(
Xi nhan) - "Một đất
nước 70% là nông nghiệp mà ăn cái gì cũng nơm nớp lo chất độc là một rủi ro nếu
không muốn nói là một bất hạnh lớn" - TS Nguyễn Sĩ Dũng, Phó Chủ nhiệm Văn
phòng Quốc hội.
Chúng ta là những gì chúng ta ăn (We are what we eat). Gần như, chúng ta đang bị
đầu độc hàng ngày hàng giờ với dư lượng thuốc trừ sâu, dư lượng các loại hóa chất
trong rau củ quả; dư lượng chất kháng sinh trong tôm, cá; dư lượng chất tăng trọng,
chất tạo nạc trong thịt...
Ung thư tăng, béo phì tăng... như
là một hệ quả tất yếu có thể nhìn thấy được từ thực phẩm chúng ta ăn. Còn những
hệ quả nào khác thế nữa, mức độ nghiêm trọng tới đâu thì rất cần một nghiên cứu
sâu và khoa học.
|
|
TS Nguyễn Sĩ Dũng, Phó Chủ nhiệm
Văn phòng Quốc hội
|
Trước hết, thử lý giải tại sao lại
có tình trạng nông sản, thực phẩm mất an toàn như hiện nay.
Con người có hai đặc tính bất biến:
trong kinh tế là tối đa hóa lợi nhuận, trong tiêu dùng là tối đa hóa tiện ích.
Động lực tối đa hóa lợi nhuận sẽ
khiến người ta làm bất cứ điều gì để có thể thu lợi nhiều hơn. Trong vấn đề vệ
sinh an toàn thực phẩm phổ biến là các khâu: bảo quản thực phẩm bằng hóa chất
cho rẻ hơn, dùng phẩm màu tạo hình ảnh cho sản phẩm đẹp hơn, dễ bán hơn. Thậm
chí người ta có thể làm hàng giả.
Đặc tính bất biến là thế, nhưng
xã hội có những gì ngăn cản người ta làm như vậy?
Đầu tiên là đạo đức. Những
hành vi bất chấp sức khỏe cộng đồng bùng phát nhiều trong thời gian qua là vì đạo
đức trong hệ thống của chúng ta đang bị suy giảm và xuống cấp. Đó là hiện tượng
báo hiệu một giai đoạn khó khăn của đất nước.
Chúng ta đang bị hẫng hụt ở điểm
giao thời khi mà đạo đức không dựa trên nền tảng nào: Hành vi tối đa hóa lợi
nhuận ít bị các chế ước của đạo đức ràng buộc....
Thứ hai là pháp luật. Thực
phẩm không an toàn là trách nhiệm của ai: Bộ Y tế, Bộ Nông nghiệp Phát triển
Nông thôn, Bộ Khoa học Công nghệ hay Bộ Công thương? Cả hệ thống như vậy nhưng
tổ chức để quản lý có vẻ rất khó khăn.
Hiệu năng của hệ thống pháp luật
là vi phạm thì bị xử lý ngay, ví dụ ở Mỹ, nếu dư lượng kháng sinh trong tôm vượt
quá tiêu chuẩn cho phép, sẽ bị đình chỉ nhập khẩu ngay.
Nếu ở Việt Nam cũng tương tự,
kinh doanh hàng kém chất lượng, có hại cho sức khỏe sẽ bị phát hiện và sẽ bị trừng
phạt ngay thì người ta sẽ sợ mà không dám làm.
Đằng này, thi thoảng mới bị bắt một
lần, mà chế tài so với lợi ích của những lần qua mắt trót lọt thì không đáng kể,
nên đương nhiên người ta chủ động vi phạm.
Phải phạt đúng đắn nhưng tương
thích, sai đâu phạt ngay ở đó. Bất cứ khi nào hệ thống pháp luật chưa hiệu năng
thì hành vi tối đa hóa lợi nhuận sẽ thúc đẩy người ta vi phạm.
Thứ ba là từ các cơ quan
chuyên môn và quản lý. Vấn đề an toàn vệ sinh thực phẩm động tới rất nhiều
ngành nghề và hiện đang không rõ trách nhiệm thuộc về ai.
Rõ ràng, mô hình chia sẻ trách
nhiệm như hiện nay phải có một cơ quan điều phối phản ứng rất mạnh và có thực quyền.
Hoặc phải sửa mô hình, về hướng này có thể nghiên cứu mô hình của các nước phát
triển, chẳng hạn, cơ quan VSATTP của Mỹ.
Thứ tư là truyền thông. Truyền
thông của chúng ta đã làm được việc đánh động và điểm mặt, chỉ tên việc buôn
bán kém chất lượng nhưng nói chung chưa nhiều.
Chưa kể, do truyền thông chưa
chuyên sâu nên có những lần nói đúng, có những lần nói chưa hết, chưa rõ khiến
người nông dân chịu oan: việc thịt lợn siêu nạc vừa rồi, thực ra chỉ xảy ra ở tỉnh
Đồng Nai nhưng lại khiến nông dân tất cả các tỉnh còn lại điêu đứng.
Nếu truyền thông đã vào cuộc thì
phải vào cuộc chính xác. Có một vấn đề rất lớn khác là truyền thông chưa tạo ra
được những phong trào tẩy chay sự làm dối, làm ẩu, làm hại tới sức khỏe cộng đồng.
Ngăn cản thứ 5 là các tổ
chức xã hội dân sự. Chúng ta đã có Hội Bảo vệ Quyền lợi người tiêu dùng nhưng Hội
đó đã họat động hiệu quả chưa? Chúng ta đã có Luật Người tiêu dùng nhưng Luật
đó đang vận hành như thế nào? Phải vận hành xã hội dân sự, đặc biệt là những hội
bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.
Nguyên nhân cuối cùng là
nhiều người dân kiến thức chưa đủ, không nhận thức những hành vi của họ là sai.
Ví dụ thực hành theo tiêu chuẩn GAP, phải trồng và bảo quản thế nào, hàm lượng
thuốc tăng trưởng hay thuốc sâu thế nào là hợp lý, sử dụng trong giai đoạn nào
trong quá trình phát triển của cây trồng, bảo quản nông sản thế nào cho hợp quy
chuẩn, có thể tìm hướng dẫn những việc này ở đâu...
Các cơ quan nhà nước có thể làm một
việc giản dị hơn, cung cấp một bộ thông tin rất chuẩn cho người nông dân lên mạng.
Người nông dân sẽ tìm cách tiếp cận,
chứ không nhất thiết phải xuống tận nơi, cầm tay chỉ việc, làm thay nông dân.
Tiến xa hơn nữa, phải trở lại với
sự phát triển bình thường đúng đắn, phát triển kinh tế trang trại. Cần phải có
những công ty làm kinh tế nông nghiệp bởi ở tầm đó mới có thể quản trị tri thức,
quản trị thương hiệu.
Một đất nước 70% là nông nghiệp
mà ăn cái gì cũng nơm nớp lo chất độc là một rủi ro nếu không muốn nói là một bất
hạnh lớn. Người giàu đang đối phó bằng cách lập trang trại, tự trồng rau củ, quả,
nuôi con gà, con lợn, con cá...
Người giàu hơn nữa thì chỉ ăn những
nông sản ngoại nhập có thương hiệu. Tiếc thay, đấy chỉ là thiểu số. Phần còn lại
vẫn phải chấp nhận, sử dụng mà không tin tưởng bởi họ không có lựa chọn nào
khác.
Hệ quả của tất cả những phản ứng
trên cuối cùng đều trút xuống người nông dân. Người giàu không tiêu thụ sản phẩm
nông nghiệp trong nước thì những nhà đầu tư hẳn sẽ lựa chọn nhập khẩu nông sản
hơn là đầu tư một mô hình sản xuất khoa học và an toàn giúp nông dân nâng cao
chất lượng rau, củ, quả...
Người tiêu dùng trong nước còn
không tin vào sản phẩm của nước mình thì khả năng thuyết phục người nước ngoài
là không dễ, nông sản không xuất khẩu chỉ loanh quanh phục vụ những người có
thu nhập thấp (vì người giàu đã có lựa chọn cho họ) thì việc làm giàu nhờ nông
nghiệp sẽ như một cái gì đó nhìn thấy được nhưng lại quá xa tầm với.
Việc cần làm ngay là vận hành đồng
bộ những giải pháp ngăn cản mọi hành vi sai trái trong sản xuất, kinh doanh
nông sản nhằm tối đa hóa lợi nhuận gây ảnh hưởng tới sức khỏe cộng đồng.
TS Nguyễn Sĩ Dũng