Triết Lý, để làm gì ?

Khi ta bế tắc tư tưởng, chân thật công nhận rằng những kiến thức và phương pháp suy luận của ta không cho phép ta sống, tư duy và hành động khớp với khao khát làm người của ta, ngoài vô vàn cách ứng xử khác, ta có thể:

a) Tiếp tục sống, tư duy và hành động như cũ vì, dù sao, ta cũng sống được, không đến nỗi nào

b) Lột áo cũ, khoác áo mới, một tấm áo coi lành lặn đẹp đẽ hơn nhưng cũng hàm hồ không thua gì. Điều ấy luôn luôn khả thi bằng ngôn ngữ.

c) Đi tới cùng bế tắc của chính mình. Nếu không giải quyết được nó, ta ôm nó xuống suối vàng, để lại ở đời chỉ một câu hỏi. Câu hỏi của một con người. Đích thực. Có gì nhục đâu?

Nếu ta tưởng ta đã tìm ra một phần của giải pháp, ít nhất là cho riêng mình, thì cứ viết đi, chẳng cần trích cao nhân nào cả: họ đã là một phần của ta và ta đã phải “vượt” họ để nên mình.

Thế thôi.

(Chungta.com)

Góc nhỏ của Noby Vui Vẻ

Lục lọi, tìm tòi, đọc, cóp nhặt, chia sẻ, ... OK hay không tùy bạn ! ! !

“Nước độc lập mà dân chưa tự do thì độc lập cũng không có ý nghĩa”- Hồ Chí Minh.

29 thg 9, 2011

Hồ Ngọc Đại - “Kẻ gieo bất hòa”



LÊ THỌ BÌNH

(VietNamNet) - Năm 1967, rời Liên Xô về nước, với tấm bằng tiến sĩ tâm lý học (đầu tiên ở Việt Nam) trong tay, lại có một vị thế cực kỳ thuận lợi: con rể đương kim Tổng Bí thư Lê Duẩn, có thể nói Hồ Ngọc Đại có một lợi thế xã hội mà công chức thời bấy giờ nằm mơ cũng không có được. Chiếc ghế Thứ trưởng Bộ Giáo dục đào tạo (là bước đệm để làm Bộ trưởng) đã đợi sẵn để ông ngồi vào. Nhưng Hồ Ngọc Đại đã... từ chối và xin cho được đi dạy... lớp một! Và thế là từ đấy Công nghệ giáo dục (hay còn gọi là Công nghệ Hồ Ngọc Đại), mà người dân lâu nay vẫn gọi nôm na là giáo dục thực nghiệm, ra đời.

Từ ngôi trường thực nghiệm 91 ở Matxcơva

Cái ý nghĩ sang Liên Xô học để “xem bên đó người ta giỏi tới đâu và kém ở chỗ nào” xuất hiện trong Hồ Ngọc Đại, chàng trai Quảng Trị, vào giữa những năm 60 của thế kỷ 20. Hồ Ngọc Đại kể: “Sau khi nghe tôi nói ý định muốn đi sâu nghiên cứu giáo dục nhằm nâng cao nghiệp vụ sư phạm, một người bạn vong niên đã khuyên: cậu có gan đi vào sư phạm sao không đi hẳn vào tâm lý học?” - Một lời khuyên ngẫu hứng chăng? Chỉ biết rằng lời khuyên ấy đã thuyết phục được tôi và tôi dứt khoát tìm cách nghiên cứu tâm lý học”.

Cuối năm 1960 Hồ Ngọc Đại sang Liên Xô làm nghiên cứu sinh tại Trường đại học Lômônôxốp. Tại đây ông đã được gặp các nhà sư phạm nổi tiếng như Galperin, Elkônhin, Đavưđốp… Trường thực nghiệm số 91 ở Matxcơva, như ông mô tả, là “cuốn sách tâm lý học” mở ra trước mắt ông. Hàng ngày tới trường trực tiếp theo dõi các giờ thực nghiệm trên lớp, Hồ Ngọc Đại tự mày mò làm các phép thử đo nghiệm trên những trẻ em đang học. Và ông bất chợt nhận ra rằng các nhà tâm lý học - thầy của mình đã “dùng công cụ mới vào việc chuyên chở vật liệu cũ”. Nói cho rõ hơn là, trong toán học ở cấp một phổ thông chẳng hạn, các thầy mới chỉ dám “đại số hóa” những nội dung số học, chứ chưa dám đi xa hơn. Có thể sửa chữa được trì trệ này chăng? Hồ Ngọc Đại đề nghị: “Cho tôi thử dạy toán hiện đại cho trẻ em ngay từ lớp một và cấp một”. Làm được chăng? Đa số bỏ phiếu chống. Chỉ có 2 người ủng hộ. Một người là Viện sĩ V. Đavưđốp, hơn Hồ Ngọc Đại 5 tuổi, ủng hộ với lý do: “Lạ thật! Chúng ta nghiên cứu khoa học, chúng ta lại đi ngăn cản một nhà khoa học tìm tòi chăng?”. Người thứ hai là một viện sĩ lão thành, nhưng với một cái thở dài: “Thôi được chàng trai trẻ ạ, cậu cứ làm đi. Nếu thành công thì vòng nguyệt quế sẽ khoác lên đầu cậu, còn thất bại thì lão già này sẽ gánh chịu vậy”.
Hai vòng thực nghiệm dạy toán hiện đại cho trẻ em lớp một, lớp hai và ba (bậc tiểu học ở Liên Xô khi đó) đã thành công và luận án tiến sĩ của Hồ Ngọc Đại là bản tổng kết công cuộc thực nghiệm đó.
“Công nghệ Hồ Ngọc Đại”
Sau 7 năm tu nghiệp Hồ Ngọc Đại về nước với một mộng ước lớn lao là cải cách nên giáo dục đương thời. Tuy nhiên làm một cái mới là điều cực kỳ khó khăn. Và vì vậy một thời gian khá dài Hồ Ngọc Đại là người rất “cô độc”. Ông đi tới đâu ở đấy lập tức chia thành hai phe. Người vỗ tay ào ào tán dương, kẻ đập bàn rầm rập phản đối. Thời bấy giờ có nhà văn đã đặt cho ông cái biệt danh “Kẻ gieo bất hòa”.
Thực ra thì với một lợi thế xã hội (là con rể đương kim Tổng Bí thư Lê Duẩn) và học vấn như ông, Hồ Ngọc Đại dư thừa điều kiện để “thăng quan tiến chức”. Nhưng rồi ông tiến sĩ ấy lại đi xin với Nhà nước là cho đi dạy lớp một. Có rất nhiều người đã không hiểu và không thể nào hiểu nổi hành vi “dại dột” đó của Hồ Ngọc Đại. Hồ Ngọc Đại kể: “Có lần tôi được mời tới để giao cho chức Thứ trưởng Bộ giáo dục. Tôi nói: Các anh cho tôi đi dạy lớp một thôi!. Họ tròn mắt ngạc nhiên. Tôi nói: Làm Thứ trưởng giỏi hơn tôi có, nếu không cỡ hàng trăm, cũng vài chục người, Còn dạy lớp một giỏi hơn tôi không phải ai cũng làm được đâu”. Quan niệm của Hồ Ngọc Đại là dứt khoát và rõ ràng: “Đi học về là để dạy người”. May thay khi ấy còn có không ít người hiểu được Hồ Ngọc Đại. Vì thế ông đã xây dựng được một tập thể khoa học giáo dục đổi mới toàn diện. Nếu như khi học nghề Hồ Ngọc Đại mới thử dạy toán hiện đại cho trẻ em từ lớp một đến lớp ba ở Liên Xô, thì giờ đây ông mong muốn “chữa lại” toàn bộ cuộc đời học tập trong nhà trường phổ thông cho trẻ em Việt Nam. Hồ Ngọc Đại quan niệm nhà trường phải là nơi diễn ra cuộc sống hạnh phúc của trẻ em. Nhà trường ấy không có roi vọt răn đe, không có cả thi cử, thậm chí không cho điểm. Học tập đối với trẻ em là sự đam mê và thích thú. Ông nói: “Lớp học là nơi lần đầu tiên trong đời trẻ em tự làm vệc trí óc một cách có hệ thống”. Trẻ em học tiếng mẹ đẻ, nhưng không phải theo kiểu đánh vần leo lẽo theo cô giáo, mà như một nhà ngữ âm học để tự tạo cho mình năng lực phân giải ngữ âm theo tiếng mẹ đẻ. Học toán, nhưng không phải là học thuộc lòng bảng cộng trừ nhân chia, mà từng trẻ em lớp một, cấp một phải hình thành thao tác tư duy toán học để rồi cuối cùng chính các em lập được bảng cộng trừ nhân chia.
Hướng đi và cách làm trong hệ thống giáo dục của Hồ Ngọc Đại đã đưa người thày vào vị trí khác hẳn: thầy là người hướng dẫn, cộng sự với trò. Nói tóm lại là công việc dạy và học sẽ được đúc kết lại thành các thiết kế sao cho mọi thầy giáo đều thi công cùng học trò trên lớp học và cho ra sản phẩm tương đương với sản phẩm thực nghiệm. Cách làm đó Hồ Ngọc Đại gọi là CÔNG NGHỆ DẠY HỌC.
Công việc này được Hồ Ngọc Đại thực sự bắt đầu từ năm học 1978-1979 ở Giảng Võ, Hà Nội. Lựa chọn Hà Nội để thể nghiệm một phương pháp giáo dục hầu như còn hoàn toàn xa lạ với người Việt Nam thời bấy giờ, Hồ Ngọc Đại đã đem cả cuộc đời và học vấn tiến sĩ để “đánh cược” với nền giáo dục truyền thống hiện tại.
Ban đầu chỉ là một cơ sở thực nghiệm khoa học giáo dục vẻn vẹn có hơn chục cán bộ nghiên cứu và giáo viên. Đến nay hệ thống giáo dục thực nghiệm đã được xây dựng ở phần lớn các tỉnh thành trong cả nước. Tuy nhiên có một điều kỳ lạ là, ngay từ khi công nghệ giáo dục này ra đời, cho tới nay đã gần 25 năm tồn tại, nhưng người ta vẫn không ngớt tranh luận về hiệu quả đích thực của nó. Người khen cũng nhiều, mà kẻ chê cũng không phải là ít. “Chia rẽ khi tiếp nhận cái mới là chuyện bình thường, là hiện tượng lành mạnh”- Hồ Ngọc Đại nói.
Vâng, công nghệ giáo dục của Hồ Ngọc Đại là như vậy.

Nguồn: dlu.edu.vn 

Phùng Quán - Bức chân dung tự vẽ



 (TT&VH) - Nhân dịp nhà thơ Phùng Quán được đặt tên cho một con đường tại tỉnh Thừa Thiên - Huế, nỗi nhớ anh lại trào dâng trong tôi. 


Phùng Quán - ký họa sổ tay, bút sắt
của Đỗ Đức, tháng 3/1993
Có lẽ đi nhẹ nói khẽ trong các nhà văn, nhà thơ tôi có dịp gặp gỡ thì anh Quán giữ vị trí quán quân. Anh đến lặng lẽ, đi lặng lẽ, uống rượu thì còn lặng lẽ hơn. Tôi chỉ thấy anh sôi nổi khi đọc thơ.Đêm Nghi Tàm, đọc thơ Đỗ Phủ cho vợ nghe, Vịnh cây xương rồng, Vịnh cây mận... là những bài thơ viết đêm thì sáng hôm sau anh đến 19 Nguyễn Bỉnh Khiêm khoe ngay. Cũng chẳng hẳn anh khoe với chúng tôi, mà vì phòng tôi có một “hồng nhan tri kỷ” với anh, người biên tập ấy mê thơ anh và mê giọng đọc của anh...

Hầu như hơn mười mấy năm chơi với nhau tôi thấy duy nhất có một lần anh Quán nổi giận. Anh nổi giận khi bình bốn câu ca dao:

Trong đầm gì đẹp bằng sen
Lá xanh bông trắng lại chen nhị vàng
Nhị vàng bông trắng lá xanh
Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn”. 

Bài ca dao rất đẹp về hoa sen. Nhưng không hiểu sao, tôi nhớ lúc ấy cơn giận bốc ngùn ngụt, mắt anh quắc lên. Anh bảo: Tất cả tráo trở ở chữ “gần”. Sen chỉ “gần” chứ không kết tinh từ bùn thối. Khi thành đạt nó khước từ nguồn gốc, nó là bọn tráo trở với giống nòi sinh ra nó - anh gằn giọng:  

Mặc cho câu ca được cả nước lưu truyền  
Và đời vẫn tin là ca ngợi phẩm chất của sen
 Nhưng tôi không thể nào tin được
Câu ca này gốc gác tự nhân dân  
Bởi câu ca sặc mùi phản trắc
Của những phường bội nghĩa vong ân!”. 

Ngừng một lát anh đọc tiếp, gằn từng chữ, phẫn uất:

“Vốn con cái của giai cấp cùng khổ
Chúng chòi lên cuộc đời quyền lực vàng son
Nghĩ đến mẹ cha chúng xấu hổ
Chúng mưu toan giấu che từ bỏ
Nói xa gần chúng mượn chuyện, sen
Chính là sen mọc lên từ trong đó
Gốc của sen là thăm thẳm bùn đen
Nhị vàng, bông trắng, lá xanh...
Tất cả, tất cả, tất cả...! Là do bùn hôi nuôi dưỡng
Ngay cả hương thanh khiết ta đặt lên bàn thờ cúng
Xương thịt của bùn
Cũng là tanh! Như nhân dân
Gian truân, thầm lặng, vô danh
Đã sinh ra vĩ nhân, anh hùng, nghệ sĩ”. 

Anh gục đầu xuống bàn, hai vai rung lên: Nhân danh bùn, nhân danh sen, tôi đề nghị: Đuổi câu phản trắc này khỏi kho báu dân gian
Đến hôm nay, sau mấy chục năm anh đi xa tôi vẫn không quên hình ảnh anh đọc thơ hôm đó! Đó là cách anh bày tỏ thái độ của mình, đến mức quyết liệt và gay gắt về một bài ca dao. Chúng ta có thể đồng tình hoặc không đồng tình với “cách hiểu” của anh, nhưng rõ ràng anh cũng chỉ mượn câu ca dao đó để gửi gắm quan điểm nhân sinh, lẽ yêu, ghét của mình. 
Viết đến đây tôi lại nhớ lần anh ở Huế ra. Hôm ấy anh đến sớm, phòng mới chỉ có mình tôi . Anh bảo: “Đức ơi, kiếm cho anh cái bát”. “Để làm gì anh?” - tôi băn khoăn. “Cứ kiếm ra cho mình” - anh nói. 
Tôi xuống nhà lấy lên chiếc bát ăn cơm. Anh run run đón cái bát đặt xuống góc nhà, rồi gỡ tay nải đeo trên vai moi ra một vốc mẩu gỗ vụn. Anh lặng lẽ xòe diêm, châm rồi lẩm bẩm đọc:

 “Mới nhìn tưởng gỗ mục
đốt lên mới biết là trầm”... 

Một mùi hương thơm nhè nhẹ bốc lên, phút sau tràn ngập căn phòng. 
Bao nhiêu năm sau tôi vẫn nhớ giọng anh hôm ấy, hiền từ và nhẹ nhàng như lời tự sự. 
Hai câu thơ ấy của anh không có trong tuyển tập, cũng chưa từng viết ra trên giấy. Cũng chẳng ai biết. Anh chỉ đọc trong lúc xuất thần khi đốt trầm trong phòng với tôi. Chắc chính anh cũng không nhớ. 
Anh Quán ơi, đó là bức chân dung đẹp nhất và cũng chân thực nhất mà anh tự vẽ cho mình, anh có biết không?

Họa sĩ Đỗ Đức


Trần Đức Thảo với nền Giáo dục Đại học Việt Nam


TS. Cù Huy Chử & Luật sư Cù Huy Song Hà [1]

Kể từ ngày 4/9/1949, khi Chủ tịch Hồ Chí Minh ký sắc lệnh cử Giáo sư Trần Đức Thảo tham gia Hội đồng quốc gia giáo dục (khi Giáo sư còn ở Pháp) cho đến năm 1956, khi Giáo sư tạm thời ngừng giảng dạy đại học để tập trung nghiên cứu khoa học, ông đã để lại những ấn tượng hết sức sâu đậm trong lòng nhiều đồng nghiệp (cũng là những nhà khoa học-giáo dục lớn của đất nước). Hơn nữa, trí tuệ uyên bác của ông đã hấp dẫn nhiều thế hệ sinh viên đại học trong những năm tháng đầu tiên của nền Sư phạm đại học miền Bắc thời kỳ hòa bình mới lập lại.
Trên cương vị là thành viên của Hội đồng quốc gia giáo dục, Giáo sư Trần Đức Thảo đã tham dự nhiều cuộc họp quan trọng do Bộ trưởng Giáo dục Nguyễn Văn Huyên chủ trì, nhằm xây dựng và phát triển nền Đại học Việt Nam theo tinh thần Dân tộc-Khoa học-Đại chúng của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Những ý kiến đóng góp của Giáo sư Trần Đức Thảo tập trung vào năm vấn đề chủ yếu sau:
1. Mối quan hệ giữa giáo dục đại học và giáo dục chuyên nghiệp
2. Mối quan hệ giữa nghiên cứu khoa học cơ bản và nghiên cứu khoa học ứng dụng
3. Mối quan hệ giữa đào tạo các nhà khoa học với đào tạo cán bộ
4. Mối quan hệ giữa khoa học tự nhiên và khoa học xã hội
5. Vai trò của khoa học xã hội-nhân văn
Đặc biệt, trong các cuộc họp với lãnh đạo Bộ Giáo dục vào các ngày 24-11-1954, 1-12-1954, 8-12-1954, Giáo sư Trần Đức Thảo đã đóng góp những ý kiến cụ thể như sau[2]:
Một là, chuyên nghiệp và nghiên cứu không thể tách rời nhau, mà còn cần phải đi đôi với nhau, vì nghiên cứu là khoa học thuần túy, mà chuyên nghiệp là thực tế. Muốn phát triển chuyên nghiệp, cần phải đi sâu vào nghiên cứu. Ở trình độ Đại học, nghiên cứu lại là một việc rất cần. Các giáo sư không nghiên cứu thì bài giảng không được chu đáo. Thêm nữa, cần phải hiện đại hóa nội dung giảng dạy, phải áp dụng vào việc giảng dạy những kiến thức mới của các nước Liên Xô, Trung Quốc, v.v… Nói ngay đến lịch sử Việt Nam cũng cần phải khai thác những tài liệu bị mai một.
Về vấn đề chuyên nghiệp, Giáo sư Trần Đức Thảo đã cho rằng, nên đặt trọng tâm vào hai ngành: Y Dược và Sư phạm. Nhưng ông nhận xét cần phải đào tạo một số cán bộ đối ngoại, có một trình độ văn hóa khá, để có thể tiếp xúc với các quan khách ngoại quốc. Vì vậy, ngoài Y Dược và Sư phạm, cũng cần có một ngành chuyên môn phiên dịch.
Bên cạh đó, phương hướng nghiên cứu là văn hóa dân tộc, văn hóa của các nước dân chủ và cả các nước tư sản, vì mục đích là phục vụ nền giáo dục cho được rộng rãi. Còn về vấn đề tổ chức đại học thì nên lập một Hội đồng Đại học do Bộ Giáo dục triệu tập, gồm hai Ban thương trực để theo dõi thường xuyên hoạt động của các ngành.
Hai là, trong thời kỳ kháng chiến, vì thiếu tài liệu, nên các giáo sư ít được dịp nghiên cứu, học hỏi thêm. Bây giờ cần phải kéo lại chỗ thời giờ bỏ phí, và được tích cực học hỏi tìm tòi, để đối với nền văn hóa mới của các nước dân chủ, không bị quá lạc hậu. Do vậy, cần thiết phải ra đời một tổ chức nghiên cứu có hệ thống. Còn một lý do xa xôi nữa, thì nghiên cứu còn có tác dụng là bảo đảm uy tín cho văn hóa nước nhà, vì hiện nay, muốn nghiên cứu về sử, địa Việt Nam, vẫn phải dùng tài liệu bằng tiếng Pháp hay tiếng Anh.
Ba là, nói về khả năng phát triển của ngành Văn khoa, do những nhu cầu thực tế của giai đoạn hiện tại (nhu cầu sư phạm, về nghiên cứu viên, nhu cầu về cán bộ phục vụ các ngành…), do những nhu cầu ấy, cần phải có một trường Đại học Văn khoa, trong đó sẽ chia ra từng bộ môn chuyên nghiệp. Muốn phát triển Văn khoa Đại học cần phải có một bộ phận nghiên cứu. Bộ phận nghiên cứu đi đôi với bộ phận giảng dạy để giúp đỡ giáo sư đề tài giảng dạy. Bộ phận nghiên cứu đó còn góp một phần vào việc đấu tranh văn hóa, nhất là riêng về các vấn đề Việt Nam: nghiên cứu để có một cái vốn về văn hóa dân tộc, về văn hóa Á Đông, để trau dồi cái truyền thống tư tưởng Á đông, và đồng thời cũng có một cái vốn về văn hóa các nước khác.
Bốn là, Giáo sư Trần Đức Thảo cho rằng, có ba lý do cần phải mở một trường Đại học Văn khoa:
+ Thứ nhất, đại học nên hướng về chuyên nghiệp, để đáp ứng nhu cầu quốc gia. Nhưng ngoài hai trọng tâm Y, Sư phạm, nên đặt thêm trọng tâm vào một khối chuyên môn văn khoa, gồm các ngành báo chí, văn nghệ, đối ngoại.
+ Thứ hai: để thỏa mãn yêu cầu của thanh niên xin học Văn khoa ngày một đông. Nếu chỉ tập trung sinh viên vào Sư phạm Văn khoa thì có vẻ như cưỡng bách sinh viên. Hiện tượng cho ta thấy rằng số sinh viên ghi tên vào học hai ban tương đương nhau. Nếu bỏ hẳn ban Đại học văn khoa, ta không thỏa mãn được đòi hỏi của một số đông học sinh, ta không chiếu cố được học sinh miền Nam, ta không đào tạo được cán bộ văn hóa hiện nay rất cần.
+ Thứ ba: tuy có nhiều khó khăn, nhưng ta cũng có đủ khả năng về giáo sư để mở ngay một một Đại học Văn khoa. Năm thứ nhất, chương trình giống với chương trình Sư phạm Văn khoa, giáo sư sẽ dạy chung hai trường. Do đó, không ngại thiếu giáo sư để mở Đại học Văn khoa, vì chính những giáo sư dạy ở Đại học Văn khoa cũng là những giáo sư dạy ở Sư phạm Văn khoa. Vả lại chương trình năm đầu của 2 ban là chương trình chung, chỉ khác vài môn. Giáo sư Trần Đức Thảo nhấn mạnh, mở một trường Đại học Văn khoa đồng thời với trường Sư phạm Văn khoa chỉ có lợi, chứ không có trở ngại gì.
Năm là, nói chung, nền giáo dục Đại học Việt Nam cần được nâng cao về số lượng và chất lượng, trước hết nhằm đảm bảo sự phát triển của đất nước về mọi mặt, từ kinh tế đến chính trị, đến văn hóa, từ đối nội đến đối ngoại. Nhưng điều quan trọng và rất căn bản là, nền giáo dục Đại học có nhiệm vụ rất nặng nề là: phải nâng tầm trí tuệ, tầm nghiên cứu khoa học của Việt Nam lên ngang tầm thế giới. Chúng ta hoàn toàn có thể làm được việc này, vì về nhiều mặt, văn hóa Việt Nam mang tính độc đáo, có bản sắc riêng, chẳng những so với các nước trên thế giới nói chung, mà ngay cả so với các nước trong khu vực nói riêng. Điều đó thể hiện rõ trong sự phát triển ngôn ngữ, các loại hình nghệ thuật, đặc biệt là lịch sử và khoa học nghiên cứu lịch sử đã tạo ra các tác gia, tác phẩm lịch sử lớn ở nhiều thời kỳ. Chúng ta một mặt phải tận dụng những vốn liếng, tư liệu, tài liệu của ta đã có, một mặt khác phải khai thác những tài liệu khoa học của thế giới, nhất là các ngành sử học, khảo cổ, triết học, nhân học để bổ sung vào vốn liếng của ta, nhằm làm rõ con người Việt Nam về mọi mặt. Đó là con đường tốt nhất tạo ra khả năng tự giải phóng để vươn tới tự do.
Trần Đức Thảo đã thực hiện những tư tưởng ấy trong hoạt động giảng dạy triết học, lịch sử khi ông là Giáo sư đại học, là Trưởng khoa Lịch sử và đồng thời là Phó Giám đốc Trường Đại học Hà Nội.
Trần Đức Thảo cũng rất quan tâm rằng đại học Việt Nam phải đào tạo ra những nhà ngoại giao có tài năng, các nghệ sĩ, các nhà văn hóa nhiều năng lực sáng tạo mang tầm quốc tế. 
Suy ngẫm về sự phát triển của nền giáo dục trong gần 70 năm qua, có nhiều thành công nhưng cũng có nhiều nhược điểm, chúng ta thấy những ý kiến trên đây của Trần Đức Thảo là rất đúng. Nhưng có lẽ cái đúng nhất là Trần Đức Thảo đã đặt con người, đội ngũ thầy giáo và sinh viên vào vị trí trung tâm của sự phát triển. Bản thân Trần Đức Thảo là sự chứng minh cho những ý kiến mà ông đề xuất. Trần Đức Thảo đã vượt qua mọi khó khăn, trở ngại để giữ vững là nhà khoa học có vị trí cao ở tầm quốc tế.

TP. Hồ Chí Minh, 19/9/2011

[1] Tác giả gửi tặng bài này cho tạp chí Văn hóa Nghệ An.
[2] Nguồn: Nguyễn Văn Huyên toàn tập, Tập 3. NXB Giáo dục, 2005, tr. 1142-1165. 
Tác giả gửi cho viet-studies ngày 23-9-11

Sinh Viên Khoa Khoa Học Chính Trị





















Tổng số lượt xem trang

free counters