Triết Lý, để làm gì ?

Khi ta bế tắc tư tưởng, chân thật công nhận rằng những kiến thức và phương pháp suy luận của ta không cho phép ta sống, tư duy và hành động khớp với khao khát làm người của ta, ngoài vô vàn cách ứng xử khác, ta có thể:

a) Tiếp tục sống, tư duy và hành động như cũ vì, dù sao, ta cũng sống được, không đến nỗi nào

b) Lột áo cũ, khoác áo mới, một tấm áo coi lành lặn đẹp đẽ hơn nhưng cũng hàm hồ không thua gì. Điều ấy luôn luôn khả thi bằng ngôn ngữ.

c) Đi tới cùng bế tắc của chính mình. Nếu không giải quyết được nó, ta ôm nó xuống suối vàng, để lại ở đời chỉ một câu hỏi. Câu hỏi của một con người. Đích thực. Có gì nhục đâu?

Nếu ta tưởng ta đã tìm ra một phần của giải pháp, ít nhất là cho riêng mình, thì cứ viết đi, chẳng cần trích cao nhân nào cả: họ đã là một phần của ta và ta đã phải “vượt” họ để nên mình.

Thế thôi.

(Chungta.com)

Góc nhỏ của Noby Vui Vẻ

Lục lọi, tìm tòi, đọc, cóp nhặt, chia sẻ, ... OK hay không tùy bạn ! ! !

“Nước độc lập mà dân chưa tự do thì độc lập cũng không có ý nghĩa”- Hồ Chí Minh.

30 thg 8, 2011

Biển là nơi Tổ quốc sinh ra



“Dòng máu Việt chảy trong hồn người Việt. Đang bồn chồn thao thức với Trường Sa…” VietNamNet xin giới thiệu bài thơ mới của nhà thơ Nguyễn Việt Chiến – hội viên Hội Nhà văn Việt Nam, phóng viên báo Thanh Niên đã gửi tới tham dự cuộc thi “Đây biển Việt Nam” ngay sau lễ phát động cuộc thi.

Nguyễn Việt Chiến

Biển là nơi Tổ quốc sinh ra

(Tưởng nhớ những người con đã hy sinh vì biển, đảo Tổ quốc)

Các con đứng như tượng đài quyết tử
Thêm một lần Tổ quốc được sinh ra
Dòng máu Việt chảy trong hồn người Việt
Đang bồn chồn thao thức với Trường Sa

Khi hy sinh ở đảo đá Gạc Ma
Họ đã lấy ngực mình làm lá chắn
Để một lần Tổ quốc được sinh ra
Máu của họ thấm vào lòng biển thẳm

Cờ Tổ quốc phất lên trong mưa đạn
Phút cuối cùng đảo đá hóa biên cương
Họ đã lấy thân mình làm cột mốc
Chặn quân thù trên biển đảo quê hương

Họ đã hóa cánh chim muôn dặm sóng
Hướng về nơi đất mẹ vẫn mong chờ
Nếu mẹ gặp cánh chim về từ biển
Con đấy mà, mẹ đã nhận ra chưa !

Có nơi nào như Đất nước chúng ta
Viết bằng máu cả ngàn chương sử đỏ
Khi giặc đến vạn người con quyết tử
Cho một lần Tổ quốc được sinh ra

Biển mùa này sóng dữ phía Hoàng Sa
Các con mẹ vẫn ngày đêm bám biển
Mẹ Tổ quốc vẫn luôn ở bên ta
Như máu ấm trong màu cờ nước Việt

Biển Tổ quốc đang cần người giữ biển
Máu ngư dân trên sóng lại chan hòa
Máu của họ ngân bài ca giữ nước
Để một lần Tổ quốc được sinh ra

Việt Nam ơi! dưới bão táp mưa sa
Người thắp sáng một niềm tin bền bỉ
Những giếng dầu trụ vững giữa khơi xa
Dầu là máu thắp trên thềm lục địa

Sớm mai này nắng ấm ở Trường Sa
Tiếng gà gáy bình yên trên ngực đảo
Tiếng trẻ nhỏ đến trường nơi sóng bão
Thêm một lần Tổ quốc được sinh ra

Viết trong ngày 21-6-2011

Theo Vietnamnet.vn 

Nghĩ Về Libya


Sáng nay, 29-8-2011, một tờ báo lớn có bài Ba điểm yếu của cuộc chiến Libya: 1- Bộc lộ yếu kém của NATO; 2- Lãnh đạo mới có thể không tốt hơn cũ; 3- Quá phụ thuộc vào NATO. Hôm kia, 27-8-2011, một nhà bình luận tên tuổi của báo chí Việt Nam đặt ra 2 “câu hỏi lớn”: Một là vai trò NATO, ngoài chuyện không kích và phong tỏa không phận, còn có gì nữa chưa được biết? Hai là, tại sao ông Gaddafi để mất Tripoli quá dễ dàng, nhanh chóng đến thế?
Thật kinh ngạc vì sự tổng kết cuộc chiến và câu hỏi lớn nhất của các nhà báo nước ta!
Các nền báo chí tự do của thế giới từng ngày có những quan điểm trái nhau. Ngay các nước tích cực trợ giúp quân sự cho quân nổi dậy, nhà báo của họ từng ngày có ý kiến phản biện với chính phủ. Trong khi đó, báo chí chúng ta quen chọn ý kiến của một phía thích hợp với khẩu vị mình, tự đánh lừa, cuối cùng bị bối rối khi sự thật diễn ra nhanh chóng và hoàn toàn trái ngược! Bạn đọc cũng bị “định hướng” của nhà báo đánh lừa!
Ngày 21-8, khi nghe tin quân nổi dậy Libya tràn vào thủ đô Tripoli, mấy bác cạnh nhà tôi đều ngạc nhiên không tin! Bởi mới cách đây đúng một tuần nhiều tờ báo của Việt Nam miêu tả “quân nổi dậy đang rối như canh hẹ” mà! Đêm nào trên Truyền hình cũng thấy nhân dân tung hô ông Gaddafi. Nhiều nhà bình luận Việt Nam gọi đây là “cuộc chiến tranh dầu lửa” hàm ý cho rằng nó xảy ra là do sự kích động của các đầu óc thực dân phương Tây. Một nhà bình luận tên tuổi cho rằng nhiều quan chức cao cấp của chính quyền Gaddafi chạy sang quân nổi dậy là do truyền thông Phương Tây chiếm ưu thế. Ngày 24-8-2011, khi đã có hơn 40 chính phủ công nhận Hội đồng quốc gia chuyển tiếp Libya là đại diện hợp pháp duy nhất của nước Cộng hòa Libya, ngay Trung Quốc cũng tỏ ý mong muốn được hợp tác với chính quyền mới thì VN Express còn gọi họ là “phiến quân”! Đến ngày 25-8, nhiều tờ báo vẫn còn nghi vấn “Phe đối lập đáng tin đến đâu”; “Đây là thời điểm các phe phái trong quân nổi dậy bộc lộ mâu thuẫn nhau”; và “hơn 5000 người có vũ trang trung thành với Gaddafi đã kéo vào Tripoli”. Như vậy là theo các nhà bình luận Việt Nam thì nội chiến sẽ còn kéo dài ở Libya không biết tới bao giờ! Buổi truyền hình tối 28-8, một nhà bình luận tỏ ý bất bình về sự can thiệp thô bạo từ bên ngoài đối với nước Libya có chủ quyền và lo lắng cho số phận nhà nước Syria đang khủng hoảng.
Thiết nghĩ, nhìn lại diễn biến 6 tháng qua ở Libya cũng là điều bổ ích.
Từ một anh hùng trở thành tên độc tài tham nhũng!
Năm 1969, Gaddafi làm đảo chính lật đổ chế độ quân chủ lập nên chế độ Nhân dân xã hội chủ nghĩa Ả rập, với những khẩu hiệu “Phúc lợi xã hội”, “Dân chủ nhân dân trực tiếp”, đưa đất nước nghèo nàn trở thành giàu có, thu nhập đầu người hơn 10 lần nước ta hiện nay. Tuy nhiên, ông ta cũng nhanh chóng trở thành tên độc tài và ở ngôi vị 42 năm, lâu hơn các ông vua trước đó.
Ngày 31-8-2006, ông tuyên bố: “Phải tiêu diệt những kẻ đòi thay đổi chính trị”. Ngày 29-8-2009, ông tự phong: “Ta là một lãnh tụ quốc tế, thầy của các ông chủ Ả rập, vua của mọi nhà vua châu Phi, trưởng lão của người Hồi giáo và có tư cách cao quý không cho phép hạ thấp hơn”.
Tháng 9-2009, ở Hội nghị thượng đỉnh Nam Mỹ ông cùng Hugo Chavez kêu gọi thành lập “NATO phương Nam”. Cũng năm đó, tại Hội nghị thượng đỉnh Liên đoàn Ả rập ông tuyên bố mình là “Nhà lãnh đạo của các nhà lãnh đạo Ả rập”.
Ông bổ nhiệm con cái vào các vị trí cao cấp trong hệ thống cầm quyền. Ông tổ chức ám sát hơn 30 người đối lập sống ở nước ngoài. Libya hai lần tổ chức đánh bom máy bay hành khách của Mỹ và Pháp giết chết hằng trăm người. Gaddafi sở hữu gia sản khổng lồ gần trăm tỷ USD, riêng bà vợ thứ hai của ông sở hữu 30 tỷ USD và 20 tấn vàng.
Sự chuyển động ở Libya bắt đầu từ ngày 15-2-2011, khi 200 người dân ở thành phố Benghazi biểu tình yêu cầu trả tự do cho nhà hoạt động nhân quyền Fathi Terbi, bị đàn áp. Hôm sau, số người biểu tình tăng lên 500, rồi 600 người. Cảnh sát nặng tay hơn, đánh bị thương 40 người. Hằng ngàn nhân dân Thủ đô Tripoli và thành phố Al-Baida xuống đường yểm trợ cuộc biểu tình của thành phố Benghazi.
Ngày 20-2 cảnh sát và quân đội Gaddafi bắn chết 200 người. Các thành phố Misurata, Tobruk… tham gia biểu tình.
Ngày 21-2 chính phủ Gaddafi cho không quân bắn vào người biểu tình.
Ngày hôm sau, 22-2, ông Mustafa Abdel Jalil, Bộ trưởng Tư pháp và tiếp theo là ông Abdel Fatah Younes Bộ trưởng Nội vụ tuyên bố ly khai chính quyền Gaddafi, đứng về phía nhân dân. Các chính phủ Mỹ và châu Âu lên tiếng phê phán việc đàn áp biểu tình.
Ngày 24-2, Gaddafi lên đài truyền hình cho rằng các thế lực thù địch ở phương Tây đang xúi giục bọn xấu trong nước gây rối.
Hôm sau, Gaddafi cho lính đánh thuê tràn vào Tripoli thẳng tay đàn áp và tiếp tục cho không quân bắn vào nhân dân biểu tình ở các thành phố.
Ngày 26-2 máy bay bắn vào đám tang của người biểu tình bị bắn chết, giết nhiều người đưa tang.
Ngay hôm sau, 27-2 Hội đồng Quốc gia chuyển tiếp (NTC) tuyên bố thành lập do nguyên Bộ trưởng Tư pháp Mustafa Abdel Jalil làm Chủ tịch. Ngày 28-2 Gaddafi lên truyền hình tuyên bố: “Không có quân nổi dậy nào cả, chỉ có những kẻ xấu bị các thế lực thù địch nước ngoài xui giục. Tất cả người dân Libya của tôi đều yêu tôi” (Đài truyền hình VTV1 có phát cảnh này).
Ngày 5-3 Hội đồng Quốc gia chuyển tiếp tuyên bố thành lập nước Cộng hòa Libya với tiêu chí Tự do, Công bằng, Dân chủ.
Ngày 10-3 Pháp là quốc gia đầu tiên công nhận Hội đồng chuyển tiếp là đại diện hợp pháp của nhân dân Libya.
Chính quyền Gaddafi tăng cường cho không quân tiếp tục đàn áp dữ dội các vùng nhân dân nổi dậy.
Ngày 17-3 Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc ra nghị quyết 1973, cho phép lập vùng cấm bay ở Libya để bảo vệ dân thường. Từ 31-3 NATO nhận nhiệm vụ này. Nhiều nhà bình luận tiến bộ đã nhận định rằng “Số phận của Gaddafi đã được định đoạt rồi”! Rất tiếc các nhà bình luận của báo chí Việt Nam không ai nhận ra điều đó!
Nhờ có sự yểm trợ của không quân NATO, quân nổi dậy liên tiếp giành chiến thắng, chỉ trong bốn tháng rưỡi, ngày 21-8 đã tiến vào Tripoli được đông đảo nhân dân nổi dậy trợ giúp.
Ngày 26-8 Hội đồng quốc gia chuyển tiếp (NTC) đã về thủ đô Tripoli im tiếng súng. Ông Gamaty điều phối viên của Hội đồng Quốc gia chuyển tiếp tuyên bố: “Sớm hay muộn gì Gaddafi cũng bị bắt”.
Một cuộc cách mạng dân chủ hay chỉ là sản phẩm của phương Tây?
Từ 2003, Gaddafi đã lần lượt cải thiện quan hệ tốt lên với các nước lớn như Mỹ, Anh, Pháp, Ý… Gaddafi thừa nhận các vụ đánh bom máy bay hành khách và chịu bồi thường những khoản tiền lớn.
Năm 2004, Thủ tướng Anh Tony Blair, Thủ tướng Đức Gerhard Schoder đến thăm Libya, ký kết nhiều hợp đồng khai thác, chế biến dầu mỏ.
Năm 2006 Gaddafi tuyên bố từ bỏ chương trình vũ khí giết người hằng loạt, bà Rice Ngoại trưởng Mỹ sang thăm được Gaddafi nồng nhiệt tiếp đón. Chính phủ Mỹ nhanh chóng đưa Libya ra khỏi danh sách những nước hỗ trợ khủng bố và tuyên bố “Libya và Mỹ là bạn”, nâng quan hệ hai bên lên cấp đại sứ.
Năm 2007, Tổng thống Pháp Sarcozy thăm Libya và ký nhiều hiệp ước hợp tác.
Đặc biệt Gaddafi và Thủ tướng Ý quan hệ với nhau rất thân thiết. Như vậy các chính phủ phương Tây không còn có vấn đề gì bức xúc để có kế hoạch chống lại Gaddafi.
Vấn đề Libya chính là mâu thuẫn tích tụ suốt 42 năm giữa nhân dân với nhà cầm quyền độc tài trấn áp dân chủ, nhen nhóm một lò lửa phản kháng. Làn gió “mùa Xuân nhân dân” từ Tunisia, Ai Cập thổi tới đã làm bùng lên lò lửa âm ỉ ấy.
Ở Tunisia và Ai Cập quân đội không nhả đạn vào nhân dân. Nhưng ở Libya thì khác, Gaddafi xuất thân là một quân nhân, ông ta có nhiều thủ đoạn nắm chắc tướng lĩnh và có chính sách mua chuộc quân đội. Do đó, khi nhân dân nổi dậy, Gaddafi lập tức sử dụng quân đội thẳng tay đàn áp vô cùng man rợ.
Hồi nhân dân Tunisia nổi dậy, phương Tây bị bất ngờ đã hờ hững, ủng hộ rất yếu ớt. Lúc ấy, Thủ tướng Anh đang thăm Ai Cập rao bán vũ khí. Ngoại trưởng Pháp đang thăm Tunisia bàn việc chia sẻ kinh nghiệm của cảnh sát Pháp cho cảnh sát Tunisia. Phương Tây chưa vượt khỏi nổi lo sợ từ kinh nghiệm Iran, sau khi vua Shah sụp đổ, chính quyền lọt vào tay Cách mạng Hồi giáo đã thù địch với họ. Họ phải dè chừng tìm hiểu mãi mới quyết định ủng hộ nhân dân nổi dậy.
Lần này với Libya, phương Tây đã được Mùa Xuân nhân dân Ả rập thức tỉnh, nên tất cả hăm hở lên tiếng ủng hộ và nhanh chóng tìm cách giúp đỡ, đặc biệt là việc giúp đỡ quân sự đã gây tranh cãi gay gắt.
Có hai quan điểm đối chọi nhau chan chát trong cách nhìn, cách giúp đỡ Libya:
Một là, quan điểm cho rằng Phương Tây can thiệp thô bạo vào độc lập, chủ quyền của Libya, một nước có chính phủ hợp pháp được nhiều quốc gia công nhận. Đứng đầu lập luận này là những quốc gia độc tài không cần che giấu, kế tiếp họ là những quốc gia độc tài mang mặt nạ dân chủ. Theo quan điểm này thì ở Libya không có Hội đồng quốc gia chuyển tiếp nào cả, mà chỉ có bọn gây rối, bọn phiến loạn do phương Tây giật dây, phục vụ cho máu tham dầu lửa của họ. Hiện nay, những người có quan điểm này đang lo cho số phận của nhà cầm quyền Syria – nhà cầm quyền đang dùng dùi cui và súng đối với nhân dân.
Hai là lập luận: Chính quyền Gaddafi đã dùng vũ lực chống nhân dân mình thì không còn tư cách đại diện nhân dân Libya. Đứng đầu là Mỹ, Anh, Pháp, Ý… Theo quan điểm này thì làm mọi việc, giúp đỡ mọi hình thức, kể cả quân sự cho lực lượng nổi dậy của nhân dân, chẳng những là nhân đạo, mà còn là thực sự tôn trọng chủ quyền đất nước phải thuộc về nhân dân Libya.
Nghe lập luận này, chúng ta không khỏi nhớ câu nói của Hồ Chí Minh: “Nếu nước đã được độc lập mà nhân dân không được tự do, hạnh phúc thì độc lập cũng chẳng có ý nghĩa gì”.
Suy ra, nhân quyền, dân quyền mới là vấn đề thực chất, chủ quyền đất nước phải thuộc về nhân dân chứ không phải của nhà cầm quyền độc tài. Không cho phép nhà cầm quyền độc tài núp sau bình phong chủ quyền để trấn áp nhân dân! Biểu tình là thước đo nguyện vọng nhân dân. Thái độ đối với biểu tình là thước đo dân chủ của nhà cầm quyền. Đó là bài học mà những Ben Ali, Mubarak, Gaddafi đều không chịu học. Đến ngày cùng, Gaddafi vẫn đang tâm giết hại hằng trăm tù nhân đang bị ông ta giam giữ. Không ai mong muốn bạo lực và chiến tranh, nhưng làm sao để các nhà độc tài còn đang trị vì, còn có thì giờ học bài dân chủ, chịu chấp nhận hòa bình cải cách, chuyển đổi dần dần sang dân chủ? Điều ấy hình như nan giải?
Nhân dân Việt Nam có đủ kinh nghiệm lịch sử để nhận thức hai quan điểm trái ngược nói trên bên nào là đúng đắn, bên nào là phản ngụy. Bởi vì, trong hai cuộc chiến tranh giành độc lập, chúng ta đã tiếp nhận sự giúp đỡ vũ khí từ nhiều nước để chống địch. Chúng ta cũng đã từng đưa quân tình nguyện của mình vào hai nước Campuchia, Lào giúp bạn chống ngoại xâm và các chính quyền bù nhìn. Đặc biệt, chúng ta đã đưa quân giúp nhân dân Campuchia thoát khỏi họa diệt chủng do một nhà nước mang tên Campuchia Dân chủ gây ra. Chúng ta hiểu sự can thiệp nào là chính nghĩa, khi sự can thiệp đó nhằm cứu nguy cho nhân dân đang ngạt thở. Chúng ta vui mừng nhìn thấy thời đại đã bước sang kỷ nguyên dân chủ, nhân quyền, một khi nhân dân vùng lên chống nhà nước độc tài sẽ không còn bị cô độc. Nhân loại không chỉ hô hào suông mà khi cấp thiết nhất đã có thể bảo vệ quyền sống và mưu cầu hạnh phúc của nhân dân bằng mọi phương tiện, kể cả súng!
Ngày 29 – 8 – 2011
T.V.C.

27 thg 8, 2011

Chính Lênin mới là người đã làm cho Liên Xô tan rã


Vũ Cao Đàm

Đọc bài “Stalin là người đã làm cho Liên Xô tan rã” của Peter Rutland và Philip Pomper do Phạm Nguyên Trường dịch đăng trên Bauxite Việt Nam, tôi sực nhớ đến một cuốn sách rất thú vị, được xuất bản ngay sau ngày nổ ra cuộc Cách mạng Tháng Mười với tiêu đề “Mười ngày rung chuyển thế giới” của John Reed, một nhà nghiên cứu xã hội học người Mỹ, người đã có mặt trong những ngày bão táp của Cách mạng Tháng Mười. Cuốn sách được dịch ra tiếng Việt từ năm 1960 và được tái bản năm 1977.
Điều đặc biệt gây ấn tượng với tôi, là trong cuốn sách đó đã trích dẫn những văn kiện quan trọng cảnh báo Lênin về sự tan rã của Nhà nước Xô-viết, và họ đã dự báo, sự tan rã đó được manh nha ngay từ trong mô hình tổ chức Nhà nước của Lênin: Ngay từ những ngày đầu tiên ngay sau khi Cách mạng Tháng Mười Nga thành công, hàng loạt nhà lãnh đạo của các đảng cộng sản đã phê phán đường lối của Lênin và dự báo sự sụp đổ của Nhà nước Xô-viết. Chẳng hạn, các Ủy viên Hội đồng Dân ủy của Lenin như Noguin, Rưkov, Miliutin, Teodorovitch, Shliavnikov đã ra văn bản tuyên bố:
“Chúng tôi tán thành một chính phủ xã hội gồm mọi đảng phái xã hội. Chúng tôi cho rằng chỉ có một chính phủ như vậy mới có thể củng cố được những thành quả to lớn do giai cấp công nhân và quân đội cách mạng giành được trong những ngày tháng 11 vừa qua. Ngoài chính sách đó ra, chúng tôi chỉ nhìn thấy có một khả năng, là duy trì một chính phủ hoàn toàn bolshevitch bằng chính sách khủng bố chính trị. Hội đồng Dân ủy đã đi theo con đường đó. Chúng tôi không thể và cũng không muốn đi theo họ. Chúng tôi nghĩ rằng con đường đó sẽ dẫn tới sự loại trừ ra khỏi sinh hoạt chính trị những tổ chức vô sản lớn, thiết lập một chế độ vô trách nhiệm và đưa cách mạng và nước nhà tới chỗ bị tiêu diệt. Tự thấy không thể chịu trách nhiệm về một chính sách như vậy, chúng tôi xin từ chức Ủy viên nhân dân trước Ủy ban Xô-viết toàn Nga” [[1]].
Đồng thời, Kameniev, Rưkov, Miliutin, Zinoviev và Noguin đã có thư xin rút khỏi Ban chấp hành Trung ương Đảng [[2]]:
“Chúng tôi nghĩ rằng, thành lập một chính phủ như vậy (gồm tất cả các đảng xã hội) là cần thiết để tránh một cuộc đổ máu mới, tránh nạn đói đe doạ… Chúng tôi không thể nào chấp thuận chính sách tai hại của Trung ương, chính sách chống lại ý nguyện của đại đa số giai cấp vô sản và binh lính, là những người mong muốn hòa bình giữa các nhóm khác nhau của nền dân chủ, và không muốn có đổ máu nữa. Bởi vậy, chúng tôi từ bỏ chức vụ Ủy viên Trung ương để được quyền nói ý kiến của chúng tôi với quần chúng công nông và binh lính… Chúng tôi rời Ban chấp hành Trung ương giữa lúc thắng lợi, giữa lúc đảng của chúng tôi lên nắm chính quyền, bởi vì chúng tôi không thể chịu đựng được lâu hơn nữa và đứng nhìn chính sách của những người lãnh đạo trong Ban chấp hành Trung ương dẫn chúng tôi đến chỗ mất những thành quả của cách mạng và dẫn đến chỗ tiêu diệt giai cấp vô sản”.
Sau này (1935), Trosky cũng đã dự báo sự sụp đổ của Nhà nước Xô-viết của Stalin. Ông viết: “Những người Leninist đã không thể bảo vệ chế độ Xô-viết khỏi tan rã và rơi vào chế độ quân chủ”. Và “Sự sụp đổ của chủ nghĩa Stalin là điều có thể đoán trước được và nó sẽ là sự trừng phạt đích đáng cho hàng loạt tội ác chống lại giai cấp công nhân thế giới [[3]].
Rosa Luxemburg, một nhà lý luận Marxist, nhà triết học xã hội người Đức gốc Ba Lan-Do Thái cũng có nhiều ý kiến về nền độc tài Xô-viết của Lênin [[4]], trong đó gây tranh luận nhiều nhất là hai tác phẩm “Vấn đề tổ chức của Đảng Xã hội Dân chủ Nga” (1904) và “Bàn về cách mạng Nga” (1918).
Trong bài này, bà mạnh dạn phê phán quan điểm sợ giới trí thức có ảnh hưởng nguy hiểm tới phong trào vô sản và phê phán cách tiến hành “chế độ dân chủ tập trung tàn nhẫn” là “chủ nghĩa tập trung cực đoan”, kết quả “Ủy ban trung ương trở thành hạt nhân tích cực thật sự, còn tất cả các tổ chức khác chẳng qua chỉ là công cụ chấp hành của trung ương mà thôi.”
Năm 1918, khi đang ở trong tù, bà viết bài “Bàn về cách mạng Nga”. Bản thảo chưa hoàn tất này đưa ra những ý kiến mạnh mẽ phê bình Đảng Cộng sản Bolshevich Nga, chủ yếu nói đảng này đã đối lập chuyên chính với dân chủ, nhấn mạnh chuyên chính mà thủ tiêu dân chủ.
Bà viết: chuyên chính vô sản là “chuyên chính của giai cấp chứ không phải là chuyên chính của một đảng hoặc một tập đoàn. Đó là chuyên chính thực hành dân chủ không hạn chế... tiến hành công khai với mức độ tối đa, được quần chúng nhân dân tham gia một cách tích cực nhất và không bị ngăn trở.” Bà luôn cho rằng bản chất của xã hội XHCN là ở chỗ đa số quần chúng lao động không còn là quần chúng bị thống trị mà là người chủ toàn bộ đời sống chính trị kinh tế của mình, làm chủ một cách có ý thức trong sự tự do, tự quyết.
Về dân chủ XHCN, Rosa Luxemburg bao giờ cũng liên hệ nó với khái niệm tự do và dùng khái niệm ấy để giải thích. Trong “Bàn về cách mạng Nga”, bà viết: “Tự do bị hạn chế thì đời sống công cộng của nhà nước sẽ khô khan, nghèo nàn, công thức hóa, không có hiệu quả. Đó là do thủ tiêu dân chủ mà bịt mất nguồn của mọi tài sản tinh thần và sự sôi nổi trong đời sống”.
Bà viết: “Cùng với sự áp chế đời sống chính trị của cả nước, đời sống Xô-viết nhất định sẽ ngày một tê liệt. Không có bầu cử, thiếu vắng ngành xuất bản không bị hạn chế và sự tự do hội họp... thì đời sống của bất cứ tổ chức công cộng nào cũng dần dần bị tiêu diệt, trở thành đời sống không có linh hồn, chỉ có tầng lớp quan liêu vẫn là nhân tố hoạt động duy nhất”.
Bà vạch rõ, phải cảnh giác với việc chuyên chính vô sản diễn biến thành “sự thống trị của một tập đoàn nhỏ”, “chuyên chính của một nhóm nhà chính trị”, “chuyên chính trên ý nghĩa thống trị của phái Jacobin”.
Bà cảnh báo: nếu cứ để tình trạng đó phát triển thì nhất định sẽ dẫn đến “sự dã man hóa đời sống công cộng”, gây ra sự cưỡng chế, nỗi sợ hãi và nạn tham nhũng, sự “suy đồi đạo đức”.
Rõ ràng, sự sụp đổ của Nhà nước Xô-viết đã được cảnh báo và dựa trên nền độc tài theo mô hình tổ chức Nhà nước của Lênin và càng được khoét sâu thêm bởi sự dã man hóa đời sống công cộng của Stalin.
Lời dẫn của bản dịch “Mười ngày rung chuyển thế giới” cũng cho biết, năm 1919 Lênin đã đọc John Reed một cách hứng thú và đã viết thư cổ vũ Nhà xuất bản ở Mỹ và không có ý kiến gì bác bỏ những sự kiện về lời cảnh báo của những nhà cách mạng cùng thời với ông.
V.C.Đ.
Tác giả gửi trực tiếp cho BVN.
[1] John Read: Mười ngày rung chuyển thế giới, Nxb Văn hóa, Hà Nội, 1960, Bản dịch tiếng Việt của Đặng Thế Bính và Trương Đắc Vỵ, tr. 336 (đã đối chiếu bản tiếng Anh).
[2] John Read: Mười ngày rung chuyển thế giới, Nxb Văn hóa, Hà Nội, 1960, Bản dịch tiếng Việt của Đặng Thế Bính và Trương Đắc Vỵ, tr. 337 (đã đối chiếu bản tiếng Anh).
[3] Trotsky: Stalin đã đánh bại cánh tả như thế nào? Báo Sự thật, Tháng 11/1935, http://www.marxists.org/vietnamese/trotsky/1935/11/taisao.htm


Phát ngôn&Hành động: Tượng đài, đường cong và triết lý giáo dục



 (TuanVietnam) - Vị trí tượng đài của bà mẹ Việt Nam Anh hùng, câu chuyện "nhầm chỗ" liên quan đến làng giải trí, và cuộc khủng hoảng triết lý giáo dục là những lát cắt trong Phát ngôn & Hành động tuần này.

Tượng đài của Mẹ

Trong tuần vừa rồi, báo Sài Gòn Tiếp Thị (SGTT) có đăng loạt bài với nhan đề chung là "Tượng đài của Mẹ đặt ở đâu?", kể về cuộc đời của những Bà mẹ Việt Nam Anh hùng đang còn sống.
Đó là mẹ Sua ở ấp Thạnh Trị 2, xã Thạnh Trị, huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre. Đó là mẹ Sơn ở xã Long Định, huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre. Đó là mẹ Thum ở Sóc Sơn, huyện Hòn Đất, Kiên Giang...
Ba bà mẹ đã có đứa con trai duy nhất, thậm chí cả chồng, hy sinh trong các cuộc chiến tranh chống ngoại xâm chỉ có một mong ước duy nhất là được Nhà nước xây lại cho những căn nhà tình nghĩa đã quá xập xệ, mục nát, do được xây đã quá lâu rồi. Để khỏi phải chui vào bụi tre núp mưa bão, đi ở nhờ, hay luôn cánh cánh nỗi lo nhà sẽ sụp bất cứ lúc nào.
Ở đoạn kết của chùm bài này, sau khi kêu gọi mọi người hãy có những hành động cụ thể để giúp các bà mẹ nói trên, tác giả Trầm Hương đã viết: "Mỗi chúng ta, những người đang được sống hôm nay, xin hãy xây dựng tượng đài Người mẹ ngay trong tấm lòng mình. Có nhiều cách để tôn vinh những bà mẹ ấy. Sao không chăm sóc những tượng đài mẹ đang sống?"
Người viết chợt nhớ lại câu chuyện đã lùm xùm suốt một tháng nay, khi Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Nam Lê Phước Thanh ký quyết định xin bổ sung thêm 330 tỷ đồng, từ ngân sách trung ương và ngân sách tỉnh, cho dự án xây dựng tượng đài mẹ Thứ, đã được khởi công từ 27.7.2009 với số vốn ngân sách được duyệt là 81 tỷ đồng, vì lý do chính là trượt giá và Thay đổi thiết kế?!
Câu chuyện lại được phát triển theo hướng hài hước, khi ông Giám đốc Sở Văn hoá - Thể thao - Du lịch Quảng Nam có tên là Đinh Hài đã lên tiếng giải thích trên công luận.
Khi phóng viên hỏi tại sao sở của ông lại bổ sung vốn trong lúc chính phủ đang tiết kiệm chi tiêu công và hạn chế đầu tư dàn trải, ông trả lời tỉnh bơ: "Thực ra đến thời điểm hoàn thành, người ta thường quan tâm đến tính mỹ thuật của tượng đài, chứ ít ai quan tâm công trình tốn bao nhiêu tiền."

Căn nhà tình nghĩa được xây đã rã mục, sắp đổ. Mỗi khi mưa giông, mẹ Việt Nam anh hùng Trần Thị Sua nấp dưới lùm tre tránh bão. Ảnh: SGTT
Rồi với câu hỏi về căn cứ để đưa ra số tiền xin bổ sung, ông nói: "Sự trượt giá này nghiêng nhiều về tính mỹ thuật còn phần công trình thô khác thì không bao nhiêu."
Người viết xin được dành quyền bình luận cho quý độc giả. Còn về phần mình, người viết chỉ thấy lo lo cho anh bạn mới quen trong chuyến đi Cam Ranh vừa rồi là Đinh Tiến Dũng, được biết đến nhiều hơn với cái tên Giáo sư Cù Trọng Xoay trong mục "hỏi xoáy - đáp xoay" trên VTV3 vào tối thứ Bảy hàng tuần. Đinh Tiến Dũng thực sự sẽ có một đối thủ cạnh tranh nặng ký là ông giám đốc sở này, trong trường hợp ông này muốn nhảy vào lĩnh vực showbiz.
Thứ nhất, khả năng đối đáp của ông còn cao hơn Đinh Tiến Dũng một bậc, không chỉ là "xoay" mà phải gọi là "xoắn" mới đúng. Thứ hai, để thu hút sự chú ý của khán giả về tính hài hước của mình, ông cũng chẳng cần phải mất công nghĩ ra cái nghệ danh là GS Cù Trọng Xoay như Đinh Tiến Dũng. Nghệ danh của ông thuộc loại "của nhà trồng được" mà.
Tất nhiên, có thể là điều may mắn, là đề án này vẫn phải chờ sự thông qua của chính phủ mới, được thành lập sau cái quyết định nói trên của Chủ tịch Quảng Nam chừng hai chục ngày. Người viết còn nhớ rằng cách đây 6 năm, người đã ngồi ở cái ghế hiện nay của ông Lê Phước Thanh và hiện nay đang ngồi ở ghế Phó Thủ tướng phụ trách mảng nội chính và thanh tra, đã từng tâm sự với người viết rằng tỉnh có nhiều bà mẹ Việt Nam Anh hùng nhất chính là tỉnh nghèo nhất, do phải giải quyết những hậu quả khốc liệt nhất và dai dẳng nhất của cuộc chiến.
Ông Nguyễn Xuân Phúc nói: "Vào những dịp đền đáp công ơn của các bà mẹ Việt Nam anh hùng, Quảng Nam luôn phải trích thêm ngân sách tỉnh để tặng tiền, tặng quà cho các mẹ. Bởi phần tiền, hay quà, theo qui định của Nhà nước, quá nhỏ nhoi."
Chắc hẳn ở một vai trò khá quan trọng trong việc phê chuẩn dự án này, Phó Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc sẽ phải cân nhắc kỹ. Người viết xin được mạn phép trình bày thêm đôi điều với "Ông Phúc 'Quảng Nôm' - Người đồng hành cùng cơ chế".
Về việc xây dựng tượng đài cho một người mẹ đã có 9 con ruột, 2 con rể và một cháu ngoại hy sinh trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, như một sự tôn vinh cho đức hy sinh cao cả của những bà mẹ Việt Nam, là điều không thể bàn cãi.
Thế nhưng, việc bỏ tới hơn 400 tỷ đồng, gấp 5 lần số tiền được phê duyệt, trong bối cảnh nền kinh tế đất nước như hiện nay, cho một dự án tượng đài, đã khiến dư luận và công luận đồng loạt đặt ra những băn khoăn.
Thứ nhất là trong khi nhiều Bà mẹ Việt Nam Anh hùng khác - những tượng đài sống - vẫn rất cần sự trợ giúp của ngân sách nhà nước, để có thể sống nốt những ngày cuối đời với một cách bớt âu lo hơn. Như ba bà mẹ mà báo SGTT đã đề cập chẳng hạn.
Thứ hai là bản thân tỉnh Quảng Nam, ngoài việc phải chăm lo cho những Bà mẹ Việt Nam Anh hùng đang sống, hàng năm vẫn phải đối mặt với hậu quả của thiên tai, như bão lũ, với biết bao nhiêu người dân bị mất nhà mất cửa, mất kế sinh nhai. Nếu dự án này được thông qua thì liệu mùa bão lũ sắp tới, ban lãnh đạo mới của tỉnh sẽ lấy tiền đâu lo cho dân? Hay lại trông chờ vào lòng hảo tâm của đồng bào các tỉnh bạn - những người có cuộc sống cũng ngày một khó khăn hơn?

Ảnh phác họa tượng đài mẹ Nguyễn Thị Thứ của tác giả Đinh Gia Thắng
Thứ ba là tượng đài này cũng là biểu tượng cho lòng bất khuất và đức hy sinh cao cả của những người phụ nữ Việt Nam nói chung trong cuộc chiến đấu chung của dân tộc nhằm giữ vững độc lập và toàn vẹn lãnh thổ.
Những người con, người cháu của mẹ Thứ đã hy sinh trong hai cuộc chiến kéo dài suốt 30 năm để non sông liền một dải vào năm 1975. Thế nhưng, một phần biển đảo của Việt Nam vẫn còn bị nước ngoài chiếm đóng, hay phong toả.
Theo thiển nghĩ của người viết, mẹ Thứ, dưới suối vàng, ắt hẳn sẽ vui hơn khi biết số tiền mà người ta định xây khu tượng đài hoành tráng cho mẹ sẽ được dùng một phần để hỗ trợ cho những ngư dân Quảng Nam vẫn kiên trì bám biển, góp phần khẳng định chủ quyền quốc gia ở ngoài đảo xa. Bởi chính họ là những người đã tiếp nối cái sự nghiệp cao cả mà vì nó những người con, người cháu của mẹ Thứ đã hy sinh cuộc sống của mình.
Việc có tiếp tục dự án tượng đài mẹ Thứ hay không, và, nếu tiếp tục, thì với qui mô nào, người viết không dám lạm bàn thêm. Chỉ có điều, trong bất cứ trường hợp nào, mẹ Thứ, cũng như tất cả các bà mẹ Việt Nam Anh hùng khác, dù còn sống hay đã mất, đều phải có tượng đài trong trái tim mỗi người dân Việt Nam, để họ luôn nghĩ tới trong hành động của mình. Đúng như lời kết của đồng nghiệp Trầm Hương cho loạt bài trên SGTT của chị.
"Đường cong" - cong nhầm chỗ

Các bà mẹ Việt Nam Anh hùng lại xuất hiện trong một sự kiện văn hoá khác. Đó là "Đêm Mỹ nhân", diễn ra vào 14.8 ở Sunspa Resort ở Quảng Bình, vì mục đích quyên góp từ thiện. Có điều, lần này, họ không phải là những nhân vật chính của những bài báo, mà chỉ là cái nền tương phản để dư luận và giới truyền thông trút cơn "thịnh nộ" xuống đầu những nhân vật trong giới showbiz.
Sau chương trình này, dư luận đã lên tiếng phản ứng gay gắt với cách ăn mặc mà họ coi là "phản cảm" của nhiều ca sĩ, như Minh Hằng, Hoàng Thùy Linh, Yến Trang... Đặc biệt, Thu Minh, người nổi tiếng với ca khúc "Đường cong", cũng như vương miện Nữ hoàng của "Điệu nhảy hoàn vũ", cũng nằm trong danh sách này.
Cùng với các ca sĩ nói trên, chủ nhân của ca khúc nổi tiếng "Đường cong" bị coi là ăn mặc "quá thiếu vải" trước đông đảo khán giả, trong đó có bà mẹ Việt Nam anh hùng, và học sinh - sinh viên nghèo khó, mồ côi.
Để rồi sau đó, ngày 18.8, Cục Nghệ thuật Biểu diễn (Bộ Văn hoá - Thể thao - Du lịch) đã có công văn gửi cho Sở VH-TT-DL tỉnh Quảng Bình yêu cầu làm rõ việc nghệ sĩ mặc phản cảm trong chương trình từ thiện "Đêm mỹ nhân".
Chính điều này cũng làm nhoà đi kết quả mà ban tổ chức của chương trình "Đêm Mỹ nhân", khi họ quyên góp được 460 triệu đồng từ các nhà hảo tâm. BTC đã trích ra 57 triệu đồng để trao cho các sinh viên nghèo mồ côi cha mẹ, còn lại số tiền quyên góp được đã gửi đến Ủy ban Mặt trận Tổ quốc tỉnh Quảng Bình để chuyển tới các gia đình khó khăn, VTC News đưa tin.
Trao đổi với báo chí, ông Cục trưởng Vương Xuân Biên cho biết: "Quan điểm của cục là yêu cầu Sở VH-TT&DL Quảng Bình làm rõ và nếu có sai phạm thì phải xử phạt theo quy chế."
Câu chuyện các ca sĩ ăn mặc "thiếu vải" là một đề tài được bàn tán từ lâu, và tốn không ít giấy mực của báo chí, cũng như không ít cuộc hội thảo của các cơ quan quản lý, nhưng chưa có hồi kết. Bởi ăn mặc thế nào là chuyện "gu" của từng người, từng giới, từng lứa tuổi.

Hoàng Thùy Linh và Minh Hằng biểu diễn trong chương trình Đêm mỹ nhân, Ảnh: Dân trí
Vả lại, việc cục của ông Biên cho đến nay vẫn chưa ra được qui định cụ thể là váy (hay quần) của ca sĩ ngắn tới đâu, áo hở ngực tới đâu, vải mỏng tới mức nào, được coi là vi phạm, cũng cho thấy thêm khía cạnh phức tạp của vấn đề.
Hơn nữa, cũng chính ông Biên, trong cuộc trao đổi đó, có nói rằng "không phải cứ thấy đẹp ở chỗ này thì có thể mặc biểu diễn ở những chỗ khác". Nghĩa là ông cũng không thấy cách ăn mặc của những ca sĩ được nêu danh là "phản cảm", nếu ở hàng ghế khán giả không phải là các bà mẹ Việt Nam Anh hùng...
Nếu tinh ý một chút, có thể nhận thấy rằng khán giả chủ yếu của chương trình này là những người đến nghỉ ở Sunspa Resort, được xếp hạng 5 sao, và một số có chức vị. Tức là đối tượng chính của buổi biểu diễn là những "đại gia", hay chí ít cũng thuộc tầng lớp khá giả trong xã hội.
Chắc chắn chương trình có làm hài lòng họ thì họ mới chịu bỏ tiền làm từ thiện. Vả lại, trong khung cảnh bên bãi biển thơ mộng và phóng khoáng như vậy, biểu diễn như vậy là phù hợp.
Ngoài ra, chắc chắn những ca sĩ xuất hiện trong chương trình cũng đã được thông qua từ trước, và ai cũng có thể đoán trước được phần nào Hoàng Thuỳ Linh, hay Minh Hằng, sẽ ăn mặc và nhảy nhót bốc lửa thế nào. Họ là những ngôi sao giải trí chứ mà người ta phải "mục sở thị" và "cảm nhận", chứ không phải những giọng hát mà người ta có thể thưởng thức bằng chiếc tai nghe, hay trên xe hơi.
Trong chương trình "Đêm Mỹ nhân", người viết thấy tiếc nhất cho "Đường cong" Thu Minh, một giọng ca hay và có sự truyền cảm thực sự. Nhưng, rủi thay, cô lại "cong" nhầm chỗ.
Vấn đề nằm ở chỗ có nhất thiết phải mời các mẹ Việt Nam Anh hùng và các em học sinh nghèo tới đó không? Đằng nào thì các nghệ sĩ, người mẫu, trong chương trình, cũng sẽ đến thăm họ vào ngày hôm sau.
Có vẻ như ban tổ chức đã hơi tham lam, khi tranh thủ "tri ân" các mẹ, và biểu hiện nghĩa cử với các em nhỏ nghèo luôn. Để đỡ phải tổ chức một chương trình ca nhạc khác, phù hợp hơn với những đối tượng này?
Và, vô hình trung, họ đã khiến cho những người mà họ muốn "tri ân", muốn thể hiện "nghĩa cử", cảm thấy bị thương tổn. (Tại sao các đồng nghiệp không thử phỏng vấn xem các bà mẹ và các em nghĩ gì nhỉ, thay vì "phẫn nộ" thay cho họ?)
Trong khi đó, Linh-Minh-Trang-Hằng, những người cố hết mình, trong khả năng và sở trường của họ, để "Đêm Mỹ nhân" đạt được hiệu quả cao nhất, theo mục tiêu đề ra là quyên góp từ thiện, lại trở thành những "tội đồ".
Ông Vương Xuân Biên và các cộng sự của mình đã bắt đúng huyệt, khi gửi công văn cho Sở VH-TT-DL Quảng Bình. Là những người tham gia ban tổ chức, họ là những người phải chịu trách nhiệm lớn nhất. "Thậm chí nhà quản lý văn hóa ở địa phương cũng chưa ý thức được việc đó", ông Biên nói.
Đặc biệt là họ đã không chịu rút kinh nghiệm từ sự cố "Lý Nhã Kỳ" trong chương trình "Bản giao hưởng Điện Biên", cách đây ngót nửa năm.
Hồi đó, dùng cách nói của ông Vương Xuân Biên, màn tiếp thị "hàng" Việt Nam chất lượng cao của cô nữ diễn viên dòng phim giải trí này có thể tạo ấn tượng "ngọt ngào" ở những sân khấu giải trí, nhưng lại tạo cảm giác "lợm giọng" ở vở chính kịch nhằm tôn vinh Đại tướng huyền thoại Võ Nguyên Giáp - người mà ngày hôm qua, 25.8.2001, vừa tròn 100 tuổi. Nhất là lại được truyền hình trực tiếp cho đồng bào cả nước, và kiều bào ở nước ngoài nữa.
Cuộc khủng hoảng triết lý giáo dục

Triết lý giáo dục Việt Nam là vấn đề được thảo luận sôi nổi tại cuộc hội thảo do Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam tổ chức tại ĐH Sư phạm TP.HCM vào đúng ngày kỷ niệm 66 năm Cách mạng Tháng. Nổi cộm nhất trong hội thảo chính là triết lý giáo dục - một vấn đề đã được đề cập tới từ hơn chục năm nay qua nhiều hội thảo.
Tuy nhiên, dưới con mắt của nhiều nhà giáo dục, vấn đề này vẫn chưa được giải quyết một cách tận cùng. Và kết cục là nền giáo dục đang phải gánh chịu nhiều hậu quả nặng nề.
Đặc biệt nhất, theo nhà giáo Nguyễn Chương Nhiếp, đến từ Trường ĐHSP TP.HCM, gần 40 năm cải cách giáo dục, không phải Việt Nam không nỗ lực, không đầu tư đúng mức, nhưng càng cải cách, giáo dục càng đuối, càng lạc hậu so với nhu cầu thực tiễn.
Ông chỉ ra nguyên nhân rằng cái triết lý giáo dục mà ông cha đã xây dựng hàng ngàn năm và phát huy tác dụng trong lịch sử đã không còn phù hợp với yêu cầu của thực tiễn xã hội của thế kỷ 21. Bởi, theo ông, nó bị ảnh hưởng nhiều bởi Nho giáo và ý thức hệ phong kiến.
TS Hồ Thiệu Hùng, nguyên Giám đốc Sở GD-ĐT TP.HCM, đã tiếp tục phát triển quan điểm trên. Ông cho rằng thế hệ trẻ Việt Nam dứt khoát phải trở thành thế hệ "con hơn cha", tức là muốn đổi mới căn bản toàn diện giáo dục đào tạo trước hết phải yêu cầu nhà trường giúp cho người học biết tư duy độc lập, khuyến khích dám tư duy độc lập, không sợ sai, không sợ trái bài văn mẫu.
"Khuyến khích tư duy độc lập là một khâu đột phá trong đổi mới giáo dục Việt Nam trong nhiều thập kỷ tới", TS Hồ Thiệu Hùng nói.
Một người tự nhận mình chỉ là giáo sư trên truyền hình là GS Cù Trọng Xoay (tức Bí thư Đoàn của Tập đoàn FPT Đinh Tiến Dũng), khi trao đổi với người viết về vấn đề giáo dục thế hệ trẻ, đã bổ sung: "Một bế tắc lớn trong giáo dục hiện nay là thiếu tấm gương để giới trẻ noi theo, như hình tượng anh bộ đội Cụ Hồ của những năm 50-70 của thế kỷ trước."
GS Xoay đưa ra một nhận định khá độc đáo rằng lỗi không chỉ ở các nhà hoạch định chính sách giáo dục, mà cả giới truyền thông. Theo ông, do cách chiều theo thị hiếu của công chúng, truyền thông thường "đẩy" quá hình ảnh những tấm gương thành công kiểu "mỳ ăn liền" của các ngôi sao giải trí dễ dãi, chẳng hạn, hay cuộc đời của những người thành đạt thực sự lại bị photoshop quá nhiều.

Triết lý giáo dục tại Trường THPT tư thục Thái Bình (Q.Tân Bình, TP.HCM): Học để biết, học để làm, học để chung sống, học để hoàn thiện mình - Ảnh: Tuổi Trẻ
"Điều đó khiến cho giới trẻ nhiều khi không hình dung được để thành công người ta phải lao động miệt mài và nghiêm túc như thế nào. Cũng như phải trả giá rất lớn cho cực kỳ nhiều những sai lầm, nhiều khi cực kỳ ngớ ngẩn", GS Xoay nhận xét.
Được khích lệ bởi sự thẳng thắn của GS Xoay, người viết, vốn xuất phát trong một gia đình có nhiều người theo nghiệp giáo dục, và bản thân cũng từng có những năm tháng "xoa đầu sinh viên", cũng mạnh dạn xin phép quý độc giả cho lạm bàn mấy câu.
Theo ngu ý của người viết, cái triết lý giáo dục đầy đủ nhất hiện giờ chính Bác Hồ đã đưa ra nửa thế kỷ trước. Đó là 5 điều Bác Hồ dạy thiếu niên nhi đồng. Con người mà nền giáo dục của Việt Nam hiện nay đang muốn xây dựng chính là con người hội đủ 5 tiêu chí đó.
Thứ nhất, là "yêu Tổ Quốc, yêu đồng bào". Phàm cái gì có lợi cho Tổ quốc, cho đồng bào, cho sự phát triển đi lên của xã hội dứt khoát phải làm. Phàm cái gì có hại dứt khoát không làm. Ý thức công dân và lòng nhân ái cũng nằm ở chỗ đó.
Thứ hai là học tập tốt, lao động tốt. Học tập tốt mới có kiến thức thật, bằng cấp thật, để đóng góp cho xã hội, chứ không phải đi mua bằng giả như không ít sinh viên, hay thậm chí học "giả" hiện nay. Có lao động tốt, chăm chỉ mới khỏi ăn bám người khác, hay "ngồi mát ăn bát vàng".
Thứ ba là "đoàn kết tốt, kỷ luật tốt".
Lịch sử đã chứng minh rằng mỗi khi dân tộc chúng ta kết thành một khối, trên dưới đồng lòng, không kẻ thù nào có thể đánh bại chúng ta, còn khi dân tộc bị chia rẽ, trên dưới bất hoà, đất nước luôn gặp hoạ xâm lăng, thậm chí bị đô hộ.
Và kỷ luật là một trong những yếu tố duy trì đoàn kết. Tất nhiên, phải trên cơ sở một nền tảng pháp lý rõ ràng, minh bạch và công bằng.
Thứ tư là "giữ gìn vệ sinh thật tốt". Ngoài nghĩa đen, điều này còn có ý nghĩa về ý thức giữ cho hai bàn tay "sạch", không bị nhúng chàm.
Thứ năm là "khiêm tốn, thật thà, dũng cảm".
Có khiêm tốn mới nhìn nhận đúng mình, để khỏi ưỡn ngực, chém gió, coi mình cao hơn thiên hạ. Tấm gương khiêm tốn mà đi lên của người Nhật Bản là một minh chứng rõ ràng nhất.
Thật thà tức là trung thực, Bác nói cho vần thôi. Trung thực với bản thân, trung thực với cộng đồng, và với xã hội. Nói như Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân là học trò không ngồi nhầm lớp, khi đi làm không ngồi nhầm ghế.
Dũng cảm là dám đấu tranh với cái sai, cái tiêu cực. Một xã hội có nhiều người dũng cảm thì cái tốt mới át được cái xấu, người tốt mới không sợ kẻ xấu. Và cũng không kém phần quan trọng là dám thẳng thắn nhận trách nhiệm về những sai lầm của mình.
Đối với ngành giáo dục, bao gồm cả các nhà quản lý và hoạch định chính sách giáo dục, thực hiện tốt 5 điều Bác Hồ dạy chính là cách tốt nhất để hưởng ứng cuộc vận động "Học tập tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh", do Ban Bí thư phát động từ mấy năm nay.
Còn nhớ, ông Phạm Vũ Luận, khi lần đầu tiên nhậm chức bộ trưởng giáo dục - đào tạo, đã nói rằng ông không có tham vọng tạo dấu ấn trong nhiệm kỳ của mình. Nhiều người đã không hiểu hàm ý của ông: Ông muốn lặng lẽ tiếp tục thực hiện những đợt phát động "Nói Không" do người tiền nhiệm, đồng thời vẫn là thủ trưởng của ông khởi xướng.
Tuy nhiên, theo thiển nghĩ của người viết, Bộ trưởng Phạm Vũ Luận hoàn toàn có thể tự tin tạo dấu ấn của mình, bằng việc khởi xướng phong trào "Nói Có" với "5 điều Bác Hồ dạy". "Nói Có" (Say Yes to...) chính là sự bổ sung hoàn hảo cho "Nói Không" (Say No to...), cũng tương tự như "xây" và "chống".
Xã hội Việt Nam trong con mắt mọi người, nhất là giới trẻ, vì thế, chắc chắn trông sẽ tươi sáng hơn, và vận động theo chiều hướng tích cực hơn.
Thế mà sắp khai giảng năm học mới rồi nhỉ? Năm nay cũng là năm kỷ niệm 50 năm ngày Bác Hồ gửi 5 điều căn dặn đó.
Huỳnh Phan

Dẫn theo vietnamnet.vn

26 thg 8, 2011

Otto Graf Lambsdorff – Tự do: Biện pháp xoá đói giảm nghèo hữu hiệu nhất


Phạm Nguyên Trường dịch
Đói nghèo là một thách thức
Đói nghèo trên diện rộng vẫn là một vấn đề của cộng đồng thế giới. Theo số liệu của Ngân hàng Thế giới thì năm 1988 có 1,2 tỷ người sống trong tình trạng nghèo đói tuyệt đối, nghĩa là với ít hơn 1$ một ngày. Một nửa trong số đó nằm trong các khu vực Nam Á. Mặc dù trong những năm vừa qua tỉ lệ nghèo đói có giảm bớt, nhưng đây vẫn lá vấn đề lớn nhất của nhân loại.


Đói nghèo gây ra những hậu quả thật là thảm khốc, xin được liệt kê một lần nữa. Trước hết nó làm cho người ta luôn phải đau khổ vì đói khát và buộc con người phải thường xuyên lo lắng vì những mục tiêu hạ cấp nhất. Đói nghèo làm cho người ta trở thành cục cằn, nó không chỉ đẩy một số người đến những hành động bạo lực mà còn làm băng hoại quan hệ giữa người với người, nhất là trong gia đình. Nghèo đói là một trong những nguyên nhân chủ yếu dẫn đến những hành động bạo hành đối với phụ nữ. Nhiều người  phụ nữ Nam Á nói rằng: khi tình trạng kinh tế của người nghèo được cải thiện thì một trong những thay đổi rõ rệt nhất là sự hoà thuận trong gia đình gia tăng, cũng có nghĩa là bạo hành trong gia đình giảm.

Nghèo đói làm cho người ta không thể thể hiện được hết năng lực cá nhân của mình. Không được học hành, người nghèo không thể phát triển được khả năng và tài năng của mình, không thể nâng cao được năng suất lao động. Trong thời đại của chúng ta, khi người ta nói rất nhiều và rất hay về vai trò của giáo dục và phát triển khả năng của con người thì có hàng tỷ người không có điều kiện học hành và như vậy là đã bỏ phí tiềm năng của mình, không mang lại lợi ích gì cho mình cũng như cho xã hội nói chung. Nhiều người không nhận thức được tính nghiêm trọng của vấn đề này, họ cho rằng vấn đề chính là nạn nhân mãn và cho đấy là vấn đề đáng quan tâm nhất. Họ cho rằng nghèo đói trên diện rộng là lỗi của chính người nghèo. Đấy là một thái độ vô liêm sỉ vì nó chẳng những không phù hợp với kinh nghiệm lịch sử lẫn lí thuyết kinh tế. Một nước đang giàu có không thể trở thành nghèo đi vì sinh suất cao, kinh tế luôn luôn phát triển ở những thành phố đông dân chứ không phải ở các làng quê hẻo lánh. Còn trong lí thuyết kinh tế thì việc sản xuất và phân phối thu nhập quốc dân là một tiến trình động, phụ thuộc vào nhiều biến số mà dân số chỉ là một trong những biến số đó mà thôi. Nếu công nhận rằng mỗi người đều có thể đóng góp vào quá trình phát triển kinh tế-xã hội thì ta phải công nhận rằng số dân cũng có ảnh hưởng tích cực đối với quá trình phát triển đó. Chỉ có trong các xã hội với hệ thống kinh tế rối loạn, trì trệ, thiếu năng động và không tạo điều kiện cho người dân thể hiện hết năng lực của mình thì việc gia tăng dân số mới thành vấn đề. Trong những điều kiện như thế vấn đề nghèo đói sẽ càng trầm trọng thêm, vì người nghèo cảm thấy có lợi khi sinh thêm con, đấy là sức lao động và thu nhập gia tăng khi tuổi trẻ và bảo đảm kinh tế cho tuổi già.

Hậu quả chính trị cũng không kém phần quan trọng. Nghèo đói đẩy người dân vào những quan hệ bất bình đẳng, tức là những quan hệ làm người ta mất tự do và trở thành đối tượng không được che chở trước những hành động độc ác của kẻ khác. Cuộc mưu sinh vất vả hàng ngày làm cho người không còn thì giờ và sức lực tham gia vào đời sống chính trị của xã hội hay dân tộc. Quyền lợi của họ không được nói tới và vì vậy mà bị bỏ qua. Người nghèo thường bị buộc phải dựa dẫm vào một kẻ bảo trợ nào đó, đấy có thể là một “cụ lớn” trong làng hay chủ khu “xóm liều” hoặc chủ thầu nào đó. Họ buộc phải bán quyền lợi chính trị của mình cho người bảo trợ để mong được an toàn, không còn lựa chọn nào khác. Đấy chính là nguy cơ nghiêm trọng đối với nền dân chủ. Xã hội chỉ thật sự dân chủ khi mức độ nghèo đói giảm, và các quan hệ chủ-tớ không còn giữ vai trò chủ đạo nữa.

Như vậy là, nghèo đói là thách thức vô cùng to lớn đối với những người theo trường phái tự do, cả theo nghĩa quan niệm về nhân loại nói chung, cả theo nghĩa quan niệm về xã hội công bằng và tự do nói riêng. Những người theo trường phái tự do tin vào các nguyên tắc của quyền tự do cá nhân và những quyền bất khả xâm phạm của con người. Những người theo trường phái tự do không thể chấp nhận cảnh nghèo đói vì nó mâu thuẫn với quyền sống của con người. Hơn nữa, một người phải đấu tranh cho sự sống còn thì gần như không có điều kiện thể hiện quyền tự do cá nhân của mình. Quyền tự do cá nhân của mọi thành viên trong xã hội sẽ không thể trở thành hiện thực nếu không giảm được số người nghèo đông đảo hiện nay.

Đáng tiếc là những người theo trường phái tự do đã không biết cách nhấn mạnh vấn đề này. Họ đã quên mất cội nguồn của phong trào tự do, một phong trào mà khởi kì thuỷ là nhắm chống lại chế độ phong kiến, tức là chế độ cản trở việc thực thi những quyền tự do không chỉ về chính trị, tôn giáo, văn hoá mà cả tự do hoạt động kinh tế nữa, như sau này đã thấy rõ, đấy chính là nguyên nhân của cảnh đói nghèo trên diện rộng. Cơ cấu của chế độ phong kiến trá hình tương tự như thế vẫn còn tồn tại trong nhiều nước đang phát triển, mặc dù các ông chủ phong kiến đã không còn như xưa: đấy không phải là con cái các gia đình quyền quí, mà là giai cấp các chính khách và quan chức xã hội chủ nghĩa ăn bám, bòn rút của cải nhờ có quyền kiểm soát vô giới hạn hoặc tham nhũng hay nhờ nắm quyền điều hành các đại công ty công nghiệp và ngân hàng quốc doanh. Nếu chủ nghĩa tự do thể hiện được hi vọng và khát vọng của quần chúng nghèo khổ thì đấy sẽ là phong trào cách mạng thực sự tại nhiều nước đang phát triển. Chuyện đó chỉ có thể xảy ra nếu những người theo trường phái tự do biết cách nói bằng ngôn ngữ của quần chúng nghèo khổ và định hình các cuộc cải cách trên cơ sở nhu cầu của họ.

Những người theo trướng phái tự do khó thể hiện được thái độ đối với cảnh nghèo đói một phần còn vì thiếu tính trực cảm. Mong muốn giúp đỡ là phản ứng tự nhiên khi người ta thấy cảnh nghèo đói. Nhưng những người theo trường phái tự do lại nói về tự do như là phương tiện và mục đích. Nhiều người coi đấy là những câu chuyện quá trừu tượng và xa vời. Đằng sau nó lại là nan đề của hệ tư tưởng tự do. Vì chắc chắn là những người bị cảnh nghèo đói làm cho không thể cất đầu lên được cần phải được giúp đỡ. Nhưng để họ không trở lệ thuộc thì lại không thể giúp mãi.

Nhưng chúng ta thường quên một khía cạnh quan trọng hơn nhiều: trước đây người ta thường phải giải quyết vấn đề nghèo đói bằng chính nỗ lực của mình – bằng lao động cần cù, tiết kiệm, đầu tư cho con cái học hành, sẵn sàng di chuyển để tìm những cơ hội thuận lợi hơn, sẵn sàng đánh đổi, kể cả đổi chỗ làm việc. Như ngài Bayer đã nói, phải có trợ giúp mới thoát được nghèo thì có lẽ tất cả chúng ta vẫn còn sống trong thời kì đồ đá. Dĩ nhiên là có những người suy sụp đến mức không thể tự lực được, nhưng đấy không phải là đa số. Đa số không cần sự giúp đỡ trực tiếp, họ cần được bình đẳng trong cơ hội và được pháp luật bảo vệ để có thể thoát khỏi sự áp chế của các nhóm quyền lực hoặc những kẻ muốn tước đoạt thành quả lao động của họ.

Không phải vô tình mà chủ nghĩa tự do luôn luôn dành sự chú ý đặc biệt đối với sự ổn định của quyền tư hữu. Vì tư hữu chính là sự bảo đảm cho quyền tự do cá nhân. Có nhiều người khẳng định rằng mối quan tâm của những người theo trường phái tự do về quyền tư hữu thể hiện quyền lợi của các giai cấp hữu sản, nhưng đấy chỉ là một phần rất nhỏ của sự thật. Người nghèo cần bảo vệ tài sản chẳng khác gì người giầu vì quyền tư hữu của người nghèo thường hoặc không được pháp luật công nhận hoặc không được hệ thống tư pháp bảo vệ.

Phải coi mối quan tâm của những người theo trường phái tự do về sở hữu tư nhân là mục tiêu của chính sách của nhà nước: nhà nước phải tạo điều kiện cho tất cả các công dân, đặc biệt là người nghèo, cơ hội sở hữu tài sản tư nhân. Lời khẳng định này khác xa, thậm chí trái ngược hẳn, với chiến lược của những người xã hội chủ nghĩa, tức là chiến lược nhằm hạn chế hoặc tịch thu tài sản tư nhân và đem cấp phát cho các công dân. Những người theo trường phái tự do không tin vào cách làm như thế vì nó làm cho người ta trở thành lệ thuộc, trong khi sở hữu tư nhân giúp người ta độc lập về tài chính và như vậy là củng cố được tự do cá nhân.

Dĩ nhiên là có những trường hợp cần phải trợ cấp, nhất là để chặn đứng nạn đói sau những vụ thiên tai. Trợ cấp trong những trường hợp như thế sẽ hiệu quả hơn là kiểm soát giá cả, thí dụ như kiểm soát giá lương thực, thực phẩm, mà người ta thường áp dụng nhân danh bảo vệ người nghèo, nhưng những biện pháp như thế thường làm méo mó các động cơ kinh tế và sẽ dẫn đến những hậu quả nghiêm trọng đối với nền kinh tế. Cố tình giữ giá lương thực thực phẩm thấp có thể gây thiệt hại nghiêm trọng cho các điền chủ và nền nông nghiệp và sẽ làm cho nhiều nông dân nghèo, tức là đa số người nghèo trên thế giới, mất việc làm.

Phe dân chủ phải tìm những phương tiện giúp người nghèo có thêm tài sản, chứ không phải là trợ cấp cho họ. Nếu hoàn cảnh bắt buộc thì nên buộc người ta phải tiết kiệm bằng cách góp vào quĩ hưu bổng, bảo hiểm y tế hoặc bảo hiểm thất nghiệp chứ không nên bắt người ta phải đóng thuế cao rồi lấy tiền phân phối lại cho người nghèo. Tiết kiệm hoặc bảo hiểm bắt buộc giúp cho các công ty tư nhân, có sự kiểm soát của nhà nước, trong đó có yêu cầu tái bảo hiểm, hoạt động hữu hiệu hơn. Còn thu thêm thuế để tái phân phối có thể tạo ra bộ máy quan liêu cồng kềnh, ăn hết phần lớn số tiền thu được. Xin nói rằng trong cả hai trường hợp, chính phủ đều nhận trách nhiệm bảo vệ người dân khỏi những hiểm hoạ kinh tế, nhưng biện pháp thì hoàn toàn khác nhau. Tiết kiệm và bảo hiểm không những rẻ hơn mà còn hiệu quả hơn. Không những thế, nó còn giúp tạo ra những khoản tiết kiệm có thể được đưa vào đầu tư trong thị trường tài chính. Những khoản đầu tư phụ trội này sẽ giúp cho nền kinh tế phát triển trong khi bộ máy quan liêu trong lĩnh vực bảo trợ xã hội chỉ làm gia tăng những khoản chi tiêu đáng lẽ phải dành cho người nghèo.

Có người sẽ cãi rằng ý tưởng về tiết kiệm và bảo hiểm không phù hợp với đa số người nghèo thuộc “thế giới thứ ba”. Hoàn toàn sai. Nhiều cuộc khảo sát chứng tỏ rằng người nghèo có mức tiết kiệm đến kinh ngạc, nhưng họ khó tiếp cận với các phương tiện tài chính. Tại nhiều nước, hệ thống tài chính bị quốc hữu hoá và rõ ràng là một người nghèo, lại mù chữ sẽ gặp nhiều khó khăn khi muốn mở một tài khoản. Còn khi có những cơ sở tài chính, thí dụ như ngân hàng Grameen Bank ở Bangladesh, chuyên phục vụ người nghèo thì khoản tiết kiệm của họ đã tăng lên nhanh chóng. Một số cơ sở tương tự như thế đã thành công trong việc tạo ra những hình thức bảo hiểm cho người nghèo. Không có gì đặc biệt cả: các tổ chức tín dụng và quĩ tiết kiệm khu vực đã có vai trò vô cùng quan trọng trong lịch sử kinh tế phương Tây. Chúng ta chỉ làm cái việc là tái phát minh những điều mà người ta đã làm từ lâu, sau khi nhiều nước (nếu không nói là đa số) đang phát triển bỏ con đường thẳng đó để quay sang dùng phương pháp quản lí toàn bộ vốn liếng thông qua các định chế tài chính của nhà nước. Các định chế này không hoạt động vì người nghèo mà chủ yếu là bơm tiền tiết kiệm của nông dân vào thành phố và đưa những đồng tiền đó vào các cơ sở công nghiệp ốm yếu của nhà nước hoặc các công ty tư bản có liên hệ với các chính khách. Đáng tiếc là tại nhiều quốc gia, những hiện tượng méo mó như thế vẫn còn tiếp diễn. Yêu cầu của thời đại: không cho các chính phủ quyền lãnh đạo các định chế tài chính, buộc các chính phủ phải tập trung trí tuệ nhằm tạo ra khung pháp lí phù hợp cho các ngân hàng tư nhân và các công ty bảo hiểm, đặc biệt là các tổ chức tín dụng đơn giản, dễ tiếp cận ở khu vực nông thôn, hoạt động. Cũng cần phải thành lập các định chế kiểm soát hoạt động của các ngân hàng và các công ty bảo hiểm, còn chính các định chế này thì được bảo đảm không có sự can thiệp của quyền lực chính trị.

Đáng tiếc là những người xã hội chủ nghĩa đã thuyết phục được đa số dân chúng rằng thành lập bộ máy quan liêu khổng lồ trong lĩnh vực an sinh xã hội là giải pháp duy nhất có thể chấp nhận về mặt đạo đức trước thách thức về xoá đói giảm nghèo. Việc thường xuyên viện dẫn tình cảm của con người đã cản trở việc thảo luận một cách có căn cứ những phương án thay thế khác. Điều đó có hại cho cả người nghèo, lĩnh vực giáo dục và bảo vệ sức khoẻ là minh chứng không thể chối cãi được.

Giáo dục và sự năng động xã hội

Không nghi ngờ gì rằng giáo dục là vũ khí xoá đói giảm nghèo hữu hiệu nhất. Nó cung cấp cho người ta kiến thức và tay nghề đủ sức cạnh tranh, tức là giúp họ tìm được công việc tốt hơn bố mẹ họ và như vậy là có thể bước lên những nấc thang cao hơn. Giáo dục phổ thông giúp giảm thiểu kì thị phụ nữ. Giáo dục các bé gái giúp giảm thiểu một cách rõ rệt tỉ lệ sinh vì những người phụ nữ có học lấy chồng muộn hơn, biết cách phòng tránh thai và biết cách chăm sóc gia đình, đặc biệt là sức khoẻ trẻ em và như thế là giúp giảm tử suất ở trẻ con. Giáo dục còn giúp người dân tiếp thu thông tin, trong đó có thông tin chính trị, khuyến khích người ta thảo luận và cuối cùng là củng cố nền dân chủ và tự do.

Nếu mục đích của giáo dục là nâng cao tính năng động xã hội thì cần phải đặc biệt chú ý tới chất lượng giáo dục dành cho người nghèo. Chúng tôi nhấn mạnh “cần phải” là vì điều làm người ta ngạc nhiên là nhiều nhà cải cách đòi giành quyền thể hiện quyền lợi của người nghèo đổ nhiều công sức cho số lượng người được đào tạo: họ muốn phát bằng cấp cho thật nhiều người, trong khi hầu như không quan tâm đến chất lượng của những tấm bằng đó. Kết quả là sự phân tầng xã hội sẽ càng vững chắc hơn. Hiện tượng tương tự như thế xảy ra ở cả những nước đã phát triển, thí dụ như nước Đức, và nhiều nước đang phát triển nữa.

Một trong những nguyên nhân của sự lệch lạc này là công tác giáo dục được giao cho bộ máy quan liêu của nhà nước, thường là tập quyền nữa. Người ta không đặt cả vấn đề về khả năng quản lí quá trình dạy và học của nó nữa kia. Có lẽ, đấy là do đa số người, kể cả nhiều người có tư tưởng tự do, cho rằng bảo đảm cho tất cả mọi người đều có trình độ phổ thông là trách nhiệm của nhà nước. Nhưng ngay cả nếu ta đồng ý như thế thì cũng không có nghĩa là bộ máy quan liêu của nhà nước phải thực hiện nhiệm vụ này. Bản chất nội tại của bộ máy quan liêu là ngày càng phình to mãi ra đã làm cho sự lệch lạc xảy ra gần như ở khắp mọi nơi. Thế mà nghi ngờ bộ máy quan liêu lại bị coi là hành động nhằm phá hoại sự tiếp cận đối với quá trình học tập, một bản án chết người trong bất kì xã hội dân chủ nào.

Kết quả của cách tiếp cận như thế thường là rất nguy hiểm. Thí dụ, tại phần lớn các nước Nam Á chất lượng học tập trong các trường công lập kém đến nỗi người dân phải chịu nhiều hi sinh về mặt tài chính chỉ để đưa con em vào các trường tư thục với chất lượng học tập cao hơn: thường thì các trường đó được dạy bằng tiếng Anh. Nhưng ở nông thôn, các trường như thế là của hiếm, cho nên người nghèo ở đô thị và đa số dân nông thôn đành phải hài lòng với các trường công lập hoặc không đi học nữa. Ở Ấn Độ, Bangladesh và Pakistan ít nhất là 40% ngân sách dành cho giáo dục được đổ vào các trường đại học mà sinh viên chủ yếu là con em các gia đình trung lưu. Trong khi đó các trường cấp I không đủ phương tiện để đưa tất cả các trẻ em vào học, tức là không phải đứa trẻ nào cũng thoát nạn mù chữ.

Cho dân chúng địa phương nhiều quyền kiểm soát nhà trường hơn nữa phải là bước tiến quan trọng trên con đường hiện đại hoá giáo dục. Điều đó có thể được thực hiện bằng cách chuyển trách nhiệm về giáo dục từ bộ sang cho chính quyền huyện và chính quyền làng xã. Chính quyền trung ương có thể chỉ tập trung sức lực vào việc đặt ra và đưa vào áp dụng các tiêu chuẩn giáo dục mà thôi. Việc phân chia trách nhiệm như thế sẽ làm gia tăng tính minh bạch các khoản chi tiêu của nhà trường vì phụ huynh học sinh sẽ dễ dàng kiểm soát những việc diễn ra ở huyện hoặc làng xã. Việc tách tổ chức qui định các tiêu chuẩn giáo dục ra khỏi những cơ quan hành pháp chắc chắn cũng sẽ nâng cao thêm chất lượng giáo dục. Có thể đưa thêm thành tố cạnh tranh, như công bố kết quả học tập của các nhà trường, khen thưởng các trường tốt và phạt các trường kém. Những cuộc cải cách khác nhau trong lĩnh vực này đã được đưa ra thử nghiệm.

Triệt để hơn nữa là chấp nhận sự thật sau đây: người nghèo, chí ít là ở các thành phố, gần như không thể tiếp cận với thị trường giáo dục đang ăn nên làm ra hiện nay. Chính phủ có thể giúp người nghèo bằng cách trả tiền học phí cho con em họ và cho phép họ chọn lựa trường, thí dụ, bằng cách cấp cho họ một khoản tín dụng (voucher). Chính phủ thiết lập tiêu chuẩn và mục tiêu giáo dục và tập trung sức lực vào việc áp dụng và kiểm tra. Các trường công lập không còn nhận tài trợ từ ngân sách nữa mà sẽ phải tự hạch toán trên cơ sở thu hút thêm nhiều học sinh bằng cách cung cấp cho người học chất lượng giảng dạy tốt hơn. Hệ thống như thế sẽ giúp thúc đẩy sự cạnh tranh lành mạnh giữa các trường với nhau. Phụ huynh học sinh sẽ lựa chọn trường trên cơ sở chất lượng dạy và học, còn khoản tín dụng do nhà nước cấp sẽ không cho phép họ chi tiêu cho việc khác. Đến lượt mình, nhà trường sẽ buộc phải tìm những biện pháp hiệu quả nhất trong việc dạy và học. Những cơ sở kém chất lượng sẽ mất dần người học, còn những trường không kiểm soát được chi tiêu sẽ bị phá sản. Việc tạo ra thị trường giáo dục cạnh tranh như thế cũng sẽ giúp cho phụ huynh có lựa chọn tốt hơn cho việc học hành của con em họ, đặc biệt là nếu còn có các trường do các tổ chức tôn giáo khác nhau tài trợ nữa thì càng tốt. Tất nhiên như thế có thể xảy ra xung đột giữa chương trình do nhà nước qui định và các giá trị do các tổ chức tôn giáo tuyên truyền, nhưng sự thoả hiệp nhân danh quyền lợi của người nghèo là khả thi. Những ai đã từng chứng kiến chất lượng cao hơn hẳn của các trường tư thục, thường là trường Thiên chúa giáo, trong các khu ổ chuột ở các thành phố của Mĩ, hẳn sẽ đồng ý rằng cần phải có thoả hiệp như thế. Ở Mĩ các thí nghiệm tương tự đã được bắt đầu. Không có gì ngạc nhiên khi bộ máy quan liêu của chính phủ căm thù và quyết liệt chống lại những ý tưởng như thế, cũng như họ đang chống lại việc xác định chất lượng học tập mà họ đang cung cấp hiện nay. Khi chất lượng học tập không phải là mục tiêu của cải cách thì người nghèo sẽ vẫn bị tước mất phương tiện năng động xã hội quan trọng nhất, còn xã hội thì đánh mất tiềm năng không được triển khai trong con em của những người nghèo. Giá mà chúng ta phải trả cho các quan chức quan liêu trong lĩnh vực giáo dục cao đến mức đáng xấu hổ.

Y tế

Tất cả những điều trình bày bên trên đều có thể áp dụng cho lĩnh vực y tế. Người nghèo dễ bị ốm đau. Hệ thống y tế kém chất lượng sẽ dẫn tới những căn bệnh hiểm nghèo và chết sớm. Từng người và toàn xã hội phải trả giá đắt cho hệ thống như thế.  Mọi người đều công nhận rằng nhà nước phải cung cấp cho dân chúng dịch vụ y tế cơ bản. Và một lần nữa, các chính trị gia cánh tả và các quan chức tham lam tìm cách tạo ra một bộ máy khổng lồ trong lĩnh vực y tế. Vì vậy mà chính phủ nhiều nước đang phát triển thường cung cấp cho toàn dân dịch vụ y tế miễn phí với chất lượng cực kì thấp. Cũng như trong lĩnh vực giáo dục, sai lầm to lớn và có thể dự đoán được này đã sinh ra một thị trường chăm sóc sức khoẻ tư nhân phát đạt. Tất cả những ai đủ sức trả tiền đều sử dụng dịch vụ này. Người nghèo cũng phải chi nhiều tiền cho dịch vụ tư nhân vì không có dịch vụ y tế miễn phí của nhà nước, hoặc có cũng vô ích, hoặc chỉ được vào bệnh viện công sau khi đã phải trả một khoản tiến lớn. Cũng như trong lĩnh vực giáo dục, nhà nước có thể thử nghiệm nhiều biện pháp khác trong việc chăm sóc sức khoẻ cho người nghèo. Thí dụ như cung cấp tín dụng, trợ giúp bảo hiểm y tế tư nhân và cuối cùng là phi tập trung hoá – kể cả ngân sách! – và chuyển cho chính quyền địa phương.

Đáng buồn là những cuộc cải cách theo hướng tự do hoá trong lĩnh vực giáo dục và y tế thường hiếm khi được thực thi. Nguyên nhân không phải là chúng không thực tiễn mà là sự tồn tại của những nhóm lợi ích, không lớn, nhưng đầy sức mạnh, chống lại những cuộc cải cách như thế. Đấy là bộ máy quan liêu tập quyền, cải cách sẽ làm cho nó nhỏ đi hoặc là biến mất hoàn toàm; đấy còn là các chính khách đang lợi dụng hệ thống xin-cho. Họ chống lại mọi đề nghị cải cách, doạ rằng thay đổi sẽ làm cho người nghèo càng thiệt thòi thêm. Và hiện nay ánh sáng tự do của chủ nghĩa duy lí vẫn chưa xuyên qua được màn khói của tư duy cảm tính.

Bàn thêm về nhu cầu tăng trưởng kinh tế

Một trong những vấn đề quan trọng nhất: giúp người nghèo tiếp cận với với các cơ hội kinh tế. Trước hết, vấn đề chỉ có thể được giải quyết khi có một nền kinh tế phát triển năng động. Ở đây những người xã hội chủ nghĩa lại thể hiện một sự thiếu khôn ngoan nữa: trong khi xem xét vấn đề xoá đói giảm nghèo họ đã bỏ qua hoặc ít nhất cũng cố tình hạ thấp ý nghĩa của việc phát triển kinh tế. Đấy là do những người cánh tả quá chú trọng đến vấn đề sử dụng ngân sách và thiết lập bộ máy quan liêu và sự kiện không lấy gì làm thú vị đối với những người cánh tả là chính sách kinh tế tự do, đặc biệt là tự do thương mãi thu được nhiều thành công trong thời gian dài hơn là chính sách can thiệp của nhà nước. Đến mức là những người bảo vệ môi trường tấn công chủ nghĩa tự do và đặc biệt là họ tấn công thương mãi vì nó dẫn đến tốc độ phát triển kinh tế quá cao!


Chủ nghĩa tự do cổ điển ủng hộ tự do thương mãi – đây là chiến lược kinh tế thành công nhất trong lịch sử thế giới. Trong thế kỉ XIX nó đã giúp chấm dứt nạn đói ở châu Âu, một hiện tượng vốn được coi là bộ phận không thể tách rời của nhân loại. Chúng ta thường quên mất rằng, thí dụ, ở Pháp trong thế kỉ ХVIII đã xảy ra 9 nạn đói, làm chết 5% dân số lúc đó. Hôm nay nạn đói chỉ có thể xảy ra trong các chế độ độc tài, không có tự do và nằm ngoài hệ thống thị trường tự do, thí dụ như Bắc Triều Tiên mà thôi. Thời đại thương mãi tự do thế kỉ XIX, lần đầu tiên trong lịch sử, đã làm cho tất cả mọi người đều có thể trở thành giàu có. Không nghi ngờ gì rằng hôm nay thị trường tự do vẫn là nguồn gốc của giàu có. Điều này còn được các số liệu thực nghiệm chứng minh nữa.

Quĩ Friedrich Naumann là một trong khoảng 52 cơ quan đồng xuất bản kết quả nghiên cứu Tự do kinh tế thế giới do Milton Friedman, Giải Nonel Kinh tế, khởi sự. Mục đích của nghiên cứu này là đo lường và so sánh mức độ tự do kinh tế tại 123 nước. Để xác định vị trí của từng nước trong bảng tổng kết, người ta đã sử dụng các thông số có thể đo lường được như mức thuế, tỉ lệ đóng góp của nhà nước vào GDP và số lượng các qui định nhằm hạn chế thương mãi. Cuộc khảo cứu không hoàn toàn mang tính hàn lâm. Kết quả cho thấy mức độ phụ thuộc giữa tự do kinh tế và tốc độ tăng trưởng kinh tế. Nói cách khác, nhà nước càng áp bức thì kinh tế càng kém năng động. Điều này không làm cho các nhà kinh tế học theo đường lối tự do ngạc nhiên, họ luôn nói rằng tốc độ phát triển kinh tế phụ thuộc vào sáng kiến cá nhân, phụ thuộc vào sức sáng tạo và khả năng mạo hiểm, mà những phẩm chất như thế lại đòi hỏi môi trường phát triển tự do cho mỗi cá nhân. Đáng tiếc là khi soạn thảo chính sách kinh tế, không phải lúc nào người ta cũng dựa vào ý nghĩ đúng đắn như thế.

So sánh kết quả của nghiên cứu Tự do kinh tế thế giới với các tiêu chí khác của đời sống chứ không chỉ với tốc độ tăng trưởng cũng chứng tỏ rằng trong những nước tự do nhất, tỉ lệ người nghèo và mù chữ thấp hơn, ít tham nhũng hơn và tuổi thọ cao hơn. Một lần nữa ý tưởng đúng đắn này buộc ta phải giả định rằng kinh tế phát triển tạo ra những ngưồn lực cần thiết cho việc giải quyết những vấn đề nóng bỏng nhất của nhân loại. Nhưng một lần nữa huyền thoại cho rằng người nghèo sẽ chẳng được gì vẫn còn rất mạnh. Còn nhớ thành ngữ: Giàu giàu thêm, nghèo càng khó. Đây là một niềm tin sai lầm, kinh nghiệm lịch sử và bằng chứng của các cuộc khảo cứu chứng tỏ điều đó. Nhưng có vẻ như các bằng chứng hiển nhiên cũng không đủ sức thách thức những quan niệm đã ổn định. Nhưng có thể đấy là do người ta không nhận thức được rằng kinh tế không phải là hiện tượng có thể hiểu được bằng trực giác: kinh tế không phải là cuộc chơi với tổng bằng không, kinh tế phát triển không làm thiệt hại bất kì ai, mà trao đổi tự do và tự nguyện mang lại lợi ích cho cả hai phía tham gia. Nói cách khác, có thể cùng nhau làm giàu, chỉ có nhanh chậm khác nhau mà thôi.

Còn các nước “lạc hậu” thì sao? Chúng ta thường nghe nói đến việc gia tăng khoảng cách giữa những nước giàu và những nước nghèo. Đấy là sự thật. Trong “thế giới thứ ba” có những nước có tốc độ tăng trưởng kinh tế bằng không, thậm chí âm nữa, trong khi đó kinh tế của đa số các nước phát triển đều gia tăng, ít nhất là với mức vừa phải. Nhưng so sánh tốc độ tăng trưởng kinh tế với mức độ tự do kinh tế thì chúng ta mới hiểu rằng các nước nghèo nhất và kém phát triển nhất về mặt kinh tế lại là những nước gần như không mở cửa nền kinh tế và nhà nước thường xuyên can thiệp vào tự do hoạt động kinh tế của dân chúng. Đúng là có những dân tộc “lạc hậu”, nhưng họ không phải là nạn nhân của tự do thương mãi hay là toàn cầu hoá. Họ là nạn nhân của những nhà lãnh đạo nước mình!

Có thể chứng minh được rằng tốc độ phát triển hầu như không phản ảnh được sự phân bố tài sản trong nước. Theo số liệu của các phương tiện truyền thông đại chúng, quá trình tự do hoá nền kinh tế trong các nước công nghiệp phát triển có thể thúc đẩy việc hình thành những chỗ làm việc mới, nhưng đây chỉ là những chỗ làm việc cho những người không có chuyên môn – “McJobs”, những người có học gọi như thế nhằm gia tăng màu sắc bài Mĩ của mình. Lao động nghèo – một công thức mới, họ vọng rằng nó sẽ là lợi khí trong tay những chiến sĩ đấu tranh chống lại quá trình toàn cầu hoá và tự do thưong mãi cả từ phe tả lẫn phe hữu. Nhưng ngay cả như thế đi nữa thì vẫn tốt hơn là không cho những người công nhân tay nghề thấp được tiếp xúc với thị trường lao động, như các nước châu Âu với một hệ thống bảo trợ xã hội quá cồng kềnh đang làm. Song thực tế không phải là như thế. Công nghệ mới không những không thu hẹp chỗ làm mà còn tạo ra thêm chỗ làm mới, tốt hơn.

Ở những nước mà thị trường tương đối cởi mở, nhu cầu người lao động có tay nghề cao chứ không phải người lao động có tay nghề thấp đang gia tăng. Ở Mĩ 55% chỗ làm việc mới xuất hiện từ 1983 đến năm 1996 là dành cho các chuyên gia có tay nghề cao, gần 32% đòi hỏi tay nghề trung bình và chỉ có 18% dành cho người có tay nghề thấp mà thôi. Còn nếu xem xét việc phân phối thu nhập trong nội bộ các nước thì thấy rằng những nước nghèo nhất và mất tự do nhất lại là những nước có sự bất bình đẳng nhiều hơn là các nước có tự do về kinh tế. Đôi khi phải nhìn vào số liệu thì mới hiểu được những bí ẩn đằng sau những khẩu hiệu về tự do kinh  tế và thị trường toàn cầu. Vì vậy, như giáo sư Jagdish N. Bhagwati, một chuyên gia về lĩnh vực thương mãi, đã khẳng định trong bài báo “Hi vọng tốt nhất cho người nghèo”, cần phải đẩy nhanh quá trình tự do hoá thương mãi trên bình diện toàn cầu với sự trợ giúp của WTO. Ông kịch liệt phê phán chính phủ các nước đang phát triển vì họ không nhận ra những bất lợi của chính sách bảo hộ kéo dài và sai lầm của nhiều người trong số họ khi cho rằng các nước giàu thi hành chính sách bảo hộ thì họ cũng có quyền tiếp tục làm như thế. Như vậy là họ đã làm hại mình đến hai lần.

Soạn thảo chính sách kinh tế chính là tạo ra các định chế góp phần hình thành nên các thị trường cho sản phẩm và nhân tố sản xuất hoạt động một cách hữu hiệu. Để giải quyết vấn đề này người ta thường sử dụng các tác nhân chính sau đây: toà án, hệ thống luật pháp, cơ chế hành pháp công bằng và hệ thống bảo vệ quyền tư hữu hoạt động một cách hữu hiệu. Sau đây chúng ta sẽ xem xét các biện pháp này có ảnh hưởng trực tiếp đến người nghèo như thế nào. Cần phải nhắc đến một khía cạnh nữa của việc hình thành thị trường, đấy là cung ứng và bảo trì hạ tầng cơ sở. Các nghiên cứu về đói nghèo trên khắp thế giới đều cho thấy rằng tiếp xúc với hạ tầng cơ sở, thí dụ như đường xá và điện, giúp làm giảm mức độ nghèo khổ. Hạ tầng giao thông đưa người dân tới thị trường và giúp người dân nông thôn tiếp xúc với những cơ hội kinh tế mới, như gia tăng sản lượng hàng hoá có thu nhập cao, thí dụ trồng rau để cung cấp cho thành thị. Điện giúp người ta thành lập các xưởng sản xuất nhỏ. Không có hạ tầng cơ sở như thế, quá trình phát triển sẽ chỉ diễn ra trong các khu vực có liên hệ với nền thương mại quốc tế, chỉ phát triển trong các khu vực gần bờ biển còn các khu vực nằm sâu trong nội địa thì vẫn trì trệ. Minh chứng rõ ràng nhất là Ấn Độ và Trung Quốc.

Người nghèo cần một cuộc cách mạnh về pháp lí

Mặc dù mối liên hệ giữa chính sách kinh tế tự do và sự phát triển kinh tế, xoá đói giảm nghèo đã được xác định bằng thực nghiệm nhưng khi tiếp xúc với những đau khổ của người nghèo thì đa số lại cho răng những cuộc cải cách vĩ mô đó có tính cách quá trừu tượng và xa lạ với đời sống của những tầng lớp nghèo khó. Những cách suy nghĩ như thế chính là cản trở mang tính chính trị, ngăn cản việc thực thi các cuộc cải cách vì chúng không động viên người nghèo đứng về phía phong trào tự do.

Từ quan điểm đạo đức thì dù làm bất cứ việc gì – từ thiện hay thông qua trợ giúp của chính phủ, miễn là giúp được người nghèo – cũng đều đáng ca ngợi cả. Nhiều người nghèo cũng đòi hỏi như thế khi họ tham gia vào những quan hệ mang tính bảo trợ-chủ tớ. Nhưng đằng sau động cơ mang tính đạo đức này người ta lại thường lờ đi, không bàn xem là những biện pháp đó có loại bỏ được những nguyên nhân thật sự hay chúng chỉ làm giảm phần nào triệu chứng của căn bệnh đồng thời càng làm gia tăng sự phụ thuộc của người nghèo và đè nén sáng kiến của chính họ. Nhận thức được điều này thì các tổ chức đang giúp đỡ việc xoá đói giảm nghèo sẽ phải coi việc quảng bá tư tưởng sáng kiến cá nhân là nhiệm vụ chính của mình. Như vậy là, cuối cùng người ta đã công nhận rằng người nghèo không phải là những người vô tích sự mà những người với những tiềm năng bẩm sinh chưa được phát huy. Tuy nhiên, sẽ xuất hiện một câu hỏi đơn giản sau: tại sao người nghèo lại cần các tổ chức bên ngoài, nhiều khi là các tổ chức ngoại quốc, động viên mới làm được những việc hiển nhiên, mà lại là làm cho chính mình nữa? Thời kì khi mà người châu Âu bắt đầu chinh phục con đường xoá đói nghèo làm gì đã có các tổ chức phi chính phủ!

Ta có thể tìm thấy câu trả lời cho những câu hỏi loại đó trong hai tác phẩm tuyệt với của nhà kinh tế học Peru tên là Erando de Soto. Ông đã sử dụng ngay hệ thống kinh tế trong đó người nghèo đang sống làm xuất phát điểm cho công cuộc khảo cứu của mình. Ông chỉ ra rằng người nghèo không có điều kiện tiếp xúc với các công cụ và định chế pháp lí, tức là những phương tiện giúp gia tăng tính hiệu quả của nền kinh tế thị trường hiện đại, trong đó có các tiêu chuẩn pháp lí nhằm bảo vệ và thực thi các hợp đồng, quyền tư hữu ổn định và được bảo đảm cũng tức là công cụ điều tiết thị trường đơn giản nhưng cũng rất hiệu quả. Không những thế, họ lại phải chạm trán với một hệ thống tư pháp phức tạp và kém hiệu quả. Ngay cả nếu gặp được các quan toà độc lập và chuyên nghiệp thì vụ việc cũng kéo dài hàng năm. Các văn bản pháp qui của nhà nước thì vừa quá phức tạp vừa bao trùm lên mọi lĩnh vực thành ra mọi hoạt động kinh tế đều bị giấy tờ dấu má cản trở. Người nghèo có thể có một chút vốn liếng, thí dụ như mảnh đất trong khu “xóm liều”, nhưng số vốn này lại không được đăng kí một cách hợp pháp.

De Soto và các cộng sự của ông đã làm một cuộc thí nghiệm: thực hiện tất cả các thủ tục, không đút lót cho ai, nhằm thành lập xưởng may với chỉ một công nhân. Phải mất gần một năm mới xong, kết luận rút ra là: không một doanh nghiệp nhỏ nào có thể tuân thủ được pháp luật. Đấy là một trong những lí do chính vì sao thị trường không chính thức lại phát đạt như thế.

Các qui định mang tính cấm đoán cũng có liên hệ đến sáng kiến của người nghèo: tại nhiều nước, sáng kiến, trong đó cho vay những khoản vốn nho nhỏ, là bất hợp pháp. Về lí thuyết thì đấy là nhằm bảo vệ người nghèo khỏi bị bóc lột. Nhưng trên thực tế thì họ lại bị cảnh sát và các quan chức bóc lột, phải mua chuộc những người này thì mới được hoạt động. Người nghèo, dù là người buôn bán nhỏ trên đường phố, người đạp xích lô hay lái xe, cũng đều phải trả tiền cho cảnh sát hay quan chức chính quyền cả.

Đấy là lí do giải thích vì sao phải có sự trợ giúp từ bên ngoài thì mới thoát được đói nghèo. Các tổ chức từ thiện ngoại quốc thường thuyết phục và áp lực chính phủ và bộ máy quan liêu để họ không ngăn cản sáng kiến cá nhân, ít nhất là trong một giới hạn nào đó. Đây là một trong những thành quả của các tổ chức nước ngoài, nhưng lại ít được công nhận nhất, nó giúp bảo vệ sáng kiến cá nhân trong các nước đang phát triển, không để cho bộ máy quan liêu của chính phủ bóp chết các sáng kiến đó ngay từ trong trứng nước.

Một trong những vấn đề nghiêm trọng nhất là bảo vệ quyền tư hữu. Ở các nước phía Nam, quyền tư hữu thường được xác định không rõ ràng, hoặc không được bảo vệ hay khó chuyển giao. Hệ thống luật pháp về quyền tư hữu ở các nước này thường quá rắc rối, không phản ánh thực tế đời sống của người nghèo và được quản lí một cách cực kì kém hiệu quả. Nhiều người nghèo sống trong các “xóm liều”, không được công nhận về mặt pháp lí. Sự kém hiệu quả của thị trường sở hữu dẫn đến việc là càng ngày càng có nhiều người di cư vào thành phố không có đất ở và nhà ở. Vì vậy mà họ thường chiếm đất do chính phủ quản lí. Trong khi đó, chính phủ, tuy vẫn nắm quyền quản lí nhưng lại không biết phải làm gì và làm sao giữ được những khu đất đang nằm trong tay mình. Những cuộc lấn chiếm như thế thường do các “đầu nậu không chính thức”, tức là chủ nhân thật sự của những “xóm liều” thực hiện. Họ chính là những người đứng ra bảo vệ cho dân chúng sống trong các vùng đất bất hợp pháp đó. Người nghèo trong các “xóm liều” phải trả tiền thuê nhà cho đầu nậu, cho họ toàn quyền sử dụng tiếng nói của mình trong các cuộc bầu cử và tạo ra đám đông trong các buổi mít-tinh. Điều này, dĩ nhiên là có hại cho dân chủ và phát triển kinh tế, nhưng người nghèo không có lựa chọn nào khác.

Hậu quả kinh tế của tình hình nói trên là rất nghiêm trọng. Các loại tài sản như nhà ở, túp lều hay mảnh đất mà quyền sở hữu không rõ ràng hoặc không được công nhận không thể được chuyển hoá thành nguồn vốn. Chỉ cần người chủ sở hữu tài sản được xác nhận và được pháp luật bảo vệ, còn việc chuyển giao quyền sở hữu trở thành an toàn và hiệu quả thì tài sản ngay lập tức có thể trở thành nguồn thu nhập mới. Bằng cách đó, tài sản sẽ có một đời sống mới, đời sống ảo, dưới dạng nguồn vốn.  Người nghèo thường bị tước mất quyền này: họ có tài sản nhưng không tiếp cận được các phương tiện pháp lí có thể biến tài sản thành sở hữu, và bằng cách đó chuyển hoá thành đồng vốn. De Soto viết rằng tổng số vốn không được sử dụng, nói cách khác là vốn “chết”, trong các nước phía Nam là hơn một chục tỷ Dollar Mĩ, mà phần lớn là vốn của người nghèo. Không một sự trợ giúp ngoại quốc nào có thể so sánh được với tiềm năng hình thành nguồn vốn lớn như thế. Hơn nữa, nếu làm được như thế, người nghèo sẽ có tài sản được đăng kí không phải là nhỏ.

Ở đây một lần nữa xin trở lại với ý tưởng ban đầu: giúp người nghèo tiếp cận với quyền sở hữu là cách xoá đói giảm nghèo tốt nhất. Hoá ra trong nhiều trường hợp việc này không hề tốn kém gì cả: chỉ cần công nhận về mặt pháp lí quyền sở hữu trên thực tế. Tất cả người nghèo trong các “xóm liều” đều biết ai là chủ túp lều nào. Nhà nước chỉ cần công nhận sự kiện đó và cung cấp cho các “sở hữu chủ mới” việc bảo vệ hữu hiệu về mặt pháp lí mà thôi. Theo De Soto, ban hành luật pháp phải được coi như là hành động xâm nhập thực tế. Trong quá trình đó ta sẽ thấy cần nhiều loại văn bản pháp qui khác nhau. Thí dụ, khu đất mà bộ lạc đã làm chủ hàng thế kỉ nay có thể đưa vào hệ thống quyền sở hữu hình thức nếu ta đăng kí nó dưới dạng sở hữu của hợp tác xã hay công ty cổ phần. Ở châu Âu đã có những trường hợp tương tự như thế, đấy là các tu viện, trong đó các thày tu hay các bà sơ đồng sở hữu mảnh đất tu viện và như vậy là họ trở thành những đối tác trên thị trường. Nếu bộ lạc muốn giữ gìn truyền thống canh tác tập thể thì văn bản pháp qui phải ghi nhận bộ lạc như người chủ sở hữu duy nhất.

Công nhận và bảo vệ quyền sở hữu của người nghèo không phải là nhiệm vụ thực tiễn mà là nhiệm vụ chính trị. Trong một thời gian dài, những người bảo vệ người nghèo đã ngoảnh mặt làm ngơ đối với quyền tư hữu của họ vì cho rằng đây là vấn đề của gnười giàu. Trong các nước phía Nam đây là sai lầm chết người. Tại các nước này người giàu lại không cần bảo vệ quyền tư hữu bằng người nghèo. Trên thực tế, chính vì không được xác định và không được bảo vệ mà người giàu thường tấn công và phá hoại quyền sở hữu của người nghèo. Thí dụ ở Bangladesh là một minh chứng: muốn thoát nghèo, một phụ nữ đã vay tiền của ngân hàng Grameen. Sau một thời gian lao động miệt mài và dành dụm bà đã kiếm được một số vốn và định mở một xưởng cưa nhỏ. Một doanh nhân địa phương, kẻ cạnh tranh với bà nhưng có nhiều thế lực hơn đã cho bọn lâu la đến đe doạ buộc bà phải từ bỏ ý định. Biết rằng cảnh sát sẽ đứng về phía hắn, còn toà án thì kéo dài hàng năm, cuối cùng bà đã đầu hàng.

Ở các nước phía Nam, những câu chuyện như thế không phải là hiếm. Chỉ cần nói chuyện với một vài doanh nhân về việc chuyển địa điểm sản xuất hay xây dựng nhà máy mới là họ chẳng bao giờ dám xâm phạm vào lãnh thổ của kẻ khác. Xảy ra chuyện như thế là vì chính phủ không bảo vệ được pháp luật, chính quyền địa phương, sống dựa vào những cộng đồng sắc tộc hoặc tôn giáo thiểu số, đứng ra làm việc đó thay cho chính phủ. Các hiện tượng như thế là những cản ngại nghiêm trọng trên con đường phát triển và tạo ra những rào cản không thể nào vượt qua được đối với hoạt động kinh tế của người nghèo. Trong những cuộc khảo cứu nhằm tìm hiểu thêm vấn đề vừa nêu, ngân hàng  Grameen đã lí giải được vì sao những người vay tiền của họ không tìm cách thoát ra khỏi cảnh “vắt mũi vừa đủ đút miệng” của họ. Câu trả lời: thiếu quyền sở hữu tài sản ổn định, mà rộng hơn là thiếu luật pháp, mà cụ thể là trong lĩnh vực kinh tế, tức là thiếu những điều luật giúp cho người nghèo chuyển từ nền kinh tế ngầm sang nền kinh tế chính thức.

Không có các quyền tư hữu được ghi nhận một cách rõ ràng cũng là nguyên nhân của cảnh nghèo đói lan tràn khi người dân phải di cư khỏi những vùng đất họ đã sống nhiều đời để nhường chỗ cho các “dự án phát triển”, thí dụ như xây hồ chứa nước chẳng hạn. Ấn Độ hầu như đã xoá bỏ quyền sở hữu được hiến pháp bảo hộ, tức là bỏ điều luật nói rằng nhà nước phải đền bù 100% khi trưng dụng, nhằm hạ giá thành các dự án. Trong khi xoá bỏ điều luật thì người ta nói rằng đấy là để chống lại các đại điền chủ. Nhưng trên thực tế điều đó đã dẫn đến kết quả là hàng chục ngàn người nghèo đã bị mất hết nhà cửa mà không được đền bù thoả đáng vì không có quyền sở hữu một cách rõ ràng nên không thể đưa ra toà được. Bi kịch ở chỗ là đa số những người chống đối việc xây các con đập đó lại không nhận thức được vấn đề từ quan điểm về quyền sở hữu.

Thay đổi tình trạng nói trên là một tiến trình chính trị. Phải bảo đảm rằng trong quá trình chuyển sang hệ thống quyền sở hữu hữu hiệu hơn và ổn định hơn, người nghèo sẽ không bị những kẻ có quyền thế, thí dụ như chủ của các “xóm liều” chèn ép. Nguy cơ này dĩ nhiên là có, nếu việc điều tiết các tiến trình kinh tế vẫn cứ nằm trong tay các quan chức và những nhà kĩ trị phục vụ cho các thế lực có nhiều ảnh hưởng như hiện nay. Cần phải thực hiện một cuộc cách mạng theo hướng tự do hoá – và ở đây xin nhắc lại rằng chính cuộc cách mạng như thế đã xảy ra trong lịch sử châu Âu.

Như vậy là, nhiệm vụ của chúng ta không phải là phát minh ra những phương pháp phân chia tài sản mới và tốt hơn, có lợi cho người nghèo hơn. Mà là công nhận quyền tham gia của người nghèo vào đời sống kinh tế, đưa ra những điều luật phù hợp và tạo ra những định chế giúp họ thoát khỏi khu vực kinh tế ngầm và trở thành những thành viên bình thường của nền kinh tế thị trường chính thức. Đấy chính là quyền bất khả xâm phạm mà họ đã bị tước đoạt từ quá lâu rồi.

Tiến sĩ Otto Graf Lambsdorff là cựu Bộ trưởng Kinh tế Cộng hoà Liên bang Đức, hiện giữ chức chủ tịch quĩ Friedrich Naumann.


Tiến sĩ Otto Graf Lambsdorff là cựu Bộ trưởng Kinh tế Cộng hoà Liên bang Đức, hiện giữ chức chủ tịch quĩ Friedrich Naumann.

Nguồn: Dịch từ bản tiếng Nga: 

Trích dẫn từ:

Tổng số lượt xem trang

free counters