Triết Lý, để làm gì ?

Khi ta bế tắc tư tưởng, chân thật công nhận rằng những kiến thức và phương pháp suy luận của ta không cho phép ta sống, tư duy và hành động khớp với khao khát làm người của ta, ngoài vô vàn cách ứng xử khác, ta có thể:

a) Tiếp tục sống, tư duy và hành động như cũ vì, dù sao, ta cũng sống được, không đến nỗi nào

b) Lột áo cũ, khoác áo mới, một tấm áo coi lành lặn đẹp đẽ hơn nhưng cũng hàm hồ không thua gì. Điều ấy luôn luôn khả thi bằng ngôn ngữ.

c) Đi tới cùng bế tắc của chính mình. Nếu không giải quyết được nó, ta ôm nó xuống suối vàng, để lại ở đời chỉ một câu hỏi. Câu hỏi của một con người. Đích thực. Có gì nhục đâu?

Nếu ta tưởng ta đã tìm ra một phần của giải pháp, ít nhất là cho riêng mình, thì cứ viết đi, chẳng cần trích cao nhân nào cả: họ đã là một phần của ta và ta đã phải “vượt” họ để nên mình.

Thế thôi.

(Chungta.com)

Góc nhỏ của Noby Vui Vẻ

Lục lọi, tìm tòi, đọc, cóp nhặt, chia sẻ, ... OK hay không tùy bạn ! ! !

“Nước độc lập mà dân chưa tự do thì độc lập cũng không có ý nghĩa”- Hồ Chí Minh.

23 thg 2, 2011

Nông thôn bây giờ...

Mươi năm về trước, Trần Đăng Khoa có những nhận định khiến tôi ám ảnh mãi. Đó là những câu đầu trong tiểu phẩm có tên là Nông dân.

Những câu đó là: "Nông dân thời nào cũng rất khổ. Hình như họ sinh ra để khổ. Có cho sướng cũng không sướng được. Có phủ lên vai họ tấm áo bào lộng lẫy của vua thì họ cũng không thể thành được ông vua. Họ có sức chịu đựng gian khổ đến vô tận. Nhưng mất hoàn toàn thói quen để làm một người sung sướng. Thế mới khổ. Họ khổ đến mức không biết là mình khổ nữa. Người nông dân ta dường như không có thói quen so sánh mình với người dân ở các nước tiên tiến, cũng như người dân đô thị. Họ chỉ so mình với chính mình thời tăm tối thôi. Và thế là thấy sướng quá".

"Nông dân thời nào cũng rất khổ" câu nói đó thực xót xa. Nhưng, có đôi lúc, tôi hy vọng đó như là nhận định nhất thời của vị thần đồng một thủa. Tôi đem chuyện ấy gợi lại với tác giả "Hạt gạo làng ta", ông trầm ngâm một hồi rồi tâm sự:

- Khoảng mấy chục năm nay, tôi sống ở thành phố nhưng mọi mối quan hệ vẫn ở làng quê. Bố mẹ tôi ngoài 90 tuổi rồi vẫn đang sống ở quê. Các cụ không chịu ra thành phố. Cụ bà bảo: "Cái dân phố xá nó không có tình cảm. Nhà bên này có tang, nhà bên cạnh lại mở nhạc xập xình. Thế thì sống chung với họ sao được hở giời". Tháng nào tôi cũng về quê và cũng nhờ thế mà thấu hiểu được người nông dân. Tôi vẫn thấy "Người nông dân thời nào cũng khổ". Điều đó cho đến nay vẫn là một vấn đề thời sự.

Theo tôi, muốn đánh giá hiệu quả của công cuộc đổi mới đất nước thì phải nhìn vào chất lượng đời sống của những người nghèo nhất xã hội là nông dân. Nếu người nông dân không thay đổi được số phận thì công cuộc đổi mới của chúng ta vẫn chưa đạt được hiệu quả đích thực. Ở thành phố hiện nhiều người giầu lên, có anh là tỷ phú và cũng có cả anh là trọc phú. Nhưng người nông dân thì nói chung là vẫn không giầu.

Theo tôi, hiện nay nước ta có đến 90% là nông dân. Tôi nhìn đâu cũng thấy nông dân cả. Nông dân cày cuốc, nông dân kinh doanh, nông dân làm quản lý, thậm chí có những nông dân ở những cấp cao. Có nhiều anh rất trang trọng, nhưng nhìn cung cách ứng xử của họ thì lại thấy hiện nguyên hình một anh nông dân, không giấu vào đâu được.

Nhìn vào các làng quê, nhất là vùng sâu, vùng xa, vẫn không ít những nông dân còn trong cảnh bần cùng. Phần lớn những người này đang bám đồng ruộng. Không thể phủ nhận là hiện nay đời sống nói chung của chúng ta là có khởi sắc nhưng cũng còn rất nhiều vấn đề nan giải. Cái nan giải nhất hiện nay là nông dân mất đất. Ở một số vùng nông thôn ven đường lớn, hay ven đô thị, bị thu hồi đất rất nhiều để làm khu công nghiệp, cả khu vui chơi giải trí mà ta quen gọi là du lịch sinh thái. Đã thế, người nông dân còn bán đất đi. Họ bán với giá rất rẻ.

Anh phố thị nào cũng muốn có cái nhà nghỉ, hay trang trại ở quê, chỉ bỏ ra chừng tỷ bạc là đã có thể có cả nghìn mét vuông đất quê. Người phố đổ về quê để được sống. Còn anh nhà quê thì lại nhao ra thành phố để kiếm sống. Anh nhà quê ra phố, mang cả những luộm thuộm, nhơm nhếch của làng quê đi "khai hoá" thành phố. Còn anh thành phố thì lại mang xi - măng sắt thép về bê tông hóa làng quê. Thế là tất cả nháo nhào. Rốt cuộc là hỏng ráo cả.

Hiện nay, chúng ta đang quan tâm rất nhiều tới việc quy hoạch đô thị, có nhiều chiến lược, kế sách... nhưng thử hỏi chúng ta có được bao nhiêu công trình, đề tài, bao nhiêu tâm huyết của lãnh đạo quan tâm tới nông thôn? Cho nên, tôi có cảm giác nông thôn hiện nay phát triển lung tung, mang tính tự phát. Nhơm nhếch và hoang dại một cách rất hiện đại. Nhà văn hoá lớn Hữu Ngọc có nhiều năm hoạt động trong Quỹ Thuỵ Điển. Ông quan tâm nhiều tới những ngôi nhà mang đặc tính thôn quê, để rồi tìm cách tài trợ, phục dựng những ngôi nhà đó. Và rồi, khi đi khảo sát, ông phát hiện ra rằng chỉ còn một nơi giữ được, là làng Đường Lâm (Hà Nội).

Nhưng Đường Lâm giữ lại được không hẳn vì người dân có ý thức gì cả mà vì đó là vùng quê rất nghèo, chẳng có nghề gì ngoài nghề kẹo kéo. Nghề kẹo kéo thì không thể phá làng được. Và ông Hữu Ngọc có kết luật rất đau xót thế này: "May mà cái nghèo đói đã cứu được cả một mảng văn hóa đang bị hủy diệt".

Ây dà dà...

Tôi xin nhấn lại rằng, nguy nan nhất ở nông thôn hiện nay là mất đất. Công nghiệp hoá thì rất tốt. Tôi cho đó là chủ trương rất đúng nhưng chúng ta phải tính xem thế nào. Tại sao không lấy những vùng đồi, vùng đất cằn không phát triển được nông nghiệp để xây dựng Khu công nghiệp, mà cứ lấy khu "bờ xôi ruộng mật"? Bây giờ, cứ thử đi từ Hà Nội về Hải Phòng mà xem, những cánh đồng thẳng cánh cò bay cũng đã "bay" hết rồi.

Cần những tầm nhìn thế kỉ

Việc đưa các khu công nghiệp, nhà máy lên vùng đồi, tránh xa vùng "bời xôi ruộng mật", có thể nói ai cũng nhận ra, cũng nhiều người kiến nghị rồi nhưng tại sao chúng ta vẫn không làm được?

Có gì đâu. Vì ở đó tiện đường, dễ làm, dễ xây dựng cơ sở hạ tầng. Mấy cái "dễ" ấy làm họ giảm được một nửa tiền đầu tư. Vì thế mà họ ép những người có trách nhiệm. Có rất nhiều cách ép. Và khi Khu công nghiệp vào vận hành, lại thuận lợi về vận tải và tiện cho việc quảng bá sản phẩm mà lại giảm được đầu vào, hạ được giá thành để tăng lợi nhuận. Đối với nhà sản xuất, đấy là vấn đề sống còn của họ, nên họ làm bằng được, và có nhiều biện pháp để làm, trong khi ta cứ nhân nhượng rồi lại nhân nhượng. Họ lại còn có sức ép rất hiệu quả để thực hiện được ý muốn. Cuối cùng ta vẫn mất đất màu cho họ, cũng là điều dễ hiểu. Mà đất trồng lúa, phải qua hàng ngàn năm canh tác mới tạo ra được.

Gần đây, trong buổi phát biểu góp ý cho văn kiện Đại hội Đảng, tôi đã nói một ý: Chúng ta phải chọn và tìm được người lãnh đạo có tầm nhìn xa, tầm nhìn vượt nhiệm kì. Còn nếu tầm nhìn chỉ ở một hoặc hai nhiệm kỳ thì chúng ta chỉ giải quyết được những vấn đề trước mắt, rồi hết nhiệm kỳ thì hạ cánh an toàn, còn mọi hậu quả, nhiệm kỳ sau giải quyết tiếp, nếu nhiệm kỳ sau giải quyết không xong lại bàn giao cho nhiệm kỳ sau nữa. Cuối cùng chật hớ ra là con cháu mình gánh chịu, chứ còn ai vào đây.

Tức là vấn đề mấu chốt vẫn là người lãnh đạo?

Đúng vậy! Chúng ta cần những người có tầm nhìn 20, 50 năm, thậm chí là cả trăm năm để mà giải quyết vấn đề trước mắt về nông nghiệp, nông dân và nông thôn. Tôi đi các nước thì thấy rằng, giữa nông thôn và thành phố không khác xa bao nhiêu. Thậm chí không phát hiện được đó là làng quê, nếu không có tiếng gà gáy. Quy hoạch của họ rất tốt, họ rất quan tâm tới nông thôn, nông dân. Còn ta thì thiếu cái đó. Số phận của người nông dân, có thể bị đẩy vào thảm kịch là vì vậy. Thậm chí có cả những thảm kịch nhìn bên ngoài không thể thấy được.

Cái giàu của nông dân là cái giàu giả. Trước mắt, anh bán được ít đất có thể mua được xe máy, thậm chí có người tậu được ôtô. Nhưng, ôtô xe máy để làm gì? Trong khi trong nhà rỗng tuếch và con cái không có tiền ăn học. Đấy là những lạc quan bi kịch mà hậu quả thì rất khó lường. Làng quê bây giờ đang vỡ ra, vỡ tứ bề, thủng lỗ chỗ không kịp vá víu, mà cũng chẳng có ai vá ấy chứ.

Vỡ ra? Tôi nhớ, đã lâu lắm, có lẽ chừng 15 năm trước, ông viết một tiểu phẩm ngắn có tên là "Vỡ làng". Trong đó, ông có kể những câu chuyện vui thôi nhưng ngẫm ra không thiếu những giọt nước mắt xót xa...

Bây giờ chuyện ấy vẫn là những vấn đề nan giải. Cũng may, nhờ kết quả của công cuộc đổi mới, nhiều vẻ đẹp của phong tục cũ đã được khôi phục. Nhưng rồi cũng có người lại lợi dụng sự thông thoáng đó để trục lợi. Ví dụ như việc xây chùa chiền, đền miếu chẳng hạn. Bên cạnh ngôi chùa lớn, thấy có nhiều khách hành hương. Thế là người ta "cấy" thêm rất nhiều ngôi chùa bên cạnh để thu công đức. Cái đó lại không ổn rồi. Nó làm băng hoại văn hoá. Đâu phải tâm linh. Ngay trong văn hoá tâm linh ở làng quê cũng đang vỡ. Nhìn ở góc độ người làm văn hoá, tôi cho rằng điều đó hiện nay cũng rất đáng quan ngại.

"Để nông dân nghĩ trên luống cày"

Hồi bé, ông có viết câu thơ: "Hạt gạo làng ta/ Gửi ra tiền tuyến". Gửi gạo ra tiền tuyến, là để nuôi quân đánh giặc, giành lấy giang sơn. Bây giờ, không còn giặc ngoại xâm nữa thì hạt gạo làng ta "gửi" ra thế giới, nuôi cả một phần nhân loại nhưng như ông nói thì chính người làm ra hạt gạo còn nghèo quá, nhiều vùng còn đói nữa. Cái nghịch lý này sao tồn tại dai dẳng vậy?

Hiện nay, đúng là chúng ta xuất khẩu gạo đứng thứ nhì thế giới thật. Rồi có thể chúng ta sẽ đứng đầu thế giới về xuất khẩu gạo. Nhưng như thế không có nghĩa là đời sống người nông dân chúng ta giầu nhất nhì thế giới. Bởi làm ra hạt gạo khổ lắm. Mà gạo lại rất rẻ. Một tấn thóc bây giờ nếu quy ra tiền thì đáng bao nhiêu đâu.

Tôi xem tivi, ở khu ngoại thành Hà Nội, có một chị nông dân, cả một vụ mà trừ chi phí tất cả chỉ còn lãi có 500.000 đồng. Năm trăm nghìn đó thì làm được gì? Sao nuôi con đi học được? Rồi còn việc ma chay, giỗ tết và trăm thứ ở làng nữa, chị nông dân ấy trông vào đâu?

Chúng ta xuất khẩu gạo, nhưng cũng cần nghĩ đến việc đầu tư trí tuệ vào gạo. Ví như sản xuất được một loại gạo có khả năng chống béo phì, một căn bệnh mà thế giới rất sợ hãi chẳng hạn. Chỉ có thế, hạt gạo của chúng ta mới đắt giá. Và như thế, có thể nói rằng, chỉ khi nào chúng ta xuất khẩu được trí tuệ thì Việt Nam mới thật sự cất cánh. Một sản phẩm công nghệ của trí tuệ chỉ vài lạng thôi nhưng có khi bằng cả chục tấn thóc của người nông dân chân lấm tay bùn. Nhưng nói gì thì nói, chúng ta cũng không thể bỏ cây lúa được.

Điều quan trọng là chúng ta làm thế nào để đời sống của người nông dân giầu lên? Vai trò của người nông dân rất quan trọng. Hãy cứ xem trong cuộc kháng chiến, con em ai hy sinh nhiều nhất? Xin trả lời ngay đó là con em nông dân. Bây giờ, vẫn còn hàng vạn con em nông dân nằm dưới lòng đất mà không tìm thấy hài cốt. Cho nên, chúng ta phải nghĩ ra cách nào đó để người nông dân có thể sướng được, làm giàu được thì sự hy sinh ấy mới có ý nghĩa. Làm sao để họ có thể sống được, sống đàng hoàng trên chính mảnh đất của mình. Về vấn đề này, Lênin nói rất hay: "Hãy để nông dân nghĩ trên luống cày". Tôi nghĩ cái đó rất đúng. Chính luống cày sẽ dạy cho họ cách làm giầu như thế nào.

Nói về nông dân, nông thôn như vậy, nếu ai đó nói rằng Trần Đăng Khoa bi quan quá, ông nghĩ sao?

Tôi không phải là người bi quan cũng không phải là người lạc quan. Tôi chỉ nhìn thẳng vào sự thật, điều mà Đại hội VI của Đảng đã dạy tôi.

Nếu mượn lời của một tiến sĩ có danh phận để "nói lại" với ông rằng, một bộ phận nông dân không nhỏ của chúng ta còn lười nên dẫn đến nghèo khó, ý kiến của ông về vấn đề này như thế nào?

Tất nhiên cũng có người nghèo vì lười. Nhưng nông dân mình tuyệt đại bộ phận không lười đâu. Nếu ai đó nói người nông dân mình lười, tôi phản bác ngay. Nhưng chỉ có điều, họ đổ mồ hôi rất nhiều mà hiệu quả lại rất thấp. Vấn đề là ở đó. Và ở chỗ này, người nông dân không tự lo cho mình được, vì thế mới cần đến các nhà khoa học, các nhà quản lý chỉ bảo, dẫn dắt họ đi....

Đấng cứu thế có khi vẫn đang nằm ở trong dân

Thưa ông, giả dụ bây giờ đặt ông vào vị trí lãnh đạo một địa phương, ông sẽ làm gì để người nông dân mình bớt khổ?

Tất nhiên điều đó không bao giờ xảy ra (cười). Chúng ta không nên bàn chuyện ở trên mây. Tuy nhiên, những đấng cứu thế có khi vẫn đang nằm ở trong dân. Chúng ta đã từng có một Kim Ngọc đó thôi. Vấn đề làm sao để cho đời lại xuất hiện những Kim Ngọc mà không bị "đứt gánh"....

Thưa ông, trong những năm qua, Đảng và Nhà nước đã có nhiều chính sách đối với nông nghiệp, nông dân và nông thôn, ông đánh giá thế nào về những chương trình đó?

Những chính sách đó rất hay nhưng sòng phẳng mà nói, nó chỉ giải quyết được những vấn đề nhất thời. Cái chúng ta quan tâm lớn hơn thế và cái mà chúng ta cần đạt được phải lớn hơn thế...

Mảnh đất mầu mỡ cho văn sĩ

Thực tế chứng minh rằng, những tác phẩm hay nhất, thăng hoa trên trường quốc tế được là những tác phẩm về nông thôn, thân phận người nông dân. Nhưng gần đây, nói theo một nhà văn có tên tuổi, thì chính văn sĩ cũng đang rời xa nông thôn mà đang chạy theo vuốt ve thành thị. Là một nhà thơ, ông thấy nhận xét ấy thế nào?

Ở đây tôi, một lần nữa phải cảm ơn tới Bộ NN - PTNT đã có sáng kiến ở tầm vĩ mô về cuộc vận động sáng tác về đề tài "tam nông" vừa qua. Sau việc tôn vinh những tác phẩm âm nhạc đặc sắc về nông nghiệp, nông dân và nông thôn là mảng văn học. Theo tôi, những sáng tác hay nhất của chúng ta vẫn là về đề tài nông thôn. Người đầu tiên viết hay về nông thôn phải nói đến các cụ Nguyễn Khuyến, Tú Xương, Phạm Duy Tốn, rồi đến Nguyễn Công Hoan, Ngô Tất Tố, Nam Cao, Vũ Trọng Phụng, Nguyễn Bính... Sau này là Nguyễn Kiên, Nguyễn Thị Ngọc Tú, Đào Vũ, Ngô Ngọc Bội, Nguyễn Huy Thiệp, Lê Lựu, Nguyễn Khắc Trường, Trần Nhuận Minh, Nguyễn Duy, Phạm Công Trứ... và gần đây nhất trong giới trẻ là Nguyễn Ngọc Tư.... Đến bây giờ, tôi vẫn cho rằng, đề tài nông thôn không hề kém hấp dẫn. Đấy vẫn là mảnh đất mầu mỡ. Hi vọng ở đó, chúng ta sẽ có những tác phẩm lớn. Nông thôn vẫn gắn bó xương cốt với người viết, là vùng người viết thông thạo hơn cả. Trở về vùng đất màu mỡ ấy, hi vọng chúng ta có được những vụ mùa văn chương.

Có ý kiến cho rằng văn sĩ quay lưng với nông thôn, vuốt ve thành thị thì tôi cho rằng cái đó không hẳn đâu. Tôi không tin như thế. Còn việc nhà văn sống ở đâu thì không quan trọng. Cái quan trọng là người đó có am tường nông thôn không và họ đã viết như thế nào. Tất cả những gì đã có, dù ít dù nhiều cũng cho chúng ta niềm hy vọng. Có phải thế không?

Mai Xuân Nghiên

(Báo Nông Nghiệp, 05/02/2011)

CPI cả nước tháng 2 tăng gần 2,1%


Tổng cục Thống kê vừa công bố, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 2/2011 đã tăng 2,09% so với tháng 1 trước đó. Nhìn nhận của cơ quan thống kê là mức tăng CPI tháng Tết năm nay “chỉ ở mức trung bình”.

Cơ sở cho đánh giá này đến từ việc so sánh mức tăng của CPI tháng 2 trong nhiều năm trở lại đây. Cụ thể, trong 10 năm gần nhất, chỉ số giá tiêu dùng tháng 2 đã có 8 năm vượt mức tăng 2% và tháng 2 năm nay cũng đạt mức tăng thấp nhất trong 8 năm vừa nêu.


Mức tăng của CPI tháng 2 những năm gần đây (đơn vị: %).

Tuy nhiên, so sánh trong ngắn hạn, CPI tháng 2/2011 đã tăng cao hơn mức của khoảng hơn 30 tháng liền trước.

So với tháng 12/2010, chỉ số giá tiêu dùng tháng này đã tăng 3,87%; so với cùng kỳ tăng 12,31%. CPI bình quân 2 tháng đầu năm 2011 so với cùng kỳ đã tăng 12,24%.

Hàng ăn và dịch vụ ăn uống là nhóm hàng có chỉ số giá tăng nhanh nhất là 3,65%, trong đó lương thực tăng 1,51%, thực phẩm tăng 4,53%, ăn uống ngoài gia đình tăng 3,31%.

Kế tiếp là nhóm hàng đồ uống và thuốc lá tăng 2,14%; nhóm hàng may mặc, mũ nón, giày dép tăng 1,38%; nhóm hàng văn hóa giải trí và du lịch tăng 1,24%, giao thông tăng 1,01%.

Chỉ số giá tiêu dùng các nhóm hàng này tăng mạnh được đánh giá là do thời gian tính CPI tháng 2 gồm 2 tuần trước và sau tết, nhu cầu hàng hóa tiêu dùng phục vụ tết tăng cao.

Nhóm hàng bưu chính viễn thông tiếp tục giảm 0,01%.

Chỉ số giá vàng tháng 2 giảm 0,35% so với tháng 1 và giảm 0,30% so tháng 12/2010. Bình quân 2 tháng, chỉ số vàng tăng 35,02% so với cùng kỳ 2010.

Chỉ số giá USD tăng 0,94% so tháng 1 và tăng 0,62% so tháng 12/2010. Bình quân 2 tháng đầu năm, chỉ số giá USD tăng 9,78% so cùng kỳ 2010.

Trước đó, theo Cục Thống kê TP.HCM, CPI tháng 2/2011 của thành phố tăng 1,61% so với tháng trước. Dẫn đầu nhóm tăng giá tháng này là đồ uống và thuốc lá, tăng trên 3,45%. Cục Thống kê TP.Hà Nội cũng cho biết CPI tháng 2/2011 của Hà Nội tăng tới 1,98%, cao hơn mức 1,68% của tháng 1/2011. Trong đó, nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng mạnh tới 4,17% so với tháng trước.

(Theo VTC News)

vụ nông trường sông hậu !!!

Thủ tướng: Xử vụ Nông trường Sông Hậu trong tháng 4

- Vụ án Lập quỹ trái phép tại Nông trường Sông Hậu, xã Thới Hưng, huyện Cờ Đỏ, TP Cần Thơ sẽ được đưa ra xét xử vào tháng 4 tới. Thông tin trên được Đại tá Lê Việt Hùng – PGĐ Công an TP Cần Thơ, thủ trưởng Cơ quan CSĐT cho biết.

Ông Hùng cho biết: “Thủ tướng Chính phủ đã có văn bản chỉ đạo như vậy. Nội dung chỉ đạo đóng dấu “tuyệt mật”, đề nghị điều tra khẩn trương để xét xử vào tháng 4/2011, không được để oan sai, sót lọt tội...”.

“Chúng tôi đã chuyển toàn bộ hồ sơ vụ án sang Viện KSND thành phố để họ viết cáo trạng và sau đó chuyển sang tòa án nhưng có kịp theo thời gian chỉ đạo của Thủ tướng hay không là trách nhiệm của viện và tòa án”, đại diện Cơ quan CSĐT nói.




Đại tá Lê Việt Hùng khẳng định, toàn bộ quá trình điều tra lại sau khi TAND Tối cao hủy bỏ cả hai bản án sơ thẩm và phúc thẩm của Tòa án hai cấp tại TP Cần Thơ đều có sự giám sát của Bộ Công an, Viện KSND Tối cao và BCĐ Trung ương về phòng chống tham nhũng. Trước khi có được Kết luận điều tra (số 08/KLĐT-PC46 ngày 21/02/2011), Cơ quan điều tra Công an TP Cần Thơ đã 4 lần báo cáo với các cơ quan chức năng Trung ương; trong đó Phó Thủ tướng Trương Vĩnh Trọng trực tiếp dự 02 lần.

Ông Hùng khẳng định: Các chứng cứ nêu trong Kết luận điều tra lần này đều đã được các cơ quan Trung ương thẩm định kỹ.

Sáng nay (23/2), bà Nguyễn Thị Minh Châu – Chánh Văn phòng Viện KSND TP Cần Thơ, cho biết: cơ quan này đã thụ lý hồ sơ và kết luận điều tra từ Cơ quan CSĐT – Công an TP Cần Thơ về vụ án NTSH. Hiện các bộ phận nghiệp vụ bắt đầu tiến hành kiểm tra, rà soát theo thủ tục đối với toàn bộ hồ sơ trước khi tiến hành soạn thảo cáo trạng.

Theo bà Châu, thời hạn pháp luật quy định để hoàn thành cáo trạng trong những vụ án có tính chất nghiêm trọng như thế này tối đa là 2 tháng nhưng có thể hoàn thành sớm hơn nếu hồ sơ hoàn chỉnh và đúng pháp luật.

Bà cũng khẳng định: Nếu có chỉ đạo cần xét xử sớm, hồ sơ hoàn tất đúng pháp luật chúng tôi sẽ hoàn thành cáo trạng sớm trước tháng 4 để chuyển sang TAND thành phố.

Tiến sĩ, Luật sư Phan Trung Hoài – Trưởng Văn phòng Luật sư Phan Trung Hoài – TP.HCM (đại diện bảo vệ quyền lợi cho bà Sương): Chúng tôi không nhận được bất kỳ văn bản trả lời khiếu nại nào!

Chúng tôi không gửi bất kỳ khiếu nại nào đến Văn phòng Ban chỉ đạo Phòng chống tham nhũng TƯ và cũng không nhận được bất kỳ văn bản nào từ cơ quan này.

Chúng tôi đã gửi Kiến nghị luật sư số 01 đến Thủ tướng Chính phủ và các cơ quan tiến hành tố tụng Trung ương ngày 26/12/2010; và gửi Giám đốc Công an TP Cần Thơ ngày 30/12/2010. Kể cả tại CQĐT, khi tiến hành điều tra xét xử, thân chủ tôi cũng nhiều lần khiếu nại giám định tài chính – căn cứ quan trọng để điều tra xét xử vụ án. Nhưng đến nay chúng tôi vẫn không nhận được bất kỳ văn bản trả lời nào từ cơ quan tố tụng.


An An

Theo bee

'Quản báo chí như bơi giữa hai làn nước'

'Quản báo chí như bơi giữa hai làn nước'

- “Là người được giao trách nhiệm quản lý báo chí, tôi nhiều khi như người bơi giữa hai làn nước”, Bộ trưởng Thông tin - Truyền thông Lê Doãn Hợp bộc bạch.

Khen ít, chê nhiều

Phát biểu trong cuộc làm việc với Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân chiều nay (21/2), Bộ trưởng Thông tin - Truyền thông Lê Doãn Hợp cho rằng quản lý lĩnh vực báo chí, xuất bản vẫn luôn được coi là một nhiệm vụ khó khăn khi thường xuyên phải đối mặt với nhiều vấn đề nhạy cảm, nóng bỏng.

Là người được giao trách nhiệm quản lý báo chí, xuất bản, tôi nhiều khi như người bơi giữa hai làn nước, khen thì ít mà bị chê thì nhiều”, ông Hợp bộc bạch.

Bộ trưởng cũng nêu thực tế nhiều cơ quan, tổ chức cũng như doanh nghiệp vẫn rất thụ động trong việc cung cấp thông tin cho báo chí.

“Báo chí luôn cần thông tin, đó là lý do rất chính đáng”, Bộ trưởng Lê Doãn Hợp nhấn mạnh.

Việc “né” báo chí, theo Thứ trưởng Đỗ Quý Doãn, chính là lý do đã gây ra nhiều sự hiểu nhầm trong công tác quản lý báo chí.

Đồng cảm với những khó khăn vừa nêu, Cục trưởng Cục Phát thanh, truyền hình và thông tin điện tử Lưu Vũ Hải cũng thừa nhận: “Xã hội “ảo” trên Internet hiện nay không còn biên giới, việc quản lý với những mệnh lệnh hành chính nhiều khi không mang lại hiệu quả như mong muốn”.

Chúng ta buộc phải sẵn sàng đối mặt và chủ động hơn trong việc tạo ra nhiều thông tin hấp dẫn về những cái hay, cái đẹp để lấn át đi những tin tức tiêu cực trong xã hội”, ông Hải bày tỏ suy nghĩ.

Lắng nghe tâm tư của lãnh đạo Bộ, Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân chia sẻ với những khó khăn và trăn trở mà ngành đang phải đối mặt, đồng thời đánh giá cao những đóng góp trực tiếp, thiết thực và hiệu quả của ngành trong sự nghiệp phát triển đất nước.

Phó Thủ tướng cũng bày tỏ sự ủng hộ với đề nghị cho phép thành lập Tổng cục Thông tin báo chí, xuất bản trực thuộc Bộ để tập trung công tác quản lý và chỉ đạo báo chí hiệu quả hơn trong thời gian tới.

“Bộ cũng nên có một lộ trình để giảm dần tình trạng báo chí đưa tin sai sự thật cũng như cần phối hợp với các cơ quan liên quan để sớm đưa ra được nguyên tắc và chế tài bắt buộc đối với các bộ, ngành, các doanh nghiệp trong nhiệm vụ chủ động cung cấp thông tin chính thống cho báo chí”, Phó Thủ tướng nhấn mạnh.

Ông cũng đề cập đến việc quản lý và tham gia thông tin trên mạng Internet trong xã hội. Theo đó, Bộ cần chủ động hơn nữa trong việc chia sẻ, cung cấp và chuyển tải thông tin đến thanh niên.

Hợp nhất doanh nghiệp thành tập đoàn lớn

Trước đó, trong báo cáo kết quả công tác năm 2010, Bộ trưởng Lê Doãn Hợp khẳng định năm qua, tuy còn nhiều khó khăn nhưng với sự nỗ lực của toàn ngành, sự nghiệp thông tin - truyền thông tiếp tục phát triển và đạt được nhiều thành tích nổi bật.

Việt Nam đang là một trong những nước có tốc độ phát triển viễn thông và Internet nhanh trên thế giới, doanh thu của các doanh nghiệp viễn thông, công nghệ thông tin tăng mạnh, đóng góp quan trọng vào tăng trưởng kinh tế của đất nước.

Đề án đưa Việt Nam sớm trở thành nước mạnh về công nghệ thông tin - truyền thông đã được Thủ tướng phê duyệt và được Bộ xem là nhiệm vụ bao trùm, xuyên suốt trong 10 năm tới, nhằm thay đổi thứ hạng của Việt Nam về thông tin - truyền thông.

Chương trình mục tiêu quốc gia “Đưa thông tin về cơ sở khu vực miền núi, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo” cũng đã được Quốc hội thông qua.

Tuy nhiên, người đứng đầu ngành cũng thừa nhận một số tồn tại như các doanh nghiệp viễn thông chưa có sự thống nhất và phối hợp tốt trong việc dùng chung hạ tầng, khai thác các dịch vụ. Hiện tượng cạnh tranh giữa các doanh nghiệp viễn thông trên thị trường vẫn diễn ra thiếu lành mạnh...

Bộ trưởng cũng cho biết trong năm nay, Bộ sẽ tập trung giải quyết những tồn tại, bức xúc của xã hội như quản lý trò chơi trực tuyến, truyền hình trả tiền, quản lý thuê bao di động trả trước và ngăn chặn tin nhắn rác.

Cùng với đó, Bộ Thông tin - Truyền thông sẽ xây dựng cơ chế đồng bộ để tránh chồng chéo trong quản lý nhà nước với các bộ liên quan, đặc biệt là Bộ Văn hóa - Thể thao - Du lịch.

Bộ cũng sẽ xây dựng một số đề án mở đường cho việc thực hiện các chiến lược lớn như đề án khuyến khích hợp tác, hợp nhất các các doanh nghiệp viễn thông và công nghệ thông tin thành những tập đoàn lớn, làm chủ quốc gia, vươn ra quốc tế.

"Thời gian tới, Bộ sẽ tiếp tục thực hiện tốt phương châm đi thẳng vào công nghệ hiện đại, đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng viễn thông quốc gia ngang tầm với các nước tiên tiến trong khu vực", Bộ trưởng Lê Doãn Hợp khẳng định.

Việt Nam hiện có 728 cơ quan báo in với hơn 900 ấn phẩm; 67 đài phát thanh - truyền hình trung ương và địa phương; 34 báo điện tử và tạp chí điện tử; 66 trang thông tin điện tử tổng hợp của các cơ quan báo chí.

Có 162,88 triệu thuê bao điện thoại được đăng ký, trong đó thuê bao di động chiếm 91,2%; mật độ đạt 189 máy/100 dân. Trên 26,8 triệu người sử dụng Internet.

Cao Nhật

theo VNN

Bao giờ giá cả như... xưa?


Tác giả: Lao động

Hàng hóa vào những ngày Tết Nguyên đán Tân Mão – 2011 tăng đột biến; từ con cá, cọng rau cho đến tô bún nước lèo, dĩa cơm... đều thiết lập mặt bằng giá mới.

Có ai thắc mắc thì được người bán cười tươi: "Tết mà!". Ấy nhưng, hiện nay dù đã hết tết, nhưng không ít mặt hàng thiết yếu, gắn liền với đời sống hàng ngày của người dân giá vẫn... chưa chịu giảm...

Hủ tiếu gõ tăng... theo giá vàng!

Tại Bạc Liêu, giá thức ăn sáng hiện nay đang thật sự là một "thách thức" đối với cán bộ, công chức, viên chức, công nhân và người lao động nghèo. Một tô phở, trước Tết Nguyên đán giá trung bình 15.000 đồng/tô, trong tết lên đến 20.000 đồng và... sau tết vẫn "bình chân như vại" cho đến nay.

Giá một đĩa cơm sườn tại các quán bình dân ở Bạc Liêu thời điểm hiện tại cũng lên đến 22.000 đồng. Tại Cà Mau, món ăn nhiều du khách ưu thích là sọ heo hiện cũng đã lên đến 40.000 đồng/tô, dù rằng được bán ngoài lề đường.

Trong khi đó tại Sóc Trăng, ngoài món ăn sáng nổi tiếng (cơm cari) lúc này giá đã lên đến 38.000 đồng/dĩa, các món ăn sáng khác đều tăng từ 20 - 40%. Ngay như tô hủ tiếu gõ trước tết giá chỉ 7.000 đồng/tô, những ngày tết tăng lên 10.000 đồng/tô rồi giữ nguyên mức giá này cho tới nay.

Khi người tiêu dùng thắc mắc, chị chủ quản cười rất tươi: "Anh thông cảm, mấy bữa nay giá vàng tăng dữ quá!". Nói cho vui vậy thôi, chứ chị chủ quán kể ra hàng loạt yếu tố "đầu vào" của một tô hủ tiếu gõ thứ nào giá cũng tăng, nên mong khách hàng thông cảm khi "đầu ra" cũng phải tăng theo bán mới có lãi.

Theo phản ánh của nhiều "bà nội trợ", các mặt hàng phục vụ cho bữa cơm gia đình hiện hầu hết giá đều tăng cao. Ngoại trừ rau màu do vào mùa khô nên giá giảm, còn lại các loại củ, thịt, cá, gas... đều tăng. Gia đình vợ chồng anh Tâm đều là công chức, có 2 con nhỏ (một học lớp 5, một học lớp 2).

Anh Tâm cho biết: "Bình thường chi tiêu trong gia đình khoảng 3 triệu đồng/tháng, bây giờ với số tiền ấy không thể sống được". Anh Tâm dẫn chứng: "Ly càphê mọi khi chỉ 5.000 đồng, qua tết lên đến 7.000 đồng rồi chẳng chịu xuống. Hỏi làm sao công chức, viên chức chúng tôi không cảm thấy khó khăn, chi tiêu phải hết sức tiết kiệm!".

Khó kiểm soát

Trước tình hình giá cả có chiều hướng gia tăng, Sở Công thương Bạc Liêu tiếp tục duy trì 5 đoàn kiểm tra việc bình ổn giá nhằm tránh tình trạng các doanh nghiệp "té nước theo mưa". Sở Công thương hi vọng những đoàn này sẽ góp phần bình ổn giá cả thị trường.

Tuy nhiên, một cán bộ quản lý thị trường Bạc Liêu thừa nhận: "Theo quy định chỉ kiểm tra các mặt hàng thuộc diện niêm yết giá. Còn con cá, cọng rau ngoài chợ thì không thể. Các mặt hàng ăn sáng, cà phê... thì chúng tôi xin chịu, không thể kiểm soát được".

Sở Công thương Cà Mau, Sóc Trăng cũng tiếp tục duy trì các đoàn kiểm soát bình ổn giá. Dù vậy, cũng như tại Bạc Liêu, chuyện xử phạt đối với nhiều mặt hàng tăng giá rất khó thực hiện được.

Lương vẫn chưa tăng, các mặt hàng thiết yếu vẫn cao ngất ngưỡng, nếu không có giải pháp tốt, công chức, viên chức, công nhân và người lao động nghèo sẽ vô cùng khó khăn trước áp lực giá đè nặng đối với 2 bữa cơm hàng ngày, chứ chưa nói đến nhiều khoản chi tiêu khác...

Trong khi giá nhiều mặt hàng thiết thân đối với cuộc sống hàng ngày của người lao động tăng vào dịp Tết Nguyên đán, sau tết vẫn không hạ; mấy ngày gần đây giá USD, giá vàng tăng khiến nhiều người canh cánh nỗi lo vì... ngay một tô bún riêu tăng giá người ta cũng viện cớ là do giá vàng tăng!

nguon : http://vef.vn/2011-02-22-bao-gio-gia-ca-nhu-xua-

Chính họ đang đi vào ngõ cụt

Làm thất bại chiến lược “Diễn biến hòa bình”

Chính họ đang đi vào ngõ cụt

Những ngày qua, trong khi nhân dân cả nước và bè bạn quốc tế vui mừng chào đón thành công của Đại hội lần thứ XI Đảng Cộng sản Việt Nam thì các thế lực thù địch trong và ngoài nước tiếp tục tung lên mạng nhiều “chiêu” tuyên truyền thâm độc. Kẻ thì đóng vai nhà khoa học tâm huyết đóng góp ý kiến cho Cương lĩnh, kẻ thì đóng vai nhà báo “tổng hợp” ý kiến của “các tầng lớp nhân dân”. Có kẻ còn mạo danh là cán bộ lão thành viết thư gửi tới Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Việt Nam, như vụ mạo danh đồng chí Đồng Sỹ Nguyên và gần đây là vụ mạo danh Đại tướng Võ Nguyên Giáp là một vài ví dụ.

Có kẻ còn đóng vai đảng viên lâu năm “bộc bạch” tâm sự, tự rủa mình là thằng “hèn”, rằng: “Nói thật, ngày xưa tôi vào Đảng cũng chỉ với động cơ là được lên chức cao hơn… bây giờ tôi đã hối hận vì đã vào Đảng, nhưng không dám xin ra vì sợ trả thù...”. Đặc biệt là họ lợi dụng ngay thành quả của đổi mới làm thủ đoạn chống lại sự lãnh đạo của Đảng ta. Họ nói: “Trước đây Đảng đã đề ra đường lối đổi mới nhưng bây giờ Đảng đã không còn đổi mới nữa, Đảng đang đi vào ngõ cụt”…

Về mặt chính trị, theo họ, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam dựa trên chủ nghĩa Mác - Lê-nin là thứ “lý luận đã lỗi thời”, chế độ xã hội vẫn là “là độc tài, đảng trị”. Về nhân sự, “vẫn những gương mặt đó”...

Theo họ, muốn tránh sụp đổ thì Việt Nam phải bỏ Điều 4 Hiến pháp 1992, thực hiện dân chủ - đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập. Đồng thời, Nhà nước phải ban hành các đạo luật nhằm kiểm soát vai trò lãnh đạo của Đảng, cho phép các tổ chức phi chính phủ (NGO's) tự do hoạt động.

Trên một phương diện khác, như công tác đường lối đối ngoại, các thế lực thù địch lợi dụng tinh thần yêu nước của nhân dân ta, nhất là thanh niên, họ kêu gọi Việt Nam “hãy đồng hành quân sự với Hoa Kỳ”, "đây là mệnh lệnh của thời đại” (Cù Huy Hà Vũ). Thủ đoạn này nhằm đẩy Việt Nam vào thế đối đầu với những nước khác. Phải chăng những quan điểm trên là những đóng góp “tâm huyết” để xây dựng đất nước, đẩy mạnh công cuộc đổi mới?

Những ai từng quan tâm đến quá trình cải tổ ở Liên Xô, Đông Âu đều có thể rút ra kết luận rằng: Những sai lầm về đường lối chính trị, kinh tế kéo dài nhiều thập kỷ, trong đó có việc phủ nhận kinh tế hàng hóa, cơ chế thị trường... đã đưa đất nước đến tình trạng trì trệ, khủng hoảng. Nhưng nguyên nhân trực tiếp dẫn đến sụp đổ là do đường lối chính trị của cải tổ sai lầm. Bước ngoặt dẫn đến sụp đổ là chủ trương cải tổ hệ thống chính trị, thực hiện đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập, tạo kẽ hở cho các phần tử phản bội và chống đối từ bên trong trỗi dậy. Như mọi người đều biết, cùng một mô hình của CNXH nhưng nhiều nước XHCN khác đã thực hiện đường lối đổi mới có nguyên tắc, không áp dụng đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập đã trụ vững và phát triển mạnh mẽ, trong đó có Việt Nam. Nói như thế không có nghĩa Việt Nam không đổi mới chính trị. Trái lại, trên đất nước này đã diễn ra những đổi mới quan trọng: Đó là việc xác định mục tiêu xây dựng CNXH là “dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh”; Đó là "xây dựng Nhà nước pháp quyền của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo”. Đó là "tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc, chủ trương “xóa bỏ mặc cảm, định kiến, phân biệt về quá khứ, thành phần giai cấp, xây dựng tinh thần cởi mở, tin cậy lận nhau” (Nghị quyết TW 7 khóa 9)… Vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể xã hội cũng được nâng cao. Các tổ chức này không chỉ có chức năng đoàn kết và bảo vệ lợi ích của các thành viên mà còn có chức năng “giám sát và phản biện xã hội”(Văn kiện Đại hội X, XI).

Trong quan hệ quốc tế, Việt Nam cũng đã trở thành thành viên của nhiều tổ chức khu vực và quốc tế như ASEAN, WTO… Cho đến nay, Việt Nam đã có quan hệ với hầu hết các thành viên của Liên hợp quốc, trong đó có đầy đủ các thành viên thường trực của HĐBA. Việt Nam cũng đã có quan hệ đối tác chiến lược với nhiều nước lớn như: Trung Quốc, Ấn Độ, Nga, Nhật Bản, Pháp…

Trên lĩnh vực kinh tế - xã hội, các thế lực thù địch một mặt xuyên tạc quan điểm của Đảng, mặt khác thổi phồng những khó khăn, khiếm khuyết trong cơ chế chính sách của Nhà nước, tình trạng quan liêu tham nhũng mà Việt Nam đang cố gắng khắc phục để tác động vào dư luận xã hội. Họ nói rằng “mô hình tập đoàn kinh tế nhà nước Việt Nam đã sụp đổ”, “Kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo là đường lối sai lầm”, “ Lý thuyết kinh tế thị trường lấy kinh tế quốc doanh làm chủ đạo thật sự đã đẩy Việt Nam đi vào ngõ cụt”… Thiết tưởng, những ai đã đọc các văn kiện Đại hội X, XI của Đảng một cách nghiêm túc thì ắt thấy rằng khái niệm “Kinh tế quốc doanh” hoặc “doanh nghiệp nhà nước” với khái niệm “Kinh tế nhà nước” không phải là một. Kinh tế nhà nước không chỉ có các doanh nghiệp, tập đoàn kinh tế mà còn có các chủ thể sở hữu với các nguồn lực khác như ngân hàng, các hình thức dự trữ quốc gia và tài nguyên thiên nhiên, đặc biệt là đất đai, rừng, biển… Vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước với nội dung như trên không chỉ có ở Việt Nam mà còn tồn tại ở tất cả các quốc gia khác. Sự khác biệt trong chính sách giữa các quốc gia là ở cơ cấu và việc sử dụng vai trò của kinh tế nhà nước như thế nào, theo những mục tiêu gì mà thôi. Chẳng hạn, chính phủ Hoa Kỳ đã phải dùng Cục Dự trữ liên bang (FED) tung ra gói cứu trợ hàng trăm tỷ USD để cứu các ngân hàng đang đứng bên bờ phá sản trong cuộc khủng hoảng năm 2008-2009 là một ví dụ. Ở Việt Nam, trong cuộc khủng hoảng này Nhà nước cũng đã phải đưa ra hàng ngàn tỷ đồng với những phương thức khác nhau để trợ giúp cho các doanh nghiệp và người lao động thất nghiệp. Hiện nay, nhiều công trình giao thông quốc gia đã áp dụng cơ chế "đổi đất lấy hạ tầng” với các doanh nghiệp, hoặc Nhà nước điều tiết giá cả thông qua các tập đoàn của mình như: Điện, than, dầu khí để ổn định cuộc sống của người dân trong lúc khó khăn… là những minh chứng về vai trò của kinh tế nhà nước trong việc sử dụng các nguồn lực quốc gia trong xây dựng đất nước, bảo đảm đời sống của nhân dân. Không phủ nhận rằng, thời gian qua, cơ chế quản lý các tập đoàn, doanh nghiệp nhà nước còn nhiều bất cập, sơ hở và đã bị lợi dụng làm tổn hại đến lợi ích chung. Vụ Vinashin là một ví dụ. Bài học đắt giá này đang được tổng kết và đưa ra các giải pháp khắc phục.

Cho dù đứng trên quan điểm nào, người ta cũng không thể phủ nhận được những thành tựu kinh tế - xã hội của Việt Nam trong thời kỳ đổi mới. Hãy lấy một thí dụ: Từ một quốc gia thường xuyên thiếu lương thực nay Việt Nam đã trở thành một trong những quốc gia hàng đầu xuất khẩu gạo. Năm 2010 trong tình trạng thiên tai mất mùa, Việt Nam đã xuất khẩu tới 6,8 triệu tấn gạo. Việt Nam cũng đã trở thành một “đại gia” xuất khẩu cà phê (chỉ đứng sau Bra-xin). Đó là chưa kể đến những mặt hàng chiếm thị phần hàng đầu ở nhiều nước phát triển như: Hoa Kỳ, Nhật Bản và cả Liên minh châu Âu, về thủy sản… Theo Báo cáo Quốc gia 10 năm thực hiện Mục tiêu thiên niên kỷ (MDG) của Liên hiệp quốc (từ năm 2000 đến 2015), Việt Nam đã về đích sớm nhiều mục tiêu như: Xóa bỏ tình trạng nghèo cùng cực (vào năm 2002); phổ cập giáo dục tiểu học (vào năm 2000); Việt Nam đã thành công trong việc kiểm soát nhiều dịch bệnh hiểm nghèo trong đó có HIV/AIDS. Chỉ số bình đẳng giới của Việt Nam hiện nay xếp thứ 62 trong số 109 quốc gia, chỉ số này cao hơn nhiều quốc gia có thu nhập bình quân đầu người cao hơn Việt Nam. Tuy nhiên, không thể phủ nhận rằng, Việt Nam đang đứng trước nhiều vấn đề kinh tế, xã hội lớn, thậm chí là bức xúc, như tình trạng phân hóa giàu nghèo, thiếu việc làm, ô nhiễm môi trường, quan liêu, tham nhũng, mô hình tăng trưởng dựa trên khai thác tài nguyên thiên nhiên, lao động rẻ đã cạn dần như văn kiện Đại hội XI đã ghi nhận…

Đại hội XI kế thừa và phát triển một đường lối chính trị, kinh tế đã tạo ra những bước phát triển vượt bậc cho đất nước về nhiều mặt, hội nhập sâu rộng, có chỗ đứng vững chắc với vị thế ngày càng cao trong cộng đồng quốc tế như vậy thì sao có thể gọi đó là “con đường dẫn đến ngõ cụt” được?

Lấy ý muốn chủ quan thay cho thực tế, lấy dã tâm thay cho thiện chí, những kẻ bịa ra câu chuyện hoang đường rằng "Việt Nam đang đi vào ngõ cụt, sẽ sụp đổ"… mới chính là người đang đi vào ngõ cụt - ngõ cụt của trí tuệ, của lương tri bởi họ đang đi ngược lại con đường của dân tộc, đang quay lưng lại với những nỗ lực và quyết tâm vượt qua thách thức của nhân dân Việt Nam./.

Lệ Chi

Theo QDND online

17 thg 2, 2011

1kWh điện dưới 1.100 đồng, còn cốc nước chè 2.000 đồng'


Cục trưởng Cục điều tiết Điện lực Phạm Mạnh Thắng khẳng định, phương án tăng giá điện năm 2011 đã tính đến lạm phát và đối tượng sử dụng. Hiện giá điện của Việt Nam thấp nhất khu vực Đông Nam Á.

- Việc điều chỉnh tỷ giá mới đây cùng với việc nhiều mặt hàng quan trọng, trong đó có điện dự kiến sẽ tăng giá đang gây sức ép lên lạm phát. Xin ông cho biết ý kiến về vấn đề này?

- Quyết định 21 của Chính phủ đã quy định rõ hằng năm phải điều chỉnh giá điện. Theo Luật, đáng lẽ phải tăng giá điện từ đầu năm nhưng Chính phủ đã cân nhắc thời điểm và mức độ tăng giá điện để làm sao gây tác động ít nhất đến sản xuất của người dân nói riêng cũng như các vấn đề kinh tế xã hội nói chung.

Bộ Công Thương chỉ là cơ quan trình phương án để các tác động trên là nhỏ nhất. Sau đó, Bộ Tài chính sẽ thẩm định. Trên cơ sở ý kiến của các Bộ, Thủ tướng sẽ đưa ra quyết định cuối cùng. Thời điểm tăng giá điện và mức tăng bao nhiêu thuộc quyền quyết định của Chính phủ.

- Khi đưa ra các phương án tăng giá điện, Bộ Công Thương đã tính toán như thế nào đến việc tăng giá than và khí, thưa ông?

- Giá than và khí sẽ được tăng giá theo thị trường nhưng lộ trình tăng bao nhiêu và thời điểm nào thì chưa có. Xác định giá than và khí theo thị trường thuộc trách nhiệm của Bộ Tài chính. Than và khí là đầu vào của điện. Nếu đầu vào tăng mà đầu ra không tăng thì ngành ngành điện sẽ chết. Tôi cho rằng, nguyên tắc cơ bản là đầu vào tăng thì đầu ra cũng phải tăng. Sự tăng giá phải đồng bộ theo quy định của Chính phủ. Chính phủ quy định giá than, khí, dầu tăng thì giá điện phải tăng theo, nếu không ngành điện sẽ lỗ.

- Nếu phương án tăng giá 18% của Bộ Công Thương được chấp thuận thì mức độ ảnh hưởng sẽ thế nào đối với nền kinh tế thưa ông?

- Phương án tăng giá điện bao nhiêu phần trăm hiện Bộ Công Thương chưa được phép công bố. Nhưng có một điều chắc chắn rằng, tất cả các phương án đưa ra đều phải được tính toán và đánh giá đến tác động tới lạm phát cũng như từng đối tượng sử dụng điện như sản xuất, hộ sinh hoạt.

- Thưa ông, nếu phương án tăng giá điện của Bộ Công Thương được phê duyệt thì giá điện của Việt Nam sẽ như thế nào so với các nước trong khu vực?

- Hiện giá điện năm 2010 của Việt Nam là 1.058-1.060 đồng mỗi kWh. Nếu theo tỷ giá đầu năm 2010 thì bằng 5,3 cent mỗi kWh. Nhưng theo tỷ giá mới từ 11/2 thì giá điện hiện chỉ còn khoảng hơn 4 cent. Từ đầu năm 2010, giá điện của Việt Nam đã thấp nhất khu vực Đông Nam Á. Nước bạn Lào thấp thứ nhì cũng đã lên tới 5,8 cent mỗi kWh. Chúng ta phải chạy điện bằng dầu, bằng khí, bằng than với giá rất đắt. Rõ ràng ở đây có những điều không hợp lý và chưa phản ánh được vấn đề đầu ra. Chính phủ đang có lộ trình để điều chỉnh lại để giá điện phản ánh đúng chi phí đầu vào.

Tuy nhiên cũng phải nói rằng, giá điện cao hay thấp phụ thuộc vào cơ cấu nguồn phát, năng lượng cũng như cơ cấu chi phí của từng nước. Mỗi nước khác nhau nên cũng khó để so sánh. Nhưng tôi đưa ra một ví dụ thế này để các bạn tự nhận định. Một kWh điện của Việt Nam chưa đến 1.100 đồng, trong khi một cốc nước chè là 2.000 đồng. Để sản xuất được 1kWh điện của nhà máy Thủy điện Hòa Bình là mất 5 m3 nước, còn nhà máy thủy điện Thác Bà mất 10 m3 nước. Mỗi kWh điện có thể chạy cho một chiếc điều hòa làm mát cho căn phòng trong vòng 1 tiếng. Từ đó chúng ta có thể thấy giá điện là rẻ hay đắt.

- Nếu giá điện tăng thì tình hình cung ứng điện có khả quan hơn không?

- Giá điện không phải là giải pháp duy nhất để giải quyết việc cung cấp điện. Nó chỉ là một trong những yếu tố giúp giải quyết chuyện cung ứng điện mà thôi. Nếu giá điện thấp sẽ không thu hút nhà đầu tư và về lâu dài, chúng ta sẽ không có đủ điện. Ngược lại, giá điện tốt sẽ khuyến khích được nhà đầu tư. Nhưng tôi cho rằng, vấn đề này không giải quyết được ngày một ngày hai. Muốn 5 năm nữa có điện đầy đủ thì bây giờ phải thu hút được nhiều nhà đầu tư. Nếu không, tôi e rằng, 5 năm nữa chúng ra sẽ thiếu điện. Và tôi chắc chắn rằng, nếu giá điện tăng, người sử dụng sẽ phải tiết kiệm hơn.

Ông Hoàng Quốc Vượng, Thứ trưởng bộ Công Thương cho biết, chiều nay Thường trực Chính phủ sẽ họp và đưa ra quyết định cuối cùng về phương án tăng giá điện năm 2011. Bộ Công Thương sẽ công bố chính thức các quyết định của Chính phủ trong tuần tới.

Trước đó, một nguồn tin có thẩm quyền của Liên bộ Tài chính - Công Thương khẳng định với VnExpress.net, Bộ Công Thương - đơn vị được giao nhiệm vụ xây dựng đề án chính thức để lấy ý kiến các bộ ngành, cơ quan này cũng đề xuất 3 phương án tính giá điện năm 2011, với mức tăng 26,3 %, 18,03% và 30,3 %. Trong 3 phương án đưa ra, Liên bộ Tài chính - Công Thương thiên về phương án tăng 18% - mức thấp nhất

Hoàng Lan

Theo vnexpress.net

15 thg 2, 2011

xuân 2011

Sáng thức giấc trong lòng phố núi

Những cánh én báo hiệu mùa xuân.

Cảnh hồ sương sớm, lũy tre nghiêng,

Líu lo chim hót tiếng mừng xuân.


Ta trở về nhà ta – Tây Bắc

Ta trở về nhà ta – Điện Biên.

Đèo Pha-đin vẫn hiên ngang hiểm trở,

Rặng núi xưa vẫn hung dũng vươn vai.


Ta trở về nhà ta, mừng xuân mới

Nhiều niềm vui cùng trở về cùng ta,

Những mái nhà ngày càng ấm áp

Tình người, điều quý nhất thế gian.

thơ xuân

Sáng mờ sương núi rừng tây bắc

Trời thức dậy với những sắc xuân

Phiên chợ xuân những ngày náo nhiệt

Nắm tay em dạo cảnh núi rừng.


Những em bé tung tăng phố chợ

Những cụ già nhắc nhớ ngày qua

Đám thanh niên hò hẹn vui cười,

Một vùng trời rộn rã những niềm vui.


Quê tôi nay đã khác nhiều

Cành đào núi nay là chậu đào cảnh

Những cảnh bình dị khi xưa

Giờ là những ồn ào náo nhiệt.


Tết đến cho thêm vui nhà

Sắm cành đào tết thêm sắc xuân

Và vui hơn là niềm sum họp

1 năm được gặp lại gia đình.


Và những buồn lo năm cũ

Sẽ trôi mau theo nhịp đập thời gian,

Ôi những đam mê năm mới

Sẽ làm cho tương lai sáng hơn.

lại bàn về chuyện tăng tỷ giá


VnExpress hôm nay có bài phỏng vấn ông Lê Đức Thúy với cái tít rất ấn tượng: Ông Lê Đức Thúy: 'Tỷ giá không tác động mạnh tới lạm phát'.

Ông Thúy là Chủ tịch Ủy ban Giám sát Tài chính Quốc gia nên phát biểu của ông thuộc loại có thẩm quyền, ông nói tỷ giá không tác động mạnh đến lạm phát thì chúng ta phải tin thôi. Với lại VnExpress cũng ghi giải thích của ông khá đầy đủ và rõ ràng: “Tác động trong lần này không nhiều bởi mức tỷ giá được điều chỉnh thực chất đã tồn tại cách đây khá lâu rồi. Và mức tỷ giá đó đã được tính vào các yếu tố kinh doanh nên nó không gây đột biến gì về lạm phát. Sự điều chỉnh này chỉ là thừa nhận một thực tế của tỷ giá đã tồn tại trước đây mấy tháng”.

Nhưng tiếc là để liền cái mạch đó lẽ ra phóng viên hỏi thêm vài câu nữa thì hay biết mấy.

Ví dụ, hỏi ông Thúy ngay sau khi ông giải thích như trên, rằng hóa ra bấy lâu nay tỷ giá chính thức mà Ngân hàng Nhà nước công bố chỉ là hình thức hay sao? Hóa ra hiện tượng hai giá trong hệ thống ngân hàng là có thật? Vậy cái tỷ giá chính thức đó để làm gì?

Sau đó hỏi thêm, không lẽ toàn bộ giao dịch ngoại tệ trong thời gian qua tính theo giá chợ đen? Trong khi sổ sách chính thức vẫn ghi theo tỷ giá liên ngân hàng, thế thì hàng đống tiền chênh lệch vào túi ai? Không lẽ không có ai mua được đô-la theo tỷ giá chính thức? Họ được lợi như thế nào? Vì sao họ được lợi như thế? Không lẽ những tuyên bố trước đây là có đủ ngoại tệ (chắc chắn theo nghĩa đúng theo tỷ giá chính thức) cho các nhu cầu nhập khẩu thiết yếu là không chính xác?

Còn nếu phóng viên có chuẩn bị kỹ, có thể hỏi, dù sao khi tính thuế nhập khẩu thì lúc nào cũng tính theo tỷ giá chính thức. Nay tỷ giá điều chỉnh lên 9,3% vậy ít nhất toàn bộ tiền thuế nhập khẩu, thuế VAT nộp bằng tiền đồng cũng tăng chừng đó, vì sao ông nói không ảnh hưởng đến giá cả?

Và cuối cùng nếu còn thì giờ, hỏi thêm ông Thúy, liệu trong thời gian tới lại tái diễn tình trạng hai giá không? Và nếu có thì mức tỷ giá “được tính vào các yếu tố kinh doanh” là tỷ giá nào vậy, thưa ông? Để coi ông Thúy trả lời như thế nào về tác động của tỷ giá vào lạm phát – trong thời gian tới chứ không phải ngay bây giờ.

theo blog NVP

14 thg 2, 2011

Bao nhiêu phần trăm?


Sáng nay Ngân hàng Nhà nước tuyên bố điều chỉnh tỷ giá. Mấy tiếng sau, các hãng tin và báo chí nước ngoài đưa tin đầy đủ nhưng lạ một điều mỗi báo đưa một con số phần trăm khác nhau.

Financial Times nói là 9,3% (The State Bank of Vietnam, the central bank, said on its website that it was cutting the official dong-dollar exchange rate from 20,693 to 18,932, a reduction of 9.3 per cent). (Câu này thì Financial Times viết nhầm rồi – lẽ ra phải là to 20,693 from 18,932 hay đảo ngược hai con số lại).

Reuters nói 8,5% (The State Bank of Vietnam dropped the dong's reference rate by 8.5 percent against the dollar and narrowed the currency's trading band to 1 percent from 3 percent on either side of that midpoint rate).

Sau đó bổ sung thêm con số 7% (The combined effect pulled the weak limit of the band down about 7 percent to 20,900 from 19,500, and brought official and black market exchange rates closer to alignment).

Bloomberg nói 7% ngay trong tít (Vietnam Devalues Dong by a Record 7%, Seeking to Curb Deficit).

Con số nào mới đúng?

Tỷ giá bình quân liên ngân hàng trước 1 USD ăn 18.932 đồng sau điều chỉnh thành 1 USD ăn 20.693 đồng thì đó là một mức điều chỉnh tăng 9,3% cho những người nắm đồng đô-la.

Hãng Reuters ngược đời nhìn từ phía người nắm tiền đồng, trước 18.932 đồng đổi được 1 USD nay phải 20.693 đồng mới đổi được 1 USD thì đó là một mức giảm 8,5% giá trị tiền đồng so với đô-la Mỹ.

Còn 7% là so sánh tỷ giá niêm yết của ngân hàng (đã cộng biên độ giao dịch) trước và sau điều chỉnh.

Theo tôi, không có con số nào đúng cả vì trong thực tế, đã lâu rồi, làm gì có chuyện 18.932 đồng hay 20.693 đồng hay thậm chí 20.900 đồng đổi được 1 USD! Nói đùa vậy thôi chứ coi bộ Reuters nói chính xác nhất. Ví dụ, tỷ giá từ 20.000 đồng/1 USD lên 40.000 đồng/1 USD thì chúng ta sẽ nói tiền đồng mất giá một nửa (50%) chứ đâu nói tiền đồng mất giá 100% (mất 100% là mất sạch rồi còn gì)! Hơn nữa, với những người chỉ có tiền đồng thì thấy nó giảm giá 8,5% so với đô-la Mỹ chứ làm gì có đô-la để nói nó tăng 9,3% như báo chí trong nước.

theo blog nvp

Các nhà kinh tế Việt Nam đi đâu cả rồi?

Các nhà kinh tế Việt Nam đi đâu cả rồi?

Việt Nam có bao nhiêu giáo sư, phó giáo sư kinh tế? Có lẽ rất nhiều. Thế nhưng lúc nền kinh tế trải qua những biến chuyển lớn như lần phá giá tiền đồng cuối tuần rồi, chẳng thấy ai đưa ra những phân tích, bình luận ra đầu ra đũa.

Công việc của các giáo sư, phó giáo sư là nghiên cứu bên cạnh giảng dạy. Nền kinh tế Việt Nam là một mảng đất màu mỡ cho nhiều nghiên cứu có giá trị trên bình diện quốc tế và những dịp như cuối tuần rồi là lúc các giáo sư kinh tế ứng dụng các công trình nghiên cứu của mình vào thực tế. Hầu như tất cả đều im lặng. Họ không có công trình nghiên cứu hay họ chưa thể công bố nghiên cứu của mình?

Tôi xin đưa ra một ví dụ. Khi Việt Nam điều chỉnh tỷ giá, nhiều ý kiến từ các nhà phân tích nước ngoài lo ngại tác động của việc điều chỉnh này lên lạm phát nhưng họ chỉ nói chung chung theo lý thuyết chứ không ai nghiên cứu sâu để đưa ra nhận định chính xác.

Mối quan hệ giữa tỷ giá và lạm phát đã được nghiên cứu kỹ ở nước ngoài (gõ cụm từ exchange rate pass-through sẽ tìm thấy nhiều bài viết công phu). Dựa vào các nghiên cứu này, các nhà kinh tế Việt Nam hoàn toàn có thể lập công thức tính toán tỷ lệ ảnh hưởng từ tỷ giá được điều chỉnh lên lạm phát một cách dễ dàng. Tại sao không ai làm cả?

Một ví dụ khác. Suốt cả tháng nay trên bốn năm tờ báo khác nhau, “chuyên gia kinh tế cao cấp” Bùi Kiến Thành đưa ra những kiến nghị động trời như phải giảm lãi suất để chống lạm phát; Ngân hàng Nhà nước vì không vay của ai, không phải huy động vốn nên chi phí huy động vốn bằng 0, cho nên phải cho ngân hàng thương mại vay với lãi suất chừng 3%-4%, Nhà nước nên cho doanh nghiệp vay với lãi suất 0%.... Thế mà các nhà kinh tế trong nước im lặng hoàn toàn, không một ai lên tiếng chỉ ra cái nguy hiểm của lập luận này.

Hay câu nói của Thomas Friedman lại ứng nghiệm trong trường hợp này: “No one has ever washed a rented car”?

Theo blog NVP


Tổng số lượt xem trang

free counters