Triết Lý, để làm gì ?

Khi ta bế tắc tư tưởng, chân thật công nhận rằng những kiến thức và phương pháp suy luận của ta không cho phép ta sống, tư duy và hành động khớp với khao khát làm người của ta, ngoài vô vàn cách ứng xử khác, ta có thể:

a) Tiếp tục sống, tư duy và hành động như cũ vì, dù sao, ta cũng sống được, không đến nỗi nào

b) Lột áo cũ, khoác áo mới, một tấm áo coi lành lặn đẹp đẽ hơn nhưng cũng hàm hồ không thua gì. Điều ấy luôn luôn khả thi bằng ngôn ngữ.

c) Đi tới cùng bế tắc của chính mình. Nếu không giải quyết được nó, ta ôm nó xuống suối vàng, để lại ở đời chỉ một câu hỏi. Câu hỏi của một con người. Đích thực. Có gì nhục đâu?

Nếu ta tưởng ta đã tìm ra một phần của giải pháp, ít nhất là cho riêng mình, thì cứ viết đi, chẳng cần trích cao nhân nào cả: họ đã là một phần của ta và ta đã phải “vượt” họ để nên mình.

Thế thôi.

(Chungta.com)

Góc nhỏ của Noby Vui Vẻ

Lục lọi, tìm tòi, đọc, cóp nhặt, chia sẻ, ... OK hay không tùy bạn ! ! !

“Nước độc lập mà dân chưa tự do thì độc lập cũng không có ý nghĩa”- Hồ Chí Minh.

15 thg 7, 2010

GS Phạm Duy Hiển: Thiếu điện là lỗi của nền kinh tế


13/07/2010 06:15:30

- “Có vẻ khó nghe, song đây là một thực tế. Thật đáng buồn, khi có một chiếc thùng thủng đáy, người ta không đi tìm lỗ thủng bịt lại, mà cứ hô hào bơm nước vào thùng mạnh hơn nữa. Gần đây, Bộ Công Thương có nói nhiều về lãng phí điện và kêu gọi người dân tiết kiệm. Nhưng gây lãng phí điện nhiều nhất không phải là người dân. Nên phải chuyển lời kêu gọi này đến những người quyết định chính sách thì mới mong có hiệu quả. Nếu tiêu thụ điện được xem như một tiêu chí quan trọng khi xem xét bất kỳ công trình sản xuất kinh doanh nào thì chắc chắn nhiều công trình phải bị từ chối hoặc đóng cửa, và chúng ta đâu phải khổ sở về điện như lâu nay”.

GS Phạm Duy Hiển đưa ra một góc nhìn khác về nguyên nhân thiếu điện trong mấy năm gần đây.

Thiếu điện là do nền kinh tế có vấn đề

Nhiều người vẫn cho rằng, sự độc quyền của EVN là nguyên nhân chính dẫn tới thiếu điện và việc nhanh chóng thị trường hóa ngành điện là chìa khóa giải quyết vấn nạn trên. Nhưng nói như ông, có lẽ câu chuyện phải được hiểu theo cách khác?

EVN được giao quản lý ngành điện nhưng giỏi lắm cũng chỉ lo được phần cung. Còn phần cầu là chuyện của Bộ Kế hoạch Đầu tư, Chính phủ và cả cỗ xe kinh tế. Cầu vượt quá khả năng cung, điện ắt phải thiếu. Cầu quá nhiều nên EVN không kham nổi. Dùng quá nhiều điện mà sản sinh ra ít của cải, kinh tế yếu kém, điện vẫn cứ thiếu.

Trước hết, hãy nói chuyện cung. Cung thiếu, phải cúp điện vì trục trặc kỹ thuật, vì khô hạn gay gắt, hồ cạn nước, mà EVN lại không đủ dự phòng. Các nhà máy mới xây luôn chậm tiến độ. Trong những đợt nắng nóng vừa qua, giá mà mấy nhà máy điện chạy than ở Hải Phòng và Quảng Ninh vào đúng tiến độ từ hồi năm ngoái, dân ta đâu phải khốn khổ. Đấy là lỗi của EVN (có cả TKV), đúng là các tập đoàn nhà nước này còn nhiều khiếm khuyết đáng trách. Nhưng có lẽ nội lực của EVN, và của cả nước, chỉ có thế! Được biết, công suất điện lắp đặt trong giai đoạn 2006-2010 chỉ đạt 66% kế hoạch so với Tổng Sơ đồ VI. Cho nên năm nào cũng cúp điện, đâu chỉ riêng năm nay mà đổ lỗi cho biến đổi khí hậu toàn cầu.

Nhiệt điện Na Dương chậm tiến độ tới 4 năm. Ảnh DĐDN
Nhiệt điện Na Dương chậm tiến độ tới 4 năm. Ảnh DĐDN


Còn
chuyện cầu. EVN đã từng làm mọi người sửng sốt khi xin trả lại nhà nước 13 dự án điện trong kế hoạch 2010 – 2015. Lý do được một quan chức EVN tiết lộ là trong kế hoạch ấy không cần nhiều điện đến thế, xây thêm nhà máy sẽ lãng phí. Căn cứ vào đâu? Muốn biết lãng phí điện nhiều hay ít, ta phải so mình với các nước khác, nhất là các nước xung quanh. Dùng điện để sản sinh ra của cải, để nâng cao mức sống người dân, song tại sao cùng sử dụng 01 kWh người Việt chỉ làm ra 01 đô la, còn người Philippines và Indonesia trên 2 đô la. Mà họ đâu có thuộc đẳng cấp hiện đại hơn ta! Các nước tiên tiến khác còn làm ra nhiều hơn 3-4 đô la?

TIN LIÊN QUAN
Cả hai yếu tố cung - cầu nói trên đều có liên quan đến quy mô và tiềm lực nền kinh tế. Đòi hỏi cung vượt quá khả năng của nội lực chẳng khác nào muốn con ếch trương bụng lên to bằng con bò (ngụ ngôn La Fontaine). Cũng vậy, “cầu” quá nhiều thì sẽ lãng phí, chẳng khác nào bơm nhiều thức ăn vào đứa trẻ đau dạ dày hòng vỗ béo nó.

Đương nhiên, xóa bỏ độc quyền EVN, đưa điện ra thị trường tự do, sẽ tạo ra mặt bằng cung - cầu mới lành mạnh hơn. Nhưng việc này phải kèm theo thay đổi cả hệ thống, có thị trường điện tự do mà các tập đoàn nhà nước và nhà đầu tư nước ngoài vẫn được bao cấp, ưu đãi dưới những hình thức khác nhau, các cơ quan nhà nước vẫn xài điện bằng “tiền chùa”, thì rất khó chờ đợi những đột phá lớn. Vả lại theo lộ trình của Chính phủ, còn lâu mới có thị trường điện tự do.

Sau 5 năm nữa mới có các nhà cung cấp điện độc lập, sau 10 năm nữa may ra mới bắt đầu có thay đổi trong khâu phân phối. Mà ở đây lại còn nhiều vấn đề kỹ thuật không thể chủ quan, đốt cháy giai đoan. Vì những rắc rối này mà ở bang California (Mỹ) và New Zealand, sau khi để thị trường điện tự điều tiết, giá điện đã tăng vọt. Nghĩa là trong mười năm tới tình hình vẫn không thể sáng sủa hơn nếu không tìm lời giải khác.

Thêm một tiêu chí xây dựng lộ trình phát triển điện


Vậy lời giải nào, quan hệ cung - cầu thế nào thì vừa?

Ta lại phải xét thêm một tiêu chí nữa thường được các nhà quy hoạch dùng làm căn cứ để xây dựng lộ trình phát triển điện. Đó là, để GDP tăng thêm 1% điện phải tăng thêm bao nhiêu %, con số này được gọi là hệ số đàn hồi (HSĐH). Chính hệ số này nói lên hiệu quả sử dụng điện của nền kinh tế. Nó càng bé, nền kinh tế càng hiệu quả, đất nước càng hiện đại.

Số liệu thống kê chính thức từ các tổ chức quốc tế cho thấy trong giai đoạn 2001-2006 tăng trưởng điện năng hàng năm của Việt Nam cao nhất vùng, 15%, trong khi Trung Quốc 13%, Thái Lan 7%, Indonesia 7%, Ấn Độ 5%... Chưa kể Nhật Bản, chỉ có 0,6%, nhưng họ thuộc đẳng cấp hiện đại hơn, so với họ có thể sẽ khập khiễng. Theo Bộ Công thương, HSĐH của Việt Nam lớn hơn 2 đôi chút. Theo cách tính này thì HSĐH của Trung Quốc khoảng 1,2-1,3, còn các nước khác đều xấp xỉ hoặc bé hơn 1, nghĩa là điện tăng ít hơn GDP.

a
GS Phạm Duy Hiển


Khát điện như Trung Quốc mà họ cũng thấy rằng HSĐH suýt soát 1 là quá lãng phí. Nhận ra mối nguy, trong kế hoạch 2006-2010 họ kiên quyết giảm tốc độ tăng trưởng điện xuống trong khi vẫn bảo đảm tăng trưởng kinh tế mạnh. Riêng trong hai năm 2008-2009, lượng điện thương phẩm của Trung Quốc chỉ tăng 6%/năm trong khi GDP tăng gần 10%/năm. Hai con số này ngược hẳn với ta: GDP tăng chưa đầy 6%/năm nhưng điện lại tăng đến 13%/năm.

Cũng nên nhớ rằng Trung Quốc là công xưởng cho toàn cầu. Chỉ riêng sản xuất nhôm, họ phải tiêu thụ một lượng điện nhiều hơn cả nước ta hiện nay!. Đó là chưa nói đến thép, xi măng và bao nhiêu nguyên liệu khác, họ đều đứng đầu thế giới, và lượng điện bơm vào từng ngành này còn nhiều hơn gấp bội.

EVN bơm điện vào nền kinh tế chẳng khác nào đổ nước vào một thùng thủng đáy, đổ mãi vẫn không đầy. Không sớm nhận ra mối nguy này, chúng ta phải bỏ ra bao nhiêu tiền của để xây nhà máy điện trong bối cảnh thế giới đang đảo điên vì khủng hoảng năng lượng và biến đổi khí hậu toàn cầu.

Cần nhất là thay đổi tư duy lãnh đạo

Theo ông, làm thế nào để giảm HSĐH: chuyển dịch cơ cấu nền kinh tế thiên về dịch vụ sẽ đòi hỏi thời gian rất lâu, thay đổi toàn bộ những máy móc công nghệ lạc hậu liệu có khả thi?

Điều quan trọng nhất hiện nay là tư duy lãnh đạo phải thay đổi. Tăng điện năng hàng năm đến 15% để cho HSĐH lớn hơn 2 có thể là chuyện bất khả kháng trong thời gian qua khi chúng ta mới bắt đầu phát triển kinh tế sau nhiều năm chiến tranh. Đây là biểu hiện rõ nhất của tình trạng lạc hậu. Nhưng giờ đây khi đã vượt qua khỏi ngưỡng nghèo (thu nhập bình quân trên 1000 đô la/năm), ta phải có bước ngoặt quyết định để chuyển sang quỹ đạo chung của thế giới ở thế kỷ 21, sớm từ giã lạc hậu và tiến lên hiện đại hóa.

Lạc hậu không đáng sợ bằng lạc lõng, vì mãi hát bài ca “đường ta ta cứ đi” như lâu nay, ta sẽ lao nhanh xuống hố! Trong thời đại này xin đừng tuyên bố rằng nếu tăng điện 15%/năm không đủ, ta phải lập quy hoạch tăng trên 20%/năm. Thật là lạc lõng! Và thế là cơ quan chức năng phải lập lại dự báo, tăng vọt mức tiêu thụ điện năm 2020 lên gấp đôi so với Tổng Sơ Đồ VI, từ đó luận chứng cho việc đưa vào vận hành một lèo 13 lò phản ứng hạt nhân sau năm 2020, mỗi lò hơn 1000 MW.

Kỳ tới: Thay đổi tư duy lãnh đạo đã đủ?

Lương Bích Ngọc - Hoàng Hạnh (Thực hiện)

Thận trọng với việc thành lập các tập đoàn kinh tế


Nguyên Thủ tướng Võ Văn Kiệt
LTS: Việc thành lập các tập đoàn kinh tế đã và đang được xúc tiến mạnh như một thứ phong trào. Điều này liệu có lành mạnh đối với nền kinh tế? Tòa soạn xin giới thiệu ý kiến của nguyên Thủ tướng Võ Văn Kiệt về vấn đề này.

Hiện nay, việc xây dựng các tập đoàn kinh tế nhà nước đang diễn ra khá rộng mà chưa thấy có đủ cơ sở phân tích khoa học và thực tiễn kinh nghiệm cần thiết. Thực tế mô hình này đã có thành công ở một số quốc gia, trong những giai đoạn nhất định, nhưng cũng không ít nền kinh tế bị chao đảo vì chịu ảnh hưởng nặng bởi sự thua lỗ của các tập đoàn kinh tế.

Các tập đoàn kinh tế của các nước trên thế giới có lịch sử khá lâu. Hầu hết các tập đoàn đều xuất phát từ các công ty gia đình nhỏ, nhưng hoạt động rất hiệu quả, dưới sự lãnh đạo của những nhà quản lý giỏi dần trở thành tập đoàn khổng lồ. Quá trình này không diễn ra nhanh chóng mà thường phải mất hàng chục năm, gần như không có tập đoàn nào hình thành trong thời gian vài ba năm.

Các tổ chức kinh tế gọi là lớn của chúng ta (các tổng công ty 90, 91) là nền tảng để hình thành các tập đoàn, nói chung quy mô còn khiêm tốn. Thêm nữa, khả năng quản lý hệ thống, quản lý theo mô hình công ty mẹ - công ty con, vấn đề sở hữu... còn nhiều bất cập. Yếu tố then chốt đảm bảo cho doanh nghiệp hoạt động tốt là cơ chế quản lý, quan hệ giữa người trực tiếp điều hành doanh nghiệp với Nhà nước với tư cách là chủ sở hữu lại chưa được làm rõ, thực tế hiện nay ở ta vẫn là chia sẻ trách nhiệm.

Khi xảy ra sự cố, người điều hành doanh nghiệp thường đẩy trách nhiệm lên trên. Như vậy, người trực tiếp điều hành vừa không đủ quyền tự chủ lại không phải chịu trách nhiệm về kết quả điều hành của mình dẫn đến tình trạng “cha chung không ai khóc”. Do đó, tình trạng lạm dụng tài sản của Nhà nước mưu lợi cho cá nhân: lợi thì doanh nghiệp hưởng, thua thiệt thì Nhà nước chịu vẫn phổ biến mà điển hình là sự yếu kém về quản lý dẫn đến các vụ bê bối ở Tổng công ty Dầu khí, Tổng công ty Điện lực (nay đã thành tập đoàn)... Trong khi đó, quan hệ trách nhiệm giữa người trực tiếp điều hành doanh nghiệp với chủ sở hữu ở các nước khác đã được xác định rạch ròi từ nhiều chục năm nay.

Các tổng công ty của ta yếu kém trong quản lý, trách nhiệm không rõ ràng chứ không phải yếu do quy mô và cơ cấu sản phẩm. Dưới cái vỏ mới tập đoàn kinh tế như hiện nay, nhưng thực chất vẫn vận hành với chế độ sở hữu cũ, những con người cũ, phần lớn vị trí chủ chốt được bổ nhiệm vì lý do chính trị chứ không dựa trên năng lực quản trị kinh doanh - điều tối cần thiết của người đứng đầu doanh nghiệp trong môi trường cạnh tranh... vì vậy, cũng không thể kỳ vọng có thể khắc phục được những khiếm khuyết, bất cập của cac tổng công ty lớn của chúng ta.

Hiện các doanh nghiệp nhà nước (DNNN) nắm giữ khối tài sản quốc gia rất lớn: 70% tổng tài sản cố định, 20% vốn đầu tư toàn xã hội, 50% vốn đầu tư của nhà nước, 60% tín dụng ngân hàng và 70% nguồn vốn ODA..., trong đó hơn 80% do các tổng công ty lớn đã hoặc sắp thành tập đoàn nắm giữ. Với khối tài sản lớn như vậy, nếu không cải thiện được hiệu quả hoạt động của khu vực này; vẫn tiếp tục tình trạng làm ăn thua lỗ, yếu kém thì tác hại của nó ở quy mô tập đoàn còn lớn hơn nhiều so với các tổng công ty 90, 91.

Việc ra đời các tập đoàn kinh tế, theo tôi cảm nhận dường như thiếu sự chuẩn bị kỹ và tuy được xem như làm thí điểm, nhưng những kết quả, mô hình hợp lý thì chưa thấy rõ lại tiếp tục mở rộng, thành lập thêm nhiều tập đoàn. Sự bành trướng của các tập đoàn sang mọi lĩnh vực kinh doanh khác vừa đi ngược chủ trương “Nhà nước và DNNN sẽ tập trung vào những lĩnh vực then chốt, thiết yếu đối với toàn bộ nền kinh tế quốc dân”; vừa phân tán lực lượng và sức cạnh tranh của DNNN, vừa không giải phóng được những nguồn lực do các DNNN nắm giữ mà không sử dụng có hiêu quả, vừa thêm khó cho Nhà nước trong việc kiểm soát các tập đoàn này. Đồng thời, các tập đoàn lại chiếm thêm phần thị trường, các nguồn lực vật chất và cơ hội kinh doanh vốn đã khiêm tốn cho khu vực tư nhân và doanh nghiêp vừa và nhỏ của Việt Nam khiến khu vực này khó cải thiện được năng lực cạnh tranh, khó lớn lên để phát huy vai trò quan trọng của nó trong nền kinh tế.

Tôi có gặp một số lãnh đạo các doanh nghiệp chủ chốt đã lên tập đoàn và sắp lên tập đoàn. Qua tìm hiểu, sự chuẩn bị các mặt từ tổng công ty lên tập đoàn (như trên tôi nói) chưa tốt, có tập đoàn sau khi hình thành, mở rộng các lĩnh vực kinh doanh khác trong lúc quản lý sản phẩm chủ yếu cua mình chưa phải tốt.

Dưới cái vỏ mới tập đoàn kinh tế như hiện nay, nhưng thực chất vẫn vận hành với chế độ sở hữu cũ, những con người cũ... không thể kỳ vọng có thể khắc phục được những khiêm khuyết, bất cập của các tổng công ty lớn của chúng ta.

Gần đây, có hiện tượng các tập đoàn đua nhau đưa ra những dự án đầu tư quy mô lớn và tranh thủ xin phê duyệt, một số đã được chấp thuận. Tôi thấy có nhiều vấn đề bất ổn trong các dự án này: một là, thiếu quy trình thẩm định khoa học, khách quan, nghiêm túc để đánh giá tính khả thi và hiệu quả của dự án một cách toàn diện về kinh tế, xã hội, môi trường; hai là, thiếu cơ sở để đánh giá đúng năng lực của các tập đoàn chủ trì thực hiện, quản lý và vận hành dự án (phần nhiều là yếu hơn những gì họ cam kết với Nhà nước); ba là, cách các tập đoàn, tổng công ty nhà nước, ngân hàng nhà nước cam kết hợp vốn đầu tư qua lại cho nhau để làm các dự án lớn vừa không đủ minh bạch, vừa kém khả thi, vừa khó giám sát. Hậu quả cuối cùng có thể là những tổn thất lớn mà nền kinh tế của ta phải gánh chịu.

Trong bối cảnh hội nhập, nước ta sẽ phải mở cửa nền kinh tế mạnh hơn nữa, môi trường kinh doanh ở Việt Nam sẽ cạnh tranh gay gắt hơn. Số lượng và vai trò của các nhà đầu tư nước ngoài, các công ty đa quốc gia trong nền kinh tế sẽ ngày càng tăng. Khi nước ta phải thực hiện hai cam kết WTO về DNNN: DNNN phải hoạt động dựa trên cơ sở thương mại bình thường và mua sắm của DNNN không được coi là mua sắm của Nhà nước sẽ rất khó đảm bảo được.

Các tập đoàn của ta là DNNN có truyền thống dựa vào bao cấp vê nhiều mặt, không dễ từ bỏ thói quen cũ, nếu từ bỏ không dễ đứng nổi trong cạnh tranh; đồng thời các đơn vị này sẽ thường xuyên bị các đối thủ cạnh tranh soi xem có vi phạm cam kết WTO không. Nếu có vi phạm, không những bản thân doanh nghiệp đó bị thổi còi mà Chính phủ và cả ngành đó có thể bị trừng phạt lây. Khi các tập đoàn không thể đứng vững, mà với các điều kiện hiện tại thì không có gì đảm bảo các tập đoàn được thành lập sẽ hoạt đông tốt hơn DNNN hiện nay, vậy ai sẽ nắm giữ những nguồn lực và sức mạnh của nền kinh tế Việt Nam.

Chính vì những lý do trình bày trên, tôi đề nghị hết sức thận trọng xem xét việc thành lập các tập đoàn kinh tế, dự phòng nhiều phương án và tiến hành thận trọng hơn.

VÕ VĂN KIỆT

theo tuoi tre on line

Tham vọng lãnh thổ của Trung Quốc tiến nhanh về phía trước

15/07/2010


Peter Hartcher

13-07-10

imageMột câu châm ngôn nổi tiếng của nhà lãnh đạo Trung Quốc, ông Đặng Tiểu Bình, kêu gọi đồng bào của mình: "Che giấu ánh sáng, nuôi dưỡng bóng mờ". Đó là hơn 20 năm trước đây. Bây giờ dường như các nhà lãnh đạo Trung Quốc đã hoàn thành việc chờ đợi cơ hội thuận lợi.

Trong một khẳng định có tính quyết đoán về vị trí trên thế giới, Trung Quốc đã đặt Biển Đông vào loại "lợi ích quốc gia cốt lõi" của họ trong việc đòi chủ quyền lãnh thổ không nhượng bộ - tương tự như Đài Loan và Tây Tạng. Trung Quốc đã vẽ một đường màu đỏ vào các bản đồ châu Á và thách thức bất cứ ai vượt qua.

Điều này làm cho Trung Quốc xung đột trực tiếp với việc đòi chủ quyền của năm nước láng giềng và thách thức sự thống trị của Hải quân Hoa Kỳ trong vùng. Một phần ba lượng tàu bè thương mại trên thế giới đi qua vùng biển mà bây giờ Trung Quốc tuyên bố độc quyền, vùng biển giáp với Đài Loan ở phía Bắc, Việt Nam ở phía Tây, Philippines ở phía Đông và Malaysia và Brunei ở phía Nam.

Vùng biển đó có chứa các mỏ dầu khí; một số nhà phân tích Trung Quốc gọi nó là "vịnh Ba Tư ở châu Á" vì sự giàu có tiềm năng dầu hỏa cũng như sự hỗn loạn của nó. Nơi này đặc biệt nóng bỏng vì Chính phủ Trung Quốc bác bỏ thỏa thuận không ràng buộc năm 2002 với các nước láng giềng Đông Nam Á để giải quyết tranh chấp lãnh thổ thông qua thương lượng hòa bình.

Đây là một cuộc khủng hoảng nhưng là khủng hoảng ngầm. Chủ yếu là do các nước bị mất thể diện đang phản ứng với sự kiềm chế cảnh giác đối với người láng giềng đang phát triển của họ. Việt Nam đã yêu cầu Trung Quốc tôn trọng các thỏa thuận, nhưng các nước khác gần như im lặng.

Và Hoa Kỳ?

Trợ lý Ngoại trưởng Hoa Kỳ phụ trách Đông Á và Thái Bình Dương, ông Kurt Campbell, nói với báo Herald rằng: "Tôi nghĩ Hoa Kỳ và Trung Quốc có một cuộc đối thoại giữa hai nhà nước thành công trên nhiều vấn đề. Trong bối cảnh lớn hơn đó, luôn có các vấn đề mà Mỹ và Trung Quốc có sự khác biệt và chúng tôi hiểu rằng những khác biệt đó sẽ mở rộng không chỉ trong vấn đề quyền của Đài Loan hoặc các vấn đề như Tây Tạng, nhưng cũng sẽ mở rộng đến các vấn đề như Biển Đông.

Chúng tôi tìm cách hợp tác chặt chẽ để thiết lập một cuộc đối thoại, không chỉ với Trung Quốc nhưng với bạn bè của chúng tôi ở Đông Nam Á, để bảo đảm rằng chúng tôi hoàn toàn hỗ trợ quy trình năm 2002 giữa Trung Quốc và các nước Đông Nam Á để đối phó với bất kỳ vấn đề đáng chú ý nào thông qua ngoại giao''.

Nói cách khác, Hoa Kỳ cũng muốn Trung Quốc trở lại nguyên trạng như trước để thương lượng thay vì mạo hiểm đơn phương đòi chủ quyền. Như thường lệ, Hiệp hội các nước Đông Nam Á chẳng giúp được gì khi gặp rắc rối. Một lần nữa, nó lại đưa vấn đề cho Hoa Kỳ để tìm kiếm một giải pháp.

Diễn đàn khu vực ASEAN có thêm Trung Quốc, Hoa Kỳ, Úc và một loạt các nước khác sẽ họp tại Hà Nội ngày 23 tháng 7. Đây chắc chắn sẽ là chủ đề nóng.

Tại sao Trung Quốc làm điều này? Bởi vì nó cần phải làm, theo một quan chức hàng đầu của hải quân. Đề đốc Trương Hoa Trần, Phó chỉ huy Hạm đội Đông Hải, nói với báo The Straits Times: "Do việc mở rộng quyền lợi kinh tế đất nước, hải quân muốn bảo vệ tốt hơn các tuyến đường giao thông vận tải của đất nước và sự an toàn trên các tuyến đường biển chính".

Ông Walter Russell Mead, thuộc Hội đồng Đối ngoại, thì vẫn còn hoài nghi: "Thật là vô ích do các tham vọng thương mại của Trung Quốc, thương mại gì mà họ bảo vệ? Trung Quốc cần năng lượng và nguyên liệu thô từ khắp nơi trên thế giới".

Trung Quốc đang làm điều đó vì họ có thể, theo lời của một tướng về hưu, ông Xu Guangyu nói với báo South China Morning Post: "Trung Quốc vắng mặt trong thời gian dài ở vùng biển đặc quyền kinh tế của mình hàng thập kỷ qua là một rủi ro bất thường trong lịch sử và bây giờ Trung Quốc chỉ đi tới các hoạt động bình thường. Chúng tôi đã im lặng trong tranh chấp lãnh thổ với các nước láng giềng trong quá khứ bởi vì hải quân của chúng tôi không có khả năng bảo vệ các khu kinh tế, nhưng bây giờ hải quân có khả năng thực hiện nhiệm vụ của mình".

Bây giờ Trung Quốc nghĩ rằng họ không gặp trở ngại gì, theo Vương Hán Linh, chuyên gia về hoạt động hàng hải thuộc Học viện Khoa học xã hội Trung Quốc nói: "Trên thực tế, các tranh chấp đó đã tồn tại từ khi dầu mỏ và các nguồn tài nguyên khác trên đại dương đã được phát hiện ở quần đảo Điếu Ngư [mà Nhật Bản đòi chủ quyền dưới tên Quần đảo Senkaku] và quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa ở Biển Đông và Biển Hoa Đông trong thập niên 1970''.

Có một đề nghị là các nước Đông Nam Á có thể hình thành một mặt trận chung chống lại Trung Quốc, viễn cảnh mà "có lần làm Bắc Kinh quan ngại", ông Vương nói, nhưng họ (các nước ASEAN) đã bỏ qua sau ba thập kỷ không hành động. "Chúng tôi thấy hàng xóm của chúng tôi có các tranh chấp lãnh hải và cãi nhau về các lợi ích quốc gia để bảo vệ, điều này khó khăn cho họ hơn để xây dựng một mặt trận thống nhất chống lại Trung Quốc. Ngay cả nếu họ thành công trong việc cùng tham gia với nhau, họ vẫn không đủ mạnh để đánh bại Trung Quốc ".

Đó là một trong những bước đi của Bắc Kinh trong năm nay để mở rộng quyền thống trị hải quân của họ. Trước tiên, họ tuyên bố học thuyết mới, mở rộng hải quân. Cho đến nay, khu vực hoạt động của họ bị giới hạn ở cái gọi là “chuỗi đảo thứ nhất”, kéo dài từ Nhật Bản đến Philippines. Nhưng bây giờ Bắc Kinh tuyên bố "phòng thủ ngoài khơi", vươn tới chuỗi đảo thứ hai, một khu vực trải dài tới đảo Guam, Indonesia và Úc.

Thứ hai, họ tiến hành diễn tập hải quân và tuần tra năng nổ hơn nhằm cung cấp ý nghĩa hoạt động cho học thuyết mới. Chẳng hạn như trong tháng 4, một hạm đội 10 tàu khởi hành vượt qua chuỗi đảo thứ nhất, một cuộc tập trận quy mô chưa từng có của Trung Quốc. Thứ ba, nó tiếp tục xây dựng nhanh khả năng, bao gồm một căn cứ tàu ngầm dưới đất ở đảo Hải Nam và một nhóm tàu sân bay chiến đấu sẽ được triển khai trong vài năm tới.

Người đứng đầu Tư lệnh Thái Bình Dương Hoa Kỳ, Đô đốc Robert Willard cho biết hồi tháng 4: "Đặc biệt quan tâm đến yếu tố hiện đại hóa quân sự của Trung Quốc, cho thấy nó được thiết kế để thách thức quyền tự do hành động của chúng ta trong khu vực".

Với nền kinh tế thịnh vượng và phát triển khả năng, Bắc Kinh không còn chờ cơ hội thuận lợi mà sẽ hành động để tự khẳng định mình.

Ông Peter Hartcher là biên tập viên quốc tế.

Ngọc Thu dịch

Dịch từ: SMH

Những nguyên nhân làm tàn lụi sức mạnh dân tộc Việt & Vận hội mới

15/07/2010


Hà Trí Anh
imageKính gửi: GS Nguyễn Huệ Chi và các cộng sự,

Ông cha chúng ta đã đúc kết về tầm quan trọng của sức mạnh tinh thần, sức mạnh tư tưởng trong cuộc sống của mỗi con người chúng ta nói riêng, và của cả dân tộc Việt chúng ta nói chung: “Thuận vợ thuận chồng, tát bể đông cũng cạn”, “Tư tưởng không thông, vác bình tông cũng nặng”,…

Những ai quan tâm đến sức mạnh tinh thần, sức mạnh tư tưởng của con người nói riêng và của một dân tộc nói chung đã biết vượt qua thất bại, sai lầm, đớn đau, mất mát, bi kịch… để vươn lên phía trước, để thành công, và dành được vị trí xứng đáng trong xã hội, hay trong cộng đồng thế giới, đều không thể không biết đến, không thể không khâm phục sức mạnh tinh thần dân tộc của người Đức, người Mỹ, người Nhật, người Hàn Quốc, người Đài Loan, người Singapore,…

Những yếu tố nào tạo nên sức mạnh tinh thần dân tộc của người Đức, người Mỹ, người Nhật, người Hàn Quốc, người Đài Loan, người Singapore,…? Chúng ta hầu như ai cũng biết, cũng dễ dàng nêu ra được tương đối chính xác và đầy đủ.

Hiện tại, chúng ta có sức mạnh tinh thần dân tộc không?

Không có!

(Trong quá khứ, cha ông chúng ta đã nhiều lần có được, tạo ra được một sức mạnh tinh thần dân tộc lớn lao. Đó là vào những lúc chúng ta chiến thắng quân xâm lược phương Bắc, giành độc lập dân tộc năm 1945, làm nên chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954, thống nhất đất nước năm 1975).
Chúng ta đã nhiều lần từng hội tụ được một sức mạnh tinh thần dân tộc khiến đại bộ phận dân chúng vững tin vào bản lĩnh và lẽ sống “vì dân” của người cầm quyền. Vậy, tại sao bây giờ chúng ta lại không có nó nữa? Sức mạnh tinh thần của dân tộc vì sao lại biến mất, vì sao lại tiêu tán, lụi tàn?

Tôi xin nêu ra một số nguyên nhân chính làm tiêu tán sức mạnh tinh thần dân tộc:

1- Các nhà lãnh đạo đất nước đã phạm sai lầm lớn khi tước mất quyền làm chủ đất nước của nhân dân qua việc tước bỏ quyền lập hiến và quyền phúc quyết Hiến pháp của nhân dân trong lần sửa đổi Hiến pháp năm1992;

Nhân dân đang từ vị thế người làm chủ đất nước bỗng trở thành người mất “quyền làm chủ” và dẫn đến mất các quyền khác;

2- Các nhà lãnh đạo đất nước đã phạm sai lầm lớn khi áp đặt cho toàn dân tộc một ý thức hệ lỗi thời, xơ cứng, giáo điều, duy ý chí: ý thức hệ “cộng sản mác-xít”, ý thức hệ “xã hội chủ nghĩa” mà không hề hỏi nhân dân xem họ có muốn như vậy hay không. Nhân dân thấy mình bị áp đặt, bị xem thường, bị rẻ rúng;

3- Một bộ phận không nhỏ các quan chức Nhà nước đã và đang lạm dụng quyền lực, chức vụ của mình để mưu lợi riêng, mưu lợi cho phe nhóm của mình; có thái độ cửa quyền, gây khó dễ, nhũng nhiễu nhân dân. Bộ phận này đã trở nên giàu có một cách nhanh chóng và bất chính, trong khi đại bộ phân nhân dân đang phải sống thiếu thốn, nghèo khổ. Các nhà lãnh đạo quốc gia không còn là tấm gương cho nhân dân noi theo nữa, các quan chức nhà nước không còn là “rường cột quốc gia” trong con mắt nhân dân nữa. Khoảng cách giữa giới quan chức Nhà nước và nhân dân ngày càng lớn rộng ra; và mâu thuẫn giữa “quan giới” và nhân dân nảy sinh là một tất yếu;

4- Nhà nước duy trì một chính sách thiên vị, ưu ái dành cho các doanh nghiệp nhà nước tuy lớn về quy mô mà lại rất kém cỏi về hiệu quả kinh doanh; trong khi lại bỏ bê, coi nhẹ, xem thường vai trò của sự nghiệp dân doanh, khu vực kinh tế dân doanh. Nhân dân thấy mình bị phân biệt đối xử, bị hắt hủi;

5- Đảng, Nhà nước vừa đá bóng vừa thổi còi; không có một cơ chế giám sát hữu hiệu trong các hoạt động của mình, nên không thể, hoặc không kịp thời phát hiện ra các bất cập, sai lầm của hệ thống Nhà nước (Chúng ta chưa nói đến việc một hệ thống tự giám sát chính mình là rất khó, có thể nói là không thể);

6- Khi quan chức Nhà nước sai phạm, vi phạm luật pháp, Nhà nước đã dùng biện pháp “phê bình nội bộ”, “rút kinh nghiệm sâu sắc”… nên vô hình trung Nhà nước đã không tôn trọng luật pháp do chính mình đặt ra. Nhân dân thấy Nhà nước không nghiêm, pháp luật nhờn. Nhân dân hoang mang, mất lòng tin vào Nhà nước, vào pháp luật, và không biết đặt lòng tin vào ai, vào cái gì nữa;

7- Chúng ta đã và đang thể hiện một thái độ kỳ thị, nghi kỵ các bà con Việt kiều của chúng ta đang sinh sống ở nước ngoài. Một bộ phận dân tộc đã và đang bị dứt bỏ ra khỏi "cơ thể" của dân tộc ta;

8- Rồi, hầu như tất cả chúng ta (quan, dân, tôi, anh, chị…) tự khi nào đã biến thành và đang là những hòn đá khô cứng, vô cảm, lạnh lùng, ích kỷ, tham lam, bảo thủ, nghi kỵ, riêng rẽ phe nhóm, hèn nhát và a dua;

9- V.v… và v.v...

Trong trạng huống, thực tại nêu trên này, chắc chắn chúng ta không thể nào có được một sức mạnh tinh thần dân tộc như chúng ta đã từng có!

Chúng ta có khao khát, có mong muốn dân tộc Việt chúng ta lại có được một sức mạnh tinh thần dân tộc như các dân tộc nêu trên không? Chắc chắn là chúng ta rất khao khát, rất mong muốn.

Việc sửa đổi Hiến pháp trên nền tảng “dân là gốc của nước”, và Đại hội Đảng CSVN vào tháng Giêng sắp tới là cơ hội lịch sử để dân tộc Việt chúng ta xóa bỏ những nguyên nhân làm tàn lụi sức mạnh tinh thần dân tộc, tạo một hào khí mới, một sức mạnh tinh thần mới, một vận hội mới cho toàn dân tộc... nếu như. Vâng, phải thêm hai chữ “nếu như” bởi rất có thể cơ hội sẽ trôi qua một cách cay đắng vì tầm vóc nhiều mặt của người cầm chịch hôm nay rốt cuộc vẫn không thể vượt lên khỏi cái bóng của chính mình, và lúc bấy giờ thì lịch sử chắc chắn là một sa mạc khô cằn mà có lẽ vào lúc này chưa ai tưởng tượng nổi.

Kính chào Giáo sư và các cộng sự.

Hà Nội, ngày 12/7/2010

HTA

HT Mạng Bauxite Việt Nam biên tập

“THỦ TƯỚNG NGUYỄN TẤN DŨNG HỨA NHƯNG THẤT HỨA, KHÔNG NGHE, KHÔNG BIẾT, VÀ CŨNG KHÔNG TỪ CHỨC”



(Bức tâm thư gửi Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng và 14 vị Bộ Chính trị đứng đầu là Tổng bí thư Nông Đức Mạnh và Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Phú Trọng)

Lão thành cách mạng Nguyễn Văn Bé

Cụ Nguyễn Văn Bé ở Nha Trang vừa gửi đến BVN lá thư dưới đây, khẩn thiết xin đăng. Đọc nội dung, nhận thấy đây là những vấn đề thời sự nóng hổi và bức thiết của đất nước, sau khi cân nhắc chúng tôi xin trân trọng đăng lên để đáp ứng tâm nguyện một vị lão thành cách mạng năm nay 87 tuổi mà cả nước đều biết tiếng, và không dám thêm những lời bình có thể làm sai lạc ý tưởng của tác giả, bởi những ý tưởng này không thuộc bản quyền của BVN.

Bauxite Việt Nam

image1. Lời hứa “kiên quyết và quyết liệt” nhưng lại... không thực hiện

Tháng 10/2006, ông Nguyễn Tấn Dũng nhậm chức Thủ tưởng thay ông Phan Văn Khải về hưu, tuyên bố: “Tôi kiên quyết và quyết liệt chống tham nhũng. Nếu tôi không chống được tham nhũng, tôi xin từ chức ngay”.

Gần 5 năm nay, nạn tham nhũng chẳng những không chống được mà ngày càng phát triển, từ các cơ quan Trung ương xuống tận xã, phường, thôn ấp. Điển hình theo Ủy ban Kiểm tra Trung ương vừa mới kết luận, tạm xử lý 45 trường hợp nổi cộm khắp toàn quốc khiến dư luận xã hội rất bất bình. Tôi thử thống kê theo thông báo này thì thấy có 12 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, 4 Tập đoàn công ty trực thuộc Chính phủ quản lý, đối tượng toàn là Bí thư, Phó bí thư, Thường vụ Tỉnh ủy, Bí thư Ban cán sự, Chủ tịch, Phó chủ tịch UBND tỉnh, lãnh đạo Tập đoàn từ Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch HĐQT, Tổng và Phó tổng giám đốc. Đây là những vụ việc động trời có nguy cơ làm mất hết uy tín của Đảng và Nhà nước ta. Thật khiến cho những đảng viên suốt đời đi theo Đảng như tôi nhỏ máu trong tim.

Riêng trường hợp chưa từng xảy ra trong Đảng và Nhà nước từ khi thành lập Đảng và chính quyền đến nay (65 năm) là việc ông Phó bí thư Tỉnh ủy, Bí thư Ban cán sự, Chủ tịch UBND tỉnh Hà Giang suốt mấy năm liên tục xâm hại tình dục các em bé học sinh đáng bậc con, cháu của mình, là hành động dã man thua cả loài cầm thú, lại còn tổ chức dâm dục tập thể, mơn trớn cười đùa trên thân xác của trẻ thơ, chụp ảnh toàn thân lõa lồ đủ mọi động tác. Ông Bí thư Tỉnh ủy và Giám đốc Sở Công an tỉnh Hà Giang đã nhận nhiều đơn tố cáo, phản ánh nhưng cũng đồng tình để cho ông Chủ tịch cứ liên tục tung hoành. Thế mà thật lạ, UBKTTW chỉ đề nghị cách các chức vụ trong Đảng và chính quyền của ông ta thôi. Tại sao không khai trừ tên đó ra khỏi Đảng ngay? Tại sao không bỏ tù nó ngay đi (Vi phạm luật hình sự hiếp dâm trẻ chưa đến tuổi vị thành niên kia mà?). Tình trạng ở thôn xã thì từ Bí thư, Chủ tịch, cán bộ xã và thôn lấy tiền hỗ trợ của Nhà nước cho người nghèo chia nhau ăn nhậu hầu như sờ đâu cũng thấy trong khi dân chúng khắp nơi khốn quẫn, kiếm cái ăn không ra.

Những bằng chứng như thế rõ ràng khẳng định ông Nguyễn Tấn Dũng đã không hoàn thành nhiệm vụ trong suốt 5 năm qua. Ông Dũng và toàn bộ 14 Ủy viên Bộ Chính trị khác đã hoàn toàn không chống được tham nhũng. Vậy tại sao ông Nguyễn Tấn Dũng không tự nguyện làm đơn xin từ chức ngay như lời ông đã đoan quyết trước dân?

Ông Nguyễn Tấn Dũng là Thủ tướng Chính phủ của một chế độ cộng sản tốt đẹp nhất nhưng lại thua xa ông Thủ tướng Nhật Bản: khi ra ứng cử Thủ tướng ông này đã hứa với nhân dân Nhật rằng mình sẽ dời bằng được căn cứ của Mỹ đi khỏi Okinawa. Sau 8 tháng lên làm Thủ tướng thấy không có cách gì thực hiện được lời hứa đó vì những lý do khách quan là tàu hải quân Trung Quốc tăng cường đe dọa an ninh vùng biển Nhật Bản, ông liền tuyên bố với nhân dân, Quốc hội, Nhật hoàng kiên quyết xin từ chức. Và ông từ chức thật. Nhật Bản là chế độ quân chủ lập hiến mà sao họ tự giác cao đến như thế? Còn ông Nguyễn Tấn Dũng, đường đường một vị Thủ tướng của nước Việt Nam cộng hòa xã hội chủ nghĩa lại thất hứa với nhân dân, mà thất hứa về một nhiệm vụ hết sức lớn lao quyết định tồn vong của Tổ quốc, của dân tộc và của Đảng ta, đó là “Quốc nạn tham nhũng”, thế thì phải tính thế nào đây?

Xin nêu một ví dụ thứ hai, Thủ tướng Hàn Quốc cách đây mấy ngày cũng đã tuyên bố từ chức vì một đề án quan trọng do bản thân Thủ tướng và Chính phủ Hàn quốc đưa ra Quốc hội, kết quả bị Quốc hội bác bỏ. Liên hệ đến nước ta, ông Nguyễn Tấn Dũng là Thủ tướng đã cùng toàn thể Chính phủ của ông kiên quyết đưa ra Quốc hội để gần như bắt buộc thông qua dự án tầm cỡ quốc gia về xây dựng “Đường sắt cao tốc Bắc Nam”. Nhưng 493 đại biểu trong đó có 92% là đảng viên cộng sản đã thấy rõ sự cần thiết phải phát huy quyền dân chủ thực sự của mình, không muốn nằm mãi trong “vòng kim cô” của Bộ Chính trị và Chính phủ của ông Nguyễn Tấn Dũng như trước đây nữa, nên cuối cùng đã bác bỏ dự án hết sức phiêu lưu và nguy hiểm cho tương lai của dân tộc này.

65 năm kể từ khi Đảng ta và Bác Hồ tổ chức bầu cử, tổ chức ra Quốc hội và Quốc hội chính thức bầu Chính phủ cho đến nay đã qua 12 kỳ Quốc hội, đây là lần đầu tiên đa số ĐBQH không thông qua một đại chủ trương mà cả bộ máy Chính phủ từ ông Thủ tướng đến ông Phó thủ tướng, cho đến ông Bộ trưởng chuyên trách ông nào cũng hăm hở muốn làm bằng được, chứng tỏ một cái nhìn vô cùng sáng suốt, tất cả đều vì lợi ích thiết thực của nhân dân, không muốn đất nước gánh lấy một khoản nợ khổng lồ 56 tỷ đô la Mỹ (mà khi thực hiện chắc chắn còn tăng lên gấp đôi là ít) chỉ để cho một tầng lớp giàu có ngao du bằng tàu cao tốc, trong khi cuộc sống tối thiểu thì đại đa số nhân dân trên khắp mọi miền chưa biết bao giờ mới đạt được: nào những chuyện ăn, mặc nông thôn nhìn đâu cũng đầy những người không có đất để cày, lang thang ra thành phố kiếm cơm không có; chuyện ốm đau 5, 6 người chen chúc trên một giường bệnh bẩn thỉu hôi hám; chuyện học hành ở ngay Hà Nội mà phụ huynh phải sắp hàng suốt đêm vẫn không kiếm ra chỗ cho con mình vào trường mầm non, miền núi thì các em học sinh suốt năm trời qua sông đi học bằng cách đu dây... Những chuyện ấy Quốc hội đã hiểu là chuyện trọng đại hơn rất nhiều những mơ tưởng viển vông mà Chính phủ “của dân do dân vì dân” đưa ra. Xin hỏi ông Nguyễn Tấn Dũng sao không học lấy hành động cao cả của ông Thủ tướng Hàn quốc từ chức luôn sau khi dự án của mình không được chấp thuận?

2. Toàn những chuyện tày trời mà “không nghe không biết”

1. 18 tỉnh cho nước ngoài thuê rừng, riêng Trung Quốc đại lục và Đài Loan thuê đến 2/3 trong số 160.000 ha rừng phòng hộ, rừng đầu nguồn, rừng bảo vệ an ninh Quốc phòng, chuyện tày trời này lẽ ra Nhà nước phải tỉnh táo nắm bắt thông tin trước tiên và xử lý từ trong trứng nước thì hóa ra một cụ già hưu trí lại phát hiện ra trước và báo lên Chính phủ, lúc ấy Chính phủ mới hớt hơ hớt hải cho người đi kiểm tra. Thế mà Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng và Bộ trưởng NN-PTNT Cao Đức Phát là một cánh tay quyền lực của Thủ tướng trả lời Quốc hội vẫn ấm ớ nói chỉ 10 tỉnh cho thuê rừng thôi. Đúng là họ thực hiện khẩu hiệu: Không nghe không biết.

2. Tập đoàn Điện lực xây dựng 2 nhà máy nhiệt điện tốn hàng ngàn tỷ đồng rồi bỏ hoang đắp chiếu mấy năm nay, gây tình trạng thiếu điện, cắt điện luân phiên làm khổ sở cho dân, điêu đứng các ngành kinh doanh sản xuất. Thế mà ông Thủ tướng Dũng cũng không biết, không nghe.

3. Tập đoàn Vinashin trong vòng bốn năm hoạt động thua lỗ liên tiếp đến mức cụt vốn trong số 90 nghìn tỷ đồng chỉ còn lại vỏn vẹn 10 nghìn tỷ đồng, mua hai chiếc tàu thủy của Italy mỗi chiếc đều trên nghìn tỷ đồng rồi về đắp chiếu nằm đấy để chờ bán sắt vụn, vậy mà ông Nguyễn Tấn Dũng vẫn hà hơi tiếp sức cho cái tập đoàn đó, mọi sự lộng hành của nó ông vẫn không hay không biết, thực oái oăm vô cùng.

Với bấy nhiêu việc ngổn ngang, rối loạn trong vòng hơn một nhiệm kỳ điều hành Chính phủ của mình, đến nay đã đủ độ lùi để tự kiểm mình làm được hay không làm được, vậy tại sao ông Dũng không tự giác nộp đơn xin Quốc hội từ chức và loan báo cho toàn dân biết:

Tôi, Nguyễn Tấn Dũng, làm Thủ tướng gần 5 năm nay, đã thất lời hứa với nhân dân là không chống được tham nhũng mà bọn tham nhũng ngày càng hoành hành khắp mọi nơi, mọi ngõ từ trung ương đến khắp xã phường thôn ấp;

Tôi, Nguyễn Tấn Dũng, đã cùng bộ sậu Chính phủ kiên quyết đưa dự án có tầm cỡ Quốc gia xây dựng đường sắt cao tốc Bắc Nam từ Hà Nội đến thành phố Hồ Chí Minh cốt vay nước ngoài 56 tỷ đô la Mỹ, nhưng đã bị Quốc hội bác bỏ vì không sát thực tế, không hợp lòng dân;

Tôi, Nguyễn Tấn Dũng, trong suốt thời gian làm Thủ tướng đã để xảy ra những chuyện phá nước hại dân như chuyện 18 tỉnh bán rừng, như vụ Vinashin thất thoát đến 80 nghìn tỷ đồng, như chuyện một kẻ sa đọa chui được vào lãnh đạo cơ quan cấp tỉnh làm những hành vi đồi bại trái luân thường đạo lý khiến cho cả nước phải tím mặt.

Bây giờ xin noi gương các vị Thủ tướng đạo cao đức trọng Nhật Bản và Hàn quốc, tôi tự nguyện rời khỏi chiếc ghế mà trong thâm tâm tôi vẫn thiết tha với nó lắm.

Làm được thế, ông Nguyễn Tấn Dũng nhất định sẽ được toàn dân nhiệt liệt hoan hô, trong đó có bản thân tôi.

Để kết thúc, tôi xin kể lại một câu chuyện phim về chống tham nhũng do KTV truyền hình Khánh Hòa chiếu lúc 11-12h ngày 04/07/2010 cho các vị lãnh đạo tối cao nghe chơi. Cuốn phim nhan đề: “Chàng trai Hông Di Đông” của Hàn Quốc. Dưới triều nhà Vua Hàn Quốc nọ, quan lại tham nhũng cướp bóc của dân không biết bao nhiêu mà kể, dân đen uất ức không biết kêu ai. Bấy giờ có một chàng thanh niên tên là Hông Di Đông đứng lên thành lập Hội người nghèo đi giết bọn tham quan lại nhũng của nhà vua, đem của cải cướp được từ tay bọn chúng chia cho dân nghèo. Vua ra lệnh quân lính truy lùng, bắt được một số người trong Hội định đưa ra pháp trường xử trảm thì chàng thanh niên Hông Di Đông tình nguyện đến nói với nhà vua rằng: “Tôi là thủ lãnh Hội người nghèo làm việc đó, yêu cầu nhà vua thả số người nghèo kia, một mình tôi xin chịu tử hình”. Nhà vua nghe vậy đồng ý thả tất cả chỉ đem Hông Di Đông ra pháp trường. Trước khi chết, chàng Hông Di Đông xin phép được nói một lời trực tiếp với nhà vua: “Chính ngài là vua đã đẻ ra quan tham. Quần thần ở trên làm mọi điều tàn ngược, bóc lột dân chúng đến xơ xác nên tôi phải đứng ra tổ chức Hội người nghèo để chống lại. Mục đích của chúng tôi là giết bọn đệ tử tham nhũng của ngài, cướp tài sản của họ chia cho dân chúng. Chính ngài, nhà vua là kẻ đẻ ra tham nhũng”. Xem xong phim này tôi tự hỏi: bọn tham quan mà chúng ta vừa phát hiện là lãnh đạo ở 12 tỉnh và bốn Tập đoàn của Nhà nước do Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng và Bộ chính trị quản lý. Như thế có phải Bộ chính trị đẻ ra tham nhũng hay không? Tại sao Đảng ta, Nhà nước ta mấy năm không chống được bọn tham nhũng này mà lực lượng chúng ngày càng phình lớn?

Trên đây là ý kiến chân thành của tôi, một lão già cách mạng. Khẩn thiết kính mong quý vị sớm trả lời cho tôi và nhân dân được biết.

Kính chúc quý vị dồi dào sức khỏe.

Nha Trang, ngày 07-7-2010

Ký tên

Nguyễn Văn Bé

Lão thành cách mạng tiền khởi nghĩa - Cán bộ tiền bối công an Khánh Hòa - Chiến sĩ thi đua, dũng sĩ diệt Mỹ 1965-1968 - Huy chương vì sự nghiệp Đại đoàn kết dân tộc và nhiều huân chương khác.

HC Mạng Bauxite Việt Nam biên tập

“Nóng” từ vĩ mô tới dân sinh

Chủ Nhật, 14/06/2009, 08:15 (GMT+7)

Chất vấn Phó thủ tướng Nguyễn Sinh Hùng:

“Nóng” từ vĩ mô tới dân sinh

Phó Thủ tướng Nguyễn Sinh Hùng - Ảnh: Việt Dũng
TT - Áo sơmi trắng cộc tay, không cà vạt, Phó thủ tướng thường trực Nguyễn Sinh Hùng dường như đã chuẩn bị sẵn như vậy trước phiên chất vấn dự báo sẽ có nhiều vấn đề nóng bỏng trong một ngày trời thủ đô không mấy mát mẻ.

Sau hai ngày chất vấn sáu bộ trưởng, hàng loạt vấn đề từ kinh tế vĩ mô đến đời sống, việc làm của người dân hay cả vấn đề được coi là “nhạy cảm” như khai thác bôxit… vẫn tiếp tục được đại biểu Quốc hội nêu ra, chờ đợi lời giải đáp xác đáng hơn từ người được Thủ tướng ủy quyền thay mặt Chính phủ trả lời chất vấn.

Các “quả đấm” đóng góp gì cho kinh tế?

Phó thủ tướng Nguyễn Sinh Hùng - Ảnh: V.D.

Phải nói chính xác hơn là nhiều dự án vẫn còn một số ý kiến, có dự án có nhiều ý kiến. Nhưng ý kiến khác cũng là chuyện bình thường. Chúng ta sẽ cố gắng đồng thuận. Không chỉ dự án mà còn nhiều chuyện khác nữa, có những dự án sai Chính phủ phải sửa, các tỉnh hoặc ngành phải sửa. Tôi cho là ý kiến khác nhau với tinh thần xây dựng, tạo sự đồng thuận và tạo ra hiệu quả điều hành tốt hơn là rất tốt.

Đại biểu Phạm Thị Loan (Hà Nội) chất vấn: “Phó thủ tướng giải thích như thế nào về đóng góp ngân sách nhà nước năm 2008 của khối doanh nghiệp nhà nước đạt 52.000 tỉ đồng trong khi khối này nắm giữ trên 400.000 tỉ đồng vốn nhà nước và nắm giữ nhiều vị trí đất đắc địa, đồng thời được cho các đặc lợi trong việc phân chia chỉ định các gói thầu lớn của quốc gia, còn khối doanh nghiệp ngoài quốc doanh, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài không được hưởng các đặc ân trên thì đóng góp ngân sách nhà nước là 65.000 tỉ đồng?”.

Phó thủ tướng dẫn ra các con số cho biết năm 2008 doanh nghiệp nhà nước hầu hết duy trì được tốc độ tăng trưởng bình quân khoảng 10%, lợi nhuận trên vốn của chủ sở hữu đạt 11%, đóng góp khoảng 40% GDP... và cho hay chưa thấy có doanh nghiệp nhà nước nào có tình trạng đuổi việc công nhân.

Bà Loan tiếp tục truy: “Vai trò điều tiết nền kinh tế của các tập đoàn kinh tế, các doanh nghiệp nhà nước trong khủng hoảng chưa thể hiện rõ. Một số tập đoàn kinh tế nhà nước lại tăng giá sản phẩm của mình như Tập đoàn Dầu khí tăng giá khí làm khó cho Tập đoàn Điện lực, Tập đoàn Điện lực tăng giá điện làm khó cho dân”. Phó thủ tướng khẳng định: “Trong kinh tế nhà nước thì doanh nghiệp nhà nước là lực lượng chủ công, nòng cốt. Lực lượng lớn này sẽ giúp làm tốt vai trò chủ đạo trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”.

Ông Nguyễn Sinh Hùng bảo vệ quan điểm của mình về các doanh nghiệp nhà nước bằng cách đặt câu hỏi ngược lại với các đại biểu: “Nếu chúng ta không có Tập đoàn Điện lực và Nhà nước không chi phối được tập đoàn này, thử hỏi giá điện chúng ta có điều tiết được như thế không? Giả sử không còn Tổng công ty Xăng dầu, chúng ta có điều tiết được giá xăng dầu như thế không? Giả sử không có hai tổng công ty lương thực thì chúng ta có điều tiết, giải quyết được lúc biến động giá gạo năm ngoái trong vòng 3-4 ngày không? Chúng ta có thể mua được hết gạo cho nông dân để đảm bảo giá sàn không?”.

Ông Hùng nói: “Tôi không hiểu nếu chúng ta không có những quả đấm này mà lại có thể điều tiết được nền kinh tế vĩ mô. Chính phủ có thể có chính sách tài chính, chính sách tiền tệ, chính sách tín dụng, có ngân sách nhà nước, nhưng không có công cụ mạnh thì không thể làm được. Chúng ta đã thành công trong giai đoạn vừa rồi, trong đó có sự góp phần rất quan trọng của các tập đoàn kinh tế lớn mà chúng ta đang phát triển”.

Tiếp tục chất vấn về bôxit

Đại biểu Nguyễn Minh Thuyết (Lạng Sơn) - Ảnh: V.D.

Vì sao gần đây có nhiều đề án, dự án của Chính phủ hoặc của một số địa phương không nhận được sự đồng tình cao trong xã hội? Phải chăng vì việc xây dựng các dự án, đề án ấy có phần chủ quan, hay vì không thực hiện kịp thời công khai thông tin, khiến người dân thiếu niềm tin vào tính khách quan vô tư của các đề án, dự án ấy?

Theo báo cáo của Phó thủ tướng Nguyễn Sinh Hùng, trong quy hoạch phân vùng thăm dò, khai thác, chế biến, sử dụng bôxit giai đoạn 2007-2015 có xét đến năm 2025, Chính phủ đã đề cập đến tất cả yêu cầu về hiệu quả kinh tế - xã hội, bảo vệ môi trường sinh thái cũng như môi trường văn hóa, xã hội và hợp tác đầu tư với nước ngoài của các dự án, đặc biệt quan tâm bảo đảm quốc phòng, an ninh trên địa bàn Tây nguyên.

Báo cáo cho rằng theo các quy định hiện hành, Quốc hội (QH) không yêu cầu Chính phủ báo cáo về các quy hoạch. Báo cáo này cho biết tính đến ngày 1-6-2009, trên cả hai dự án có 667 người lao động nước ngoài (gồm bốn công dân Úc và 663 công dân Trung Quốc) làm việc được quản lý theo pháp luật của VN. Số lao động này sau khi xây dựng xong, bàn giao nhà máy, chuyển giao công nghệ và quản lý vận hành cho phía VN sẽ trở về nước.

Đại biểu Dương Trung Quốc (Đồng Nai) chất vấn: “Phó thủ tướng cho biết việc không đưa dự án bôxit ra QH là lỗi tại QH vì QH không yêu cầu. Trong khi đó nhiều ý kiến phát biểu tại hội trường này đặt vấn đề phải chăng đấy là tách nhỏ hoặc lách luật. Vậy Phó thủ tướng có thể bình luận gì và trả lời cho những ý kiến đó, điều mà trong bản giải trình chưa đề cập?”. Ông Dương Trung Quốc cũng đề nghị Phó thủ tướng cho biết tình hình biển Đông hiện nay ra sao bởi Chính phủ làm nhiều nhưng chưa nói cho dân biết, người dân không biết hiện nay vùng tranh chấp như thế nào.

Trả lời chất vấn này, ông Hùng cho rằng theo quy định của pháp luật, quy hoạch nói chung QH phân cấp cho Chính phủ. Ông Hùng giải thích: “Có việc địa phương duyệt, có việc thì trung ương duyệt. Bôxit là ngành kinh tế hẹp trong ngành công nghiệp. Tôi đã báo cáo rõ với QH như vậy, không có ý đổ lỗi cho QH, không có từ nào là lỗi của QH”.

Đối với vấn đề biển Đông, theo Phó thủ tướng: “Chúng ta đã giải quyết tốt vùng vịnh Bắc bộ, đã phân ranh giới, có bàn tới cả hiệp định đánh cá. Ở những vùng biển khác thì chúng ta đã bàn tới việc tuần tra chung, hợp tác tuần tra, bảo vệ để giải quyết cả những vấn đề của dân cư. Vùng biển còn lại chúng ta sẽ tiếp tục hợp tác đấu tranh trên nguyên tắc giữ vững chủ quyền về biển đảo của đất nước chúng ta. Vừa rồi Chính phủ đã gửi báo cáo về ranh giới ngoài của thềm lục địa ra Liên Hiệp Quốc.

Đây là quy định của Liên Hiệp Quốc, nước nào có biển thì phải làm báo cáo theo công ước luật biển mà chúng ta đã ký và QH đã phê chuẩn là Công ước 82. Báo cáo này được gửi theo đúng tinh thần của Công ước 82. Các đồng chí quan tâm đọc kỹ thêm Công ước 82 để chúng ta tạo một tinh thần nhất quán. Chúng ta làm theo đúng yêu cầu của tổ chức Liên Hiệp Quốc và đấy cũng là công khai minh bạch với thế giới rằng chúng ta thực thi luật pháp quốc tế về biển, trong đó có vấn đề chủ quyền của chúng ta”.

KHIẾT HƯNG

* 1 triệu hộ hưởng lợi nếu được miễn thuế

Sáng 13-6, Bộ trưởng Bộ Kế hoạch - đầu tư Võ Hồng Phúc tiếp tục trả lời chất vấn. Trả lời đại biểu Lê Quốc Dung hỏi quan điểm về đề nghị giãn, giảm thuế thu nhập cá nhân sáu tháng đầu năm và tiếp tục giảm sáu tháng cuối năm, Bộ trưởng Võ Hồng Phúc giải thích mục đích của việc giãn, giảm này chủ yếu tính đến 1 triệu hộ kinh doanh đóng thuế thu nhập. Đương nhiên có một bộ phận người có thu nhập cao như công chức, người làm cho nước ngoài cũng được hưởng, nhưng theo ông Phúc, Chính phủ không phải nhằm vào những người giàu để hỗ trợ mà chủ yếu hỗ trợ 1 triệu hộ kinh doanh.

C.V.K.

* Tăng trưởng 5% là hợp lý

Trong phần báo cáo trước chất vấn, Phó thủ tướng Nguyễn Sinh Hùng cho rằng giữ tốc độ tăng trưởng kinh tế ở mức khoảng 5% là hợp lý. Ông Hùng nói: “Để đạt được mức tăng này đòi hỏi phải có sự phấn đấu cao, hơn nữa nếu giảm thấp sẽ ảnh hưởng lớn đến quá trình phục hồi kinh tế và bảo đảm an sinh xã hội”. Phó thủ tướng cũng cho biết Chính phủ tiếp thu ý kiến của các đại biểu QH, xem xét diễn biến giá dầu thô trong những ngày gần đây có xu hướng tăng và yêu cầu thực hiện các biện pháp tăng cường quản lý thu, xử lý nợ đọng thuế và đề phòng lạm phát cao trở lại thì mức bội chi khoảng 7% GDP có thể phấn đấu được.

K.H.

Các phiên chất vấn đã khép lại, nhiều vấn đề đã được xới ra để làm rõ. Dưới đây là một số nhận xét về chất vấn và trả lời chất vấn.

* ĐB Trần Du Lịch (TP.HCM): Chưa thể nói khó khăn nhất đã qua

Về báo cáo, giải trình của Phó thủ tướng Nguyễn Sinh Hùng, theo tôi có một điểm cần xem lại, đó là nói thời điểm khó khăn nhất đã qua. Khi chúng ta đã suy giảm kinh tế rồi, thời gian tới còn tái lạm phát thì khó khăn sẽ còn khó khăn hơn thời gian vừa qua nhiều. Tôi xin khuyến nghị với Chính phủ, nhiều nước khi bơm vốn giúp tăng thanh khoản ngân hàng, tình hình cải thiện họ rút tiền ra ngay, VN cũng nên cân nhắc học tập.

* ĐB Lương Phan Cừ (phó chủ nhiệm Ủy ban Về các vấn đề xã hội): Còn “thòm thèm”...

Hiện nay thời gian dành cho mỗi bộ trưởng trả lời chất vấn còn ít, tại kỳ họp này trong thời gian 2,5 ngày đại biểu QH chất vấn sáu bộ trưởng và phó thủ tướng thường trực Chính phủ. Nhiều đại biểu hay nói một câu hết sức dân dã là còn “thòm thèm”. Đại biểu còn muốn tranh luận nữa và qua trả lời của các bộ trưởng thì các đại biểu khác muốn có ý kiến thêm nhưng thời gian không có. Tôi nghĩ chúng ta nên xem xét ở khía cạnh: đại biểu có thời gian hỏi được nhiều hơn, hỏi sâu hơn.

* ĐB Đào Trọng Thi (chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa - giáo dục - thanh niên, thiếu niên và nhi đồng): Nhận trách nhiệm phải có giải pháp

Tôi nghĩ cái quan trọng là các bộ trưởng nhận trách nhiệm xong về sẽ có giải pháp, chỉ đạo giải quyết các vấn đề như thế nào. Nhận trách nhiệm như một vài lần đầu được cử tri khen, song cứ hễ ra QH là nhận thì dễ trở thành “mốt” và cái đó còn dở hơn là không nhận. Đã nhận trách nhiệm là phải nhận thực sự, thực tâm và phải đầu tư công sức đúng với trách nhiệm đó.

* ĐB Nguyễn Đức Hiền (phó chủ nhiệm Văn phòng QH): Một số vấn đề chưa thỏa mãn lắm!

Các đại biểu trước khi chất vấn đã có nghiên cứu kỹ, nếu nội dung trả lời chưa rõ phải trao đổi lại. Nhưng không có thời gian nên phiên chất vấn vừa rồi không đạt được điều đó. Như dự án sân golf, trả lời của các bộ trưởng đã nói lên thực trạng nhưng cái cần quan tâm là xử lý ra sao, làm thế nào để các địa phương tuân thủ quy hoạch chung. Hoặc vấn đề đất đai, lao động... dù các bộ trưởng có giải trình nhưng chưa thật sự thỏa mãn.

C.V.K. - V.V.T. - N.T.

Dự thảo Luật viễn thông còn nhiều khoảng trống

Tại phiên thảo luận tổ chiều 13-6 về dự án Luật viễn thông, một số đại biểu QH cho rằng tuy đây là một lĩnh vực kinh tế - kỹ thuật tổng hợp có tác động nhiều mặt của đời sống xã hội, chính trị, văn hóa, an ninh quốc phòng nhưng dự thảo còn nhiều khoảng trống chưa đề cập. Phạm vi điều chỉnh của dự luật chưa thể hiện mối quan hệ của các loại hình viễn thông giá trị gia tăng như truyền hình Internet, game online, radio trong khi các loại hình này đều tích hợp chung một cơ sở hạ tầng và cùng chia sẻ tài nguyên viễn thông. Một số đại biểu cho rằng dự thảo cũng cần làm rõ trách nhiệm của các nhà cung cấp dịch vụ viễn thông trong việc phối hợp, cung cấp thông tin cho cơ quan có thẩm quyền khi cần điều tra, xử lý các trường hợp vi phạm đến trật tự, an toàn xã hội.

K.H

theo tuoitre online

10 thg 7, 2010

Rút kinh nghiệm!


“Rút kinh nghiệm” là cụm từ thường được nói tới mỗi khi xảy ra một vụ việc gì đáng tiếc. Vụ Vinashin cũng thế, chúng ta lại nghe các quan chức chính phủ nhắc đến chuyện rút kinh nghiệm, rồi lại hứa rút ra bài học phải kiểm tra giám sát các tập đoàn, tổng công ty nhà nước chặt chẽ hơn.

Vậy, hãy thử nhìn lại những chuyện có thể rút được kinh nghiệm ngay, không những chỉ từ vụ Vinashin đang được “tái cơ cấu” mà còn ở nhiều tập đoàn kinh tế nhà nước khác. May ra sau này người ta khỏi mất công “rút kinh nghiệm” nữa.

Năm ngoái, Chính phủ ban hành Nghị định 09/2009, trong đó có quy định rất rõ: “Công ty nhà nước được quyền chủ động huy động vốn phục vụ sản xuất kinh doanh trong phạm vi hệ số nợ phải trả trên vốn điều lệ của công ty không vượt quá 3 lần”. Hệ số này ở Vinashin lên đến 9, 10 lần từ lâu, sao không thấy ai thổi còi? Đã có nhiều báo cáo chính thức cho thấy hệ số nợ trên vốn của nhiều tập đoàn rất cao, cao hơn mức trần 3 lần, thậm chí cả mấy chục lần, thế có cơ quan nào từ bài học Vinashin mà buộc các tập đoàn đó giảm số nợ xuống không?

Nghị định nói trên cũng bổ sung: “Cơ quan đại diện chủ sở hữu có trách nhiệm phối hợp với Bộ Tài chính giám sát chặt chẽ việc huy động và sử dụng vốn tại công ty nhà nước”. Liệu Bộ Tài chính đã bao giờ lên tiếng về việc Vinashin vay nợ tràn lan, vay nợ bất kể khả năng trả nợ? Hay chính Bộ Tài chính cũng bất lực vì không khiển nổi Vinashin? Chủ sở hữu của Vinashin có biết chuyện vay nợ vượt quy định của Vinashin chăng?

Với Vinashin, Chính phủ là chủ sở hữu nhà nước, và một số bộ, ngành và ngay chính hội đồng quản trị Vinashin cũng được giao thực hiện một số quyền của chủ sở hữu. Chính sự nhập nhằng này đã là lổ hổng để cuối cùng không ai giám sát Vinashin cả. Nghị định 25/2010 về việc chuyển đổi doanh nghiệp nhà nước thành công ty TNHH một thành viên quy định mỗi công ty chuyển đổi chỉ do một tổ chức làm chủ sở hữu (hoặc là Thủ tướng Chính phủ, bộ, UBND tỉnh thành…) chứ không có chuyện nhiều nơi làm chủ sở hữu.

Vốn điều lệ của Vinashin trước là 9.000 tỷ đồng. Nay ở quyết định chuyển tập đoàn này thành công ty TNHH một thành viên mới do Phó Thủ tướng Nguyễn Sinh Hùng ký tuần trước, vốn điều lệ lại được nâng lên thành 14.655 tỷ đồng. Không biết khoảng tăng thêm này lấy ở đâu ra, có phải từ ngân sách nhà nước? Người ký quyết định này liệu có “rút kinh nghiệm” từ Nghị định 09/2009 trong đó nói rõ: “Trường hợp sử dụng nguồn vốn ngân sách để cấp vốn điều lệ, Bộ Tài chính tổng hợp trình Chính phủ, Quốc hội quyết định”.

Cả quan chức chính phủ lẫn Vinashin đều cho rằng việc đầu tư tràn lan ra ngoài ngành nghề chính là một trong những nguyên nhân gây nên khủng hoảng cho Vinashin hiện nay. Thế mà trong quyết định chuyển Vinashin thành công ty TNHH một thành viên lại vẫn thấy những ngành nghề kinh doanh như hoạt động tài chính, ngân hàng, dịch vụ khách sạn, đầu tư kinh doanh nhà, xây dựng dân dụng, khu đô thị, nhà ở, lữ hành nội địa, kinh doanh lữ hành quốc tế, sản xuất bia rượu, nước giải khát, dịch vụ vui chơi giải trí… Quyết định này vừa mới được ban hành vào tuần trước – không lẽ chưa đủ thời gian để “rút kinh nghiệm”?

Nhìn rộng ra, việc rút kinh nghiệm quan trọng hơn cả ở đây là gì? Luật lệ, quy định không phải tự dưng mà có. Một trong những vai trò của luật lệ, quy định là nhằm giúp người làm ra luật lệ, quy định giám sát, kềm chế chính mình hay chính bộ máy giúp việc bên dưới. Bộ Giao thông – Vận tải làm sao đủ nhân lực và năng lực để theo dõi hàng trăm công ty con, công ty cháu với hàng ngàn dự án tiền tỷ của Vinashin; Bộ Tài chính làm sao tổ chức nổi bộ máy theo dõi tiến độ thu tiền về của Vinashin để trả lãi trái phiếu chính phủ đúng hạn? Vì thế luật lệ, quy định mới có chuyện thanh tra hay kiểm toán độc lập. Vai trò của các cơ quan nhà nước là giám sát tuân thủ và bấm còi báo động mỗi khi luật lệ, quy định bị vi phạm. Còn nếu không tách bạch được vai trò quản lý như thế (không chịu sức ép của bất kỳ ai) với vai trò chủ sở hữu (phải làm sao có lợi nhất cho tập đoàn mình làm chủ sở hữu) thì việc sai phạm vẫn sẽ diễn ra trong tương lai.

Tuần trước, Bộ Giao thông – Vận tải cũng ra thông cáo báo chí, kêu gọi báo chí “chung sức, đồng hành” giúp Vinashin vượt qua khó khăn. Đây cũng là cách tiếp cận sai lầm có thể “rút nhiều kinh nghiệm”. Giả thử Bộ không cần kêu gọi mà ngay từ trước yêu cầu Vinashin minh bạch trong hoạt động, công khai các dự án, đăng tải đầy đủ các tài liệu cơ bản như bản báo cáo tài chính thường niên thì báo chí và công luận đã có thể chung sức giúp Bộ giám sát, phát hiện sai lầm của Vinashin sớm hơn nhiều. Vai trò của báo chí là truyền tải thông tin; một khi không có thông tin thì báo chí bị vô hiệu hóa, làm sao "đồng hành cùng doanh nghiệp" được.

theo blog NVP

Vinashin - con tàu không bến


2010-07-08

Tổng giám đốc Phạm Thanh Bình, Chủ tịch Hội đồng quản trị Tập đoàn Công nghiệp tàu thủy Việt Nam (VINASHIN) bị Ủy Ban Kiểm Tra Trung Ương kỷ luật và cách chức.

Vụ này tuy không làm dư luận ngạc nhiên nhưng lại dấy lên nhiều câu hỏi liên quan đến các hoạt động của các tập đoàn hiện nay. Mặc Lâm có loạt bài xoay quanh vấn đề này, mời quý vị theo dõi.

Đầu tư quá dàn trải

Bản cáo trạng nêu rõ ông Phạm Thanh Bình trong khi giữ chức chủ tịch Hội Đồng Quản Trị của Vinashin đã huy động, quản lý, sử dụng tiền vốn của Nhà nước một cách thiếu tinh thần trách nhiệm. Ông Bình đã cố ý làm trái và có biểu hiện vụ lợi cá nhân, gây hậu quả nghiêm trọng về kinh tế, chính trị, xã hội. Là người lãnh đạo của Vinashin nhưng ông Bình tạo ra các khoản nợ rất lớn, mất khả năng thanh toán. Theo sự thừa nhận của ông Bình thì nợ mà Vinashin đang mang lên tới 90 ngàn tỷ đồng tương đương với gần 4 tỷ rưỡi đô la. Bên cạnh đó, hơn 5.000 lao động không có việc làm. Các khoản nợ lương và bảo hiểm xã hội của Vinashin với công nhân cũng lên đến 234 tỷ đồng.

Tại sao một tập đoàn quốc doanh như Vinashin kinh doanh và hoạt động dưới sự bảo hộ của nhà nước lại có thể mang những món nợ lớn không trả nổi mà không bị chính phủ kiểm tra, phát hiện để có biện pháp thích đáng trong suốt thời gian dài như vậy?

Câu hỏi này phải lần về thời gian của năm 2006, khi Thủ tướng chính phủ quyết định phê duyệt đề án thí điểm hình thành Tập đoàn kinh tế Vinashin. Tiếng là thí điểm nhưng Vinashin ngay lập tức được chính phủ rót vốn, nhân lực cùng mọi chính sách dễ dàng nhất cho tập đoàn này. Vinashin được giao nhiệm vụ hoạt động trong ngành tàu thủy gồm đóng mới, sửa chữa, kinh doanh các loại thiết bị hàng hải cũng như đào tạo chuyển giao công nghệ...

Nói chung, các hoạt động này nằm gọn trong phạm vi ngành tàu thủy.

Thời gian đầu Vinashin đã theo đúng chỉ tiêu đề ra và hoạt động tương đối hiệu quả. Với cách tiếp cận thông minh, nhiều kỹ sư của Vinshin đã nghiên cứu và đóng mới thành công các con tàu có tải trọng 150 ngàn tấn và triển vọng mở ra một ngành công nghệ hàng hải lớn mạnh của Việt Nam làm cho nhiều tờ báo trong nước lúc ấy bị hoa mắt. Những bài phóng sự với lời lẽ có cánh đã làm cho Vinashin lớn hơn hình ảnh thật của nó, và từ những thành tựu ban đầu này Vinshin đã trượt dài trên con đường kinh doanh ngày một mất dần định hướng.

Khi được hỏi về thành tựu thật sự của Vinashin có đúng như báo chí mô tả hay không, TS Lê Đăng Doanh, chuyên gia nghiên cứu về kinh tế tài chánh cho biết: “Các trang thiết bị cơ bản về công nghệ đóng tàu của Vinashin vẫn phải nhập từ nước ngoài. Vì vậy cho nên một mặt trân trọng thành quả lao động của công nhân, các tiến bộ của Vinashin song phải nói rằng những tiến bộ đó còn ở dưới tiềm năng và những công việc ở phía trước đang còn rất nhiều”.

Vinashin đã tận dụng bước đầu thành công của mình để nhảy sang nhiều lãnh vực khác như nhiều tập đoàn đã và đang làm. Vinashin tập trung vốn vào những dự án có tính phiêu lưu và ngày càng lún sâu vào các món nợ phát sinh từ những dự án không dính gì tới chức năng của nó. TS Lê Đăng Doanh đưa ra một vài thí dụ:

“Vinashin đã xin quá nhiều đất và dùng các miếng đất đó để thế chấp vay ngân hàng, vì vậy nâng số vốn vay của Vinashin so với vốn tự có rất lớn và dùng vốn đó để đầu tư quá nhiều vào các công ty, dự án. Vinashin có đến 200 công ty. Ở Thanh Hóa có một trang trại nuôi lợn Vinashin. Ở đường Lê Duẩn Hà Nội có một salon bán ô tô Vinashin. Ở Tam Đảo có một khu nghỉ dưỡng Vinashin...

Tất cả các điều là hết sức không bình thường. Trong khi đầu tư vào ngành đóng tàu của Vinashin thì chậm tiến triển và thua lỗ nghiêm trọng.”

Sự đổ vỡ được báo trước

Sự ưu ái của nhà nước cộng với các dự án phiêu lưu khác đã làm Vinashin ngày một lún sâu vào các món nợ không trả nổi. Cuối năm 2007 chủ tịch Phạm Thanh Bình đã ký một quyết định cho phép đầu tư dự án san lấp mặt bằng của khu kinh tế Hải Hà để xây dựng thành một khu kinh tế với nhà máy đóng tàu, cán thép. Vinashin đã vay của Ngân hàng quốc tế Credit Suisse có trụ sở tại Hongkong 600 triệu đô la cho dự án này. Tuy nhiên số tiền này lại được Vinashin dùng vào việc khác mà không chi trả cho các doanh nghiệp trúng thầu san lấp mặt bằng của khu kinh tế Hải Hà. Các doanh nghiệp này sau đó viết thư lênThủ Tướng chính phủ để nhờ can thiệp nhưng không thành công, và nhiều công ty phải phá sản trong thời gian này.

Trong vòng không đầy 5 năm, Vinashin đã to lên quá mức và người ta tự hỏi động lực nào đã khiến nó trở nên không lồ trên đôi chân bằng sáp? Nhiều chuyên gia kinh tế nhận định rằng lý do là từ quyết định của Thủ tướng chính phủ cho phép nó ra đời bởi một văn bản chỉ đạo mà không qua quy luật tích tụ tập trung tư bản của kinh tế thị trường.

TS Nguyễn Quang A, một nhà nghiên cứu độc lập, nguyên viện trưởng viện IDS cho rằng sự sai lầm của chính phủ bắt đầu từ lý do ý thức hệ, ông nói: “Đấy là một vấn đề rất là lớn nhưng vì những lý do ý thức hệ, vì những lý do mà người ta nghĩ rằng phải quốc doanh, tập thể, những vấn đề liên quan đến sở hữu để đảm bảo tính xã hội chủ nghĩa, cái cốt lõi nó nằm ở chỗ đó. Nếu người ta đặt vấn đề là làm sao sử dụng những nguồn lực ấy tốt nhất cho sự phát triển của đất nước thì có lẽ phải có một sự cải tổ rất mạnh mẽ đối với khu vực quốc doanh này.”

Đối với TS Lê Đăng Doanh thì sự đổ vỡ này đã được báo trước. Theo ông, “sự đổ vỡ của Vinashin đã được báo trước từ lâu, và đã có các nỗ lực, kể cả của Ủy Ban Thường Vụ Quốc Hội vào cuối năm 2009 đã nghe báo cáo và đã được thông báo về tình trạng nợ nần của Vinashin. Tình trạng đó diễn ra là bởi vì Vinashin đã đầu tư một cách quá dàn trải không qua thủ tục về giám định về đánh giá hiệu quả của các dự án đầu tư.”

TS Nguyễn Quang A cũng chỉ ra những trách nhiệm cụ thể mà ông cho là cần phải chấp nhận: “Trách nhiệm đầu tiên là của chính phủ và những người lãnh đạo, sau đó đến các vị lãnh đạo của Vinashin. Các tập đoàn như thế nó không phù hợp với bất kể luật hiện hành nào ở Việt Nam. Tất nhiên người ta có thể lý giải đây là chuyện thí điểm và đã là thí điểm thì phải du di đi một chút.

Tuy nhiên, thành lập các tập đoàn gọi là thí điểm đến hàng chục cái thì nếu tính tổng tài sản, tổng nguồn lực của các thí điểm này sẽ chiếm phần lớn tài nguyên của quốc gia, chiếm một tỷ lệ áp đảo trong tổng tài sản, tổng nguồn lực của tất cả các doanh nghiệp quốc doanh. Tuy số lượng nó nhỏ so với cả ngàn xí nghiệp quốc doanh, chỉ hơn một chục tâp đoàn với số lượng không đáng kể, nhưng tỷ trọng rất đáng kể. Tôi nghĩ rằng đã là thí điểm thì làm một hai cái để rút kinh nghiệm rồi mới làm tiếp, còn bây giờ tuy gọi là thí điểm nhưng làm tràn lan.”

Những sai phạm của ông Phạm Thanh Bình liệu có thể ngưng ngay vào lúc các mầm mống thất bại hé lộ hay không? Tại sao chính phủ lại tiếp tục đứng ra bảo lãnh cho tập đoàn này vay 750 triệu đô la trái phiếu khi dấu hiệu phá sản của nó đã gần kề. Và liệu quyết định tái cơ cấu của chính phủ mới đây có cứu vãn được con tàu Vinashin đang chìm dần kia hay không? Mặc Lâm sẽ trình bày trong bài kế tiếp.


Thủ tướng Chính phủ vừa quyết định tái cơ cấu Vinashin sau khi thừa nhận tập đoàn này bên bờ vực thẳm. Vinashin bị chia ra thành nhiều mảnh trong đó hai tập đoàn PetroVN và Vinaline phải gánh những món nợ khổng lồ mà tập đoàn Vinashin gây ra.

Liệu việc tái cơ cấu này có phải là liều thuốc trị đúng căn bệnh của Vinashin hay không và chính phủ phải làm gì tiếp theo sau đó để rà soát lại hiệu quả thật sự của các tập đoàn kinh tế hiện nay?

Được nhà nước ưu đãi

Những tập đoàn kinh tế nhà nước từ trước tới nay vẫn đựơc báo chí dùng những cụm từ hết sức ấn tượng như “anh cả đỏ” hay “quả đấm thép” hoặc “xương sống của quốc gia”... để chỉ sức mạnh tuyệt đối của chúng trong nền kinh tế thị truờng nhưng lại định hướng theo xã hội chủ nghĩa mà Việt Nam vẫn quyết tâm theo đuổi trong nhiều chục năm qua. Những con số lớn lao về doanh thu của các tập đoàn này được báo cáo trước quốc hội hàng năm đã làm nhiều người an tâm cho sức mạnh của những cỗ xe tập đoàn đang kéo nền kinh tế Việt Nam.

Thế nhưng phía sau các con số ấy là những dấu hỏi rất lớn mà các chuyên gia kinh tế đặt ra, và sự phân tích chi tiết của họ có thể làm cho người lạc quan nhất phải giật mình. Các tập đoàn kinh tế Việt Nam hoạt động dưới cơ chế được chính phủ giao quyền tự chủ cho ban quản trị tập đoàn. Cụ thể là chế độ tài chính hiện nay cho phép Chủ tịch ban quản trị được quyền sử dụng lợi nhuận sau thuế để tái đầu tư vào các mục đích mà tập đoàn này muốn.

Lợi nhuận sau thuế của các tập đoàn rất lớn, đặc biệt là những tập đoàn chuyên khai thác tài nguyên thô của đất nước như dầu mỏ hay than đá. PetroVN và Tập đoàn Than Khoáng sản VN là hai tập đoàn không hề do năng lực tự thân mang lại mà chỉ đơn thuần ngồi yên thu tiền từ tài nguyên quốc gia. Hai tập đoàn này khai thác chính sách tài chánh để đầu tư dàn trải trên rất nhiều khu vực khác và tiền lệ này được các tập đoàn nhỏ hơn theo sau mà không bị bất cứ quy định nào của chính phủ trói buộc, Vinashin là một thí dụ.

Không có nguồn lợi trực tiếp từ tài nguyên thô nên Vinashin phải trông cậy vào những yếu tố ưu đãi của nhà nước. Vinashin trong những bước đầu tương đối thành công nhờ năng lực và sức sáng tạo của công nhân lành nghề trong lĩnh vực đóng tàu. Thay vì phát triển thế mạnh này Vinashin lại chạy theo các đàn anh trong lĩnh vực đầu tư vào tài chánh, bất động sản, dịch vụ...và hậu quả là sau 5 năm ngắn ngủi, con tàu Vinashin đang tiến dần tới tảng băng mà con tàu nổi tiếng thế giới Titanic đụng phải vào năm 1912.

Tảng băng trước mũi Vinashin này đang được nhà nước nỗ lực phá vỡ bằng biện pháp chẻ nhỏ ra làm nhiều mảnh, giao lại cho PetroVN và Vinaline, là hai tập đoàn hiếm hoi tương đối vững vàng hiện nay. Liệu những món nợ mà nhà nước giao cho PetroVN và Vinaline có làm nhẹ gánh cho Vinashin để nó có thể chuyển hướng tránh tảng băng phá sản đang trôi về mũi của nó hay không. Tiến sĩ Lê Đăng Doanh, chuyên gia nghiên cứu kinh tế tài chánh cho biết ý kiến của ông về biện pháp tái cơ cấu của nhà nước, giống như đập băng cứu tàu:

Tôi rất ngạc nhiên về quyết định tái cơ cấu đó. Một quyết định tái cơ cấu thường phải dựa trên sự phân tích hết sức sâu sắc về kinh tế, về kỹ thuật, về công nghệ và về các mối liên quan. Trước đây đã có hai lần hoãn phái đoàn thanh tra về Vinashin, bây giờ thì lại có quyết định tái cơ cấu. Vinashin chia làm ba và trong đó chuyển cho Vinaline, PetroVN.

Hiện nay người ta chưa thấy được cơ sở pháp lý cũng như các vấn đề chuyển nợ, gán nợ. PetroVN nhận nợ bao nhiêu, và Vinaline nhận nợ bao nhiêu là chưa rõ ràng. Bởi vì rất có thể PetroVN đã cho Vinashin vay rất nhiều và sẽ coi như các doanh nghiệp đó gán nợ và không sẵn sàng lãnh nhận thêm các món nợ mà họ không tự gây ra. Cho nên đây là một vấn đề cần phải tiếp tục được theo dõi và dư luận hiện nay đang rất quan tâm theo dõi.

Chữa cháy không đúng chỗ

Quốc hội Việt Nam đã biết rất rõ sự tuột dốc của Vinashin. Chính phủ cũng biết rất rõ điều này khi đơn thưa của các nạn nhân tập đoàn này liên tiếp gửi vào văn phòng thủ tướng. Quốc hội không đủ sức mạnh để các câu hỏi của mình được chính phủ tôn trọng còn chính phủ thì lại do dự và được tư vấn sai lạc tiếp tục nuôi dưỡng Vinashin với các biện pháp chữa cháy không đúng chỗ. Biết Vinashin mang quá nhiều mối nợ không trả nổi nhưng Thủ tướng chính phủ cũng đặt bút bảo lãnh cho tập đoàn này được phép bán trái phiếu cho ngoại quốc trị giá 750 triệu đô la để Vinashin tiếp tục hoạt động.

Động thái ưu ái này một lần nữa khiến Vinashin và nhiều tập đoàn khác cảm thấy sự quan trọng của chúng và càng mạnh tay hơn vung tiền vào các dự án không liên quan gì đến chức năng được chính phủ giao cho. Vai trò chủ đạo của các doanh nghiệp nhà nước vẫn được chính phủ lặp đi lặp lại và báo chí theo đó cổ võ một cách nhiệt tình. Nhà nước đứng ra làm kinh tế có gì bất ổn hay không, và có thật vai trò của các tập đoàn quan trọng đến nỗi nhà nước phải tập trung tất cả nguồn lực quốc gia cho họ. TS Nguyễn Quang A, một nhà nghiên cứu độc lập, nguyên viện trưởng viện IDS nói:

Thực sự đây là một vấn đề thuộc về nhận thức rất sâu sắc cần phải thay đổi. Nguồn lực của quốc gia không nhất thiết phải thuộc về nhà nước. Khi nhà nước đứng ra làm kinh tế tức là có những doanh nghiệp riêng của mình và được ưu ái nên tôi nghĩ rằng đây là cách làm không tốt. Những nguồn lực ấy nếu cải tổ một cách hợp lý thì nhà nước không mất đi một đồng xu nào cả. Vẫn là tài sản của nhà nước.

Tôi lấy thí dụ, khi một doanh nghiệp được bán đi hoặc cổ phần hóa một cách triệt để thì tài sản đó của nhà nước chuyển thành tiền và số tiền đấy thu về kho bạc của nhà nước và nhà nước có thể sử dụng tài sản ấy dùng vào những việc như phát triển giáo dục, y tế hay hạ tầng cơ sở. Trong khi đó doanh nghiệp họ hoàn toàn tự chủ, làm công việc kinh doanh của họ. Đấy là cách mà tôi cho rằng hữu hiệu hơn cách nhà nước trực tiếp điều khiển.

Việc thành lập các tập đoàn của nhà nước được TS Lê Đăng Doanh nhìn nhận còn nhiều bất cập và thiếu tính khoa học:

Việc thành lập tập đoàn là một thí điểm mà đã là thí điểm thì về mặt khoa học mà nói thì là thì nghiệm có giới hạn về không gian, thời gian với các điều kiện nhất định. Sau đó được đánh giá để lượng định mô hình đó có thể sử dụng và mở rộng hay không. Cho đến nay, quá trình thí điểm đó đã diễn ra sáu năm và được thực hiện với quy mô rất lớn mà không thấy có đánh giá gì các cơ chế, khung pháp luật hoạt động của các tập đoàn.

Trong nhiều năm về trước, nhà nước gom các công ty quốc doanh trong đó có không ít công ty từng thất bại, để thành tập đoàn. Thủ tướng chính phủ chỉ định một nhóm đảng viên vào các chức vụ quan trọng, lãnh đạo tập đoàn như lãnh đạo một tổ chức đảng. Với cách làm này nhiều chuyên gia kinh tế độc lập cho là sai lầm vì không tận dụng đựơc khả năng lãnh đạo thật sự của người am hiểu về kinh tế. Hai nữa vì thiếu giai đoạn gây dựng và phát triển nguồn vốn cũng như nhân lực, các tập đoàn quốc doanh không thể tự đứng trên đôi chân của mình mà luôn phải nhờ vào các ưu đãi của nhà nước. Cái gốc của vấn đề này được TS Nguyễn Quang A chia sẻ:

Chừng nào đảng Cộng sản Việt Nam vẫn còn xem kinh tế nhà nước phải giữ vai trò chủ đạo. Rồi kinh tế nhà nước phải là kinh tế tập thể thì tôi nghĩ cái gốc của nó không thể giải quyết và các vấn đề tương tự cũng sẽ còn lập lại.

Quay trở lại với sự sụp đổ của Vinashin, liệu tác động của nó có thể gây hiệu ứng domino hay một cuộc khủng hoảng dây chuyền cho nền kinh tế Việt Nam hay không TS Nguyễn Quang A đưa ra nhận xét:

Tôi không nghĩ rằng cái việc đổ vỡ của Vinashin sẽ kéo theo một cuộc khủng hoảng. Thật sự đây là một bài học cần phải nghiên cứu một cách hết sức thấu đáo và có những thay đổi tận gốc rễ về tư duy thì sẽ làm cho sự phát triển của đất nuớc tốt hơn lên, hiệu quả hơn lên.

Nếu vì một lý do chính trị mà không thể buông tay đối với tập đoàn thì trong thời gian tới, liệu nhà nước có nên lấy mô hình của Trung Quốc để áp dụng vào cách quản lý tập đoàn của Việt Nam nhằm kiểm soát chúng hiệu quả hơn hay không. TS Lê Đăng Doanh nói:

Trung Quốc có những tập đoàn rất lớn họ có những kinh nghiệm về quản lý như họ ký một hợp đồng với ông chủ tịch Hội đồng quản trị rằng, ông phải cam kết tăng năng suất lao động bao nhiêu phần trăm. Phải tiết kiệm điện, năng lượng bao nhiêu phần trăm. Phải nâng cao xuất khẩu bao nhiêu phần trăm.....Nếu ông đồng ý ký vào đó thì tới thời hạn mà ông không thực hiện được thì ông sẽ mất chức.

Kinh tế Việt Nam mặc dù đang khởi sắc và tương đối ổn định trong nhiều năm qua, nhưng về lâu về dài nhiều tổ chức tài chánh uy tín quốc tế nhận định mối lo tiềm ẩn của Việt Nam vẫn là sự sụp đổ của các tập đoàn kinh tế nhà nước. Vinashin chưa phải là bài học cuối cùng và tác hại của nó không thể xem thường như nhiều giới chức trong bộ máy kinh tế chính trị Việt Nam tuyên bố.

http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/Vinashin-a-ship-without-a-destination-part-1-Mlam-07082010152108.html

http://www.rfa.org/vietnamese/vietnam/kinh-te/Vinashin-a-ship-without-a-destination-Part%202-MLam-07092010083511.html


Tổng số lượt xem trang

free counters