Triết Lý, để làm gì ?

Khi ta bế tắc tư tưởng, chân thật công nhận rằng những kiến thức và phương pháp suy luận của ta không cho phép ta sống, tư duy và hành động khớp với khao khát làm người của ta, ngoài vô vàn cách ứng xử khác, ta có thể:

a) Tiếp tục sống, tư duy và hành động như cũ vì, dù sao, ta cũng sống được, không đến nỗi nào

b) Lột áo cũ, khoác áo mới, một tấm áo coi lành lặn đẹp đẽ hơn nhưng cũng hàm hồ không thua gì. Điều ấy luôn luôn khả thi bằng ngôn ngữ.

c) Đi tới cùng bế tắc của chính mình. Nếu không giải quyết được nó, ta ôm nó xuống suối vàng, để lại ở đời chỉ một câu hỏi. Câu hỏi của một con người. Đích thực. Có gì nhục đâu?

Nếu ta tưởng ta đã tìm ra một phần của giải pháp, ít nhất là cho riêng mình, thì cứ viết đi, chẳng cần trích cao nhân nào cả: họ đã là một phần của ta và ta đã phải “vượt” họ để nên mình.

Thế thôi.

(Chungta.com)

Góc nhỏ của Noby Vui Vẻ

Lục lọi, tìm tòi, đọc, cóp nhặt, chia sẻ, ... OK hay không tùy bạn ! ! !

“Nước độc lập mà dân chưa tự do thì độc lập cũng không có ý nghĩa”- Hồ Chí Minh.

30 thg 8, 2010

Văn minh Chính trị _ Nguyễn Tất Thịnh

"Khi thiếu văn minh Chính trị, thì các Văn minh khác là thứ xa xỉ của Kẻ Đế Vương"

Như tôi từng viết : một cá nhân, cộng đồng, xã hội có thể có văn hóa cùng bề dày lịch sử của nó, nhưng không có nghĩa sẽ dẫn đến được sự văn minh. Tôi cũng đã viết rằng bản thân Chính trị không tự giác văn minh mà trình độ phát triển xã hội buộc nó phải văn minh lên…


- Văn minh là trình độ đạt tới cột mốc phát triển nào so với đỉnh tiến bộ của Thế giới hiện đại, bởi những thành quả của chính nó mà từ đó có khả năng tiếp thu, xác định, theo đuổi, và kiến tạo được những chuẩn mực cần có để hội nhập tích cực vào Cộng đồng Quốc tế, trong hiện trạng và quá trình thực hành những hoạt động khác nhau của mỗi cá nhân, tổ chức và xã hội.

- Chính trị là thượng tầng kiến trúc của xã hội, nên sự văn minh của Chính trị sẽ được quyết định bởi mặt bằng văn minh của xã hội sinh ra nền chính trị đó, đến lượt nó, chính trị tương tác trở lại làm cho xã hội đó tiếp tục hay thụt lùi về sự văn minh. Chính trị của một Xã hội là Nhà nước của nó ( Pháp quyền + Tam Dân + Chính danh ) đến đâu

- Nếu Xã hội mà đã củng cố được vững chắc được Tam Dân ( Dân chủ / Dân Quyền / Dân Sinh ) , đã là một hiện thực xác cố bên trong, thì chính trị của xã hội đó buộc phải văn minh và hoạt động, hành xử theo chuẩn mực và đòi hỏi văn minh của Xã hội như thế. Ngược lại, Tam Dân còn là một khái niệm ngoại lai, xa rời Công Lý khi thực hiện thì chính trị của xã hội đó chính là một sự đô hộ, nô dịch nhân dân của chính nó bằng những cách thức kết hợp bởi sự Biện pháp Trung Cổ + Thủ đoạn Maphia + Luận thuyết mê hoặc

- Bản chất của Chính trị là lợi dụng cả cái hay cả cái dở trong xã hội (với văn hóa, các lực lượng, các cá nhân, các thành quả hay biểu hiện )…nên Chính phủ của một số Quốc gia bị phản ứng về ‘chính sách hai mặt’ của họ. Nhưng khi Chính trị kí sinh và báo hại Nhân quần thì nói lên tính mục ruỗng và bỉ ổi của nó. Dù thế nào cũng phải định hướng tới những giá trị tiến bộ


Những biểu hiện chính của văn minh Chính trị là :

- Các nhà lãnh đạo thực sự là giới tinh hoa, tiên phong và cam kết nỗ lực cho phát triển, thông qua các chương trình, biện pháp tiến bộ không ngừng : ( xây dựng Thể chế, thực hành Pháp chế, kiểm soát Định chế ) vì Tam Dân, chứ không phải là cảnh giác dè chừng nó hoặc coi nó là nguy cơ cho sự cầm quyền của mình.

- Kiến tạo chính thức những kênh đối thoại, tham vấn sâu rộng trong nội bộ xã hội và với cộng đồng quốc tế. Không mũ ni che tai, vô cảm, thủ thế, kì thị, thù địch với ý kiến khác. Những điều đó cần được tổ chức trở thành phổ biến, nề nếp chế độ và xã hội hóa. Kết hợp những chương trình hành động để vận động ủng hộ và chứng minh sự tín nhiệm

- Có những bằng chứng kiểm định được bởi các tổ chức chính thống và uy tín, giám sát đánh giá hiệu quả hoạt động của Hành pháp, của các Chính khách trong từng hành vi, sự kiện, thời kì, giai đoạn. Từ đó định vị lại khả năng cá nhân mỗi lãnh đạo cũng như xác tín bộ máy cùng các cải cách họ đưa ra

- Nhân dân được có những cách thức bày tỏ chính thức ý kiến bằng những hình thức đại diện, chuẩn mực, đúng luật chứ không phải là bình phẩm nơi quán nước, đồn thổi nơi của chợ, a dua bầy đàn. Phổ biến những định nghĩa pháp quy về những quyền công dân như biểu tình, mít tinh, hội họp…để không ngộ nhận mà tham gia vào nhóm loạn.

4c_c c c c

Con cháu các cụ ! - Trần Văn Giang

    "Cái nhà là nhà của ta
    Công khó ông cha làm ra (*)
    Cháu con phải gin giữ lấy
    Muôn năm giữ nước giữ nhà..."


    (Đồng dao)
    (*) Có bản viết là: “Ông Cố ông Cha lập ra.”
Lời mở đầu:

Nhân dịp Nông Đức Tứng, 47 tuổi, con trai của Tổng bí thư Nông Đục Mạnh vừa được bầu làm bí thư tỉnh ủy Bắc Giang (với 100% số phiếu tán thành!) trong một phiên họp “đột xuất” của ban chấp hành Đảng bô tỉnh ngày 3 tháng 8 năm 2010 vừa qua, tôi chẳng đặng đừng phải vội viết bài này trước khi nhân dân ta trách là:
    “Sao chẳng thấy ai nói năng gì vậy hà? Bộ mấy ông (?) câm và đui hết rồi hay sao?”
Trần Văn Giang

Trước năm 1975, miền Nam Việt Nam có một câu nói để chỉ một tệ trạng liên quan đến vấn đề quyền lợi, tham nhũng mà giới ăn trên ngồi trốc trong chính phủ hoặc quân đội dành cho anh em, con cháu họ hàng thân thuộc của họ. Đó là vấn đề gọi là “Xê ô xi xi - COCC – Con Ông Cháu Cha.” Riêng đối với cs quốc tế và vi-xi, cái tệ trạng này là một văn hóa “đặc trưng” đã được coi là nền tảng tinh túy, là động lực và mục tiêu của của mọi hoạt động trong trên lĩnh vực chính trị, kinh tế và xã hội trong chế độ cộng sản. Đây cũng là một “năng lượng” vô giá đã “lan tỏa” và biểu dương phẩm chất của con người công sản xuyên qua mọi ngành mọi giới từ trung ương đến địa phương… (tôi phải tận dụng những chữ của cs mới diễn tả trọn vẹn cái “cốt lõi” của sự “tha hóa” trong chế độ này!) Xin lưu ý đây là “Đồ thật;” không phải là “Đồ sơn” đâu! Csvn còn gọi cái tệ trạng rất thối này một cách văn hoa đượm mầu “văn hóa đảng” nôm na là “Bốn C - CCCC - Con Cháu Các Cụ!” Chữ “Cụ” ở đây dùng là để chỉ các “Cụ trong dân,” các “Cụ đồng chí đảng viên cao cấp” của bộ chính trị có quyền lực truyền từ đời cha, đến đời con, đời cháu… Chẳng khác gì một hình thức “cướp công khai giữa ban ngày” không cần phải dấu diếm vờ vĩnh hay đánh du kích… Có khác gì văn minh của thời kỳ đồ đá, bộ lạc, phong kiến man rợ!

Nhiều tài liệu đã ghi lại là cộng sản quốc tế rất nổi tiếng về vấn đề “Bốn C” này từ lâu lắm rồi. Vài bằng chứng tiêu biểu như sau:

- Fidel Castro vì vấn đề sức khỏe, trao quyền (transfer power) chủ tịch nhà nước và tư lệnh quân đội cho em ruột là Raul Castro ngày 31 tháng 7 năm 2006.

- Kim chính Nhật lên nắm quyền thay cho bố là Kim Nhật Thành làm Chủ tịch nhà nước “suốt đời” (Eternal President) ngay sau khi Kim nhật Thành “hui nhị tì” vì bệnh tim ngày 8 tháng 7 năm 1994. Kim chính Nhật sẽ dự định chính thức trao quyền cho con trai út là Kim Chính Ân vào ngày kỷ niệm sinh nhật 100 năm sắp tới của “lãnh tụ vĩ đại” Kim Nhật Thành (nhằm ngày 15 tháng 4 năm 2012).

- Hun sen, Thủ tường cộng sản Cam bốt, bổ nhiệm con gái là Hun Mana làm “Phụ tá văn phòng phủ thủ tướng” ngày 11 tháng 9 năm 2008. Nên biết mụ Hun Mana trước khi lên làm phụ tá cho ông bố thủ tướng thì đang làm Tổng giám đốc (đầy quyền lực về truyền thông và tuyên truyền) của đài truyền hình và phát thanh Bayon (Director general of Bayon Television and Radio). Ngoài ra trước đó Hun sen đã bổ nhiệm em họ (first cousin) là Hun Chouch – còn có tên khác là Dy Chouch - làm Tổng giám đốc chương trinh khai thác gỗ (logging business) to lớn và béo bở nhất của nước Cam bố t…

- Mao Tân Vũ 40 tuổi, con trai của Mao Ngạn Thanh - người con thứ hai của Mao trạch Đông , vừa được thăng cấp Trung tướng (một tướng trẻ tuổi nhất của quân lực Trung cộng) ngày 4 tháng 8 năm 2010.

Tại sao chế độ cs lại phải cần có “bốn C - CCCC?”

Cũng dễ hiểu. Có hai 2 lý do căn bản:

- Quyền lợi (và quyền lực): Được duy trì một cách liên tục không gián đoạn qua thời gian.

- An ninh: Lý do này còn quan trọng hơn cả vấn đề quyền lợi. Không có người thừa kế với thế lực mạnh bảo vệ thì sẽ có thể mất hết những gì mà “các cụ” đã ki cóp “tiếp thu” từ bao ngày trước!

Bây giờ nói đến chuyện “CCCC” ở nước “Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt nam; Kinh tế thị trường, định hướng xã hội chủ nghĩa.”

Nông Đức Mạnh / Nông Đức Tuấn

(* phần này viết dựa theo một số sự kiện đăng trên “blog Free Lê Công Định”)

Bản thân Nông Đức Mạnh và chức vị ngon lành nhất nước “Tổng bí thư đảng csvn” đã có nhiều nghi vấn lưu truyền rộng rãi trong dân gian. Có nhiều lời đồn đãi cho rằng Nông Đức Mạnh là con không chính thức của “cha già dân tộc” HCM và hộ lý / “tình nhân bất hạnh” Nông Thị Xuân. Khi báo chí ngọai quốc đặt câu hỏi trực tiếp với Nông Đức Mạnh về vấn đề “Nông Đức Mạnh có phải là con của HCM hay không?” thì Nông Đức Mạnh trả lời lơ lửng con cá vàng theo kiểu huề vốn là:

“Dân Việt Nam ai cũng là con bác Hồ cả!” (sic)

Thiệt tình! Chú Nông à! “Con bác Hồ” có hai loại “Con” khác nhau: “Con thật” và “Con dỏm.” Loại “con thật” như Nông Đức Mạnh thì mới có cơ hội “đục mạnh.” Chứ loại “con dỏm” cỡ dân ngu khu đen vô sản ăn mày ở chợ Đồng xuân thì vẫn muôn đời là dân ngu khu đen ăn mày vô sản thôi.

Từ quyết định của bộ chính trị trung ương đi đến một đại hội “đột xuất” của ban chấp hành đảng bộ tỉnh Bắc Giang, Nông Đức Tuấn, con trai Nông Đức Mạnh, được bầu với số phiếu tán thành 100% (lại chăm phần chăm?) vào chức vụ Bí thư tỉnh Bắc giang. Việc bầu bán chỉ là một hình thức chiếu lệ đi sau chỉ thị ngầm của bộ chính trị. Điều cần lưu ý là đồng chí đương nhiệm Đào xuân Cần bị bãi chức mà không có một thông báo chính thức nào từ đảng csvn về sự vi phạm kỷ luật hay hành vi sai lầm nào! Sự quyết định thay thế cho thấy có một sự chuẩn bị, dàn xếp nhân sự trước khi đại hội đảng lần thứ 11 của đảng cs.

Qua chức vụ mới “Bí thư tỉnh ủy” Nông Đức Tuấn đương nhiên sẽ trở thành “Ủy viên trung ương” của “Ban chấp hành trung ương đảng.” Đây là một cơ chế (gồm 180 ủy viên) sẽ quyết định cho kết quả “Đảng đề cử dân bầu” các ghế lãnh đạo cao cấp của đảng sắp tới.

Nông Đức Mạnh, đương nhiệm chức vụ Tổng bí thư đảng, trước viễn ảnh khó tiếp tục giữ vai trò số 1 của bộ chính trị trung ương trong kỳ đại hội đảng lần thứ 11, đã đẩy mạnh kế hoạch mà hai cha con nhà Nông đã tính toán từ trước dọn đường hoạn lộ lâu dài cho con, chứ không phải chuyện “bất ngờ” hay tình cờ đâu. Đừng có tưởng bở.

Trên giấy tờ, Nông Đức Tuấn sinh ngày 12 tháng 7 năm 1963 tại xã Cường lợi, huyện Na rì, tỉnh Bắc cạn.

Nông Đức Tuấn rời Việt Nam lúc 18 tuổi (vào tháng 9 năm 1981) để đi làm “công nhân xuất khẩu lao động” tại Singwits Đông đức. Vào thời điểm này (1981) Nông Đức Mạnh là Phó bí thư, Chủ tịch ủy ban nhân dân tỉnh Bắc thái. Với ông cha làm lớn như vậy mà tại sao thằng con lại phải đi “xuất cảng lao động?” Nhiều nguồn tin tiết lộ là Nông Đức Mạnh cho con đi Đông đức “lao động trá hình” để cai nghiện ma túy!

Nông Đức Tuấn rời Việt Nam lúc 18 tuổi thì nếu giỏi lắm, hắn cũng chỉ học hết bậc trung học là cùng. Nông Đức Tuấn trở về Viêt Nam cuối năm 1988. Không thấy có ghi chép nào về việc Nông Đức Tuấn học hành ra sao sau năm 1988? 12 năm sau (vào tháng 12 năm 2000) tên Nông Đức Tuấn thấy xuất hiện trên báo chí cs với chức vụ “Phó chủ tịch thường trực trung ương hội thanh niên Việt Nam.” Đến tháng 12 năm 2004, Nông Đức Tuấn là thành viên của “Ban bí thư thành đoàn thanh niên cộng sản Hồ chí minh.” Tháng 1 năm 2008, Nguyễn tấn Dũng bổ nhiệm Nông Đức Tuấn vào chức vụ “Phó chủ nhiệm Ủy ban dân tộc.” Tháng 4 năm 2009, Nông Đức Tuấn trở về Bắc giang giữ chức “Phó bí thư tỉnh ủy phụ trách công tác xây dựng đảng” và chờ thời cơ để bố kéo lên thành “Bí thư tỉnh ủy” ngày 3 thánh 8 vừa qua. (Bên cạnh các chức vụ vừa kể, Nông Đức Tuấn còn là “Đại biểu quôc hội tỉnh Sơn la! Sao mà lắm chức đến thế! Tuy nhiên, không thấy Nông Đức Tuấn có sinh hoạt gì về cái chức tước nghiệp dư kềnh càng “Đại biểu quốc hội này?)

Điều đáng chú ý là từ khi đi “lao động xuất cảng” ở Đức về, không ai biết và thấy Nông Đức Tuấn học hành gì cả mà tiểu sử của Nông Đức Tuấn ghi là có 2 bằng cử nhân (1 bằng về kinh tế và 1 bằng về chính trị). Không lẽ Nông Đức Tuấn tự đại học học tại gia? Mà chúng ta có lạ gì về phần thông tin việc học hành và bằng cấp của giới lãnh đạo cs cứ như “bí mật quốc gia!” Đọc giả yên chí. Cứ thong thả ngồi gãi... đùi chờ xem. Không bao lâu nữa chuyện Nông Đức Tuấn có bằng dỏm sẽ nổ bung ra toàn quốc cho mà xem!

Thực chất của cái “CCCC” bày ra ở đây: chẳng phải làm gì đổ mồ hôi mà cứ được bổ nhiệm, lên chức ào ào... Hiển nhiên, thời cơ của Nông Đức Tuấn đang thực sự bắt đầu...

Nguyễn Chí Thanh / Nguyễn Chí Vịnh

(* phần này viết dựa theo một số sự kiện đăng ngày 15 tháng 9 năm 2008 của tác giả Võ Đồng Đội)

Nguyễn Chí Vịnh sinh ngày 15 tháng 6 năm 1957 tại Hà nội. Nguyễn Chí Vịnh là con út của Đại tướng vi-xi Nguyễn Chí Thanh Bí thư Trung ương cục miền Nam, kiêm Chính ủy Quân giải phóng miền Nam. Nguyễn Chí Thanh hết năm 1967 và có lời đồn (?) là “người” được bom chùm của máy bay B-52 Đế quốc Mĩ cho giải ngũ sớm hơn hạn định ở mặt trận Nam bộ.

Tiểu sử Nguyễn Chí Vịnh ghi là:

- Nguyễn Chí Vịnh theo học trường Văn hóa quân đội và sau đó học trường Đại học kỹ thuật quân sự (?) và làm việc cho Cục nghiên cứu của Bộ quốc phòng.

- Năm 1998 làm “Phó tổng cục trưởng Tổng cuộc 2” (Cơ quan quân báo, trinh sát và tình báo quân đội).

- Năm 1999 được Thủ tướng chính phủ phong đặc cách “quân hàm” Thiếu tướng quân đội nhân dân.

- Năm 2002 được bổ nhiệm Tổng cục trưởng Tổng cục 2, Bộ quốc phòng.

- Năm 2003 trình luận án tiến sĩ (?) chuyên ngành Quan hệ quốc tế.

- Năm 2004 thăng cấp Trung tướng.

- Năm 2009 thăng Thứ trưởng Bộ quốc phòng.

Nguyễn Chí Vịnh được xem là người đầu tiên trong chính quyền cs đã đề xuất, xây dựng, thành lập và tổ chức mạng lưới Tình báo khoa học, Kỹ thuật và kinh tế trong hệ thống tình báo Việt Nam (!) Vai trò và tiếng tăm của Nguyễn Chí Vịnh mỗi ngày một quan trọng hơn. Chị của Nguyễn Chí Vịnh là Nguyễn Thanh Hà là cựu Phó cục trưởng Cục hàng không Việt Nam. Vợ Nguyễn Chí Vịnh là con gái của Trung tướng Đặng Vũ Chính (tức Đặng văn Trung) nguyên Tổng cục trưởng Tổng cục 2, Bộ quốc phòng” (1994-2002).

Nhìn cho kỹ con đường hoạn lộ của Nguyễn Chí Vịnh thấy có một “bước tiến nhẩy vọt” kỳ diệu! Chỉ trong vòng 10 năm ngắn ngủi (từ năm 1992 đến 2002), Vịnh từ một nhân viên “trợ lý” tầm thường của Cục nghiên cứu, Bộ quốc phòng nhẩy vọt lên 2 chức to kềnh cùng một lúc cho tiện sổ sách nhà nước: “Trung tướng quân đội nhân dân” và “Tổng cục truởng Tổng cục Tình báo quân đội.” Tức là từ một anh chủ quán cháo lòng (đây là “thương nghiệp” đầu tiên của đ/c Nguyễn Chí Vịnh) khiêm nhường trở thành một ông chủ lớn cả về kinh doanh, chính trị và quân sự. Tham vọng tiến thân làm nguyên thủ quốc gia của Nguyễn Chí Vịnh trong tương lai rất gần cũng không có gì gọi là quá đáng!

Vịnh chung với anh rể là Lê Việt Bắc mở ra và làm Giám đốc Công ty du lịch và thương mại TOSECO. TOSECO là chủ của nhiều khách sạn “xịn” trên toàn quốc. Cũng chính TOSECO đã đứng ra môi giới để Bộ quốc phòng mua máy bay SU27 của Liên sô…

Vịnh điều khiển nhiều chương trình mua sắm quan trọng “bí mật” (không cần khai báo giá thầu và mua cái gì?) của Bộ quốc phòng: hợp đồng mua vũ khí, máy bay, tầu thủy, phụ tùng cho phòng không, không quân, thiết giáp, đóng tàu… trị giá đến hàng chục tỉ đô la).

Ngoài ra cũng nên biết thêm, Nguyễn Chí Vịnh lúc đầu theo học khóa 7 Đại học kỹ thuật quân sự từ năm 1977. Đến năm thứ 2 (là năm 1979) thì Vịnh lén phá nóc nhà kho quân khu lấy cắp thuốc lá và quân trang đem bán để ăn nhâu với bạn bè; Xui xèo Vịnh bị bắt với tang chứng. Vịnh bị Hội đồng kỷ luật nhà trường đuổi học 1 năm (sau 1 năm mới cho nhập học lại). Trong giai đoạn treo giò này gia đình Vịnh xin cho Vịnh sang học trường Sĩ quan thông tin (Ậy! Ăn cắp Thông tin?) chứ Vịnh không trở lại trường Đại học kỹ thuật quân sự. Vì Nguyễn Chí Thanh chết hơi sớm cho nên thế lực chính mà Nguyễn Chí Vịnh dựa vào là ông bố vợ, Trung tướng Đặng Vũ Chính – nguyên Tổng cục truởng Tổng cục 2. Người dân bình luận chung là: “Không có Vũ Chính thì không có Chí Vịnh.” (Vịnh không thể lên nhanh được nếu không có thế lực của Vũ Chính) thì cũng không có gì lạ!

Giá mà Nguyễn Chí Vịnh không phải là con Nguyễn Chí Thanh; và nhất là không phải con rể của Đặng vũ Chính thì bây giờ cháu Vịnh cũng chỉ quét lá đa; hay lái xe ôm; hay làm chủ quán cháo lòng bia ôm đâu đó ở Hà nội... lấy gì để làm triệu phú; để tuyên bố lung tung về an ninh tình báo quốc gia, quan hệ quốc phỏng, liên minh quân sự Việt Mỹ...

Lê Duẩn / Lê Kiên Thành – Lê Kiên Trung

Lê Kiên Thành (sinh năm 1955) và em là Lê Kiên Trung (sinh năm 1958) là hai người con trai của người vợ thú 2 của Lê Duẩn. Lê Duẩn đã từng giữ chức lãnh đạo cao nhất - Bí thư thứ nhất / Tổng bí thư - lâu dài nhất của đảng csvn (25 năm 303 ngày – từ 1960 đến 1986).

Lê Kiên Thành được Lê Duẩn gởi đi học ở Liên sô, đậu bằng tiến sĩ khoa học hàng không; hiện đã có 35 tuổi đảng và làm Chủ tịch Hội đồng quản trị “Techcombank,” làm đại biểu quốc hội; làm Chủ tịch Hội đồng quản trị Công ty cổ phần Xây dựng và phát triển đô thị; chủ một sân golf; Tổng Giám đốc Công ty Thiên Minh và lãnh đạo một vài Công ty khác.

Lê Kiên Trung là Cục trưởng Cục hải quan Thành phố HCM – cơ quan béo bở nhất của thành phố Sài gòn.

Lê Hãn (sinh năm 1929) anh cùng cha khác mẹ với Lê Trung Kiên (Hãn là con cả của bà vợ lớn của Lê Duẩn), là đại tá quân đội nhân dân, nguyên Cục trưởng Cục quản lý các nhà trường quân đội, Tư lệnh Bộ tư lệnh Bảo vệ lăng HCM.

Lê Thị Diệu Muội (sinh năm 1940) là em gái (cùng mẹ) của Lê Hãn, tiến sĩ kinh tế, nguyên Ủy viên Ủy ban Kinh tế và Ngân sách Quốc hội khóa V; Thứ trưởng bộ Nội Thương.

Cả nhà Lê Duẩn đều làm quan to súng dài của chế độ! Sướng Thật!

Nguyễn Tấn Dũng / Nguyễn Thanh Phượng

Nguyễn Thanh Phượng, 30 tuổi, là con gái thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, từng đi du học ngọai quốc và có bằng Cao học Quản trị kinh doanh (MBA) ở Thụy sĩ.

Nguyễn Thanh Phượng là chủ tịch Hội đồng quản trị công ty Vietnam Holding Asset Management. Đây là một công ty đầu tư với số vốn gần 800 tỉ đồng Việt Nam. Công ty có khả năng vận động vốn nóng lên đến 100 triệu đô la từ các nhà đầu tư ngọai quốc nhờ uy tín và quan hệ với thủ tướng chính phủ. Nguyễn Thanh Phượng có bao nhiêu kinh nghiệm để nắm trong tay mốt số tiền lớn để đầu tư và khuynh đảo thị trường Việt Nam? Nếu Nguyễn Thanh Phượng không phải là con của Nguyễn Tấn Dũng thì thử hởi có ma nào dám bỏ tiền vào đầu tư với “Viet Capital Fund Management” (VCFM - đọc là “vi xi ép em”)?

“CCCC” là một hình thức thô bỉ của chế độ “gia đình trị và đảng trị” csvn. “CCCC” là một thế lực lũng đoạn và chi phối kinh tế chính trị của Việt Nam… Ngoài các liên hệ quyền lực “gia đình” nổi bật như kể trên, chúng ta còn thấy nhan nhản lọai Lê Nam Thắng con trai Lê Đức Thọ nắm Bộ Bưu chính viễn thông; Lê Mạnh Hà con trai Lê Đức Anh nắm Sở Bưu chính viễn thông thành phố HCM; Trương Gia Bình con rể Võ Nguyên Giáp làm Tổng giám đoấc công ty FPT; Ngô Hòang Hải con rể Nông Đức Mạnh nắm Trưởng phòng tư vấn PMU18…

Bây giờ nhân dân ta có lẽ đã hiểu rõ cái đuôi “Định hướng xã hôi chủ nghĩa” theo sau chính sách “Kinh tế thị trường” nghĩa là gì rồi?!

Ai đã hỏi: “Đồng bào nghe tôi nói rõ không?”

Rõ là một lũ “đồ đểu!”
    … Tôi biết nó, thằng nói câu nói đó
    Tôi biết nó, đồng bào miền Bắc này biết nó…


    (Hoa địa ngục - 1968)
Trần Văn Giang
Tháng 8/2010

Làm sao thực hiện được tư tưởng Hồ Chí Minh: “NẾU CHÍNH PHỦ LÀM HẠI DÂN THÌ DÂN CÓ QUYỀN ĐUỔI CHÍNH PHỦ”?

30/08/2010


Tống Văn Công

image Sau bài viết “Vì sao Hồ Chí Minh đặt dân chủ trước giàu mạnh?”, tôi nhận được nhiều ý kiến bạn đọc trong, ngoài nước, hỏi vì sao hiện nay cả nước đang liên tục rầm rộ tổ chức học tập tư tưởng và đạo đức Hồ Chí Minh, nhưng những tư tưởng lớn của người rất cần cho sự nghiệp Đổi mới, cho cuộc sống nhân dân thì lại không được học tập, vận dụng?

Trong bài viết này, tôi muốn đề cập đến một trong những nội dung cốt lõi về dân chủ mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định một cách mạnh mẽ: "Nếu chính phủ làm hại dân thì dân có quyền đuổi chính phủ” (HCM toàn tập, NXB Sự thật, tập 4, trang 283).

Đây là một nội dung có ý nghĩa then chốt ở một thể chế dân chủ, nó như lửa thử vàng để biết vàng thật hay vàng giả, ở đây là dân chủ thật hay dân chủ giả.

Có thể bạn sẽ hỏi liệu Chính phủ của chúng ta đã có những sai lầm gì "làm hại dân"?

Năm qua, Chính phủ có nhiều việc làm bị chỉ trích nặng nề như:

– Dung dưỡng các tập đoàn kinh tế làm ăn tùy tiện gây thất thoát lớn (hiện dư luận đang bức xúc về chỉ thị của Thủ tướng giải cứu sự sụp đổ của Vinashin).

– Quản lý kém làm cho nền kinh tế mất sức cạnh tranh (giá chi phí cho một đơn vị tăng trưởng cao gấp đôi, thậm chí gấp ba các nước Châu Á, Thái Bình Dương).

– Cho nước ngoài vào khai thác bauxite Tây nguyên gây bất an về quốc phòng và môi sinh; cho nước ngoài thuê rừng biên giới.

– Gần đây nhất là đề án đường sắt cao tốc bị toàn dân đặt ra nhiều nghi vấn...

Tuy nhiên tôi chỉ xin nêu ra đây một hiểm họa của đất nước: Tham nhũng – Giặc nội xâm!

Nếu chính phủ để tình trạng tham nhũng kéo dài và tăng lên vô hạn thì có phải là đã mang tội "làm hại dân"?

Tổng thống Mỹ, Thủ tướng Nhật bị mất chức chỉ vì “nghe lén” và “không thực hiện được một lời hứa”. Ngày 5-7-2010, Thủ tướng Hàn quốc từ chức vì đề án xây dựng một thành phố mới của ông đưa ra bị Quốc hội bác bỏ... So với người thì các vị lãnh đạo nước ta có lỗi nặng gấp nhiều lần, nhưng đã được xuê xoa quá mức, chính vì thế mà không có sức răn đe để sửa chữa sai lầm!

Vậy tìm điều kiện để thực hiện được tư tưởng Hồ Chí Minh “Nếu Chính phủ làm hại dân thì dân có quyền đuổi Chính phủ” chính là tìm đơn thuốc hiệu quả trị được chứng nan y tham nhũng và nhiều khuyết điểm khác của hệ thống chính trị.

Bài viết này bắt đầu từ tình trạng tham nhũng; xác định chân tướng, nhân thân kẻ tham nhũng; phân tích nguyên nhân bất trị của tham nhũng; và cuối cùng là đề ra phương thuốc đặc trị tham nhũng. Phương thuốc ấy tạo ra điều kiện và khả năng thực hiện thắng lợi tư tưởng Hồ Chí Minh.

1. Khuyến nghị quốc tế: kiểm soát quyền lực

Nghị quyết Đại hội 8 năm 1996 kết luận tham nhũng là một trong bốn nguy cơ đe dọa đất nước.

Gần 10 năm sau, tham nhũng phình to, câu kết nhau như thành như lũy, khiến nguyên Phó trưởng Ban Tuyên huấn Trung ương Đảng Trần Bạch Đằng kêu gọi: “Nã đại bác vào tham nhũng!” (Báo Tuổi trẻ xuân) với những lời lẽ thống thiết. Ông nói: "Tham nhũng đang đe dọa sự phát triển kinh tế cùng đạo đức xã hội"!

Gần một năm sau, tại Hội nghị Trung ương 3/7/2006, Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh nhận định: "Tham nhũng là một trong những nguy cơ lớn đe dọa sự sống còn của chế độ".

Ba năm sau nữa, ông Đặng Quốc Bảo – nguyên Ủy viên Trung ương Đảng – miêu tả hình dáng tham nhũng nằm lồ lộ ở nước ta với hai đặc trưng: (1) Kinh tế ngầm lộng hành, mafia cộng với cán bộ thoái hóa; (2) Bộ máy công quyền hư hỏng, vô cảm, tham nhũng, quan liêu, hách dịch, thiếu chuyên nghiệp, ít hiểu biết, xa rời nhân dân, dị ứng với dân chủ.

Các vị lãnh đạo Việt Nam cho rằng Đảng đã rất quyết tâm chống tham nhũng, nhưng do luật pháp còn bất cập, năng lực quản lý yếu, cán bộ bị sa sút đạo đức trong cơ chế thị trường, các hoạt động chống tham nhũng chưa đồng bộ.

Chủ tịch Nguyễn Minh Triết trong cuộc gặp Việt kiều dịp Tết 2010 nói: “Ở nước người ta đó thì muốn tiêu cực, muốn tham nhũng cũng khó, vì cái hệ thống luật pháp nó chặt chẽ. Còn ở Việt Nam mình thì có khi không muốn tham nhũng cũng động lòng tham".

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng nhận định: "Có bốn nguyên nhân dẫn đến tham nhũng là: thể chế còn sơ hở, thủ tục hành chính rắc rối, phiền hà, tinh thần phê tự phê bình còn yếu, đặc biệt là vai trò của cấp ủy Đảng và người đứng đầu chưa được thể hiện" (Báo Tuổi trẻ ngày 13-1-2008).

Liệu những nguyên nhân mà các vị lãnh đạo Việt Nam nêu ra đã đủ chưa?

Năm 2009, chương trình Hỗ trợ Phát triển của Liên Hiệp Quốc (UNDP) có một công trình nghiên cứu quan trọng về vấn đề tham nhũng ở Việt Nam và đã trao kết quả công trình cho Chính phủ ta. Công trình này nêu rõ hình tướng của tham nhũng ở Việt Nam. Xin tóm lược:

- Do kinh tế tăng trưởng cho nên dù cho nạn tham nhũng đang tràn lan vẫn ít được đề cập. Tham nhũng hủy hoại dần tính chính danh của chế độ.

- Nông dân biểu tình chống tham nhũng đất đai gia tăng, doanh nhân bực dọc nạn nhũng nhiễu gia tăng.

- Nền kinh tế tự do hóa, nhưng vai trò quản lý của Nhà nước không giảm đã tạo điều kiện cho tham nhũng.

- Tham nhũng xảy ra dưới 3 hình thức: Hối lộ – còn gọi là "bôi trơn"; tư nhân hóa bất hợp pháp tài sản Nhà nước trong chính sách cổ phần hóa; mua bán quyền lực.

- Quan hệ mờ ám giữa cán bộ chính trị và doanh nhân được gọi là "doanh nghiệp sân sau", "công ty gia tộc", “thế lực đen móc ngoặc với các phần tử biến chất trong bộ máy cầm quyền".

- Đảng và Nhà nước Việt Nam cho rằng thực thi kém hiệu quả việc chống tham nhũng là do luật pháp bất cập, đạo đức suy đồi trước kinh tế thị trường. Thực ra đó chỉ là những yếu tố liên quan, chứ không phải vấn đề trung tâm của tham nhũng.

Tham nhũng ở Việt Nam thực chất là một vấn đề mang tính hệ thống.

Biểu hiện của tính hệ thống là: Tham nhũng vận hành phổ biến, bình thường, không phải biệt lệ, không thể tiến hành công việc nếu không chịu dính với tham nhũng! Hầu hết những người vốn là tốt,nhưng khi nằm trong guồng máy họ cũng phải chấp nhận tham nhũng để tồn tại.

- Các văn bản pháp lý ở Việt Nam thường thiếu rõ ràng và chồng chéo. Không phải người soạn thảo kém, mà do hệ thống đòi hỏi phải như vậy để dễ dàng lạm dụng quyền lực, tham nhũng. Đó là tác động của các nhóm lợi ích có quyền lực lớn. Bà Phạm Chi Lan – nguyên tư vấn Văn phòng Chính phủ phát biểu trong cuộc Hội thảo hồi tháng 3/2009 cho rằng đó là cách các nhóm lợi ích “cài cắm lợi ích cục bộ khi soạn thảo luật, cơ chế”.

- Xu thế coi công quyền như công cụ làm giàu, nên tệ nạn mua quan bán chức tràn lan. Tập tục “một người làm quan cả họ được nhờ” đang sống lại.

- Lương thấp, đạo đức xuống cấp chỉ là nguyên nhân thứ yếu. Không làm rõ các quy định được, chừng nào cái “logic” đang chi phối hệ thống vẫn tồn tại.

Nâng cao tính minh bạch và kiểm soát quyền lực bộ máy công quyền là khuyến nghị mấu chốt của UNDP.

Nâng cao tính minh bạch gồm: công khai tài liệu thanh tra; nâng cao tính độc lập của thanh tra, của hoạt động tòa án, của cơ quan giám sát; coi trọng giải quyết tố cáo của dân; nâng cao vai trò xã hội dân sự, các cơ quan truyền thông giám sát hoạt động của nhà nước, khuyến khích công dân tố giác, khuyến khích báo chí dám đứng ra điều tra tham nhũng.

Để làm rõ thêm bộ mặt của tham nhũng, xin nghe bà Lê Hiền Đức (tên thật là Phạm Thị Dung Mỹ) sinh năm 1932, giáo viên nghỉ hưu, người được Tổ chức Minh bạch quốc tế tặng Giải thưởng Liêm chính năm 2009 kể:

“Các cấp trung gian nó bao che cho nhau, bảo kê cho nhau mình không thể cựa được. Tôi nhận đơn từ của nhân dân 63 tỉnh thành tố cáo đủ các mặt, đất đai nhà cửa... Thanh tra Nhà nước đã đến [nhà tôi] chở đi hồ sơ 214 vụ rồi, nhưng chưa thấy thông báo việc này việc kia được giải quyết. Có người đi kiện lúc 27 tuổi tới năm 54 tuổi mà vẫn chưa được giải quyết! Ông Bí thư quận Cầu Giấy có biết bao tội, là kẻ bảo kê cho bà Hiệu trưởng tham nhũng. Tôi báo cáo việc này với ông Bí thư Thành ủy Hà Nội thì hai tháng sau được tin ông quận này đã được chuyển công tác… Ở cấp nào bọn tham nhũng cũng có ô dù cả”!

Tham nhũng ở Việt Nam năm 2008 được Tổ chức Minh bạch toàn cầu xếp ở đầu trong nhóm 1/3 nước cuối bảng xếp hạng. Chỉ số thứ hạng từ năm 1997 - 2008 hầu như không đổi: 2,8; 2,6; 2,7. So sánh với các nước trong vùng thì điểm số của Việt Nam khá hơn Indonesia 5 bậc, hơn Philippines 20 bậc, xấu hơn Thái Lan 41 bậc, Trung quốc 49 bậc, Malaysia 74 bậc, Hongkong 109 bậc, Singapore 117 bậc. Năm 2009, Tổ chức Tư vấn Rủi ro chính trị, kinh tế (PERC) xếp Việt Nam là nước tham nhũng đứng thứ 3 Châu Á, chỉ khá hơn Indonesia và Campuchia, tụt lại sau Philippines. Chỉ số minh bạch về thị trường bất động sản thì Việt Nam xấu hơn Indonesia 22 bậc, Philippines 29 bậc, Thái Lan 31 bậc, Malaysia 54 bậc, Singapore 68 bậc.

2. Tham nhũng là ai?

Tham nhũng là hành vi của kẻ có chức quyền.

Ngày xưa là quan lại. Do đó, Luật Hồng Đức của Lê Thánh Tông có 40 điều chống tham nhũng (trong tổng số 722 điều) đều là dành cho quan lại chứ không phải cho thứ dân.

Ngày nay, kẻ tham nhũng là viên chức trong hệ thống cầm quyền. Tham nhũng nhỏ xảy ra ở người có chức quyền nhỏ. Tham nhũng lớn ở người có chức quyền lớn. Tuy không có quy định thành văn nhưng trong thực tế từ cán bộ cấp trưởng ấp, trưởng khu phố đến phó trưởng phòng của phường xã, đều phải là đảng viên. Do vậy bệnh tham nhũng trong thực tế lại chính là bệnh của đảng viên từ thôn ấp cho tới những cơ quan cao nhất! Nhiều đảng viên không làm công tác chính quyền, nhưng với cơ chế Đảng lãnh đạo toàn diện, họ có điều kiện tham nhũng còn hơn cả viên chức chính quyền. Vậy tham nhũng là bệnh của Đảng, của cả hệ thống chính trị.

Xin nêu ra đây một số nhận định của các nhà nghiên cứu về tham nhũng ở nước ta.

Giáo sư Yoshiharu Tsuboi người Nhật Bản – là nhà Việt Nam học có nhiều công trình sâu sắc – đã nói như sau về tham nhũng ở Việt Nam:

– “Tham nhũng ở Việt Nam không đơn thuần là vấn đề đạo đức mà là cơ cấu trong tổ chức, để loại được tham nhũng phải cải thiện lớn cơ cấu tổ chức và quản lý tài chính”.

– “…Khó thúc đẩy tình hình nếu như không có một số lợi nhuận cho các đảng viên và cán bộ chính quyền. Vì vậy Đảng Cộng sản Việt Nam phải làm ngơ ở mức độ nhất định trước vấn đề biển thủ hoặc tham nhũng của họ”.

– “...Số lượng tham nhũng quá đông, nếu toàn bộ các vụ tham nhũng bị lật tẩy thì hệ thống hành chính có nguy cơ ngừng hoạt động, thậm chí dẫn tới khủng hoảng chính trị. Do vậy nếu khoản tiền tham nhũng không cao quá mức và được chia đều cho những người dính líu thì chính quyền để yên cho họ”.

– “…Tham nhũng ở Việt Nam có thể tóm gọn là “Ai lại sợ đèn đỏ, khi tất cả đều vượt đèn đỏ”!

– “...Hệ thống được thành lập theo kiểu khi bên trong xuất hiện có người có khả năng phản đối tham nhũng thì tham nhũng sẽ được dùng làm lý do để loại bỏ người đó”.

– “...Bằng cơ cấu nuôi dưỡng tham nhũng, nhà cầm quyền đặt gần như toàn bộ người dân vào vị trí tội phạm tiềm năng, với cung cách phán xử tùy tiện, những ai làm mất lòng hệ thống tham nhũng có thể bị trừng phạt đúng theo pháp luật”!

Giáo sư Carl Thayer người Úc, một chuyên gia nghiên cứu Việt Nam có uy tín trên thế giới, cũng có bài viết về tham nhũng ở Việt Nam. Nhận xét các vụ án tham nhũng lớn như PMU 18, Đại lộ Đông - Tây, giáo sư nhận định: “Các vụ tham nhũng lớn ở Việt Nam có trung tâm bảo trợ của những hệ thống quyền lực gồm những đảng viên cao cấp và gia đình họ, và ngay trong luật lệ... Khi tham nhũng bị phơi bày, chúng đều được chỉ đạo giải quyết từ “bên trong cánh cửa”.

...“Trong vòng 5 năm có 12 ủy viên Trung ương bị kỷ luật liên quan đến tham nhũng, nhưng rất ít vụ bị đưa ra tòa. Qua hai kỳ Đại hội, 12 năm, tham nhũng đã tăng nhiều hơn. Nguyên nhân là do Đảng cộng sản Việt Nam chống thực hiện tam quyền phân lập (hành pháp, lập pháp, tư pháp) mà nắm trọn, kiểm soát cả ba quyền này”.

Các tác giả Lê Đăng Doanh, Nguyễn Trung, Phạm Chi Lan, Hoàng Ngọc Giao... cũng có những bài viết miêu tả rõ nét khuôn mặt tham nhũng đang ngự trên chiếc ghế quyền lực của đất nước. Những đảng viên còn giữ lòng tự trọng hẳn sẽ luôn cảm thấy căm giận và xấu hổ!

3. “Tham nhũng nã đại bác vào Đảng”

Chúng ta đều biết rằng chủ nghĩa Mác – Lênin không có khái niệm Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa mà chỉ có các hình thức Nhà nước chuyên chính vô sản được "vận dụng sáng tạo thích hơp với thực tiễn của mỗi quốc gia".

Nhà nước xã hội chủ nghĩa là Nhà nước tập quyền và Đảng hóa. Trong một bài nói ở Hội nghị Trung ương khóa 3, ông Lê Duẩn cũng cho rằng Đảng Cộng sản Liên Xô không coi trọng nhà nước.

Thật ra các nhà nước toàn trị đều đặt Đảng trên nhà nước, nghị quyết Đảng cao hơn pháp luật.

Luật sư Nguyễn Mạnh Tường phân tích nguyên nhân chính gây ra sai lầm lớn của cải cách ruộng đất ở Việt Nam là không dùng luật pháp mà dựa vào đấu tố. Vì nhận định đúng đắn ấy mà ông bị sa thải. Sau Đổi mới, cùng với sự hội nhập quốc tế, khẩu hiệu “Sống và làm việc theo pháp luật” mới được xuất hiện.

Mãi đến 29/11/1991, tại Hội nghị lần thứ 2 của Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa 7, Tổng Bí thư Đỗ Mười với tư duy bị trói bởi ý thức hệ đã khiên cưỡng lắp ghép từ “xã hội chủ nghĩa” vào "nhà nước pháp quyền”. Hơn 15 năm sau, tháng 4/2006, nghị quyết Đại hội 10 của Đảng Cộng sản Việt Nam đưa ra nội dung: “Xây dựng cơ chế vận hành của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, bảo đảm nguyên tắc tất cả quyền lực Nhà nước đều thuộc về nhân dân; quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công và phối hợp giữa các cơ quan Nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp… Xây dựng, hoàn thiện cơ chế kiểm tra, giám sát tính hợp hiến hợp pháp trong các hoạt động và các quyết định của các cơ quan công quyền”.

Tiến sĩ Hồ Bá Thâm đã thắc mắc rằng: kiểm tra, giám sát được đặt riêng ra như vậy, không rõ là nó nằm bên trong hay nằm ngoài hệ thống quyền lực nhà nước?

Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh công bố nội dung học thuyết Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa trong bài diễn văn ở phiên khai mạc kỳ họp thứ nhất Quốc hội khóa 12, ngày 19/7/2007. Nhiều nhà lãnh đạo của Đảng, Nhà nước Việt Nam đã viết bài lý giải học thuyết mới mẻ này.

Với cương vị là Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch nước, ông Trần Đức Lương có bài viết đăng trên tạp chí Cộng sản số 1 năm 2007 với tựa đề: “Xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân, ngày càng trong sạch vững mạnh là nhiệm vụ quan trọng thường xuyên của Đảng, nhà nước và nhân dân ta”. Xin trích ra đây một nội dung cơ bản:

“Một trong những điểm cơ bản của việc xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân là quyền lực Nhà nước thống nhất trên cơ sở phân công và phối hợp trong việc thực hiên quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Có thể hiểu rằng sự thống nhất là nền tảng, sự phân công và phối hợp là phương thức để đạt được sự thống nhất của quyền lực Nhà nước. Sự lãnh đạo của Đảng cũng nhằm đảm bảo cho sự phân công và phối hợp được thông suốt, tuân thủ Hiến pháp và pháp luật, đưa cương lĩnh, chủ trương, đường lối của Đảng vào cuộc sống”.

Các nhà nghiên cứu lý luận Việt Nam viết nhiều bài dẫn giải nội dung học thuyết Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, đưa ra những khái niệm lạ lẫm như “tam quyền phân hợp", "tam quyền phân hợp giám". Nói chung, những khái niệm phân lập, đối trọng không được phép đặt ra. .

GS. TS. Tô Xuân Dân và cán bộ Mặt trận Tổ quốc Trung ương Nguyễn Thanh Bình có bài viết chung nhan đề “Xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân dưới sự lãnh đạo của Đảng” (Tạp chí Cộng sản số 1/2007). Hai ông đưa ra 7 vấn đề có tính nguyên tắc để thực hiện đúng đắn Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Đọc dẫn giải 7 vấn đề thấy hai ông là những lý thuyết gia chính trị hơn là nhà luật học. Tôi đặc biệt chú ý đoạn văn sau đây của hai ông:

“...Vấn đề là ở chỗ, bản chất của Đảng cầm quyền thế nào, mục tiêu chính trị của nó có phải vì lợi ích chung của dân tộc, vì con người hay không và do đó có sẵn sàng tuân theo những quy định của pháp luật hay không; có đủ phẩm chất đạo đức để vượt qua các cám dỗ quyền lực to lớn mà một Đảng cầm quyền duy nhất có nhiều khả năng gặp phải hay không và nó có tự đặt ra và thực hiện được những lề luật nghiêm khắc cho chính mình hay không?”.

Nêu ra nội dung trên hai ông không nhằm cảnh báo nguy cơ đối với Đảng mà ngay sau đó đưa ra khẳng định: “Thực tiễn phát triển của xã hội ta, đất nước ta xác nhận và khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng. Hơn 74 năm qua Đảng thể hiện tập trung ý chí nguyện vọng và trí tuệ của toàn dân tộc”. Hai ông tin rằng: “Hoàn thiện những cơ sở pháp lý đó sẽ giúp tránh được bao biện, làm thay hay can thiệp không đúng nguyên tắc của cấp ủy và cán bộ Đảng vào công việc của chính quyền mà có thời kỳ nhiều nơi đã mắc phải”.

Thực tiễn đất nước 3 năm qua đã bác bỏ nhận định nói trên của hai ông, và chứng minh rằng số đông đảng viên cộng sản không thể “vượt qua các cám dỗ quyền lực to lớn”!

Tiến sĩ Hồ Bá Thâm trong bài “Dân chủ hóa, phân quyền hóa cơ cấu hệ thống quyền lực Nhà nước theo tư duy pháp quyền biện chứng” đăng trên Tạp chí Nghiên cứu lập pháp tháng 11/2009 đã nêu ra nhiều điều còn băn khoăn. Đặc biệt là đoạn văn sau:

“...Với thực tế nảy sinh tràn lan và kéo dài ngày càng trầm trọng tệ nạn tham nhũng, cửa quyền, quan liêu và lãng phí hiện nay trong hệ thống chính trị và trong xã hội ta,càng thấy thiếu sót lớn trong một cơ chế thiếu giám sát và kiềm chế quyền lực tệ hại như thế nào. Đó là chỗ hổng và yếu kém nhất trong cơ chế hệ thống tam quyền của Nhà nước, phải được khắc phục sớm bằng cả nhận thức và thể chế”.

Tuy nhiên, Dự thảo Văn kiện trình Đại hội 11 của Đảng Cộng sản Việt Nam về quyền lực Nhà nước vẫn na ná như nội dung văn kiện Đại hội 10: “Quyền lực nhà nước là thống nhất; có sự phân công, phối hợp giữa các cơ quan trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp; có cơ chế kiểm tra, giám sát trong việc thực hiện ba quyền đó”.

Thực tế hiểm họa “nội xâm”của đất nước đã chứng tỏ sự “liệt kháng” của thể chế phân công ba quyền thống nhất dưới sự lãnh đạo của Đảng. Xin dẫn chứng thêm hai câu chuyện:

(1) Cách đây 15 năm, ngày 16/11/1993, Bộ trưởng Tư pháp Nguyễn Đình Lộc trả lời phỏng vấn báo Lao động về việc “phải cấp bách cải cách Tư pháp để chấm dứt tệ nạn “thư tay gửi tòa án” và “những bản án bỏ túi” trước khi tòa xử. Cơ quan Nhà nước cũng như công chức Nhà nước khi thực thi công vụ phải trong khuôn khổ pháp luật và họ có thể bị kiện trước tòa nếu gây hại cho dân”.

Sau 15 năm cấp bách cải cách Tư pháp như ông Lộc nói, hiện trạng của quyền Tư pháp được thể hiện trong vụ án bà Ba Sương ở Cần Thơ là thế này:

UBND thành phố Cần Thơ có công văn số 1575/UBND -NC ngày 25/3/2008 nội dung: “Thực hiện ý kiến kết luận của thường trực Thành ủy tại Thông báo số 91-TB/VPTU ngày 20/8/2008, Chủ tịch UBND thành phố có ý kiến chỉ đạo như sau: Sau khi Thanh tra Thành phố chuyển một số nội dung sai phạm của Nông trường Sông Hậu sang Cảnh sát điều tra thì tổ chức họp báo, công khai với báo chí...”. Cơ quan Tư pháp các cấp đều không có phản ứng gì về cách chỉ đạo ấy, chỉ có nguyên Thủ tướng Võ Văn Kiệt gửi thư phản đối: Tôi không rõ có những lý do gì bên trong mà cơ quan Đảng chỉ đạo cơ quan điều tra khởi tố vụ án? Việc này phải do cơ quan điều tra hoặc Viện kiểm sát tiến hành chứ? (Có tin “lý do bên trong” mà cụ Võ Văn Kiệt hỏi là lãnh đạo Cần Thơ muốn tìm cớ để thu hồi đất của Nông trường Sông Hậu cho một dự án lớn!).

Như vậy là tệ nạn “thư tay”, “bản án bỏ túi” kiểu du kích thời Bộ trưởng Tư pháp Nguyễn Đình Lộc ngày nay đã được chính quy hóa thành những Công văn, Thông báo rất ngang nhiên!

(2) Ngày 19/9/1997, Thủ tướng Chính phủ có công văn số 4678/QT1 “chuyển khu dân cư ở số 2 Thụy Khuê, Hà Nội. Văn phòng Chính phủ xây dựng cơ sở hạ tầng tại khu đất phía sau khách sạn La Thành cho các hộ dân ở đó tái định cư”. Ngày 6/9/1998, Bộ trưởng Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ có quyết định số 498/QĐ-VPCP phê duyệt phương án bố trí diện tích đất cho từng hộ gia đình, nhưng danh sách này thiếu 11 hộ, trong đó có bốn hộ do các ông bà Nguyễn Xông Pha, Chu Quang Biên, Lê Lục Công, Trần Minh Hồng làm đại diện. Văn phòng Chính phủ có công văn 6403/VPCP-QT1 giao cho UBND quận Tây Hồ bố trí tái định cư cho 4 hộ dân nói trên. Bốn hộ dân này tìm hiểu biết rằng Văn phòng Chính phủ làm trái công văn Thủ tướng, cốt để thừa ra 233 m2 đất ở một ví trí đắc địa xây chung cư đưa ra bán giá cao cho 15 hộ dân không thuộc khu nhà số 2 Thụy Khuê. Ngày 21/9/2009, bốn hộ dân nói trên làm đơn khiếu nại gửi Bộ trưởng Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ, nhưng không được Bộ trưởng giải quyết. Ngày 2/11/ 2009, bốn hộ dân làm đơn gửi Tòa án nhân dân Hà Nội. Tòa án nhân dân Hà Nội thông báo trả lại đơn với lý do “Không thuộc thẩm quyền giải quyết bằng một vụ án hành chính tại Tòa án”. Bốn hộ dân khiếu nại Tòa án Hà Nội nhận lại đơn kiện, nhưng không được. Ngày 29/12/2009, bốn hộ dân gửi đơn kiện lên Tòa án nhân dân Tối cao. Tòa án nhân dân tối cao im lặng. Bốn hộ dân cầu cứu luật sư Cù Huy Hà Vũ. Luật sư Cù Huy Hà Vũ gửi hồ sơ vụ này lên Ủy ban Tư Pháp của Quốc hội. Và vụ việc được... nằm yên trên đó!

Vụ này không lớn, nhưng sự ách tắc của nó chứa 3 điều đáng suy ngẫm:

1/ Nó dính líu đến nhiều bộ luật: Luật đất đai, Luật khiếu nại tố cáo, Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính, Nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao...

2/ Nó liên quan đến ba nhánh quyền lực nhà nước là hành pháp, tư pháp, lập pháp mà không giải quyết được.

3/ Nó liên quan trách nhiệm của các Ủy viên Bộ chính trị, Ủy viên Trung ương Đảng, Thủ tướng, Bộ trưởng, Chánh án tòa tối cao, Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật mà vẫn bị tắc!

Điều ấy đủ để nói lên rằng, công thức pháp quyền xã hội chủ nghĩa hiện hành có nhược điểm lớn nhất là trao cho Đảng trực tiếp lãnh đạo cả ba quyền lực Nhà nước, tạo tình thế Đảng đứng trên pháp luật. Nhà tư tưởng Montesquieu từng cho rằng, khi quyền lực tập trung vào một mối, dù là một người, hay một tổ chức thì nguy cơ chuyên chế vẫn còn. Rõ ràng pháp quyền xã hội chủ nghĩa không tạo sức mạnh và uy tín cho Đảng mà nó tạo ra nguy cơ, tôi muốn dùng cách nói của ông Trần Bạch Đằng: “Hằng phút, hằng giờ tham nhũng nả đại bác vào Đảng”! Trong khi Đảng thì... ngay một nhà lý luận lớn của Đảng như Giáo sư Tiến sĩ Mạnh Quang Thắng cũng phải rầu buồn: “Thật đáng tiếc là cho đến nay vẫn còn một bộ phân không nhỏ cán bộ đảng viên suy thoái một cách nghiêm trọng...”.

4. Phải tam quyền phân lập mới có “thần linh pháp quyền”

Gần đây có nhiều bài viết tán dương việc cải cách tư pháp theo hướng không để tòa án ở cùng với cấp hành chính, cho rằng như vậy sẽ tránh được cơ quan hành pháp can thiệp vào việc xét xử của tòa án, và từ đó sẽ có tư pháp độc lập. Có đúng vậy không? E rằng những người nêu ý kiến này mới nhìn sự thật ở một nửa! Cần thẳng thắn đặt ra và bàn bạc thấu đáo trước thềm Đại hội 11 của Đảng là: Đảng có nên lãnh đạo tư pháp theo kiểu cầm tay chỉ việc như vậy hay không? Sự lãnh đạo của Đảng đối với quyền Tư pháp nên theo cách nào?

Mới đây, nguyên Ủy viên Bộ chính trị, nguyên Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Văn An có bài trả lời rất hay phỏng vấn của Thu Hà trên VietNamNet về việc sửa đổi Hiến pháp. Ông nói: “Còn quyền lực của cơ quan tư pháp thì sao? Trong thực tiễn thì nó yếu thế hơn các cơ quan lập pháp và hành pháp, và còn bị chi phối trong xét xử”.

Vậy ai chi phối? Và để chi phối được tư pháp, họ có cần phải ở cùng một cấp hành chính hay không? Nếu họ ở trên một cấp, hoặc trên hai, ba cấp hành chính, ở tận Hà Nội thì họ có thể chi phối được tòa án ở các tỉnh thành phía Nam hay không?

Mặc dù rất dè dặt khi phân tích những nguyên nhân yếu kém của quyền tư pháp, Tiến sĩ Hồ Bá Thâm cũng đã nêu ra một ý kiến rất đáng suy nghĩ về sự lãnh đạo của Đảng đối với quyền tư pháp: “Hơn nữa, khi đường lối của Đảng đã được cụ thể hóa thành Hiến pháp thì Hiến pháp là cao nhất chứ không phải Đảng cầm quyền khi thực thi quyền lực Nhà nước”.

Tiến sĩ Hồ Bá Thâm đã chỉ đúng chỗ mắc mứu lớn chính là vì học thuyết Pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã đặt “việc thực hiện ba quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam”. Lẽ ra sự lãnh đạo của Đảng chỉ nhằm đưa ra quan điểm lớn là: “Phải làm thế nào để thực hiện cho được quyền tư pháp độc lập, thượng tôn pháp luật, không chấp nhận bất cứ sự chi phối nào ngoài pháp luật”.

Với tinh thần nói thẳng, nói thật có từ Đại hội 6 - Đổi mới, nhưng từ đó đến nay không được nuôi dưỡng tốt, tôi muốn tiếp lời Tiến sĩ Hồ Bá Thâm đặt ra câu hỏi vốn rất kiêng kỵ này: Tại sao chúng ta không chấp nhận tam quyền phân lập? Đó là kết tinh tư tưởng cao cả của các hiền triết thời cổ đại từ Platon, Aristotle cho đến các nhà tư tưởng thế kỷ 18 như Lock, Montesquieu, J.J. Rousseau, Kant, Hegel... đã trở thành tài sản vô giá của toàn nhân loại trong tiến trình tranh đấu tìm đến Dân chủ - Tự do. Chính Marx, Engels lúc cuối đời cũng chấp nhận các phương pháp đấu tranh nghị trường trong thể chế của Nhà nước pháp quyền. Cương lĩnh của Quốc tế xã hội dân chủ do Engels sáng lập đã được phát triển và vận dụng ở nhiều nước, có xây dựng Nhà nước tam quyền phân lập, đưa các quốc gia ấy trở thành dân chủ, giàu mạnh. Sự nghiệp Đổi mới của chúng ta thực ra cũng đã vận dụng nhiều bài học của chủ nghĩa xã hội dân chủ, rất tiếc lại không vận dụng bài học xây dựng Nhà nước theo Tam quyền phân lập!

Tại sao? Vì sợ mất đi tính thống nhất của quyền lực Nhà nước chăng? Không đúng! Tính thống nhất của Nhà nước chính là lý tưởng của dân, do dân, vì dân. Một nền tư pháp độc lập mạnh mẽ sẽ kiềm chế được sự lạm quyền của hành pháp, hoặc sự vi hiến của lập pháp, sự bạc nhược của tư pháp thì đó mới là bảo vệ thành công sự thống nhất lý tưởng xây dựng một nhà nước của dân, do dân, vì dân!

Sợ mất đi trách nhiệm “phân công quyền lực”? Ai phân công? Các nghị quyết của Đảng đều dùng từ “phân công”. Bài viết của nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Văn An cũng dùng từ “phân công quyền lực”. Tuy không nói rõ chủ thể phân công, nhưng Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo Nhà nước thì mặc nhiên phải hiểu rằng Đảng phân công ba quyền lực Nhà nước. Đúng ra, phải dùng từ phân quyền (decentralize) vốn là một thuật ngữ đã phổ biến thế giới về nhà nước pháp quyền. Còn từ phân công (to divide the work) là để chỉ việc phân chia lao động như phân công lao động theo ngành, giới tính, vùng đất, phân công lao động quốc tế... Có ý kiến cho rằng từ “phân công” tỏ ra nhẹ nhàng hơn "phân quyền" (Tiến sĩ Hồ Bá Thâm). Nhưng ở đây điều cần đạt tới không phải là cảm giác "nặng”hay "nhẹ”mà rất cần đạt được sự chính xác của thuật ngữ quốc tế giữa thời hội nhập toàn cầu.

Sợ mất sự “phối hợp”, tạo nên “sức mạnh tổng hợp” vốn là truyền thống? Xin thưa, các lý thuyết phân quyền chỉ nhấn mạnh kiềm chế, kiểm soát, đối trọng. Nếu muốn nói đến sự phối hợp thì cũng có thể tìm thấy được: Khi cả ba quyền kiểm soát, kiềm chế lẫn nhau sẽ bật lên một sức mạnh tổng hợp kéo nhà nước đang ở trên đầu nhân dân, phải hạ xuống nằm bên dưới luật pháp!

Sao lại kiêng kỵ tam quyền phân lập đã có mầm mống hằng ngàn năm, được hoàn chỉnh hằng trăm năm, tạo ra sự phân quyền cân bằng và độc lập giữa ba quyền lực nhà nước (Lập pháp, Hành pháp,Tư pháp), quyền lực này kiểm soát, kiềm chế quyền lực kia, tránh xảy ra lạm quyền, chuyên quyền, độc quyền, đảm bảo cho sự tự do chính trị của Nhà nước được lập nên từ quyền lực nhân dân?

Sợ thực hiện tam quyền phân lập sẽ làm cho ba quyền ấy vuột khỏi tầm tay lãnh đạo của Đảng? Rất sai! Trước hết, nó làm cho chúng ta có một Nhà nước dân chủ đáp ứng nguyện vọng của nhân dân và phù hợp với xu thế thời đại. Xu thế thời đại là: Pháp luật đứng trên Nhà nước. Chính quyền phục vụ nhân dân chứ không phải hành dân. Chính phủ có trách nhiệm tìm chính sách phù hợp để phát triển đất nước nâng cao phúc lợi nhân dân và bảo vệ an ninh Tổ quốc. Người dân được làm mọi việc mà luật pháp không cấm, còn chính quyền chỉ được làm đúng theo quy định của pháp luật. Quốc hội chỉ tuân thủ Hiến pháp lập nên từ ý chí, nguyện vọng và quyền lợi của nhân dân. Quốc hội không giơ tay theo nghị quyết đã có sẵn, để bị mang tiếng là nghị gật!

Hệ thống tư pháp độc lập ngăn chặn những việc làm sai trái của hành pháp và lập pháp gây hại cho quyền lợi và tự do của công dân. Tòa án độc lập xét xử mọi tranh chấp và mâu thuẫn xã hội theo luật pháp và chỉ tuân theo luật pháp, cho nên được coi là “thành trì của tự do”. Hôm qua, 6/7/2010, Chủ tịch Nguyễn Minh Triết nói với Hội nghị cải cách tư pháp, dặn rằng việc đầu tiên là phải bồi dưỡng một đội ngũ cán bộ tòa án trong sạch, vững vàng. E rằng điều ông dặn chỉ là vấn đề thuộc vào thứ yếu.

Lịch sử xây dựng quyền tư pháp của nhân loại đã chứng tỏ rằng, Bao Công chỉ xuất hiện được từ cơ chế. Cơ chế mới là vấn đế số một, vấn đề đầu tiên! Cơ chế tam quyền phân lập, dùng quyền lực hạn chế quyền lực, sẽ buộc được các Tổng Bí thư, Thủ tướng cũng như phó thường dân khi tòa gọi phải nhanh chóng kíp hầu tòa. Không còn chuyện Tòa án Hà Nội, rồi cả Tòa án tối cao đều bó tay không gọi nổi Thủ tướng! Như vậy có làm giảm quyền lãnh đạo của Đảng? Không! Vụ Quốc hội bác bỏ dự án Đường sắt cao tốc vừa qua đã làm cho nhân dân tin Đảng đã tôn trọng ý dân, đã có thêm động lực để “Đảng phải gần dân, hiểu biết dân, học hỏi dân” (Hồ Chí Minh). Nhân dân sẽ thấy Nhà nước của dân, do dân, vì dân không phải chỉ ở khẩu hiệu mà đã là sự thật nhìn thấy. Sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước nhận được thêm năng lực mới. Quyền Tư pháp độc lập sẽ góp một trong những sức mạnh lớn nhất tẩy trừ tham nhũng. Đảng thải loại được lũ sâu mọt thoái hóa đang ẩn náu trong hàng ngũ của mình. Đảng viên sẽ gồm những người liêm khiết trong mắt của nhân dân. Hồ Chí Minh nói “chống tham ô lãng phí quan liêu là dân chủ”, có ý nghĩa như vậy. Nhân dân sẽ công nhận Đảng tích cực đổi mới toàn diện, từ đó mà tính chính danh được nâng lên.

“Nếu Chính phủ làm hại dân thì dân có quyền đuổi Chính phủ”! Với tam quyền phân lập, “trăm điều phải có Thần linh pháp quyền” (Hồ Chí Minh), tư tưởng ấy sẽ hiện diện trong đời sống, nâng cao quyền dân, làm trong sạch Đảng, tăng cường sinh lực Nhà nước. Há chẳng phải là một việc cấp bách mà Đại hội Đảng rất cần quan tâm?

Đến đây, xin dùng một danh ngôn đã có sức sống 2500 tuổi của nhà hiền triết Platon thay cho lời kết: “Tôi nhìn thấy sự sụp đổ nhanh chóng của Nhà nước ở nơi nào mà pháp luật không có hiệu lực và nằm dưới quyền lực của một ai đó. Còn ở nơi nào mà pháp luật đứng trên các nhà cầm quyền và các nhà cầm quyền chỉ là nô lệ của pháp luật thì, ở đó tôi thấy có sự cứu thoát của Nhà nước”.

T. V. C

câu chuyện tiền và toán

Ngô Bảo Châu-Đoàn Nguyên Đức, VN cần ai hơn?

Chủ nhật, ngày 29/08/2010, 15:05

(Tin tuc 24h) - Đưa ra một vấn đề như thế này, thoạt đầu cứ nghĩ là một sự so sánh khập khiễng. Một nhà khoa học nổi tiếng thế giới đoạt giải thưởng “Nobel Toán học”, trong đầu luôn tồn tại suy nghĩ phát kiến ra một vấn đề khoa học có giá trị. Và, người còn lại là một thương gia nổi tiếng top đầu Việt Nam, với tầm đã vươn ra thế giới, trong đầu luôn tồn tại suy nghĩ sẽ làm cách nào phát triển thương hiệu, của cải và sản sinh lợi nhuận tốt nhất. Nhưng, Việt Nam sẽ cần ai hơn?

Cái tên Ngô Bảo Châu, một tài năng toán học đặc biệt Việt Nam đã được giới truyền thông trong và ngoài nước nhắc đến suốt trong thời gian qua. Thời thơ ấu của Giáo sư như thế nào, học ở đâu, con đường khoa học phát triển ra sao… đều tràn ngập trên khắp phương tiện thông tin đại chúng. Có thể nói con đường đi đến thảm hoa hồng của GS. Ngô Bảo Châu hầu như chỉ đi theo một đường thẳng, được đào tạo trong môi trường tốt nhất của Toán học và để giành lấy những vinh quang cao nhất trong Toán học.

Còn đại gia Đoàn Nguyên Đức lại là câu chuyện khác. Con đường ông đi xây đắp cho thương hiệu Hoàng Anh Gia Lai (HAGL) đạt đỉnh cao lại gian nan thăng trầm. Xuất thân là một cậu bé chăn trâu nghèo khổ trên cánh đồng bên cạnh sân bay Phù Cát, tỉnh Bình Định. Rồi ông gặp thời phất lên (điều quan trọng của sự thành công của một thương gia). Khởi đầu sự nghiệp của người đàn ông được mọi gọi thân mến bằng cái tên ông Ba Đức chỉ là việc trực tiếp điều hành một phân xưởng nhỏ, chuyên đóng bàn ghế cho học sinh tại xã. Rồi, Ba Đức trở thành ông chủ của Tập đoàn HAGL – một tập đoàn tư nhân – hoạt động trong nhiều lĩnh vực, doanh thu kể từ năm 2005 đã vượt quá 1.200 tỷ đồng, các năm sau đều cao hơn năm trước và dự kiến năm nay có thể lên đến 4.000 tỷ đồng. Các sản phẩm của HAGL group như đồ gỗ nội – ngoại thất cao cấp; đá granit ốp lát tự nhiên, mủ cao su… đã có mặt hầu khắp các thị trường các châu lục. Những phi vụ gần đây nhất của Ba Đức như việc ông mua chân sút số một Đông Nam Á Kiatisak và trả lương đến 15.000 USD/tháng vào năm 2002; hợp tác với CLB bóng đá nổi tiếng của Anh Arsernal để mở Học viện bóng đá HAGL Arsenal JMG vào năm 2007 và cú “ra đòn” mua và sở hữu chuyên cơ riêng đầu tiên ở Việt Nam… khiến tiếng tăm của Đoàn Nguyên Đức cũng như HAGL nổi như cồn cả ở Việt Nam và trên thế giới.

Triết lý, quan điểm của cả hai người này chắc chắn cũng là khác nhau.

Nhưng điều quan trọng, ở thời điểm này, ai là người mang đến nhiều lợi ích hơn cho Việt Nam?

Thành công của GS. Ngô Bảo Châu mang đến tiếng tăm vang dội cho một đất nước nhỏ bé, trải qua nhiều gian khó như Việt Nam trước thế giới. Đây sẽ là bệ phóng, mục tiêu hướng đến cho những học sinh, sinh viên đang theo đuổi con đường học tập, thậm chí đang cảm thấy hoang mang trước tương lai của mình. Còn Ba Đức, lợi ích ông tạo ra có phần trực tiếp hơn. Đó là việc làm, là cơ hội tỏa sáng, đổi đời cho những trẻ em nghèo đam mê quả bóng tròn, là những công trình địa ốc phục vụ cho nhu cầu của mọi người, góp phần thay đổi diện mạo mới đô thị phát triển. Sự lựa chọn, vì thế sẽ có rất nhiều, tùy thuộc vào quan điểm của mỗi người.

Còn sự lựa chọn nào nữa?

Trước khi GS. Ngô Bảo Châu đoạt giải thưởng Fields, có một sự kiện khá đặc biệt đã diễn ra. Đó là việc ĐH Quốc gia TP.HCM thành lập Trung tâm xuất sắc John Von Neumann. Trung tâm xuất sắc đã được thành lập rất nhiều nơi trên thế giới, là nơi quy tụ những nhà khoa học hàng đầu của quốc gia, nơi đào tạo ra nhiều nghiên cứu sinh có chất lượng nhất, là môi trường tốt nhất để nghiên cứu khoa học. Tất nhiên điều này được xem là muộn màng nhưng rồi có thể Việt Nam lại có những Ngô Bảo Châu thứ 2, 3….n.

GS. TS Dương Nguyên Vũ – Giám đốc Trung tâm xuất sắc John Von Neumann tại Việt Nam cũng là một nhà khoa học có tên tuổi trong cộng đồng châu Âu. Ông nguyện đứng ra thành lập Trung tâm này để thu hút chất xám của nhiều nhà khoa học khác trên thế giới đóng góp cho đất nước. Nhưng để tạo ra một môi trường đúng chuẩn, có thể tạo điều kiện tốt nhất cho các nhà khoa học làm việc và phát triển thì còn phải đối mặt với rất nhiều khó khăn. Mặc dù được ĐH Quốc gia TP.HCM tạo cho cơ chế hoạt động độc lập, riêng rẽ, trả lương theo mức đặc biệt (lấy từ nguồn chuyển giao các đề tài Nghiên cứu khoa học), nhưng rõ ràng như thế vẫn chưa đủ. Nếu như Trung tâm xuất sắc này nhận được sự đầu tư của những doanh nghiệp tại Việt Nam, chắc chắn sẽ hoạt động tốt và có hiệu quả hơn rất nhiều. Sự đầu tư ấy cũng giống như sự đầu tư của Bầu Đức dành cho học Viện bóng đá HAGL Arsenal JMG. Chỉ có điều, thay vì làm bệ phóng ước mơ cho những trẻ em nghèo mê bóng đá, thì John Von Neumann sẽ trở thành bệ phóng cho những Ngô Bảo Châu của tương lai.

Một mục tiêu giáo dục để có thể tạo nên một Ngô Bảo Châu tương lai, chắc chắn sẽ phải cần nhiều người có tiềm lực, thực lực như Đoàn Nguyên Đức. Khi những doanh nhân này góp tay vào (như trường Hạt giống lãnh đạo IPL mà trường doanh nhân PACE khởi xướng trước đó), mục tiêu này sẽ thành công nhanh hơn rất nhiều.

Việc lựa chọn ai giữa Ngô Bảo Châu và Đoàn Nguyên Đức lúc ấy sẽ không còn cần thiết mà sẽ trở thành việc lựa chọn cách nào mà cả hai người đặc biệt này đều có thể giúp ích cho đất nước. Một nhà khoa học nổi tiếng thế giới, một doanh nhân có tiềm lực mạnh mẽ cùng góp tay vào, tất nhiên nền tảng giáo dục sẽ được nâng cao, lớn đến mức khó mà tưởng tượng.

Vậy còn bạn, giữa Ngô Bảo Châu và Đoàn Nguyên Đức, bạn chọn ai?

Ông bầu của đội bóng HAGL đã từng phát biểu: “Chính vì thi rớt đại học (ông Đức thi rớt ĐH 4 lần – PV), tôi lại thành đạt như bây giờ. Tôi có đọc cuốn sách viết về 100 tỷ phú thế giới, thấy có ai học đại học được đâu. Ông trùm máy tính của thế giới là Bill Gates giỏi lắm cũng mới học nửa chừng năm thứ hai của Đại học Harvard rồi bỏ học. Riêng tôi lại rất thích câu nói: Trường đại học của tôi chính là trường đời!.

Còn GS. Ngô Bảo Châu, trong một cuộc đối thoại với thương gia Nguyễn Trung Hà, một nhà đầu tư có tiếng ở Hà Nội, từng là một học sinh giỏi Toán quốc tế 20 năm trước (không phải người không hiểu biết về khoa học), đã có một số quan điểm khá đối lập. Ông Hà cũng là tiêu biểu cho nhiều doanh nhân khác và càng gần hơn với suy nghĩ của ông Ba Đức. Đó là quan điểm xã hội này cần tài chính, cần kinh tế hơn nhiều so với Toán học và “Toán là một trò chơi” (lời ông Nguyễn Trung Hà). Còn với GS. Ngô Bảo Châu, dĩ nhiên giáo dục mới là một trong ba thứ quan trọng nhất của xã hội, bên cạnh quốc phòng và y tế.

3 thg 8, 2010

Ờ nhỉ, sao mình thành nhà văn?

Phạm Toàn

clip_image002

Sức mạnh bí ẩn của ngôn từ là sự kín đáo đích thực

Nhà văn hãy tránh điều nguy hiểm hơn thế, cái sự tự mình thổi bay mất chính mình.

__________

Chẳng có trường nào dạy con người thành nhà văn

Viết văn là một nghề, bây giờ ai ai cũng biết cả! Thế nên tranh cãi Hội Nhà văn là hội nghề nghiệp hay kiểu hội gì mới thực gây cười!

Có điều, xưa nay chẳng có trường nào dạy con người thành nhà văn cả. Do hoàn cảnh lịch sử, và do văn chương trở thành một ngạch của tuyên truyền giáo dục quần chúng, nên mới có Trường viết văn Gorky ở Liên Xô cũ. Song người ta quên mất một điều rằng, cả ở Trường Gorky cũng như ở Trường viết văn Nguyễn Du sau này, các học viên đều đã thành nhà văn trước khi về học nghề văn ở hai trường ấy.

Nhận xét này không nhầm nếu theo dõi tác phẩm khóa Nguyễn Du đầu tiên với học trò là những chàng trai, cô gái phong trần từng viết văn và làm thơ giữa hoang tàn thành cổ Quảng Trị hay dưới bóng những cây kơ-nia bị B52 bầm dập! Ở khóa này, không thấy những người thích nổi danh trước khi có tác phẩm nổi tiếng, thích vào Hội Nhà văn trước khi thừa điều kiện là hội viên.

Cuộc Chiến Tranh Của Hồ Chí Minh Đánh Dân Tộc

http://quanvan.net/index.php?view=story&subjectid=27188


1 thg 8, 2010

Thư giãn Chủ nhật: Viết nhân ngày 1 tháng 8
Huỳnh Văn Úc
- Ngày 1 tháng 8 là ngày kỷ niệm sự kiện gì mà anh lại có bài viết?
- Đó là ngày giỗ của Hà Tây.
- Hà Tây là ông nào bà nào mà ngày giỗ lại quan trọng đến mức anh phải viết bài?
- Không phải ông cũng chẳng phải bà mà là tỉnh Hà Tây, đến 1 tháng 8 năm nay là ngày
giỗ lần thứ hai. Nhân ngày giỗ đầu tỉnh Hà Tây (1-8-2009) Phạm Việt Long, một nhà giáo đáng kính ở Thường Tín, Hà Tây (cũ) viết bài điếu văn tên là ĐIẾU HÀ TÂY TỈNH. Bài điếu văn bắt đầu bằng câu: Hỡi ơi! Thế cục xoay vần, càn khôn dời đổi, bước thịnh suy hồ dễ mấy ai hay. Và ở đoạn kết, cũng theo khuôn mẫu các bài văn điếu, tác giả viết: Dù ở đâu giữa đất trời muôn thuở/Xin Người về chứng giám. Hà Tây ơi!/Thượng hưởng!
- Thế còn đoạn giữa có gì đặc sắc?
- Bài văn điếu hơi dài, tôi dùng word count đếm được 4426 từ nên không thể trích dẫn hết những câu hay. Đại khái tác giả tỏ ra nuối tiếc: Đã từng trải bao phen sóng gió, tưởng vĩnh hằng trụ thế với thời gian/Ai ngờ đâu bèo dạt mây tan, một quyết định tiễn về miền ký ức/Nhớ tỉnh xưa/Sừng sững Ba Vì trấn biên cương phía Bắc, thánh Tản Viên uy ngự chốn linh thiêng/ Một rẻo Tây Nam mây nước miên man, Hương Tích động mở một trời Phật pháp. Anh còn nhớ bài hát “Hà Tây quê lụa” của Nhật Lai không ? Cái bài hát có giai điệu mềm mại, mượt mà, êm mát tựa lụa Hà Đông của ông nhạc sĩ người miền Nam ấy một thời được dùng làm nhạc hiệu của Đài Truyền hình Hà Tây, nói thật với anh lần nào nghe Quốc Hương hát bài ấy tôi cũng xúc động. Đan Phượng ơi!Quê hương người gái đảm/Đồng hợp tác xanh tươi cấy cày thẳng tắp/Anh phi công bàng hoàng ngỡ mình bay trên gấm vóc Hà Tây! Cửa ngõ Thủ đô… Cái cửa ngõ ấy nay biến thành nhà như trong bài văn điếu đã viết: Đã chao đảo mấy phen hợp tán, liệu còn không khi biến ngõ thành nhà/Hạnh phúc chăng khi thuyền mới ghé qua, phận làm hai đã bá truyền đại chúng. Phận làm hai là gì? Là Hà Nội 2 đấy anh có biết không? Anh nên tìm đọc để ngâm nga thưởng thức.
- Tôi sẽ đọc. Nhưng ngoài cái bài văn điếu ấy ra anh còn chuyện gì để kể không?
- Có! Bài văn điếu ấy làm tôi nhớ đến một chuyện cổ tích. Một hôm tên hề kể cho Tể tướng nước Vệ nghe câu chuyện cổ tích.
- Nước Vệ là nước nào? Có phải là một nước thời Chiến quốc thất hùng không?
- Không phải, Chiến quốc thất hùng là Hàn, Ngụy, Sở, Tần, Tề, Triệu, Yên. Nước Vệ tồn tại sớm hơn, đó là một quốc gia chư hầu của nhà Chu, nhà vua đầu tiên của nước này là Vệ Khang Thúc (1040 TCN), ông này là con của Chu Văn Vương, em cùng mẹ với Chu Vũ Vương, dùng chính sách khải dĩ Thương chính, cương dĩ Chu sách, nghĩa là tuân theo chính trị nhà Thương nhưng áp dụng kỷ cương nhà Chu nên thế nước vững vàng. Truyền ngôi đến thời Vệ Vũ công (812-758 TCN) thì nước Vệ là một nước cường thịnh, từng xuất binh phò Chu bình Nhung. Đến năm 661 TCN do Vệ Ý công ăn chơi trụy lạc, ngược đãi công thần, lòng dân ly tán, người Địch cho quân đánh chiếm, Vệ Ý công bị quân Địch giết chết, nước Vệ mất. Sau nhờ Tề Hoàn công giúp đỡ lập lại nước năm 659 TCN nhưng chỉ là một tiểu quốc yếu ớt, hết làm chư hầu nước Tề lại làm chư hầu nước Ngụy.
- Anh có vẻ thuộc sử Tàu nhỉ?
- Còn thua xa bọn trẻ con, chúng nó suốt ngày xem phim dã sử Trung Quốc, còn thạo bằng mấy mình. Bây giờ tôi tiếp tục câu chuyện cổ tích. Tên hề kể cho Tể tướng nước Vệ nghe chuyện Cây tre trăm đốt.
Ngày xửa ngày xưa nhà phú ông có cô con gái rất đẹp. Phú ông thuê một lực điền làm người ở. Phú ông keo kiệt không trả tiền công mà đưa ra một miếng mồi nhử nên bảo với chàng: “Mày chịu khó làm ăn chăm chỉ rồi sau ba năm ta sẽ gả con gái cho”. Chàng lực điền tin lời (thì nông dân thời nào mà chả thế, ngây thơ cả tin lắm!) nên ra sức cày cấy làm giàu cho phú ông. Ba năm trôi qua, phú ông không giữ lời hứa mà lại đem con gái gả cho người khác. Sáng hôm sắp đưa dâu, phú ông bảo thằng ở: “Mày chịu khó lên rừng chặt về đây cho ta cây tre có trăm đốt rồi ta gả con gái cho”. Chàng lực điền vào rừng ngồi khóc. Có Bụt hiện lên hỏi: “Làm sao con khóc?”. Sau khi biết rõ sự tình Bụt bảo chàng chặt một trăm đốt tre rồi cho chàng câu thần chú “Khắc nhập, khắc nhập”, một trăm đốt tre nhập lại thành cây tre trăm đốt. Chàng lực điền lại khóc vì không thể đưa cây tre về nhà. Bụt lại cho câu thần chú: “Khắc xuất, khắc xuất”, cây tre lại rời ra thành trăm đốt…
Nghe đến đấy Tể tướng nước Vệ xua tay bảo thằng hề:
- Thôi thôi! Mày đừng kể nữa. Chàng lực điền ấy chính là ông tổ bốn đời của tao đấy!
Hà Nội 2010
HVU

Mong mỏi của số đông khán giả truyền hình

Mong mỏi của số đông khán giả truyền hình
Sát Thát
Kính gửi Đài Truyền hình Việt Nam.
Tối ngày 30-7-2010 vào 23h Đài Truyền hình Việt Nam kênh VTV2 có đưa một phóng sự gần 60 phút nói về cuộc sống hạnh phúc của ngư dân Trung Quốc đánh cá ở vùng hồ Bai Zan giá lạnh bên Trung Quốc. Phóng sự mô tả công việc vất vả khoét băng trên mặt hồ và thả lưới vớt cá của họ, nhưng rất dễ chịu vì hồ nhiều cá, và họ đạt thành quả lao động rất tốt. Ngư dân Trung Quốc không bị ai đánh đập cướp bóc hành hạ, họ rất tự hào và tự tin khi nói về mình.
Trạnh lòng xót xa nghĩ về ngư dân Việt Nam khốn khổ của chúng ta, khi ra vùng biển của Việt Nam đánh cá bị Hải quân Trung Quốc cướp bóc đánh giết cả hơn trăm lần nhiều năm qua… mà không có ai bảo vệ họ. Những con người cơ cực ấy vay mượn thế chấp nhà cửa để rồi trắng tay và mang bệnh tật vào thân sống dở chết dở và được vinh danh là cột mốc sống bảo vệ lãnh hải. Nhìn những ngưòi vợ người con gia đình ngư dân Trung Quốc hớn hở đón bố mang cá về đối lập với hình ảnh những người phụ nữ ngư dân Việt Nam gầy gò khóc cạn nước măt ôm con ôm cháu ngóng chồng con đang bị hành hạ bởi người Hán, không biết sống chết ra sao mà thấy sôi máu và thương xót. Ngư dân Việt Nam ta bao giờ mới hết kiếp nạn này???
Và không hiểu tại sao Đài Truyên hình Việt Nam hoàn toàn có khả năng làm một phóng sự về cuộc sống cơ cực khốn khổ của ngư dân Việt Nam do bị Trung Quốc cướp bóc bất công bất nhân đã từ rất lâu đến thân tàn ma dại trắng tay nhiều lần, để phát lên cho mọi tầng lớp nhân dân cả trong và ngoài nước đều biết đến sự thực đau lòng này, mà vẫn chưa thấy làm nhỉ? Truyền hình ngày nay với hình ảnh chân thực sống động sẽ là kênh thông tin phổ thông hữu hiệu nhất, nhanh nhất, hiệu quả nhất về Vấn Đề Nóng Bỏng Của Đất Nước đến mọi tâng lớp nhân dân. Vậy rất mong Truyền hình Việt Nam làm một phóng sự tiêu biểu phát lên cho dân Việt Nam trong và ngoài nước cũng như cho thế giới biết ngư dân chúng ta khốn khổ thế nào, đó cũng chính là việc cần thiết nhằm khẩn cấp lên án với thế giới về kẻ ác tâm hiểm độc, cũng là lời tuyên bố chủ quyền đanh thép nhất, hơn là lúc nào cũng chỉ thấy nột cái mặt bà Phương Nga hiện lên nói đi nói lại độc một câu: “Việt Nam có đầy đủ bằng chứng chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa…”
Các Cụ nhà ta đã dạy “trăm nghe không bằng một thấy”.
Rất mong Đài Truyền hình Việt Nam làm điều gì đó thiết thực cho ngư dân đau khổ Việt Nam. Và đây cũng là lúc cần dũng cảm cho nhân loại tiến bộ biết đến những hình ảnh đáng kêu cứu của dân tộc ta trước sức ép từ bốn phía của một ông láng giềng hùng mạnh nhưng đầu óc đen thui hơn nhọ và tâm địa thì thăm thẳm như đường vào địa ngục, trên con đường đó lả tả rơi vãi nào “4 tốt” nào “16 chữ vàng”.
ST
HT Mạng Bauxite Việt Nam biên tập

Tổng số lượt xem trang

free counters