Triết Lý, để làm gì ?

Khi ta bế tắc tư tưởng, chân thật công nhận rằng những kiến thức và phương pháp suy luận của ta không cho phép ta sống, tư duy và hành động khớp với khao khát làm người của ta, ngoài vô vàn cách ứng xử khác, ta có thể:

a) Tiếp tục sống, tư duy và hành động như cũ vì, dù sao, ta cũng sống được, không đến nỗi nào

b) Lột áo cũ, khoác áo mới, một tấm áo coi lành lặn đẹp đẽ hơn nhưng cũng hàm hồ không thua gì. Điều ấy luôn luôn khả thi bằng ngôn ngữ.

c) Đi tới cùng bế tắc của chính mình. Nếu không giải quyết được nó, ta ôm nó xuống suối vàng, để lại ở đời chỉ một câu hỏi. Câu hỏi của một con người. Đích thực. Có gì nhục đâu?

Nếu ta tưởng ta đã tìm ra một phần của giải pháp, ít nhất là cho riêng mình, thì cứ viết đi, chẳng cần trích cao nhân nào cả: họ đã là một phần của ta và ta đã phải “vượt” họ để nên mình.

Thế thôi.

(Chungta.com)

Góc nhỏ của Noby Vui Vẻ

Lục lọi, tìm tòi, đọc, cóp nhặt, chia sẻ, ... OK hay không tùy bạn ! ! !

“Nước độc lập mà dân chưa tự do thì độc lập cũng không có ý nghĩa”- Hồ Chí Minh.

18 thg 9, 2011

TƯ DUY PHÁT TRIỂN VÀ SỰ PHÁT TRIỂN CỦA ĐẤT NƯỚC



LƯƠNG ĐÌNH HẢI (*)
 
Trong bài viết này, trên cơ sở phân tích một cách khái quát thực trạng của đất nước trong bối cảnh mới, tác giả khẳng định rằng cần thiết phải có một tư duy mới, quan niệm mới hay lý thuyết phát triển mới thì mới có thể đưa đất nước phát triển nhanh hơn. Đồng thời, tác giả cũng phân tích một số khía cạnh, nội dung cơ bản của tư duy mới dựa trên yêu cầu phát triển đột phá và những tiền đề nhất định đã xuất hiện ở nước ta hiện nay.

Một trong những đặc điểm nổi bật của Việt Nam trong giai đoạn phát triển hiện nay là tính chất sản xuất nhỏ vẫn ảnh hưởng và chi phối mọi mặt của đời sống xã hội. Trong tư duy, suy nghĩ, lối sống và nói chung trong toàn bộ nền văn hoá dân tộc, từ văn hoá dân gian đến văn hoá bác học, từ sản xuất vật chất đến đời sống tinh thần, tính chất sản xuất nhỏ thể hiện khá đậm nét. Tuy nhiên, cũng phải thấy rằng, không phải mọi thứ nảy sinh trong nền sản xuất nhỏ ngày nay đều là bất hợp lý, là lạc hậu, cản trở sự phát triển. Nhưng, tính chất sản xuất nhỏ với tính cách tàn dư quá khứ lại gây ảnh hưởng trái chiều một cách mạnh mẽ đến sự phát triển của tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội hiện đại. Nhận thức đúng những biểu hiện và tác động trái chiều của tính chất sản xuất nhỏ là điều kiện cần cho việc hạn chế những ảnh hưởng của nó và đảm bảo cho sự phát triển có chất lượng tốt hơn trên mọi phương diện.
Đời sống vật chất, tồn tại xã hội quyết định đời sống tinh thần, ý thức xã hội. Không ai chối cãi điều này, nhưng cần nhớ rằng, đó là xét đến cùng. Trong thực tiễn đời sống cá nhân cũng như đời sống xã hội, chúng ta có thể thấy tình hình dường như không phải lúc nào cũng vậy mà ngược lại thì mới đúng. Mọi sự phức tạp trong đời sống xã hội dường như đều xuất phát trực tiếp từ ý thức con người, nghĩa là từ những ý nghĩ, quan niệm, cách nhìn nhận, trình độ văn hoá, kiến thức, sự hiểu biết, kinh nghiệm hay sự từng trải thực tiễn của những con người trong cuộc và trong một chừng mực nào đó, còn xuất phát từ cả tính cách, nhân tâm, khát vọng của họ. Nhưng, những cái đó lại cũng xuất phát từ những yếu tố nói trên. Như vậy, có thể nói, dường như mọi sự biến trong xã hội con người đều trực tiếp xuất phát từ văn hóa được chứa đựng, tích tụ và trầm lắng trong ý thức con người.(*)
Một nền sản xuất nhỏ đã tồn tại qua hàng ngàn năm lịch sử tất yếu để lại một nền văn hoá, có thể tạm gọi là văn hoá sản xuất nhỏ, xét từ bình diện xã hội; và cũng tất yếu như vậy, để lại một tư duy sản xuất nhỏ với những nội dung văn hoá sản xuất nhỏ, xét cả từ bình diện xã hội lẫn cá nhân. Trong xã hội hiện nay, văn hoá sản xuất nhỏ, tư duy sản xuất nhỏ đang tồn tại như một trong những yếu tố trong dung môi của sự phát triển xã hội. Tư duy sản xuất nhỏ vừa là sản phẩm của các xã hội truyền thống, chưa qua công nghiệp hoá và hiện đại hoá xã hội, vừa là yếu tố đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong việc duy trì, củng cố sự tồn tại của các xã hội này(1). Lịch sử nhiều nước phương Đông, đặc biệt của Việt Nam và Trung Quốc, cho thấy một trong những nét đặc trưng của tư duy sản xuất nhỏ, khác với tư duy của các xã hội hiện đại, là định hướng trở về quá khứ nổi trội hơn so với hướng tới tương lai. Cách giải quyết những vấn đề hiện tại được rút ra từ khuôn mẫu giải quyết vấn đề của tiền nhân; xã hội quá khứ là hình mẫu cho xã hội hiện tại; thời Nghiêu, Thuấn là thời đại mẫu mực cho mọi xã hội về sau,… Với tư duy kỹ trị, tương lai bao giờ cũng tiến bộ hơn quá khứ và hiện tại; xã hội hạnh phúc, phồn vinh đang ở phía trước chứ không phải ở phía sau. Những hành xử của các bậc tiền nhân chỉ để tham khảo kinh nghiệm chứ không phải là khuôn mẫu buộc phải tuân theo,… Bởi vậy, chỉ tư duy phát triển (bao gồm nhiều loại tư duy khác nhau, trong đó có tư duy kỹ trị) mới thích hợp với xã hội phát triển, xã hội đang hiện đại hoá. Các xã hội đang phát triển và hiện đại hoá luôn đòi hỏi có các dạng tư duy phát triển đồng hành với nó.
Đất nước và dân tộc ta đang ra sức thực hiện khát vọng phát triển, hiện đại hoá xã hội, đặng sánh vai cùng các cường quốc năm châu. Công cuộc đổi mới 25 năm qua đã thu đuợc nhiều thắng lợi to lớn, tạo đà và thế cho sự phát triển tiếp theo. So với các quốc gia khác trong khu vực và trên thế giới, tốc độ tăng trưởng kinh tế và phát triển xã hội nói chung của nước ta trong những năm qua là rất ấn tượng, chỉ đứng sau Trung Quốc. Sự chuyển đổi từ xã hội truyền thống sang xã hội hiện đại đã diễn ra nhanh chóng trên hầu hết các mặt, các vùng, các lĩnh vực của đời sống xã hội. Nhưng ngay từ khi bước vào những năm đầu của thế kỷ XXI này đã bắt đầu một thời kỳ mới, thể hiện một tình thế phát triển mới, đòi hỏi cái mà có người gọi là những đột phá mới trong tư duy, hoặc lý luận phát triển mới, còn theo chúng tôi là đòi hỏi một dạng tư duy phát triển mới.(1).
Trong thời đại cách mạng khoa học - kỹ thuật, công nghệ và toàn cầu hoá, tốc độ phát triển các lực lượng sản xuất vô cùng nhanh chóng so với các giai đoạn trước đây của lịch sử. Vòng đời của các sản phẩm tiêu dùng ngày càng rút ngắn lại theo tỷ lệ nghịch với tốc độ phổ cập đại trà của sản phẩm ấy. Vòng đời các công nghệ sản xuất quy định vòng đời các sản phẩm tiêu dùng dường như không chỉ ngày một ngắn đi, mà còn trực tiếp quy định sự sống còn của các doanh nghiệp, công ty. Hiện nay, tốc độ thay đổi và khả năng thích ứng công nghệ trở thành vấn đề sống còn của các công ty, các nền kinh tế, chứ không phải là vấn đề quy mô lớn hay bé của chúng như trước đây(2). Trong bối cảnh thế giới đang phát triển và đi vào tương lai với tốc độ hết sức nhanh chóng, thì chúng ta lại đang tụt hậu. Nếu mắc phải sự sai sót, dù chỉ là những sai sót nhỏ trên con đường phát triển, chúng ta sẽ bị chậm chân, sự tụt hậu càng xa hơn, càng khó khắc phục hơn, nguy cơ tụt hậu dài lâu càng hiển hiện.
Với một tầm nhìn mới, xa hơn, không dừng lại ở năm 2020 mà chúng ta đang hy vọng là đến thời điểm đó, nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại, giả sử đến năm 2040, chúng ta sẽ thấy rõ hơn nhu cầu phát triển với tốc độ nhanh hơn, chất lượng tốt hơn, hiệu quả lớn hơn, thành tựu to lớn hơn, đang ngày một trở nên hết sức cấp bách. Sau khoảng 30 năm nữa, nếu với tốc độ tăng trưởng GDP bình quân đầu người như hiện nay (bình quân 8,6%/năm từ 1990 đến nay), Trung Quốc có thể đạt mức thu nhập bình quân đầu người xấp xỉ 48.000 đôla Mỹ, cao hơn mức của Nhật Bản và tương đương Mỹ, Hà Lan hiện nay, hoặc nếu mức tăng truởng GDP bình quân đầu người hàng năm giảm còn khoảng 5,8 - 6%/năm, thì Trung Quốc cũng đạt khoảng 30.000 đôla, tương đương mức của Italia, Tây Ban Nha hiện nay. Trong khi đó, nếu với mức độ tăng trưởng được xem là cao như hiện nay (khoảng 6% trong hơn 20 năm vừa qua), thì đến năm 2040, GDP bình quân đầu người của chúng ta mới chỉ khoảng 8.000 đôla, bằng mức của Mêhicô năm 2006. Còn nếu tốc độ tăng trưởng GDP đầu người hàng năm chậm lại, chỉ còn trung bình khoảng 4,8 - 5% năm, thì đến khi đó chúng ta chỉ được khoảng 4.000 đôla, thấp hơn mức của Malaixia hiện nay. ở đây, chúng ta mới chỉ nói đến mặt lượng của tăng trưởng mà chưa nói đến mặt chất của tăng trưởng – mặt mà hiện nay chúng ta đang còn nhiều bất cập.(2).
Từ góc độ phát triển nói chung, chúng ta đang đứng trước hàng loạt vấn đề nan giải mà từ nay đến năm 2040 sẽ ngày càng trở nên căng thẳng và không thể không giải quyết. Đó không chỉ là tốc độ phát triển nhanh của thế giới và các nước trong khu vực, của khoa học và công nghệ, sự biến động của nền kinh tế thế giới, nói tóm lại là của những yếu tố bên ngoài, mà còn là của các yếu tố bên trong. Cùng với những yếu tố bên ngoài, các yếu tố bên trong cũng đang tạo nên những sức ép rất lớn, những chướng ngại cản trở chúng ta phát triển nhanh, làm tăng nguy cơ tụt hậu ngày càng xa.
Trong hàng loạt các yếu tố ấy, trước hết phải kể đến điều kiện tài nguyên, môi trường. Đất nước chúng ta không thuộc loại giàu có tài nguyên thiên nhiên như một số nước khác trên thế giới. Các nguồn tài nguyên không quá khan hiếm, nhưng có trữ lượng thấp. Một số nguồn tài nguyên đã bắt đầu cạn kiệt. Hàng năm, thiên tai, dịch bệnh luôn xảy ra và diễn biến phức tạp, khó lường, gây ảnh hưởng lớn đến tốc độ phát triển đất nước và chất lượng cuộc sống con người. Ngoài ra, các yếu tố thuộc hạ tầng cơ sở và tài sản vật chất mà các thế hệ trước đây để lại, như hệ thống các thành phố, thị xã, khu dân cư, tập quán, lối sống và văn hoá nói chung cũng là những yếu tố có ảnh hưởng lớn. Tuy nhiên, chúng không phải là những yếu tố quyết định tốc độ phát triển của quốc gia - dân tộc, dù ở đây đang có hàng loạt những bất cập, cản trở sự phát triển.
Một trong những yếu tố có tính chất quyết định tốc độ phát triển quốc gia là chất lượng nguồn nhân lực. Báo chí, các phương tiện thông tin đại chúng đã nói nhiều về những khía cạnh, những mặt tích cực, mặt mạnh của nguồn lực con người Việt Nam. Nhưng, nếu xem xét kỹ sẽ thấy một loạt những vấn đề về nguồn lực con người, như sức khoẻ, trình độ học vấn và văn hoá, năng lực sáng tạo, ý chí, bản lĩnh, sự đồng tâm nhất trí, tinh thần dân tộc - quốc gia,… của chúng ta còn quá nhiều bất cập và điểm yếu. Cùng với chất lượng nguồn nhân lực và gắn liền với nó là các thiết chế xã hội: hệ thống chính trị, hệ thống luật pháp, hệ thống quản lý kinh tế, quản lý xã hội, bộ máy hành chính,… Chất lượng các thiết chế vĩ mô này do chất lượng nguồn nhân lực quyết định. Nhưng một khi các thiết chế đó đã hình thành thì chúng lại quy định chất lượng nguồn nhân lực và tốc độ phát triển của xã hội.
Chất lượng nguồn nhân lực và hệ thống các thiết chế xã hội cùng tương tác với nhau tạo nên hàng loạt các sản phẩm rất quan trọng, có thể thúc đẩy hoặc kìm hãm sự phát triển. Đó là những sản phẩm, như các chính sách, chất lượng thực thi các chính sách, mức độ sẵn sàng tiếp nhận các cải cách, các ý tưởng mới về phát triển, chất lượng lựa chọn và đào thải những người có vị trí ở các bậc thang trong hệ thống các thiết chế xã hội. Phải nói rằng, ở nước ta hiện nay tất cả những cái đó so với các nước trong khu vực và thế giới đều đang ở mức quá thấp so với yêu cầu phát triển đột phá. Một trong những sản phẩm hết sức quan trọng thể hiện chất lượng nguồn nhân lực và chất lượng các thiết chế xã hội mà ở trên chúng tôi đã nhắc đến, đó là lý luận phát triển hay tư duy phát triển.
Thực tiễn phát triển của các nước trên thế giới cũng như lịch sử nước ta, đặc biệt trong thời kỳ đổi mới vừa qua, đều cho thấy rằng, trước mỗi bước phát triển xã hội, dù lớn hay nhỏ, dài hay ngắn, dù ở bất kỳ thời đoạn lịch sử nào, dưới bất cứ chế độ xã hội nào, đều xuất hiện tư duy phát triển mới. Sự nghiệp đổi mới của chúng ta được bắt đầu bằng việc đổi mới tư duy. Thực chất của đổi mới tư duy chính là đổi mới các quan niệm về phát triển đã từng tồn tại, nhưng đã bộc lộ những bất cập và bất lực trước những đòi hỏi phát triển mới của đất nước; đồng thời, tạo lập cho xã hội những tư tưởng mới về phát triển phù hợp hơn với tình hình mới, có thể đáp ứng được những đòi hỏi mới của sự phát triển. Đổi mới tư duy lúc đó đã tạo ra được tư duy phát triển mới với những quan niệm mới về sự phát triển của xã hội Việt Nam, như kinh tế thị trường, mở cửa, hội nhập, con đường đi lên chủ nghĩa xã hội,… Tư duy đó đã góp phần tạo nên những thành tựu lớn cho sự phát triển trong hơn 20 năm qua.
Có thể nói, tư duy mới đã tạo đà cho đổi mới và hiện nay nó vẫn tiếp tục là cơ sở, nền tảng cho sự phát triển đất nước trong những năm đầu thế kỷ XXI. Nhưng thực tiễn đã chúng tỏ rằng, trên nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội, hàng loạt vấn đề do cuộc sống đặt ra không thể giải quyết được nếu tiếp tục dựa vào tư duy hiện có. Chúng ta tiến hành cải cách hành chính chưa có hiệu quả, cải cách giáo dục đã được thực hiện nhiều năm nhưng vẫn chưa nâng cao được chất lượng. Tương tự, trong hệ thống y tế, hệ thống lương, hệ thống chính trị và các hệ thống khác cũng đều đang tồn tại những bất cập mà dù đã rất cố gắng trong một thời gian dài, song chúng ta vẫn chưa khắc phục một cách hiệu quả. Trước những đòi hỏi cấp thiết của sự phát triển, tình hình dường như càng trở nên phức tạp hơn trong nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội và cho thấy rõ thêm tình thế bức xúc: nếu không phát triển đột phá, đất nước ta không thể thoát khỏi sự tụt hậu ngày càng xa. Nhưng không thể có phát triển đột phá, nếu chúng ta không có triết lý, lý luận, hay tư duy phát triển mới.
Tư duy phát triển mới không thể chỉ bó hẹp hay chủ yếu mang nội dung kinh tế như trước đây. Bối cảnh mới đòi hỏi tư duy mới ít nhất phải bao quát toàn bộ hệ thống kinh tế, xã hội trong giai đoạn hiện nay, còn phải thể hiện được cả những thay đổi của tình hình quốc tế. Những quan niệm mới, cách nhìn mới, lối tiếp cận mới, phương pháp tư duy mới và trên cơ sở đó có cách giải quyết mới đối với các vấn đề đang được đặt ra sẽ là nội dung của triết lý phát triển mới hay tư duy mới về phát triển. Thậm chí, ở mức độ cao hơn, những tư tưởng mới về sự phát triển cũng sẽ được bao chứa và là tiền đề nền tảng cho tư duy mới về phát triển. Những đòi hỏi của thực tiễn đã xuất hiện và biểu hiện qua sự bất lực hoặc kém hiệu quả của tư duy cũ, của các nguyên tắc cũ, cách nhìn cũ. Đây đó trong thực tiễn đã xuất hiện những ý tưởng mới, cách nhìn, quan niệm mới và cách giải quyết mới về một số vấn đề của thực tiễn. Nhưng, cho đến nay, một tư duy mới có thể giải quyết những vấn đề mà đòi hỏi phát triển đột phá đang đặt ra thì lại chưa xuất hiện. Tuy nhiên, có thể hình dung về đại thể những nét căn bản nhất mà tư duy đó phải có dựa trên yêu cầu phát triển đột phá và những tiền đề nhất định đã xuất hiện hiện nay.
Từ trước đến nay, trong lý luận cơ bản chúng ta vẫn thường quan niệm rằng sự phát triển của mọi sự vật, hiện tượng trong thế giới đều có nguồn gốc từ sự thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập tồn tại ngay trong lòng các sự vật và hiện tượng ấy. Các mặt đối lập tạo nên mâu thuẫn với tính cách là nguồn gốc và động lực cho sự phát triển. Quá trình tồn tại và phát triển của sự vật, hiện tượng cũng đồng thời là quá trình giải quyết những mâu thuẫn giữa các mặt đối lập. Việc giải quyết mâu thuẫn đó dẫn đến kết cục hoặc là cả hai mặt đối lập đều bị tiêu diệt, làm xuất hiện hai mặt đối lập mới thúc đẩy sự phát triển; hoặc là một trong hai mặt đối lập bị tiêu diệt, mặt đối lập còn lại “chiến thắng” cùng với một mặt đối lập khác, mới hình thành, tạo nên mâu thuẫn mới, tạo nên động lực mới cho sự phát triển. Cách quan niệm như vậy của tư duy đã làm nghèo nàn bức tranh phát triển của thế giới nói chung, của đời sống xã hội nói riêng.
Trong thực tiễn, cuộc đấu tranh của các mặt đối lập còn có thể dẫn đến khả năng thứ ba, đó là nó làm cho tất cả các mặt đối lập cùng phát triển, làm xuất hiện những mặt đối lập khác cùng tồn tại, góp phần tạo nên những động lực mới của sự phát triển. Chính điều này mới có thể khiến cho sự vật, hiện tượng trong thế giới ngày càng đa dạng, phong phú. Các khả năng phát triển trong thực tế trở thành đa hướng, nhiều nhánh khiến con người không dễ dàng tiên liệu hết các khả năng vận động, phát triển của thế giới các sự vật, hiện tượng. Khả năng thứ ba này trong việc giải quyết mâu thuẫn tồn tại trong suốt quá trình thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập, nghĩa là tồn tại trong toàn bộ quá trình vận động và phát triển của sự vật, hiện tượng. Thế giới thực vật, động vật ngày càng đa dạng, đời sống xã hội ngày càng phong phú, nhiều vẻ không thể giải thích được đầy đủ nếu chỉ quy một cách giản đơn sự vận động và phát triển vào một trong hai khuynh hướng “thắng”, “thua” nói trên của các mặt đối lập. Chính khả năng thứ ba mới là khả năng nổi trội, giữ vị trí chủ đạo trong thế giới các sự vật, hiện tượng. Nếu không tính đến khả năng thứ ba này thì không thể lý giải hết hàng loạt các hiện tượng của xã hội hiện đại hoặc của giới tự nhiên do các ngành khoa học tự nhiên hiện đại phát hiện(3).
Thế giới đương đại cho thấy nó bao chứa trong mình rất nhiều động lực phát triển. Sự phát triển xã hội không thể chỉ quy một cách giản đơn về sự đấu tranh của các mặt đối lập, càng không thể chỉ quy giản đơn về sự thắng thua của hai mặt đối lập. Động lực phát triển của xã hội rất phong phú và đa dạng. Tuỳ thuộc vào tương quan trong ngoài, tuỳ thuộc vào từng giai đoạn phát triển mà có những động lực nổi trội, chi phối hoặc đóng vai trò quyết định sự vận động và phát triển của xã hội ở giai đoạn này nhưng ở giai đoạn khác thì nó lại chìm xuống, giữ vai trò thứ yếu, phụ thuộc. Không thể lý giải sự phát triển của xã hội Việt Nam hôm nay bằng lối tư duy chỉ thấy đấu tranh hay thống nhất của các mặt đối lập, càng không thể lý giải đúng động lực phát triển của xã hội Việt Nam chỉ là thống nhất và đấu tranh giữa hai mặt đối lập nào đó.(3)Thực tiễn cho thấy, giống như trong các hệ thống phức tạp khác của thế giới, sự vận động và phát triển của xã hội đương đại do một hệ thống các động lực khác nhau, trong đó mỗi động lực có vai trò khác nhau trong việc chi phối sự phát triển của xã hội. Nếu không thấy hết các động lực ấy, mà chỉ nhìn thấy hai mặt đối lập nào đó, như đấu tranh giai cấp, như cái cũ và cái mới,… thì sẽ làm nghèo nàn bức tranh hiện thực về phát triển xã hội và do đó, sẽ không thể phát huy được sức mạnh tổng hợp để tạo nên những bước phát triển mang tính đột phá cho đất nước. Đúng là không thể bỏ qua mặt đấu tranh. Nhưng rõ ràng là phải chú ý hơn đến mặt thống nhất và các mặt khác liên quan đến sự phát triển.
Trong hàng loạt các phương diện, các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội Việt Nam đương đại, việc phát hiện động lực và tạo lập cơ chế phát huy động lực đang là một đòi hỏi có ý nghĩa sống còn đối với sự phát triển. Trên phương diện lý luận chung, tư duy mới về phát triển đòi hỏi phải tạo lập căn cứ đầy đủ cho việc huy động và phát huy tối đa tiềm năng và sức mạnh tổng lực của quốc gia - dân tộc. Trong bối cảnh hiện nay, tư duy mới về phát triển tất yếu phải tạo lập căn cứ cho việc phát huy tinh thần dân tộc như một động lực xã hội thiết yếu và đặc biệt quan trọng cho sự phát triển đột phá của Việt Nam trong nửa đầu thế kỷ XXI, bởi có như vậy mới có thể huy động tối đa sức mạnh dân tộc cùng nỗ lực thoát khỏi nguy cơ tụt hậu ngày càng xa so với các nước phát triển cao trên thế giới.
Khơi dậy được tinh thần dân tộc sẽ làm bùng lên khát vọng và nỗ lực vươn dậy của cả một dân tộc đi lên từ chiến tranh và nghèo đói. Những bài học kinh nghiệm từ Nhật Bản, Hàn Quốc và Trung Quốc gần đây có ý nghĩa rất lớn và có thể áp dụng thành công cho nước ta hiện nay. Tinh thần dân tộc là một trong những nội dung chính yếu, mang tính nền tảng trong triết lý phát triển của các quốc gia nói trên, đã giúp họ thành công trong công cuộc hiện đại hoá đất nước vào nửa cuối thế kỷ XX vừa qua. Tinh thần dân tộc có thể tạo nên ý chí phát triển mạnh mẽ, làm nên những kỳ tích lớn, đưa đất nước thoát khỏi nghèo nàn và lạc hậu. Trong lịch sử, tinh thần dân tộc đã được Hồ Chí Minh khơi dậy và phát huy mạnh mẽ trong suốt một thời kỳ lịch sử trong thế kỷ XX và làm nên những kỳ tích phi thường. Lịch sử dân tộc ta đã chứng tỏ rằng mỗi khi tinh thần dân tộc được phát huy, ý chí quật khởi vùng lên mạnh mẽ, thì sức mạnh dân tộc được nhân lên gấp bội. Trong giai đoạn mới, tinh thần dân tộc càng phải là động lực căn bản thì Việt Nam mới hy vọng có thể có được những bước phát triển đột phá. Nếu ngược lại, tình trạng trì trệ, chậm phát triển, lạc hậu và bị đẩy ra vùng ngoại biên của thế giới sẽ trở thành hiện thực; cơ hội phát triển của đất nước sẽ bị bỏ qua. Có thể mạnh dạn mà nói rằng các thiết chế xã hội và việc đổi mới tư duy trong 25 năm qua của chúng ta cho đến nay vẫn chưa động chạm được đến đáy sâu của tinh thần dân tộc. ý chí, sức mạnh và bản lĩnh vươn lên để trở thành giàu có, văn minh, sánh vai cùng các cường quốc năm châu ở dân tộc ta vẫn đang rất mờ nhạt, vừa yếu, vừa thiếu, vừa chưa đủ điều kiện để phát huy.
Trong bối cảnh quốc tế có nhiều cơ hội cho sự phát triển của đất nước hiện nay, vấn đề dân chủ hoá cũng phải là một nội dung trọng yếu của tư duy mới về phát triển. Tính chất đa dạng, phong phú, muôn hình muôn vẻ trong khả năng phát triển của thế giới chính là biểu hiện sống động của dân chủ trong hiện thực. Kinh nghiệm của các quốc gia phát triển, những thành tựu của các khoa học hiện đại, như lý thuyết hệ thống, khoa học tổ chức, khoa học điều khiển và quản lý, thông tin,… đều chứng tỏ rằng dân chủ là một động lực vĩ đại của sự phát triển. Lịch sử phát triển của các quốc gia phát triển cao và bài học của các xã hội đương đại cũng đều chứng tỏ không có dân chủ hoá thật sự thì xã hội sẽ trì trệ, bảo thủ và kém phát triển. Không có dân chủ, tinh thần dân tộc sẽ dần dần phai nhạt, sẽ bị tổn thương và đưa đến những hệ luỵ lâu dài cho sự phát triển, thủ tiêu mọi sự phát triển đột phá nói chung.
Muốn có được những phát triển đột phá phải có được một quy trình dân chủ hoá thực sự. Cảm nhận rõ điều này, những năm qua chúng ta đã có nhiều cố gắng và thực hiện hàng loạt các bước dân chủ hoá đời sống kinh tế, xã hội: giải phóng lực lượng sản xuất, xoá bỏ việc kiểm soát phi dân chủ đối với quá trình sản xuất, tự do hoá chuyển dịch tư liệu sản xuất, vốn và hàng hoá, thực hiện dân chủ cơ sở,… Tất cả những cái đó đã tạo nên những bước phát triển nhanh chóng của nền kinh tế và những chuyển biến tích cực trong đời sống xã hội và chất lượng sống của người dân. Tuy nhiên, những bước tiến đó vẫn chỉ diễn ra trong những khuôn khổ nhất định, vẫn bị trói buộc bởi những quan niệm của tư duy cũ.
Để có được những đột phá trong sự phát triển tiếp theo của đất nước cần phải thủ tiêu tình trạng “khan hiếm” nguồn nhân lực: người tài năng, trung thực, tâm huyết với sự phát triển của quốc gia - dân tộc; xoá bỏ tình trạng “ngủ đông” của tinh thần dân tộc, thái độ thờ ơ, vô cảm của nhân dân trước tình trạng tụt hậu của đất nước, hoặc chỉ nhiệt tình, hăng hái với lợi ích cá nhân, mà xem nhẹ lợi ích phát triển của cộng đồng. Để có đột phá càng không thể để tồn tại quá lâu tình trạng thiếu minh bạch trong các công việc chung ở các cấp, các ngành, các lĩnh vực như hiện nay. Để có đột phá cần phải ngăn chặn triệt để tình trạng tham nhũng của một bộ phận cán bộ, đảng viên đã thoái hóa, biến chất hiện nay. Để đột phá phải có môi trường bình đẳng, tự do cho sự sáng tạo và thử nghiệm, cho sự phản biện xã hội về mọi vấn đề mà xã hội quan tâm và động chạm đến lợi ích cộng đồng, phải cải cách không chỉ trong lĩnh vực hành chính, mà cả trong tổ chức cán bộ, trong tất cả các hệ thống của xã hội đương đại. Muốn vậy, không thể không thực hiện đột phá trong dân chủ hoá. Đột phá trong dân chủ hoá sẽ tạo nên phản ứng dây chuyền làm chuyển biến tất cả các mặt của xã hội, có thể tạo nên những đột phá lớn cho sự phát triển đất nước nếu được định hướng tốt. Trái lại, nó có thể tạo nên sức phá hoại khôn lường nếu sai lầm về định hướng. Do đó, để có những đột phá trong phát triển nhằm bứt phá vươn lên cần có tư duy mới, đúng đắn về dân chủ hoá xã hội, phù hợp hơn với điều kiện và tốc độ phát triển mới của đất nước.
Nội dung của tư duy mới về phát triển chắc chắn là phong phú hơn, gồm nhiều tầng, bậc khác nhau, hai vấn đề nói trên chỉ là hai thí dụ để phân tích mà thôi. Đòi hỏi về một tư duy phát triển mới, hay một triết lý phát triển mới, hoặc một lý luận phát triển mới như một số học giả trong và ngoài nước vẫn nói, vượt ra khỏi khuôn khổ đổi mới tư duy của hơn 20 năm vừa qua đang là một đòi hỏi bức thiết cho sự phát triển đột phá của đất nước. Cũng tương tự như những năm 80 của thế kỷ XX, đổi mới tư duy là một đòi hỏi bức thiết để đưa đất nước ra khỏi khủng hoảng, hiện nay tư duy mới về phát triển là một đòi hỏi bức thiết để đất nước trong vòng vài ba chục năm tới có thể đột phá nhanh, tiến kịp các nước công nghiệp phát triển trên thế giới, thoát khỏi tình trạng tụt hậu lâu dài.
 
*************************
(*) Phó giáo sư, tiến sĩ khoa học, Phó Viện trưởng Viện Triết học, Viện Khoa học Xã hội Việt Nam.
(1) Cho đến nay, vẫn có không ít người nghĩ rằng khi một xã hội đã công nghiệp hoá thì đuơng nhiên xã hội đó đã là xã hội hiện đại, không cần biết nó đã trải qua quá trình hiện đại hoá xã hội hay chưa. Tất nhiên, các xã hội tiến hành công nghiệp hoá luôn đòi hỏi phải hiện đại hoá xã hội. Nhưng, trong những điều kiện xác định, không phải cứ có công nghiệp hoá là có hiện đại hoá xã hội. Một số quốc gia dầu mỏ có thu nhập bình quân đầu người cao, lao động công nghiệp và nền công nghiệp phát triển cao với kỹ thuật và công nghệ hiện đại, nhưng ở đó vẫn chưa có xã hội đã được hiện đại hóa. Xã hội hiện đại hoá lại chỉ có thể có khi xã hội ấy được công nghiệp hoá, vì chỉ có trên cơ sở công nghiệp hoá mới có thể hiện đại hoá xã hội được.
(2) Có thể thấy rõ điều này qua tốc độ đổi mới công nghệ sản xuất máy điện thoại di động hoặc máy tính điện tử. Hiện tại, vòng đời của điện thoại di động chỉ còn khoảng 10 tháng; vòng đời của các thế hệ máy tính điện tử (Pentum I, Pentum II, III, IV, Duo Core…) chỉ còn khoảng 2-3 năm; sự chậm trễ trong việc thay đổi công nghệ là nguyên nhân chủ yếu nhất của việc thua lỗ và phá sản của các công ty trong các nước phát triển. Nếu không thay đổi công nghệ sản xuất kịp thời thì sản xuất càng nhiều càng thua lỗ nặng, càng phá sản nhanh chóng. Trong thời đại cách mạng khoa học - kỹ thuật và công nghệ và toàn cầu hoá, việc tìm kiếm và áp dụng các công nghệ mới là con đường chắc chắn nhất cho sự thành công của các doanh nghiệp, các nền kinh tế. Việc sát nhập, tăng quy mô hiện nay do đòi hỏi của công nghệ quyết định, chứ không duy nhất do thị trường quyết định như trước đây.
(3) Đó là những hiện tượng như cả xã hội cùng giàu có, cùng khá giả, tất cả các tầng lớp, các giai cấp cùng phát triển, xã hội hiện đại phát triển đa diện, đa dạng, phong phú, nhiều vẻ. Thế giới đa cực, thế giới cùng tồn tại và phát triển. Các hệ thống tự tổ chức bao chứa nhiều khả năng phát triển khác nhau, bao chứa không chỉ quan hệ tuyến tính mà cả những quan hệ phi tuyến tính, hỗn độn, mạng tương tác, v.v..

Nguồn: Tạp chí Triết học số 1 (236) năm 2011

Cơ chế phá và xây


PV Quốc Doanh
Do cơ chế! Cụm từ được dùng để giải thích trong nhiều năm nay, mỗi khi người ta (chủ yếu là bộ máy nhà nước) không làm được việc đáng làm nào đó. Nhưng giật mình chợt thấy: cái cơ chế ấy phá phách thì rất nhanh.
Về văn hóa, cơ chế ấy với khẩu hiệu “bài trừ tàn dư phong kiến, thực dân” đã phá đình chùa, đốt sách, hạn chế thờ cúng tổ tiên (1). Sau đó, hô hào xây dựng “nền văn hóa mới” không rõ hình hài. Đất nước đã 36 năm thống nhất nhưng chưa có lấy một công trình văn hóa xứng với rất nhiều công trình để lại từ thời “thực dân pháp đô hộ”.
Về kinh tế, cơ chế ấy với khẩu hiệu “đánh tư sản mại bản, cải tạo công thương nghiệp tư doanh” phá sạch sẽ nền tảng kinh tế của đất nước. Rồi xây dựng kinh tế hợp tác và quốc doanh nhưng nhanh chóng tan rã, một ít tồn tại đến bây giờ đang gian nan “cổ phần hóa”, trả lại cho tư nhân. Thiệt hại đớn đau nhất là triệt mất tầng lớp doanh nhân, tinh hoa của nền kinh tế. Đầu thế kỷ XX, Việt Nam đã có những doanh nhân cạnh tranh ngang ngửa với Pháp, trăm năm sau lại mơ ước được như trăm năm trước.
Một đất nước nông nghiệp thì nền tảng vật chất của xã hội là đất đai. Toàn bộ khoa học quản lý đất trải hàng nghìn năm, trong nháy mắt bị cơ chế mới phủi bỏ, để xây dựng hệ thống quản lý dựa trên nguyên tắc “sở hữu toàn dân” mơ hồ. Đổ vỡ ở đây gây ra nhiều rối loạn xã hội, bây giờ vật vã trở lại sở hữu tư nhân, cho đất đai có chủ.
Những tàn phá gốc rễ xã hội dẫn tới rối loạn trầm trọng ở mọi lĩnh vực: giáo dục, y tế, nghiên cứu khoa học, thể dục thể thao, văn học nghệ thuật, quốc phòng, an ninh, chính trị, tư tưởng… Cái cơ chế tàn phá rất nhanh nhiều giá trị truyền thống, lại bế tắc trong xây dựng các giá trị mới, thì không có cơ sở tồn tại. Thực tiễn không tìm thấy lý do tồn tại thì tranh cãi lý thuyết chẳng còn ích gì.
Bác Hồ có nói, muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội phải có con người xã hội chủ nghĩa. Câu này có thể hiểu rằng, khi chưa có con người xã hội chủ nghĩa thì chưa thể nói đến xây dựng chủ nghĩa xã hội. Con người, theo thuyết duy vật, được sinh ra từ các điều kiện vật chất cụ thể, từ các cơ sở kinh tế cụ thể. Con người xã hội chủ nghĩa chỉ được sinh ra từ cơ sở kinh tế chủ nghĩa xã hội, giai đoạn phát triển tột cùng của chủ nghĩa tư bản. Kinh tế nước ta chưa đến giai đoạn chủ nghĩa tư bản phát triển, hồi nào theo lý thuyết vẫn có thể đi lên chủ nghĩa xã hội nhờ sự giúp đỡ vô tư của một nước phát triển. Nay không có nước phát triển nào vô tư giúp nước ta nữa.
Cái cơ chế quản lý nước ta bây giờ đâm ra thiếu nguồn sống. Như một cây bị cắt hết những tầng rễ thâm sâu, còn trủi lụi chút gốc nông choèn. Chút gốc ấy, nếu thân mềm có thể ăn, thân gỗ có thể đóng đồ dùng hoặc làm cảnh, không còn sức sống ra hoa kết trái. Muốn ra hoa kết trái, phải đứng trên đất, với những tầng rễ thâm sâu. Cơ chế quản lý đất nước muốn xanh tươi ra hoa kết trái, cũng phải trên cơ sở kế tục toàn bộ giá trị phát triển hàng nghìn năm, những giá trị đã xây dựng nên đất nước này.
Ngày 17/9/2011
Q.D.
Tác giả gửi trực tiếp cho BVN
Chú thích:
(1) Hiện tượng đáng đau tủi gần đây nhất là hầu hết lăng mộ thời Trần ở An Sinh (Đông Triều, Quảng Ninh) đã được chính quyền Nhà nước tùy tiện chia cho người dân để lấy đất làm chỗ ở (vì những chỗ béo bở thì các quan đã chia nhau hết rồi), và đương nhiên ai được chia thì việc đầu tiên là phá hủy lăng mộ các vua Trần để san lấp mặt bằng rồi sau đó xây dựng nhà cửa lên trên, thế là cả một cụm di tích vô giá bằng đá gồm 7 ngôi mộ các vua Trần giữa một vùng đồi rất đẹp bị san bằng. Nhưng không thể trách người dân, vì “dân ngu khu đen” bị dồn đến chỗ mất đất, mất nhà thì đâu có tội. Dầu là di tích lịch sử đi nữa họ cũng phải phá đi để kiếm chỗ cho con cháu có cái mà chui tạm chứ. Vậy thì trách ai đây nếu không là một cơ chế “óc rỗng” từ dưới lên trên, không cần biết đến lịch sử, không thèm hiểu về văn hóa, ấy trăm tội cứ đổ vào đầu cái thằng cơ chế là khỏe nhất - Chú thích của BVN.


Chính phủ chúng ta: đã thiệt!!!



Hoàng Kim (Đồng Tháp)
Nông dân trồng lúa: lúa ngày một trúng, nông dân nghèo ngày một mạt.
Chính phủ ở xa nông dân quá, Chính phủ chẳng có chính sách gì hiệu quả để giúp nông dân trồng lúa, Chính phủ để nông dân bị đè đầu cởi cổ bởi các nhóm lợi ích, đến nổi GS. TS Võ Tòng Xuân đưa ra nhận xét hết sức xác đáng rằng: nông dân đang “ tự bơi”.
Không những không có những chính sách hiệu quả để giúp nông dân làm giàu, Chính phủ còn thực hiện một số chính sách làm nghèo nông dân.
Chính phủ không có một chính sách nào hiệu quả để phát triển lúa gạo
Chính phủ nói nhiều đến việc cơ giới hóa thu hoạch và sau thu hoạch, nhưng Chính phủ không có một chính sách nào hiệu quả. Chính sách cơ giới hóa của Chính phủ chỉ dừng lại ở mức cho nông dân vay tiền mua máy.
Là một nước nông nghiệp, thế mà Chính phủ không hề phát triển nền công nghiệp phục vụ nông nghiệp, cũng không hỗ trợ giá cánh kéo cho nông dân, để nông dân phải mua máy gặt đập liên hợp của Kubota với giá khoảng 500 triệu một chiếc thì việc cơ giới hóa vẫn là tự phát.
Chính phủ không có chính sách tạo thương hiệu cho gạo Việt Nam, không có chính sách nâng cao giá trị hạt gạo, không đầu tư xây dựng kho bãi liên hợp với nhà máy xay lúa và máy sấy.
Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng ra lệnh xây dựng 4 triệu tấn kho từ năm 2008 đến nay đã quá hạn mà kho vẫn chưa đủ.
Hễ lúa lên giá là cấm xuất khẩu
Năm nào cũng vậy, khi lúa lên giá là Chính phủ vội ngừng xuất khẩu vì lý do an ninh lương thực, sau đó lúa rớt giá, Chính phủ ra lệnh Hiệp hội Lương thực Việt Nam ( VFA) mua lúa tạm trữ để cứu nông dân: giá tạm trữ rẻ như bèo.
Điển hình năm 2008, lúc giá lúa lên 975 đô la Mỹ/ tấn Chính phủ vội ký lệnh cấm xuất khẩu, sau đó lúa hè thu ế ẩm, không người mua, Chính phủ giúp đỡ nông dân bằng cách lệnh cho Hiệp hội Lương thực Việt Nam mua tạm trử, với giá lúa từ 3.800 – 4.000 đồng.
Năm 2009 cũng vậy, khi giá lúa lên cao, Chính phủ kêu VFA ký văn bản cấm xuất khẩu gạo, sau đó lại giúp nông dân bằng cách cho VFA vay không lãi mua lúa cũng với giá 4.000 đồng/kg.
Bán lúa giá 4.000 đồng/ kg nông dân hòa vốn, làm lúa hòa vốn nông dân phải đi vay tiền để sống, nông dân ngày càng nợ nần chồng chất.
Giá lúa lên là cấm xuất khẩu, hỏi nông dân làm sao không ngày càng tàn mạt?
Chính phủ dùng thu nhập của nông dân để chống lạm phát
Lý do được nêu để ngừng xuất khẩu là an ninh lương thực, nhưng thực chất là ngừng xuất khẩu để khống chế giá lúa gạo trong nước, không cho tăng theo giá lúa gạo thế giới, để chống lạm phát.
Chống lạm phát bằng cách này, tức là, Chính phủ dùng thu nhập của nông dân để chống lạm phát.
Sự việc này, được chứng minh, bởi phát biểu trên báo Tuổi trẻ của ông Thứ trưởng Bộ Công thương Nguyễn Thành Biên kiêm Tổ trưởng Tổ điều hành xuất khẩu gạo của Chính phủ: “Trong những tháng cuối năm, mục tiêu kiềm chế lạm phát là quan trọng nên điều hành lúa gạo phải hướng tới mục tiêu này, không thể chạy theo mục tiêu đảm bảo có lãi cao cho nông dân”.
Chính phủ hãy nhìn sang Thái Lan, Sắp tới Chính phủ Thái lan tăng giá bán mua lúa của nông dân họ lên khoảng 500 đô la Mỹ/ tấn, tăng giá bán gạo lên khoảng 750 đô la Mỹ/ tấn, mà Chính phủ Thái Lan đâu có sợ lạm phát.
Chính phủ Việt Nam mà không thay đổi tư duy chống lạm phát, nông dân Việt Nam còn nghèo dài dài.
Chính phủ mua lúa tạm trữ: đang bần cùng nông dân
Từ năm 2008 đến nay, Chính phủ thường xuyên cho phép VFA mua lúa của nông dân để tạm trữ.
Mua lúa tạm trữ để đảm bảo quyền lợi cho nông dân, Chính phủ phải ấn định giá mua lúa tối thiểu cho VFA, thế nhưng, Chính phủ lại giao toàn quyền việc ấn định giá mua bán lúa gạo cho VFA, mà không hề có sự kiểm tra kiểm soát gì cả.
Vừa độc quyền lại được đặc quyền nên VFA lấy cướp hết lợi nhuận của nông dân.
Tôi đã phân tích việc mua lúa tạm trữ, mà trong đó VFA cướp hết lợi nhuận của nông dân ở bài: “Mua lúa gạo tạm trữ để giữ giá cái con… khỉ khô, ăn cướp thì có” đăng trên Bauxite Việt Nam. Tôi xin được nhắc lại.
Năm 2008 VFA bán gạo xuất khẩu giá qui ra giá lúa 6.432 đồng/ kg, mua lúa nông dân với giá 4.000 đồng/ kg. VFA lời 2.432 đồng/kg, nông dân bán lúa hòa vốn.
Năm 2009, bán gạo xuất khẩu qui lúa giá 6.362 đồng/ kg, mua lúa của nông dân với giá 4.000 đồng/ kg. VFA lời 2.362 đồng/ kg, nông dân hòa vốn.
Năm 2010, VFA mua lúa tạm trữ cả hai vụ đông xuân và hè thu với giá vẫn 4.000 đồng/ kg, nhưng bán gạo với giá qui lúa 5.365 đồng/ kg.
Làm lúa hòa vốn, nông dân phải ăn vào đất, nợ nần ngày càng chồng chất, như vậy nông dân đang bị bần cùng hóa.
Chính phủ vi phạm luật cạnh tranh
Trong bài, “Độc quyền lúa gạo: cái ách đang quàng lên cổ nông dân” đăng trên Bauxite Việt Nam, tôi đã chứng minh rằng: lúa gạo của nông dân đang chịu sự độc quyền của các doanh nghiệp Nhà nước. Hay nói cách khác lúa gạo thuộc lĩnh vực độc quyền Nhà nước.
Điều 15 khoản 1 mục a của luật cạnh tranh qui định: Nhà nước kiểm soát doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực độc quyền nhà nước bằng các biện pháp: “Quyết định giá mua, giá bán hàng hóa, dịch vụ thuộc lĩnh vực độc quyền nhà nước”.
Hiện nay, Nhà nước đang độc quyền lĩnh vực lúa gạo, nhưng Chính phủ lại giao sự độc quyền này lại cho VFA là một hiệp hội ngành hàng hoạt động vì lợi nhuận, khiến cho VFA có quyền ấn định thu nhập cho nông dân và tự để lại lợi nhuận. Vì thế VFA luôn ăn cướp hết lợi nhuận của nông dân.
Như vậy, việc cho phép VFA mua lúa tạm trữ, cho phép VFA toàn quyền ấn định giá sàn xuất khẩu gạo và giá thu mua lúa, tức là, Chính phủ và VFA đang vi phạm Luật Cạnh tranh.
Chính phủ không thực hiện Nghị quyết do chính Thủ tướng ký
Ngày 23/12/2009 Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng ký Nghị Quyết số 63/NQ-CP “về đảm bảo an ninh lương thực quốc gia”. Nghị Quyết qui định: “Thực hiện đồng bộ cách giải pháp giảm chi phí sản xuất, tăng thu nhập cho người sản xuất lúa gạo,đảm bảo người sản xuất lúa gạo có lãi trên 30% so với giá thành sản xuất”.
Trong bài, “Tại sao nông dân chỉ lời 30% so với giá thành?” đăng trên Bauxite Việt Nam, tôi đã chứng minh rằng: giá lúa đảm bảo cho nông dân lời 30% so với giá thành là một mức giá rẻ như bèo (qui ra giá bán gạo khoảng 380 đô la Mỹ/ tấn, đây là mức giá quá rẻ so với giá thị trường thế giới).
Vậy mà, vào vụ hè thu năm 2010, VFA mua lúa của nông dân chúng tôi với giá chỉ 3.800 – 4.000 đồng/ kg, trong khi giá thành khoảng 3.100 đồng/ kg, tức là giá lúa không “ đảm bảo người sản xuất lúa gạo có lãi trên 30% so với giá thành sản xuất” theo qui định của Nghị Quyết số 63/NQ-CP.
Báo Điện tử Sài Gòn Tiếp thị (bài “Đồng Tháp: nông dân lỗ 300 – 600 đồng/kg lúa hè thu 2010”) cho biết: “Theo tính toán của ngành nông nghiệp và UBND tỉnh Đồng Tháp, giá thành sản xuất một ký lúa hè thu đã lên đến gần 3.100 đồng, trong khi giá thu mua lúa tại ruộng chỉ dao động khoảng 2.500 đồng/kg đến 2.800 đồng/kg”.
Không có bất cứ hành động nào để thực hiện Nghị quyết do chính Chính phủ ban hành, ngày 30/6/2010 Phó Thủ tướng Nguyễn Sinh Hùng thản nhiên ký Quyết định số 993/ QĐ-TTg “Về mua tạm trữ lúa, gạo hè thu năm 2010”. Quyết định này giao VFA mua tạm trữ 1 triệu tấn qui gạo vụ hè thu, bắt đầu thực hiện ngày 15/7/2010, nhưng không đưa ra giá thành sản xuất lúa, cũng như không ấn định giá thu mua lúa cho VFA, mà lại qui định: “Các doanh nghiệp thực hiện mua lúa, gạo tạm trữ theo cơ chế thị trường, tự chịu trách nhiệm về hiệu quả kinh doanh”.
Thủ tướng ký Nghị Quyết: “Đảm bảo người sản xuất lúa gạo có lãi trên 30% so với giá thành sản xuất”, vậy mà Phó Thủ tướng ký Quyết định: “Các doanh nghiệp thực hiện mua lúa, gạo tạm trữ theo cơ chế thị trường, tự chịu trách nhiệm về hiệu quả kinh doanh”, tức là cho phép VFA muốn mua lúa của nông dân tạm trữ với giá nào thì mua.
Nghị quyết của Chính phủ ban hành là một cam kết đối với nông dân, mà Chính phủ muốn thì thực hiện, không muốn thì thôi, giống chuyện giỡn chơi, chẳng cần giải thích, khiến cho nông dân chúng tôi không biết Nghị quyết của Chính phủ có còn giá trị hay không?!
Chính phủ không thực hiện được Nghị định do Chính phủ ban hành
Ngày 4/11/2010, Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng thay mặt Chính phủ ký Nghị định số 109/2010/NĐ-CP về kinh doanh xuất khẩu gạo, có hiệu lực từ ngày 1/1/2011.
Tôi đã phê phán Nghị định này trong bài viết: “Nghị định kinh doanh xuất khẩu gạo số 109/2010/NĐ-CP: Sự quan liêu, vô trách nhiệm đối với quyền lợi nông dân” đăng trên Bauxite Việt Nam, và sự phê phán này đã được thực tế xuất khẩu gạo năm 2011 chứng minh là đúng đắn.
Nghị định 109 có hiệu lực từ ngày 1/1/2011, nông dân thu hoạch lúa đông xuân và đầu tháng 2/2011, thế nhưng đến tháng 3/2011 Bộ Tài chính mới đưa dự thảo Thông tư “hướng dẫn về phương pháp xác định giá sàn gạo xuất khẩu” ra lấy ý kiến.
Một lần nữa, trên Thời báo Kinh tế Sài Gòn trong bài, “Nông dân góp ý dự thảo thông tư giá sàn xuất khẩu gạo”, tôi lại góp ý cho dự thảo Thông tư rằng: dựa vào dự thảo Thông tư chẳng thể ấn định được giá sàn.
Tôi dám chắc rằng chính tác giả của Thông tư cũng không thể dựa vào thông tư này mà ấn định được giá sàn.
Như vậy, Nghị định số 109/2010/NĐ-CP về kinh doanh xuất khẩu gạo, đến ngày hôm nay chỉ là tờ giấy lộn, vì không thế áp dụng vào thực tế xuất khẩu gạo.
Chính phủ tự tạo thêm cạnh tranh trong xuất khẩu gạo
Năm nào VFA cũng tuyên bố rằng không có đủ khách hàng mua lúa, nên không mua lúa của nông dân chúng tôi, lúa thừa mứa không ai mua, nên Chính phủ phải cho VFA vay không lãi để mua lúa tạm trữ với giá rẻ như bèo.
Lúa ế giá rẻ. Lẽ ra, Chính phủ phải tìm cách bán được lúa với giá cao. Thế nhưng Chính phủ lại ra lệnh cho Tổng công ty lương thực miền Nam liên doanh với Campuchia để xuất khẩu gạo của Campuchia.
Tôi đã phản đối việc lập liên doanh này, và tranh luận với ông Nguyễn Thọ Trí Phó Chủ tịch VFA trên Thời báo Kinh tế Sài Gònsau cùng ông Trí cho biết “Về việc thành lập Công ty cổ phần Lương thực Cambodia Việt Nam (Cavifood) giữa Tổng công ty Lương thực Miền Nam và Greentrade Co. (thuộc Bộ Công thương Cambodia) thì đây là liên doanh theo thỏa thuận cấp cao của Thủ tướng Chính phủ hai nước”.
Như vậy là, Chính phủ bắt nông dân chúng tôi phải cạnh tranh với khoảng 1 triệu tấn gạo của Campuchia.
Không những Chính phủ tự tạo ra cạnh tranh về xuất khẩu gạo với Campuchia, Chính phủ còn cho phép Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn nhảy tưng qua châu Phi lập liên doanh trồng lúa, biến các nước châu Phi thành các quốc gia xuất khẩu lúa gạo.
Hợp tác cấp quốc gia phải nói đến quyền lợi, hợp tác cấp quốc gia không thể xuất phát từ mục đích từ thiện nếu nó gây hại cho nông dân.
Tư duy bao đồng của Chính phủ đang gây hại cho nông dân.
Thủ tướng Thái Lan nói phải giúp cho nông dân, vậy là, cả Chính phủ Thái Lan tìm mọi cách tăng giá thu mua lúa lên khoảng 50%.
Thủ tướng Việt Nam cũng nói phải giúp cho nông dân, thế mà, cả Chính phủ tìm mọi cách khống chế giá lúa gạo, kể cả việc đưa ông Thứ trưởng Bộ Công thương Nguyễn Thành Biên tung tin đồn nhảm để hạ giá lúa gạo.
Phải chi Chính phủ Việt Nam lo cho nông dân Việt Nam bằng phân nửa Chính phủ Thái Lan lo cho nông dân Thái Lan, nông dân Việt Nam không càng ngày càng nghèo như hiện nay.
H.K.

Tổng số lượt xem trang

free counters