoán cá nhân, luôn ỷ vào sức mạnh của số đông… là những đặc trưng mang tính phổ biến trong xã hội nông nghiệp cổ truyền. “Cái tôi” đích thực của mỗi con người, do đó xuất hiện chậm chạp, muộn mằn. Chỉ những khi không còn lối thoát, những lúc cùng quẫn như “con giun xéo lắm cũng quằn”, “cái tôi” của những người bị áp bức, bị bóc lột đến cùng cực mới vùng dậy, “một sống, một chết” với kẻ thù.

* V. Vundt, nhà tâm lý học người Đức giữa thế kỷ XIX đã nhận xét, biểu tượng chung của nhiều người, của một dân tộc người thể hiện trước hết trong ngôn ngữ, rằng ngôn ngữ hàm chứa những hình thức chung nhất, những biểu tượng từng tồn tại trong tâm hồn dân tộc. Từ những ý tưởng trên, tác giả đã sử dụng từ ngữ để phân tích “cái tôi” ở người Việt Nam

Dẫn theo Chungta.com

Người Việt Nam có thể làm nhà, cầu, cống không sụp đổ?


(VTC News)- Ông Nguyễn Văn Thường (Hội Vật lý Việt Nam): “Các vụ sập đổ nhà cửa, cầu cống, lật cần cẩu mà tôi quan sát đều do lực uốn gây ra. Rất nhiều công trình khi xảy ra tai nạn người ta không rõ nguyên nhân vì đã tính toán rất chuẩn theo lý thuyết nhưng dựa vào lý thuyết của tôi thì lý giải được ngay: đó là do lực uốn chúng ta đã bỏ qua, không tính đến… Nếu áp dụng lý thuyết của tôi thì cầu cống vừa an toàn, vừa tiết kiệm tới 20% nguyên vật liệu”.

Ngày 31/3 tại Liên hiệp các hội Khoa học và kỹ thuật VN, Báo Khoa học & đời sống đã tổ chức cuộc tọa đàm :”Vật lý cơ học của Việt Nam có đi trước thế giới?” để nhằm giải quyết những tranh luận hiện nay trong một số nhà khoa học Vật lý.

Lý thuyết không khớp với thực tế

Ông Nguyễn Văn Thường, (Hội Vật lý VN) cho rằng một số lý thuyết cơ học đang dạy cho học sinh phổ thông, đại học, cao học có những điểm chưa chuẩn xác. Ông lấy dẫn chứng cho phóng viên khi ngay tại 2 quyển sách là Vật lý lớp 10 (NXB Giáo dục) và cuốn Bồi dưỡng học sinh giỏi phổ thông – Cơ học 1 (NXB Giáo dục) viết về cùng 1 nội dung nhưng cũng có 2 lý thuyết khác nhau.

Ông Thường chia sẻ: “Tôi rất mừng là mới đây sách THPT đã đưa những phát hiện này vào giảng dạy nhưng ở bậc đại học và cao học thì chưa. Tôi chỉ có mong muốn duy nhất là nghiên cứu này nếu đúng phải được công nhận, được áp dụng để giảm các tai nạn thương tâm”.

Ông Nguyễn Văn Thường chỉ ra những nội dung chưa hợp lý giữa 2 cuốn sách Vật lý cùng viết về 1 nội dung và cùng do NXB Giáo dục phát hành (Ảnh: Phạm Thịnh) 

Sau hàng chục năm nghiên cứu, ông Nguyễn Văn Thường phát hiện ra rằng các lực chỉ độc lập với nhau khi chúng vuông góc với nhau. Từ phát hiện này ông nâng lên thành Nguyên lý độc lập Việt Nam được in vào sách Bồi dưỡng học sinh giỏi phổ thông – Cơ học 1 (NXB Giáo dục) dạy cho học sinh THPT từ năm 2009.

Ông Thường cho rằng: “Trong xây dựng nhà cửa, cầu cống, theo quan sát của tôi, khi anpha giảm nhỏ tới 0, lực kéo nén các thanh sẽ tiến tới 0, bù lại lực uốn tiến đến cực đại bằng P. Trong khi đó giáo trình lại dạy rằng, lực kéo nén tiến đến vô cùng và không có uốn. Đây là một trong những nguyên nhân chính gây đến sụp đổ cầu cống, nhà cửa mà không tìm ra nguyên nhân".

Theo ông Thường, các vụ sập đổ nhà cửa, cầu cống, lật cần cẩu do ông quan sát đều do lực uốn gây ra. Rất nhiều công trình khi xảy ra tai nạn người ta không rõ nguyên nhân vì đã tính toán rất chuẩn theo lý thuyết nhưng dựa vào lý thuyết của ông Thường thì lý giải được ngay: đó là do lực uốn chúng ta đã bỏ qua, không tính đến.

“Ngược lại, những công trình còn đứng vững là do ta áp dụng hệ số an toàn cao (bằng 2,5- có nghĩa đáng xây một cây cầu thì đã thành xây 2 cầu nên không sụp đổ nhưng lại tốn kém). Nếu áp dụng lý thuyết của tôi thì cầu cống vừa an toàn, vừa tiết kiệm tới 20% nguyên vật liệu”. Ông Thường khẳng định.

Ông Thường giải thích sự sụp đổ của cầu cống, lật cần cẩu bằng các thực nghiệm do ông trực tiếp làm và nghiên cứu (Ảnh: Phạm Thịnh) 

Phát hiện này theo ông, ảnh hưởng to lớn đến cuộc sống. Ví dụ, từ trước đến nay trong xây dựng cầu cống, lắp đặt cần cẩu, bằng lý thuyết cũ người ta chỉ tính đến lực kéo và nén nhưng Nguyên lý độc lập của ông Thường còn tính đến cả lực uốn- một lực quan trọng nếu không tính đúng, tính đủ sẽ gây sập đổ cầu cống, nhà cửa, lật cần cẩu.

Phát hiện này hiện đang gây tranh cãi trong giới khoa học, trong các nhà làm sách.

Cần gửi công trình đi kiểm chứng


GS. Vũ Quang- Chuyên viên Viện Khoa học giáo dục, Bộ GD&ĐT  kể lại vào năm 1988 có gặp ông Thường và được xem thực nghiệm của ông Thường và cũng cảm thấy rất hay.

Ông Quang cũng cho biết : “Đích thân tôi đã dẫn ông Thường đến nhà cụ Ngụy Như Kon Tum, nguyên hiệu trưởng trường ĐH Tổng Hợp, cụ nói :”Hay quá!” và đích thân cụ đạp xe đến chỗ GS.VS Nguyễn Văn Hiệu, Viện trưởng Viện KHVN để giới thiệu. Ngay lập tức ông Hiệu tổ chức luôn 2 cuộc hội thảo để đánh giá hiệu quả kinh tế của đề tài. Về ý kiến của riêng tôi, thí nghiệm của ông Thường có tính chất thuyết phục, phù hợp điều chúng tôi suy nghĩ trước đó. Đúng là liên kết cứng và động hoàn toàn khác nhau. Tuy nhiên, lý thuyết này vẫn cần các nhà khoa học về cơ học phát biểu thêm”.

Các nhà khoa học công nhận một số kết quả thực nghiệm của ông Nguyễn Văn Thường  

Ông Tô Giang- chuyên viên Viện Khoa học VN, Bộ GDĐT lại cho rằng những phát hiện của ông Thường là không mới vì sách giáo khoa vật lý của ta cách đây hơn 20 năm dựa trên sách giáo khoa của Liên Xô (cũ) là chủ yếu.

Ông Tô Giang nhận xét : “Theo tôi thì thế giới đã biết vấn đề này mặc dù họ không có phát hiện như ông Thường nhưng họ đã tránh các lỗi sai bằng phép chiếu lực lên hai trục dọc tọa độ. Ông Thường đã làm thực nghiệm để tìm ra cái sai trong quan niệm cũ về liên kết và phân tích lực, điều đó rất đáng ghi nhận.

PGS.TS Phạm Bích San- GĐ Văn phòng tư vấn phản biện các vấn đề xã hội ( Liên Hiệp hội khoa học Việt Nam) gợi ý ông Thường nên viết các kết quả mình nghiên cứu để gửi đăng tại các tạp chí vật lý uy tín trên thế giới. Nếu nghiên cứu của ông Thường được khẳng định tôi nghĩ rằng nó sẽ mang lại lợi ích cực kỳ lớn, đặc biệt là tiết kiệm chi phí nguyên vật liệu trong xây dựng cũng như đảm bảo an toàn cho hàng loạt công trình.

 PGS.TS Phạm Bích San gợi ý nên gửi các kết quả này đến các hội đồng Vật lý uy tín trên thế giới

Ông Nguyễn Quốc Bảo-Hội Trí thức, khoa học và công nghệ trẻ VN cũng ủng hộ quan điểm là cần đưa những tài liệu của ông Thường dịch ra tiếng Anh để gửi đi những nơi uy tín trên thế giới để thẩm định. “Hội Tri thức khoa học và công nghệ trẻ sẽ giúp ông Thường về kinh phí cũng như tra cứu vì việc này diễn ra quá lâu, đến nay chúng ta cần làm càng sớm càng tốt”.


 Bằng nghiên cứu của mình, ông Thường đã đăng ký bản quyền tác giả với tác phẩm:”Những phát hiện mới về cơ học và vật lý có liên quan đến một số giáo trình cơ bản tại Hà Nội- Việt Nam 1965-2000” số 348/2005/QTG. Ông cho biết, nghiên cứu của mình có từ năm 1965 nên nếu Anh, Pháp, Mỹ...phát hiện trước năm 1965 thì công trình đó là của họ còn từ 1965 trở về sau thì phải của người VN và ta hoàn toàn có quyền tự hào về điều đó.

Phạm Thịnh
Theo VTC news

Tổng số lượt xem trang

free counters