Triết Lý, để làm gì ?

Khi ta bế tắc tư tưởng, chân thật công nhận rằng những kiến thức và phương pháp suy luận của ta không cho phép ta sống, tư duy và hành động khớp với khao khát làm người của ta, ngoài vô vàn cách ứng xử khác, ta có thể:

a) Tiếp tục sống, tư duy và hành động như cũ vì, dù sao, ta cũng sống được, không đến nỗi nào

b) Lột áo cũ, khoác áo mới, một tấm áo coi lành lặn đẹp đẽ hơn nhưng cũng hàm hồ không thua gì. Điều ấy luôn luôn khả thi bằng ngôn ngữ.

c) Đi tới cùng bế tắc của chính mình. Nếu không giải quyết được nó, ta ôm nó xuống suối vàng, để lại ở đời chỉ một câu hỏi. Câu hỏi của một con người. Đích thực. Có gì nhục đâu?

Nếu ta tưởng ta đã tìm ra một phần của giải pháp, ít nhất là cho riêng mình, thì cứ viết đi, chẳng cần trích cao nhân nào cả: họ đã là một phần của ta và ta đã phải “vượt” họ để nên mình.

Thế thôi.

(Chungta.com)

Góc nhỏ của Noby Vui Vẻ

Lục lọi, tìm tòi, đọc, cóp nhặt, chia sẻ, ... OK hay không tùy bạn ! ! !

“Nước độc lập mà dân chưa tự do thì độc lập cũng không có ý nghĩa”- Hồ Chí Minh.

30 thg 3, 2011

Nghịch lí của phát triển bền vững ở Việt Nam: nhìn từ môi trường thể chế



Đặng Hoàng Giang

Viện tư vấn phát triển (CODE), Email: dhgiang@codeinter.org 

Trong vài thập niên trở lại đây, phát triển bền vững đã trở thành một chủ đề toàn cầu; một xu thế tất yếu, phổ quát mà nhân loại hướng tới trong kỉ nguyên mới. Về nguyên tắc, để vươn tới mục tiêu này, mỗi quốc gia cần hội đủ những điều kiện tạo đà cho phát triển. Trong khi đó, ở Việt Nam, đang tồn tại một khoảng cách giữa mục tiêu đề ra và điều kiện hiện thực để cụ thể hóa mục tiêu ấy. Đây chính là nghịch lí của phát triển bền vững hiện nay. Một phân tích từ góc độ môi trường thể chế sẽ làm sáng tỏ hơn vấn đề.
Phát triển bền vững: từ mục tiêu đến lộ trình
Dù còn nhiều cách hiểu khác nhau về nội hàm khái niệm, các quốc gia trên thế giới đã sớm đi đến đồng thuận khi bàn về mục tiêu của phát triển bền vững. Các Hội nghị thượng đỉnh thế giới về phát triển bền vững (Rio de janeiro 1992, Johannesburrg 2002) đã xác định: phát triển bền vững hướng đến sự kết hợp chặt chẽ, hợp lí, hài hòa giữa ba mặt: phát triển kinh tế, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường .
Là quốc gia tham dự ngay từ đầu vào các diễn đàn, hội nghị và chương trình nghị sự về phát triển bền vững của thế giới, Việt Nam cũng sớm đưa ra quan điểm riêng về động lực của phát triển bền vững. Chương trình nghị sự 21 do Chính phủ Việt Nam ban hành năm 2006 cho biết: “Mục tiêu tổng quát của phát triển bền vững là đạt được sự đầy đủ về vật chất, sự giàu có về tinh thần và văn hóa, sự bình đẳng của các công dân và sự đồng thuận của xã hội, sự hài hòa giữa con người và tự nhiên; phát triển phải kết hợp chặt chẽ, hợp lý và hài hoà được ba mặt là phát triển kinh tế, phát triển xã hội và bảo vệ môi trường” . Nhưng lộ trình nào để đến được bến bờ phát triển bền vững? Việc kiếm tìm lộ trình phát triển bền vững xem ra còn phức tạp hơn nhiều so với công đoạn xác lập mục tiêu.
Nếu xem phát triển bền vững là một trạng thái thì trạng thái ấy chỉ có thể là hệ quả của những điều kiện phát triển tương ứng. Kinh nghiệm quốc tế và khu vực (Đông Á, Đông Nam Á) đã chỉ ra rằng: môi trường khả dĩ cho phát triển là môi trường mà ở đó nhà nước - thị trường và xã hội dân sự với tư cách là ba thể chế cấu thành nên tổng thể xã hội cùng tương tác và bổ trợ lẫn nhau. Kể từ thập niên 80 của thế kỉ trước, người ta đã chỉ ra tính chất quan hệ cộng sinh, đa chiều giữa ba thể chế này, từ đó đi đến trả lời câu hỏi về vai trò của xã hội dân sự trong bối cảnh phát triển nói chung. Phủ nhận quan điểm cực đoan của chủ nghĩa tự do khi cố tình vạch ra một vực thẳm ngăn cách giữa xã hội dân sự với nhà nước, đặt xã hội dân sự “nằm ngoài nhà nước”, nhiều học giả tiến bộ đã chỉ ra mối quan hệ tương hỗ, biện chứng giữa xã hội dân sự với nhà nước và thị trường. Học giả người Pháp, Danièle Lochak phân tích: “Hẳn nhiên, không phải tất cả mọi chuyện đều mang tính chất chính trị, nhưng chính trị là một chiều kích cấu thành nên các cộng đồng con người, thấm nhiễm vào toàn bộ đời sống xã hội, kể cả đời sống hàng ngày của chúng ta, và do đó sẽ là hão huyền nếu có tham vọng tách nó riêng ra khỏi những cái khác. Vì không thể vạch ra được cái ranh giới ấy, nên việc định nghĩa xã hội dân sự như toàn bộ các mối quan hệ phi chính trị là một định nghĩa sai lầm về mặt khái niệm” . Cũng vậy, theo GS. Cao Huy Thuần: “Cho rằng xã hội dân sự cứ tồn tại ở mức tự túc, tự quản là tự huyễn hoặc mình và huyễn hoặc người, nếu không phải là nuôi ý định xây dựng quốc gia trong quốc gia như các tổ chức tôn giáo vẫn có trong đầu. Xã hội dân sự có thể tự chủ, nhưng giữa nó và xã hội chính trị phải có qua có lại nếu muốn nói dân chủ … Hễ nhà nước yếu thì xã hội dân sự cũng yếu, không đủ sức chế ngự, kiểm soát, vận động tiến lên dân chủ [từ] một tập thể bát nháo, hỗn loạn. Ngược lại, hễ xã hội dân sự mạnh, nó tham gia chính trị, nó làm vững chắc nhà nước, nó tạo tính chính đáng cho nhà nước, nó thúc đẩy nhà nước dân chủ” . Như vậy, cả lí thuyết lẫn thực tiễn quốc tế đều xác nhận rằng: phát triển bền vững chỉ có thể thành hiện thực khi nó cắm rễ trên một môi trường thể chế cân đối, lành mạnh, hài hòa.
Nghịch lí của phát triển bền vững ở Việt Nam
Ở Việt Nam, để thực hiện các mục tiêu của phát triển bền vững, chính phủ đã đề ra ba chiến lược: nâng cao năng lực quản lí của nhà nước, huy động nguồn lực toàn dân (bao hàm lực lượng doanh nghiệp) và hợp tác quốc tế. Rõ ràng, ba chiến lược này có đề cập đến các thể chế vừa được dẫn ra ở trên: nhà nước - thị trường. Ở đây, “lực lượng toàn dân” gồm “các nhóm chính trong xã hội” có thể qui vào phạm trù xã hội dân sự, mặc dù khái niệm này không được đích danh gọi tên: phụ nữ, thanh thiếu niên, nông dân, công nhân và công đoàn, đồng bào các dân tộc ít người, giới trí thức và các nhà khoa học . Như vậy, công bằng mà nói, tư duy phát triển của Việt Nam, xét trên hai khía cạnh mục tiêu và lộ trình đề ra, đều không đi ngược nhận thức chung của thế giới.
Tuy nhiên, từ lí tưởng đề ra đến tình hình thực tiễn lại là một câu chuyện khác. Bên cạnh những thành tựu đáng ghi nhận, quá trình thực hiện phát triển bền vững ở Việt Nam đang gặp không ít trở ngại. Trong đó, như nhiều chuyên gia đã phân tích, vấn đề nổi cộm hiện nay là: tăng trưởng kinh tế chưa song hành với an sinh xã hội và môi trường. Dữ kiện thực tế buộc chúng ta phải đặt câu hỏi về tính khả hữu của điều kiện phát triển, trước hết và chủ yếu là môi trường thể chế - đòn bẩy của mọi kế hoạch phát triển. Có thể nói, những hệ lụy của phát triển bền vững hiện nay trực tiếp bắt nguồn từ sự mất cân đối trong môi trường thể chế. Tình trạng mất cân đối thể hiện ở chỗ: trong khi Đảng - nhà nước vẫn tiếp tục là lực lượng quản trị tuyệt đối, trong khi thể chế thị trường đã có một không gian nhất định để vận hành thì xã hội dân sự vẫn chưa có một môi trường phát triển thuận lợi. Mặc dù công cuộc Đổi mới đã chứng kiến quá trình tái sinh của “một khuôn mặt xã hội dân sự mới” , đến nay, xã hội dân sự vẫn chưa được đặt dưới sự bảo trợ của một khung pháp lí thực sự toàn diện, minh bạch để vươn lên. Thậm chí, trong một chừng mực nào đó, khái niệm xã hội dân sự đang bị xem là phạm trù “nhạy cảm”, “phức tạp”. Sự mất cân đối của môi trường thể chế tạo ra tình thế bất tương (irrelevance) giữa mục tiêu đề ra và điều kiện hiện thực của phát triển bền vững. Đó là nghịch lí của phát triển bền vững trong bối cảnh Việt Nam.
Phát triển xã hội dân sự để thúc đẩy phát triển bền vững
Nghiên cứu lịch sử Việt Nam cho thấy, xã hội dân sự là một hiện thực không hề xa lạ. Đặc biệt, từ sau Đổi mới, các tổ chức dân sự đã đóng một vai trò quan trọng trong sự nghiệp xây dựng đất nước. Xã hội dân sự trở thành lực lượng trung gian năng động góp phần khỏa lấp những khoảng trống chức năng mà nhà nước, thị trường không thể bao hết khi đối diện với những vấn đề phát triển: môi trường, y tế, giáo dục, bất bình đẳng xã hội, cải cách hành chính … Trong bối cảnh mới, khi phát triển bền vững đặt ra hàng loạt thách thức - những thách thức thường xuyên đặt nhà nước trước tình trạng quá tải và bất lực, thì vai trò phản biện, giám sát, hỗ trợ của xã hội dân sự càng được chứng thực hơn nữa.
Mới đây, Nghị quyết đại hội XI của Đảng và thông điệp đầu năm 2011 của Thủ tướng chính phủ đều đặt ra vấn đề tái cấu trúc nền kinh tế và phát triển bền vững. Những quyết sách này một lần nữa chứng tỏ quyết tâm của Việt Nam trong việc thực hiện các mục tiêu đã đề ra về phát triển bền vững. Tuy nhiên, chỉ khi nào tình trạng mất cân đối của môi trường thể chế được khắc phục thì phát triển bền vững mới có nền tảng và tiền đề để hiện thực hóa. Nói khác đi, chỉ khi nào xã hội dân sự trở thành một lực lượng đồng đẳng, chính danh bên cạnh nhà nước và thị trường thì phát triển bền vững mới thực sự là động lực kích thích các lực lượng xã hội tăng trưởng và tỏa sáng. Thêm nữa, khi phát triển bền vững được Đảng và nhà nước khẳng định là hướng đi tất yếu, chiến lược của dân tộc thì nhu cầu hóa giải nghịch lí ấy càng trở nên rốt ráo, cấp bách hơn bao giờ hết.
Hà Nội, mùa xuân 2011

Theo Chungta.com

Người dân cần được biết về nợ công và ODA



 Chuyên gia Liên hợp quốc nhận định nếu gánh nặng nợ quốc gia không được giải quyết thấu đáo, Chính phủ Việt Nam có thể sẽ phải lựa chọn giữa trả nợ và duy trì đầu tư cho các chương trình phát triển xã hội.
Ông Cephas Lumina, chuyên gia độc lập của LHQ về đánh giá tác động của nợ nước ngoài và thâm hụt thương mại đối với việc thực hiện quyền con người và các mục tiêu phát triển thiên niên kỷ (mục tiêu TNK) đã đến Việt Nam để tìm hiểu vấn đề này. Sau 7 ngày ở Việt Nam, ông chia sẻ một số nhận định ban đầu.
Đúng lúc, chính xác
Ông Lumina đánh giá cao việc Việt Nam đã đạt được 3 trong số 8 mục tiêu TNK trước thời hạn và bày tỏ lòng tin rằng Việt Nam có thể đạt được các mục tiêu còn lại vào năm 2025. Ông cũng chúc mừng Việt Nam đã thoát nghèo để trở thành một nước có thu nhập trung bình.
Tuy nhiên, ông lưu ý Việt Nam về "bẫy thu nhập trung bình", hay là những thách thức về thực hiện quyền con người và các mục tiêu TNK mà thành tích trên có thể mang lại.
Trở thành một nước thu nhập trung bình, Việt Nam sẽ không còn nhận được nhiều viện trợ không hoàn lại và vốn vay ưu đãi như trước nữa, thay vào đó là các khoản vay ít ưu đãi hơn và đòi hỏi năng lực trả nợ cao hơn.

Nhận thức rằng ODA chiếm đến 11% tổng vốn đầu tư xã hội và 17% vốn ngân sách nhà nước của Việt Nam, ông Lumina nhấn mạnh đến những khó khăn do việc vay ODA không còn dễ dàng mang lại về thương mại, kinh tế và đối với các nhóm dân cư dễ bị tổn thương.
Chuyên gia LHQ nhận thấy Chính phủ Việt Nam đã nhận thức điều này và thể hiện qua việc xây dựng các chiến lược và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, trong đó xác định người dân là trung tâm trong các chiến lược và kế hoạch phát triển này và người dân được phát huy quyền làm chủ của mình. Điều đó có nghĩa là Chính phủ phải có các khuôn khổ đảm bảo sự tham gia của người dân, tính minh bạch và trách nhiệm giải trình. Người dân sẽ không chỉ hưởng lợi từ sự phát triển mà còn chủ động và tích cực tham gia vào sự phát triển đó.
Qua đó, ông chỉ ra hai vấn đề cần được coi trọng cấp thiết: giải quyết thâm hụt thương mại và thâm hụt ngân sách; đồng thời đảm bảo thông tin đúng lúc và chính xác cho người dân về nợ quốc gia và ODA.
Ông phân tích, nợ nước ngoài và thâm hụt thương mại, thâm hụt ngân sách nếu không được giải quyết thấu đáo có thể đẩy Chính phủ vào thế phải tiếp tục đi vay với phí cao. Khủng hoảng kinh tế toàn cầu cũng khiến người Việt ở nước ngoài làm ăn khó khăn, lượng kiều hối chảy về trong nước không còn dồi dào. Gánh nặng vay nợ gia tăng cộng với thiếu sự bù đắp từ ngoại hối có thể dẫn đến các biện pháp như tăng thuế, tăng vay nợ và giảm đầu tư cho các chương trình phát triển xã hội.
Khả năng tiếp cận thông tin
Tuy tỉ lệ nợ công của Việt Nam (42% theo số liệu chuyên gia này nhận được từ Quốc hội) được các tổ chức tài chính quốc tế đánh giá vẫn ở mức an toàn và có mức rủi ro thấp, song nếu Việt Nam đặt mình trong những nguy cơ có thể tác động từ bên ngoài như biến đối khí hậu, khủng hoảng kinh tế toàn cầu... thì việc xác định mức độ an toàn có thể sẽ phức tạp hơn.
Không thể đưa ra một "mức độ an toàn" cụ thể, song chuyên gia này nhấn mạnh: "Mức nợ nước ngoài phù hợp là mức Việt Nam vẫn có thể trả nợ được, đồng thời vẫn duy trì nguồn vốn cho các chương trình phát triển xã hội".
Về việc đảm bảo thông tin cho công chúng, ông Lumina cho rằng các số liệu, thống kê chính thức đã có trên các phương tiện thông tin và từ các cơ quan chính thống, song vấn đề cần lưu tâm là liệu công chúng đã có khả năng tiếp cận các thông tin ấy, và chất lượng thông tin đã được đảm bảo.
Ông cho rằng: "Chính phủ có thể làm nhiều hơn nữa để thông tin về nợ công, nợ nước ngoài và ODA có thể đến với cả những người dân ở vùng sâu vùng xa, đồng thời được truyền tải một cách dễ hiểu, dễ tiếp nhận hơn".
Ông Lumina đã có các cuộc trao đổi với các cơ quan như Ủy ban Tài chính - ngân sách, Ủy ban Kinh tế của QH, Ngân hàng Nhà nước, các đối tác phát triển của Việt Nam (cả song phương và đa phương), song do mới bắt đầu những tìm hiểu của mình, chuyên gia này thừa nhận chưa thể có được một bức tranh đầy đủ.
Ông cho biết sẽ tiếp tục thu thập thông tin và phân tích số liệu, để báo cáo sơ bộ với Hội đồng nhân quyền LHQ vào tháng 6 tới, và báo cáo toàn diện vào tháng 6 năm sau.
Thủy Chung

Rào nào đang cản bước người tài?



Để tìm ra đột phá trong phát hiện, bồi dưỡng và trọng dụng người tài, Ban Tổ chức Trung ương đã được giao xây dựng Chiến lược quốc gia về nhân tài, dự kiến hoàn thành vào năm 2012.
Loay hoay tìm lời giải
Nhiều ĐB dự hội nghị sáng nay (30/3) tại Hà Nội đều băn khoăn không hiểu vì sao các bộ, ngành, cơ quan, viện nghiên cứu từng nhiều lần xây dựng kế hoạch thu hút nhân tài, trải thảm đỏ... nhưng cho đến nay vẫn loay hoay đi tìm lời giải cho bài toán "chảy máu chất xám".

TS Lê Minh Thông (trái): Sẽ đánh giá thực trạng sử dụng nhân tài từ trong lịch sử. Ảnh: Lê Nhung
Nhận định về tầm quan trọng của việc xây dựng chiến lược cấp quốc gia, nguyên Trưởng ban Tổ chức Trung ương Hồ Đức Việt nói, "vừa qua, quy trình đánh giá, tuyển chọn, sử dụng cán bộ còn nhiều mặt yếu, chưa phát huy đầy đủ dân chủ, còn hạn chế về tính công khai, minh bạch".
Nhiều người tài đã không được phát hiện, trọng dụng, chính sách thu hút chưa đủ hấp dẫn để kêu gọi được người tài trong và ngoài Đảng vào làm việc trong hệ thống chính trị. Đặc biệt Việt kiều.
Cũng theo ông Việt, nhiều nơi chưa tạo môi trường, điều kiện thuận lợi để nhân tài phát triển năng lực, toàn tâm toàn ý cho công việc.
"Nên nhiều người tài rời bỏ khu vực công, các chính sách thu hút còn tự phát, lẻ tẻ", ông Việt nhận định.
Nguyên Trưởng ban Tổ chức Trung ương cho rằng tất cả do vẫn thiếu chương trình mang tính chiến lược, để theo dõi quá  trình phát triển của những mầm mống tài năng được phát hiện sớm từ trong nhà trường.
PGS.TS Lê Minh Thông (Ban Tổ chức Trung ương) giới thiệu, việc xây dựng chiến lược quốc gia về nhân tài trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa tập trung nghiên cứu nhân tài trong ba lĩnh vực: lãnh đạo quản lý, khoa học công nghệ và sản xuất kinh doanh.
Nhóm nghiên cứu sẽ xác định khái niệm cơ bản về nhân tài, điều kiện, yếu tố chi phối quá trình hình thành tài năng và cách sử dụng nhân tài.
Quan trọng nhất là khảo sát thực trạng sử dụng nhân tài cũng như định hướng các giải pháp sắp tới để không lãng phí chất xám của đội ngũ này.
Không đố kỵ
Góp ý cho dự thảo, một đại diện đến từ Vụ địa phương (Ban Tổ chức Trung ương) cho rằng, mấu chốt nhất là những người đứng đầu thực tâm muốn sử dụng người tài, với một thái độ cầu thị và cái tâm trong sáng, không đố kỵ. Chỉ như vậy mới tạo được môi trường cho người tài cống hiến.

Nguyên Thứ trưởng Bộ Nội vụ Thang Văn Phúc (phải): Không thể ngồi tại bàn mà nhận xét cán bộ hay chỉ xét duyệt trên bằng cấp. Ảnh: Lê Nhung
Đặc biệt, nhiều người tài với cá tính mạnh, không chấp nhận cách đánh giá cán bộ kiểu bỏ phiếu lấy ý kiến hay cầu cạnh, xin xỏ. Vì thế, người đứng đầu phải có thái độ thực sự trọng thị và tầm nhìn xa rộng.
Ông Phạm Ngọc Tùng (ĐH Quốc gia Hà Nội) bổ sung, các nhà nghiên cứu nên kế thừa thành tựu các dự án nghiên cứu trước đó về người tài để khai thác điểm mới và tìm ra đột phá về công tác cán bộ.
"Phải chỉ ra được những rào cản nào đang cản bước chân người tài, đẩy họ đi nơi khác. Những rào cản thuộc về thể chế, văn hóa, chính trị", ông Tùng nói.
Theo Vụ trưởng Vụ Bảo vệ chính trị nội bộ Phan Hữu Tích, nên rút ra bài học kinh nghiệm từ chuyện những người tài đã từng bị thui chột, không được trọng dụng.
Ông Tích cho rằng, quan trọng nhất để người tài phát huy là tạo lập môi trường, cơ hội để nhân tài phát lộ, không cứ gì phải đặt ra tiêu chuẩn về học vấn, trình độ. Chiến lược nhân tài phải tính tới đề xuất xây dựng môi trường hoạt động, làm việc cởi mở, tạo sân chơi cho người tài cũng như phong trào giới thiệu người tài ra làm việc.
Ông Tích đặt vấn đề, ngay cả những người tiến cử nhân tài, nếu tiến cử nhầm hay gặp sai sót, liệu có nên kỷ  luật vì giới thiệu chưa đúng người.
Một vấn đề nhiều đại biểu phân vân, là với thể chế Đảng lãnh đạo về công tác cán bộ, chiến lược phát hiện, sử dụng nhân tài phải được thiết kế hợp lý để áp dụng được trong bối cảnh hiện nay.
Chuyện bồi dưỡng, phát hiện và trọng dụng nhân tài không phải lần đầu được bàn. Nhất là ở những cơ quan chuyên môn về tổ chức cán bộ (như Ban Tổ chức Trung ương, Bộ Nội vụ), song, mong mỏi chung là một chiến lược khả thi và sát thực tiễn.
"Ta đang thảo luận chuyện trọng dụng nhân tài trong một bối cảnh bức xúc, nhưng đây không phải lần đầu tiên bàn thảo những chuyện này. Vậy nhưng có một câu hỏi chưa trả lời, đó là tại sao bàn bạc nhiều mà mọi thứ vẫn trên bàn nghị sự, vẫn là nỗi băn khoăn của những người thuộc giới trí thức", ông Đỗ Hải Nam (Viện KHXH) nêu ý kiến.
Theo ông Nam, quốc gia hưng vong phụ thuộc vào ba tầng lớp: lãnh đạo, trí thức và doanh nhân. Chiến lược nên đặt trọng tâm nghiên cứu những thành phần này mới mong có được bước đi phù hợp.
Tiếp thu các ý kiến trên, ông Hồ Đức Việt, chủ nhiệm đề tài khẳng định, ban soạn thảo sẽ làm rõ thêm khái niệm nhân tài, đồng thời, trong giới hạn nghiên cứu sẽ chú trọng phân tích, tìm hiểu môi trường để phát huy nhân tài, tạo đột phá về công tác sử dụng cán bộ.
·         Lê Nhung

Tổng số lượt xem trang

free counters