Kính gửi các anh Nông Đức Mạnh, Trương Tấn Sang
và Nguyễn Minh Triết rất kính mến,
Đồng kính gửi các anh Bộ Chính trị và Ban CH TƯ
(Kính nhờ Văn phòng TƯ sao gửi giúp)
Giữa thể chế chính trị và triển khai thực hiện có những đặc điểm rất khác nhau. Nếu mạnh mẽ chỉ đánh vào sai trái của "Triển khai", mà để nguyên "Thể chế cũ" thì rồi ông nào lên ngôi, mà thể chế chính trị không thay đổi căn bản, vẫn giữ Cương lĩnh cũ trước đây 20, 30 năm (chỉ tu chỉnh từ ngữ), thì rồi tình trạng đất nước vẫn vậy mà thôi. Chứng cớ: Chỉ sau 6,7 năm, không cải cách thể chế chính trị kịp thời, thì Vinashin lại còn sai trầm trọng gấp hàng trăm lần Lã thị Kim Oanh !
Vì vậy, đồng thời với chỉ trích mạnh mẽ và khắc phục sai lầm của "Triển khai", cũng cần nhanh chóng "loại bỏ" cái phần sai của thể chế chính trị lạc hậu.Tôi xin gửi các anh 2 hiến kế:
- Một là về thể chế, ta nên quá độ "Độc đảng cầm quyền" để ổn định, song không "Độc quyền toàn trị thiếu dân chủ" (thực hiện dĩ bất biến, ứng vạn biến) thì mới đổi mới thực chất được. Nếu không, ông nào lên, mà thể chế chính trị không thay đổi mạnh mẽ, vẫn giữ Cương lĩnh cũ trước đây 20, 30 năm (chỉ tu chỉnh từ ngữ), thì rồi tình trạng đất nước vẫn vậy mà thôi !
- Xin các anh bàn bạc kỹ với anh Nguyễn Phú Trọng, anh Nguyễn Tấn Dũng, nếu các anh ấy "nhất trí" cải cách thể chế chính trị mạnh hơn, thì mới hy vọng. Nếu các anh ấy "gạt đi" và yêu cầu “kiên trì” Mác Lê cổ điển (dưới bất cứ dạng nào), thì còn gay đấy, cần phải mạnh mẽ thuyết phục.
Tôi cho rằng, hai bài viết sau đây là trí tuệ và tâm huyết không phải của riêng ai, nó là của chung đấy. Xin các anh cố đọc qua. Các anh đã dũng cảm và lập thành tích đối ngoại to lớn, xin hãy cố dấn lên thêm chút nữa cho Đất nước và con cháu chúng ta được nhờ !
Bà con rất hy vọng các anh đem lại chuyển biến lớn trong Đại hội này. Còn không, sau này, khi các anh đã về hưu cả, xã hội nó rối ren, loạn lạc cả lên như Liên Xô cũ - "thành trì", "hòn đá tảng" của cách mạng thế giới - thì các anh có tội nặng với dân tộc đấy !
Ngày 8 tháng 11, năm 2010
Một đảng viên già.
Thời cơ vàng:
Cương quyết sửa chữa lỗi hệ thống để đổi mới thể chế chính trị, phát triển nhanh và bền vững !
(Bài viết sau khi tiếp thu ý kiến phê bình, góp ý của nhiều đọc giả)
I- Lỗi hệ thống bắt nguồn từ đâu ?
I.1- Từ phần sai lầm của Chủ nghĩa Cộng sản Mác – Lênin và “Hệ thống XHCN” thời kỳ đầu
+ Sai lầm từ lý luận của Chủ nghĩa Cộng sản của Mác (lúc ông còn trẻ):
Nhìn lại lý luận ban đầu (CNCS phân kỳ I) của Mác về đấu tranh giai cấp:
- Mâu thuẫn giữa g/c bóc lột và bị bóc lột là đối kháng, bất biến, “một mất, một còn”, “không đội trời chung”;
- Giai cấp công nhân chỉ có dùng bạo lực đập tan CNTB, xóa sổ g/c tư sảnmới giải phóng được bản thân và Loài người;
- Chỉ có giai cấp công nhân đại diện cho lực lượng sản xuất tiên tiến nhất, kỷ luật nhất, cách mạng nhất, mới lãnh đạo cách mạng XHCN thắng lợi;
- Cuộc cách mạng này là khác hoàn toàn về bản chất các cuộc cách mạng nửa vời khác, bởi các đặc trưng sau: Công hữu hóa; tập thể hóa; kế hoạch kinh tế tập trung; chuyên chính của gai cấp vô sản; độc đảng của những người vô sản lãnh đạo; và là “Đấu tranh này là trận cuối cùng” . . .
- Cuộc cách mạng này dẫn đến một xã hội: Làm theo năng lực, hưởng theo nhu cầu
Thực tiễn đã chứng minh những luận điểm đó là sai lầm, bởi vì:
- Đã phủ nhận phép biện chứng của chính Các Mác (vạn vật biến đổi không ngừng . . .)
- Đã vi phạm quy luật phát triển có tính liên tục và kế thừa
- Đã đánh giá sai vai trò và khả năng của giai cấp công nhân
- Đã gây lòng căm thù giữa những CON NGƯỜI cùng có quyền tự do, bình đẳng và mưu sinh . . .
Song những luận điểm đó đã ăn sâu vào chúng ta – như những tín đồ - đến mức chúng ta coi đó như kinh thánh, bất khả biến. Ai đụng vào, nói khác đi, làm khác đi là xét lại, phản bội, thậm chí là kẻ thù, phải bị tiêu diệt. Nhưng ngày nay, rõ ràng các giai cấp tư sản và công nhân đang rất cần nhau, đấu tranh để hợp tác với nhau tốt hơn, chứ không tiêu diệt nhau ! Chỉ có những người cộng sản quá khích, tính từ Lênin và Stalin, là “tiêu diệt” ngay cả những đ/c bất đồng chính kiến của mình !
+ Sai lầm từ trong triển khai CN Mác phân kỳ I:
- Thất bại lần 1: Chủ nghĩa Cộng sản phân kỳ I của Mác triển khai ở các nước tư bản Châu Âu đã thất bại, dẫn đến Quốc tế CS I tan rã.(Điều này chính Mác và Ănghen đã thừa nhận)
- Thất bại lần 2: Liên Xô và phe XHCN Đông Âu tan rã; các nước XHCN còn lại, muốn tồn tại, phải “cải cách” hay “đổi mới”
I.2- Sai lầm hệ thống bắt nguồn từ sự phủ nhận CN Mác phân kỳ II, Quốc tế II (khi Mác đã già).
+ không thừa nhận rằng, Mác và Ănghen, sau khi Quốc tế CS I tan rã, và sau mấy chục năm n/c tiếp với tư duy và thực tiễn mới, đã thừa nhận sai lầm, nên đã đưa ra phân kỳ II của CNCS, từ đó hình thành QT II
+ Không thừa nhân những khẳng định mới về lý luận của Mác và Ănghen:
- Giai cấp công nhân và giai cấp tư sản có thể đấu tranh chung sống hòa bình
- Giai cấp CN có thể lợi dụng nền dân chủ tự do và nhà nước pháp quyền tư sản để đấu tranh nghị trường nhằm cải thiện đời sống và cải cách xã hội
Giai cấp công nhân là lực lượng lao động có tổ chức, vận hành những kỹ thuật và cộng nghệ tiên tiến nhất; nhưng các tầng lớp ưu tú của xã hội mới là lực lượng dẫn đầu tư duy mới và sáng tạo để tác động định hướng vào quá trình tiến hóa của xã hội, mới có khả năng sáng tạo khoa học, những kỹ thuật và công nghệ tiên tiến . . .(Những lãnh tụ cách mạng vô sản, những người tạo ra những công nghệ mới, những nhà cầm quyền …hầu hết là trí thức; Thủa xưa, các triết gia nổi tiếng, Đức Phật thích ca cũng xuất thân từ những người quyền quý, có học, rồi sau này Khổng tử cũng vậy ! Mác- trí thức, đã đưa ra một học thuyết, rồi mọi người bảo đấy là "Học thuyết của giai cấp công nhân", và nói rằng, vì có học thuyết riêng và toàn năng đó chỉ đường, nên chỉ có giai cấp công nhân mới lãnh đạo được cách mạng cải tạo thế giới!)
Tất cả những luận điểm mới này của Mác và Ănghen đã bị Lênin và những người theo Quốc tế III coi là “xét lại”, “phản bội”, cố tình phủ nhận, che dấu xuất sứ Mác, Ănghen của những tư duy đổi mới này, ngăn cản sự lan truyền tư tưởng “xét lại” này của Mác và Ănghen.
+ Không thừa nhân những sai lầm hệ thống hậu Cách mạng tháng 10 Nga do Lênin và Stalin triển khai. Đó là, sau khi dành được chính quyền từ tay giai cấp tư sản Nga, nhà nước Liên Xô đã vận dụng một thể chế chính trị như sau:
- Thực hiện chế độ độc đảng toàn trị, mất dân chủ nặng nề (ai có chính kiến khác, sai đường lối của TƯ là không được);
- Thay nhà nước pháp quyền bằng chính quyền Xô viết công nông;
- Thi hành nhất quán nguyên tắc Tập trung dân chủ (kéo dài suốt từ thời cướp chính quyền, sang thời nội chiến và ngoại chiến), dẫn đến tệ “sùng bái cá nhân” trầm trọng, sau này biến thành “tệ sùng bái các cấp ủy, các bí thư”
- Công hữu hóa tư liệu sản xuất, tiến hành ngay tập thể hóa và kế hoach hóa tập trung nền kinh tế, xóa bỏ cơ chế thị trường . . .
- Đề cao tuyệt đối giai cấp công nhân, coi rẻ trí thức;
- Không nghiêm khắc tự đánh giá và hoàn thiện chế độ, mà chỉ đổ lỗi cho sự phá hoại của kẻ thù của CNXH. Trừ giai đoạn ngắn với “chính sách kinh tế mới” của Lênin, nền kinh tế xã hội tuy đã có phát triển mạnh sau những động lực giải phóng ban đầu, nhưng do lãnh đạo độc đảng mất dân chủ tự do nặng nề, cùng với cơ chế kinh tế và quản lý xã hội sai lầm như đã nêu, nên đất nước đã đi dần vào ngõ cụt, tha hóa, biến chất khỏi mục tiêu tốt đẹp ban đầu. Sai lầm hệ thống dẫn đến mất dần sức sống và đã tự tan rã.
+ Chỉ nhắc nhở chịu ơn Liên Xô mở đường giải phóng giai cấp vô sản và nhân dân lao động, tiêu diệt phát xít, cứu loài người – điều đó là rất đúng và rất quan trọng – song chưa chịu thừa nhận rằng, các nước XHCN khác đều bị áp lực (thiếu tự nguyện) phải theo mô hình sai lầm và giáo điều của Liên Xô, và đều có kết cục tan rã tương tự Liên Xô, hay chỉ có thể tồn tại được là nhờ tiến hành “Đổi mới”, rũ bỏ dần dần mô hình cũ.
+ Không thừa nhận rằng các nước Bắc Âu đã tiếp nhận CNCS phân kỳ II, với Quốc tế II theo đường lối đổi mới của Mác và Ănghen. Đất nước của họ ngày một giầu có, tiến bộ, từng bước hướng tới xã hội văn minh như Mác đã tiên đoán và miêu tả trước đây.
Tóm lại: Sai lầm mang tính hệ thống xuất sứ từ khối XHCN, trong đó sai lầm quan trọng nhất là vận dụng nguyên văn CNCS Mác phân kỳ I: Thực hành một thể chế độc đảng toàn trị vi phạm nặng nề dân chủ, tự do, Vi phạm quy luật tiến hóa có tính liên tục và tính kế thừa của lịch sử Loài người, trong đó đã có nhiều vi phạm quan trọng về bản chất sự vật. Thay vì học hỏi, đã phá bỏ hoàn toàn những gì thuộc chế độ tư bản, những thứ mà chế độ này đã vận dụng và phát triển được từ lịch sử tiến hóa của nhân loại,
I.3 – Sai lầm hệ thống là do phủ nhận sự tiến hóa liên tục của CNTB từ thế kỷ 18 đến thế kỷ 21:
a) Chủ nghĩa Tư bản, sau khi đã vượt qua được chế độ phong kiến độc tài toàn trị vào khoảng thế kỷ 17, 18, ngay từ đầu, họ đã chọn một hệ thống xã hội với những nguyên tắc khác hẳn: chấp nhận tự do dân chủ, xác lập nhà nước pháp quyền, thị trường tự do cạnh tranh và xã hội dân sự.
CNTB tiến bộ, văn minh được như ngày nay là nhờ mấy nguyên nhân:
1/ Có động lực của thể chế dân chủ tự do, theo cơ chế thị trường cạnh tranh, được quản lý bởi nhà nước pháp quyền từng bước hoàn thiện và phát triển, trong môi trường xã hội dân sự;
2/ Chế độ tư bản bị Chế độ XHCN theo mô hình Liên Xô cũ cạnh tranh mạnh mẽ, khoảng giữa thế kỷ XX, đã buộc phải cải cách, thay đổi chế độ chính sách liên tiếp, không ngừng hoàn thiện nhà nước pháp quyền và xã hội dân sự, điều chỉnh cơ chế thị trường nhiều lần, tiến hành xây dựng xã hội phúc lợi, nên đã từng bước tiến đến những thể chế chính trị văn minh như hiện nay;
3/ Điều quan trọng, quyết định hơn cả là thể chế tự do, pháp trị và dân chủ, đã tạo môi trường thuận lợi cho sự tiến hóa tự nhiên của con người, trong đó trình độ minh triết và nhân nghĩa, văn hóa và giáo dục, khoa học và công nghệ, . . .ngày một phát triển, đã tạo ra những công cụ, điều kiện và hoàn cảnh mới mẻ chưa từng có giúp các nước này vượt qua được những khó khăn khách quan chủ quan của xã hội và thiên nhiên để phát triển, giúp cho sự giác ngộ, liên kết, hợp tác giữa những mặt đối lập, tạo ra tổng hợp lực chung mạnh mẽ chưa từng có để vượt qua mấy "đại họa" đã từng xẩy ra (và sẽ có thể xẩy ra) của Loài người.
b) Hiện nay, một thực tế không thể phủ nhận là: Cả thế giới chậm tiến, kể cả các nước vốn là XHCN, đang thực sự chấp nhận và học tập mô hình tư bản chủ nghĩa mới (gạt bỏ những sai lầm hiển nhiên của nó, những sai lầm mà chính các nước TB cũng đã và đang bỏ đi). Việt Nam và Trung Quốc, còn đang cố gắng để được công nhận là có “nền kinh tế thị trường”. Ôn Gia Bảo tuyên bố Trung Quốc không đổi mới thể chế chính trị hiện nay sẽ trở nên lạc hậu. Cu Ba và Triều Tiên cũng đã bắt đầu “gió đổi chiều”. Còn nước Nga vẫn đang phấn đấu để được tham gia WTO do tư bản lập ra. Nếu quá trình “Quốc tế hóa”, “Hội nhập quốc tế” theo quy luật là do các nước có lực lượng sản xuất tiên tiến nhất khơi mào, tạo điều kiện cho mọi nước chậm tiến có thể lợi dụng quá trình này để vươn lên đuổi kip các nước phát triển trong một thời gian ngắn hơn hàng nhiều chục lần, thì đấy chẳng phải bắt nguồn từ các nước tư bản phát triển nhất ? Hơn nữa, thống kê cho thấy số thanh niên từ các nước XHCN sang các nước TBCN để học tập, số chuyên gia sang các nước TB để nghiên cứu, số bằng sáng chế phát minh xuất sứ từ các nước TB, v.v…nhiều gấp hàng trăm lần cũng những thông số đó theo chiều ngược lại . . .Lại nữa, trong 5 nước sáng lập ra Tổ chức Liên hiệp quốc chỉ có một nước XHCN (thời đó chỉ có Liên Xô); trong 6 nước sáng lập hiệp hội các nước ASEAN không có một nước XHCN nào; ngược lại quá khứ, ta thấy rất nhiều tổ chức tiến bộ quốc tế đã xuất hiện đầu tiên tại các nước TB! Như vậy đủ thấy xã hội các nước tư bản phát triển vẫn đang văn minh tiến bộ hơn các nước XHCN và đang chuyển đổi.
c) Tuy Các Mác thiên tài đã tiên đoán: các nước tư bản phát triển nhất sẽ là những nước đầu tiên chuyển sang một xã hội tốt đẹp hơn, mà ông – và nhiều triết gia trước ông – đã gọi là CNXH, các triết gia tư sản gọi đó là xã hội hậu TB, hay Xã hội TB sáng tạo . . . , nhưng ông đã không ngờ rằng sức mạnh, sức bật của nền dân chủ và nhà nước pháp quyền tư sản lại mạnh mẽ đến mức, không cần cách mạng đột biến chuyển chính quyền sang tay giai cấp công nhân, xã hội của các nước tư bản vẫn chuyển hóa thật sự và liên tục, không cần “đột biến”, sang một xã hội văn minh hơn. Tôi thì mạn phép gọi đó là “Xã hội Văn minh mới” – vì nhiều xã hội tư bản hiện nay đã được coi là văn minh, nhưng chưa đủ độ văn minh như Loài người mong muốn - và điều đó đang dần dần diễn ra trước mắt chúng ta.
Vậy hệ thống nào đang vươn tới tương lai, hệ thống nào đã mắc lỗi hệ thống và đang sửa chữa chắp vá, cải lương?
Tóm lại: CNCS phân kỳ I của Các Mác đã từng đúng ở thế kỷ 18,19, nhưng nay đã không còn phù hợp và không thể giải thích được những gì đang diễn ra trên thế giới tại thế kỷ 21 này. Ngày nay, hầu như toàn thế giới tiến bộ đã chấp nhận tư tưởng tự do, dân chủ, nhân quyền; chấp nhận thể chế nhà nước pháp quyền, thị trường tự do và xã hội dân sự - như là thành quả của sự tiến hóa chung của cả xã hội Loài người - với những đấu tranh quyết liệt để cải cách, điều chỉnh cần thiết.
II-Việt Nam đứng trước thời cơ lớn chưa từng có để sửa chữa lỗi hệ thống, đổi mới thể chế chính trị.
II.1- Về mặt lý luận:
Nếu chọn từ những triết lý (học thuyết) từng có trên thế giới, ta sẽ thấy tư tưởng và đường lối xây dựng xã hội mới của Hồ Chí Minh là rất thich hợp cho thế giới thế kỷ 21. Tại sao vậy ? Bởi vì, thế giới thế kỷ 21 có những đặc trưng sau đây:
1/ Thế kỷ 21, dân trí đã được nâng cao, Nhân dân các nước mới chính là người chủ thật sự của đất nước mình, và của cả thế giới này. Mọi chính đảng chỉ tồn tại có ý nghĩa và có sức mạnh, khi đảng ấy “Lấy dân làm gốc”. Không một mình giai cấp nào có đủ thẩm quyền, trí tuệ và đạo đức để có thể tự cho mình đứng trên nhân dân mỗi nước và nhân dân các nước; giai cấp công nhân chỉ là người được huấn luyện để xử dụng các công nghệ tiên tiến trong lao động tạo ra của cải xã hội. Động lực phát triển và lãnh đạo xã hội luôn luôn thuộc về tầng lớp ưu tú của mọi giai cấp, mọi thời đại - mà hạt nhân trí tuệ là tầng lớp trí thức. Có thể "Trí thức hóa" giai cấp công nhân, nhưng tầng lớp trí thức lúc đó lại tiếp tục tiến xa hơn nữa để thực hiện chức năng tạo ra và huấn luyện giai cấp công nhân xử dụng thành thạo những công nghệ mới còn tiên tiến hơn trong lao động của họ.
2/ Tại thế kỷ 21 này, nội dung và quy mô những vấn đề quan trọng nhất, những mâu thuẫn gay gắt nhất của các dân tộc không còn nằm trong phạm vi giữa các giai cấp trong từng nước với nhau, mà nó đã mở rộng ra không gian của toàn quốc gia và toàn cầu. Đấu tranh giai cấp theo kiểu học thuyết Mác vẫn còn, nhưng không còn là đỉnh cao thời sự tại thế kỷ XXI nữa.
3/ Thế kỷ 21, với trí tuệ và sức mạnh thời đại, quan hệ đấu tranh “một mất một còn”, phân chia ranh giới “ta – địch” . . .đã không còn chỗ đứng, mà được thay bằng quan hệ mới “đấu tranh cùng tồn tại”, “các bên đều thắng”, “Các giai cấp, các quốc gia dân tộc đều nhận thức rõ sẽ cùng chết, để liên kết, hợp tác để cùng sống”. Tangày nay là toàn Nhân loại mong muốn hòa bình và mưu cầu hạnh phúc. Địchngày nay là sự ngu dốt, trì trệ, mất dân chủ, thói tham quyền cố vị, tham nhũng tha hóa đạo đức, bành chướng bá quyền nước lớn, tình trạng bóc lột thậm tệ sức lao động, chủ nghĩa khủng bố và các thảm họa thiên tai . . .
4/ Thế kỷ XXI, các nước đến với nhau không vì cùng chung và theo tiếng gọi của “ý thức hệ” hẹp hòi nữa, mà vì cùng chung những mối quan tâm quy mô quốc gia và toàn hành tinh trên tầm cao mới của Minh triết và sức mạnh cộng đồng toàn Nhân Loại. . .
Tóm lại: Về mặt lý luận, Việt Nam đã có tư tưởng đường lối Hồ Chí Minh dẫn đường, đã được thực tiễn thắng lợi của cách mạng Việt Nam hơn nửa thế kỷ qua kiểm nghiệm, nên được thế giới hoan nghênh và chấp nhận. Đó là điều kiện lý luận thuận lợi nhất để VN tự tin, vững vàng sửa chữa lỗi hệ thống đang tồn tại với những bước đi thích hợp.
II.2- Về mặt thực tiễn hiện nay:
a) Thắng lợi lần 1: của cuộc cách mạng “Dân chủ - Cộng hòa” 1945, các thắng lợi lần 2, lần 3 lẫy lừng 1954, 1975, cùng thắng lợi của “Đổi mới” kinh tế từ 1986, đã tạo ra một trong những nguyên nhân quan trọng nhất biến Việt Nam thành chiếc cầu nối cho “cuộc cạnh tranh các bên cùng thắng”, tạo ra sự hội tụ về Hà Nội các đoàn đại biểu của Hiệp hội ASEAN, ASEAN + 2,3 và 4 . . , và nay là ASEAN + 17, đã là sự thừa nhân hùng hồn của tư tưởng và đường lối Hồ Chí Minh: Đoàn kết, đại đoàn kết; liên kết mọi lực lượng đối lập để tạo thành sức mạnh; Dân chủ - cộng hòa; đảng toàn dân; Chính phủ liên hiệp; Mặt trận Việt Minh – Trí , Nông, Công, Thương . .; không nhấn mạnh đấu tranh giai cấp; Tập hợp, đoàn kết, phát huy mọi lực lượng để tập trung diệt 3 thứ giặc: Giặc đói, giặc dốt và giặc chiến tranh – điều mà hiện nay Liên hiệp quốc đang động viên các quốc gia – không phân biệt Tư bản hay XHCN, đạo Giáo, đạo Phật, hay đạo Hồi - tham gia trên phạm vi toàn cầu; vận dụng tư duy thâm uyên và đầy lòng nhân đạo “biến thù thành bạn”, chống lại tư duy tìm bạn, tìm đồng chí khác chính kiến để biến bạn và đồng chí thành thù (như đã có thời Lênin, Stalin và Mao Trạch Đông từng làm một cách thường xuyên. . .) Đó chính là thể hiện trong thực tiễn của sức mạnh tư tưởng, đường lối Hồ Chí Minh.
b) Việt Nam hiện nay cần nhận thức rõ hơn nữa nguồn gốc sức mạnh của mình để tận dụng được tối đa cho sửa chữa lội hệ thống. Đó là:
1/ Chúng ta đang phát huy tốt tư tưởng đường lối Hồ Chí Minh vào hoạt động đối nội, đặc biệt là đối ngoại, tham gia tập hợp lực lượng quốc tế cho ASEAN, và cho chính mình, tương thích với thời đại mới; Chúng ta có Nhân dân anh hùng với sức mạnh đại đoàn kết dân tộc; có truyền thống trí, đức, nhân nghĩa thắng bạo tàn và trình độ nhận thức chính trị, văn hóa, xã hội ngày càng cao; có mục tiêu chung với toàn thể Nhân loaị. . .Chúng ta có một Đảng với lịch sử oai hùng lãnh đạo, mặt yếu của Đảng không ít, cũng khá nặng nề, song mặt mạnh vẫn là chủ yếu, chắc chắn đổi mới được thể chế chính trị lạc hậu hiện nay.
2/ Chúng ta đang nhận được sự cảm thông và tin tưởng của quốc tế vì một số chính sách đối ngọai sai lầm gần đây của Trung Quốc – điều này chúng ta hoàn toàn không mong muốn, nhưng là sự thật;
3/ Chúng ta đang nhận được sự thông cảm và hỗ trợ của quốc tế vì đã được xác định sẽ trở thành một trong mấy nạn nhân nặng nề nhất đầu tiên của những thảm họa thiên nhiên trong tương lai.
4/ Điều quan trọng quyết định nữa là chúng ta sớm nhận thức được (về mặt lý thuyết) tính tất yếu phải sửa chữa triệt để lỗi hệ thống, không ngập ngừng, do dự, vì đã thấy rất rõ định hướng tiến hóa mang tính hệ thống, cách mạng sâu sắc và hiện đại của toàn Nhân loại đang diễn ra trên thế giới đã “rõ như ban ngày”, mà ta cần hội nhập vào.
c) Việt Nam hiện nay đã nhận thức cho rõ hơn những nguy cơ lớn tiềm ẩn đối với sự nghiệp cách mạng của dân tộc,
1/ Đất nước, do lý do hoàn cảnh khách quan, đã trở thành niềm hy vọng và điểm tựa của bạn bè, mà chưa đủ tài năng thật sự để đáp ứng sự tín nhiệm đó, trong nhiều tiêu chí đánh giá chung (sự bền vững, trình độ dân trí, giáo dục, quản lý hành chính nhà nước, mức độ trong sạch của xã hội, mức độ tham nhũng, tiêu cực xã hội . . .), Đấy là một nguy cơ, tiềm ẩn sự hẫng hụt: Muốn làm đầu tầu, nòng cốt thì phải phát triển bền vững, trong sạch, nghiêm chỉnh, hiệu quả cao!
2/ Mức độ, tốc độ và chất lượng hội nhập kinh tế với ASEAN và thế giới còn yếu: Hầu hết các nước Đông Nam Á, ASEAN đều đã được công nhận là nền kinh tế thị trường, còn ta thì vẫn vấn vương “đảng lãnh đạo toàn diện”, “quốc doanh làm nòng cốt”, phân biệt đối xử giữa các thành phần kinh tế; chính sách một đằng, thực thi một nẻo, quản lý sản xuất kinh doanh yếu kém, thiếu minh bạch. . . do đó chưa được thừa nhận là nền kinh tế thị trường, làm cho quan hệ hợp tác buôn bán làm ăn với các nước kém hiệu quả . . .
3/ Chậm hòa đồng, hội nhập về thể chế chính trị với thế giới văn minh: cái chính là ta chưa chấp nhận Nhà nước pháp quyền đa nguyên, tam quyền phân lập; chưa thừa nhận xã hội dân sự, còn là một xã hội hạn chế dân chủ, tập trung trước (cấp ủy quyết trước), dân chủ sau (dân chúng bàn bạc cụ thể hóa sau). Nên lưu ý, sẽ đến lúc tiêu chuẩn để được coi là “hội nhập đầy đủ”, hay được bầu vào các tổ chức lãnh đạo toàn cầu, sẽ có tiêu chí “đã được công nhận là nhà nước pháp quyền thực sự”, là một “nhà nước văn minh Tự do dân chủ”, dân chúng có đủ tiêu chí “công dân hành tinh” để có thể được vào các nước du lịch và làm ăn, đã có “xã hội dân sự” hoàn chỉnh hay chưa ?, v.v….theo các chuẩn chung của Liên hiệp quốc!
4/ Trung Quốc có thể sẽ cải cách mạnh mẽ thể chế chính trị và thành công trước chúng ta (tuy là rất khó). Trong trường hợp này, Trung Quốc sẽ từ bỏ dần tham vọng bá quyền nước lớn, sẽ giữ vững hòa bình, sẽ hành xử chân chính như một nước lớn văn minh, có trách nhiệm. Được coi là nguy cơ, vì khi đó các nước sẽ tin tưởng TQ hơn hiện nay, họ sẽ không còn “cần đến một đồng minh tình thế ” Việt nam như bây giờ nữa. Xét về chính diện, trong trường hợp này, một TQ hòa bình, gương mẫu, văn minh, từ bỏ bá quyền, bành chướng . . . sẽ cũng rất có lợi cho cả Việt Nam (Lâu nay, dưới cái bóng của TQ, cái gì ta cũng phải nhường bước đi sau. Nay TQ đã thể hiện ý muốn cải cách thể chế chính trị, như vậy là đã “bật đèn xanh” cho Việt nam "yên tâm" tiến lên!? )
5/ Cái nguy cơ bao trùm, là với thể chế chưa giải phóng hoàn toàn tự do tư tưởng con người, thậm chí còn tạo ra sự cảnh giác, e ngại, sợ sệt trước chính quyền như hiện nay, Việt Nam sẽ tự tạo ra một tình thế rất nguy hiểm: lực ly tâm sẽ lớn dần, cái “vỏ ốc” ngày càng to ra, chất keo gắn kết tinh thần dân tộc sẽ bị thay bằng những luật lệ về tự do dân chủ ngày càng bó lại, không tập hợp và phát huy được thực sự nhân tài, vật lực to lớn, giầu trí sáng tạo của toàn dân tộc để vươn lên kịp trào lưu tiến hóa của Nhân loại thế kỷ XXI. Vì vậy, để sửa chữa lỗi hệ thống thì ta phải đổi mới triệt để về tư tưởng, sơ bộ như gọi ý sau đây:
III. Việt nam nên sửa chữa lỗi hệ thống, đổi mới thể chế chính trị theo những nội dung cơ bản:
Về lý luận, trong giai đoạn “quá độ” đặc thù hiện nay, Đảng đề nghị nhân dân vẫn chấp nhận chế độ độc đảng cầm quyền để ổn định xã hội, songcương quyết sửa chữa “chế độ độc quyền toàn trị”, bằng cách phải nhanh chóng tiến hành các bước dân chủ hóa thực sự sau đây:
1/ Đầu tiên, Đảng phải tự định nghĩa lại chính mình. Đảng Cộng sản VN ngày nay là ai ? Theo tôi, Đảng CS Việt Nam ngày nay cần vượt lên trên cái gốc công nhân hạn hẹp để xứng tầm dân tộc anh hùng và thời đại văn minh mới, nên coi mình là đảng của toàn dân (trên thực tế thành phần đã như vậy rồi), đại biểu cho quyền lợi, trí tuệ và văn hóa của toàn dân tộc (trên thực tế đang phấn đấu). Đảng sẽ phấn đấu tập hợp những người ưu tú nhất của mọi thành phần xã hội, tuân theo đường lối gốc rễ sâu sa nhất: “Lấy Dân làm gốc”, lấy tư tưởng đường lối Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động, đồng thời tham khảo vận dụng và phát tiển cả các học thuyết tiến bộ khác và tinh hoa của nhân loại. Đảng hoạt động tuân theo Hiến pháp và pháp luật nhà nước, theo nguyên tắc Dân chủ tập trung; vì mục tiêu hòa bình, độc lập, tự do, dân chủ, công bằng và bình đẳng xã hội, an toàn và hạnh phúc cho toàn dân tộc và cho từng đảng viên của Đảng;
2/ Đảng sẽ tự luật hóa ngay vai trò lãnh đạo của mình, sau đó đem ra xin ý kiến nhân dân, tạo thành một bộ phận được nhân dân chấp nhận của Hiến pháp mới, rồi cấp ủy mới “quyết”. Nhiệm vụ số 1 của Đảng là tập trung chỉ đạo, tổ chức, giám sát, kiểm tra . . .đảm bảo thực hiện nghiêm chỉnh trên mọi mặt hoạt động xã hội (và công tác tổ chức chính trị của Đảng), đường lối tư tưởng “Lấy dân làm gốc” – không lấy giai cấp công nhân, hay Đảng làm gốc như hiện nay - trên nguyên tắc mới: Dân chủ trước- Tập trung sau, tức là lấy ý dân trước, Đảng (các cấp ủy) sẽ “quyết” sau.
2/ Song song, Đảng chỉ đạo và phối hợp với Quốc hội và Chính phủ dự thảo lại Hiến pháp mới, trên tinh thần có phát triển Tuyên ngôn độc lạp và Hiến pháp 1946, trong đó đảm bảo nước ta theo thể chế Dân trị, Dân chủ - Cộng hòa, Tự do – Dân chủ - Nhân quyền, thượng tôn pháp luật, từ bỏ nguyên tắc Tập trung dân chủ (thời chiến), chuyển sang nguyên tắc Dân chủ tập trung thời bình . . .để Việt nam có thể trở thành một dân tộc hoàn toàn tự do sáng tạo vươn tới tương lai xa v.v…
3/ Thực hiện nghiêm chỉnh chủ trương: Đảng chỉ lãnh đạo bằng đường lối, chính sách thông qua tính thuyết phục của chúng, và sự gương mẫu thực hiện của đảng viên của đảng (dự thảo cương lĩnh). Để thực hiện trên thực tế, khác với hiện nay, mọi thể chế nhà nước đều đặt đảng là một bộ phận dưới Hiến pháp, một bộ phận bình đẳng trong Quốc hội và Mặt trận tổ quốc. Đảng phấn đẩu để có đủ điều kiện (được nhân dân tín nhiệm) “nhất thể hóa” tối đa người đứng đầu các cơ quan nhà nước.
4/ Vì Đảng sẵn sàng nghiêm chỉnh lãnh đạo bằng tính đúng đắn, thuyết phục của đường lối, chinh sách, bằng sự gương mẫu thực hiện, với tâm niệm rằng, đảng không có một mục tiêu quyền lợi riêng tư nào, “ngoài mục đích phục vụ nhân dân, phục vụ dân tộc” (như dự thảo cương lĩnh đã viết), nên Đảng sẽ có các cải tiến lớn. Ví dụ:
+ Đảng sẽ không bao biện và “lãnh đạo toàn diện” theo kiểu ôm đồm như hiện nay. Đảng (chính trị) cần tập trung lãnh đạo vào các đường lối chính trị, độc lập quốc gia, an ninh, quốc phòng, văn hóa, giáo dục, đời sống nhân dân, sức khỏe giống nòi, giữ vững môi trường trong lành cho toàn dân . . .Về kinh tế, trên cơ sở đường lối chung của Đảng, xã hội sẽ vận động theo cơ chế cạnh tranh thị trường, Đảng chỉ cần đối chiếu với NQ Đảng để thực hiện giám sát, kiểm tra tính “Lấy dân làm gốc” , cũng vậy tại các lĩnh vực xã hội và chuyên môn nghiệp vụ còn lại.(Phát triển kinh tế là mặt trận quan trọng hàng đầu, nhưng Đảng lại là đảng chính trị đứng về phía quyền lợi nhân dân, người tiêu dùng và quyền lợi quốc gia, dân tộc, do vậy đảng chỉ nên tập trung vào nghiên cứu để chỉ đạo đường lối lớn và giám sát, kiểm tra, tránh trực tiếp "vào trận" (ra các quyết định cụ thể, phức tạp) để dính vào những tiêu cực, bị lôi kéo vào việc "ăn chia" với các thế lực quyền lợi nhóm, và quyền lợi nước ngoài, rất khó rạch ròi và gỡ ra được ! Nên nhớ rằng, nhân dân - với nghĩa sô đông, tập thể - giờ đây đã đủ hiểu và biết, rằng mình muốn cái gì, và làm như thế nào)
+ Đảng biểu thị tính không độc quyền của mình bằng cách tự nguyện hạn chế số thành viên của mình trong Quốc hội và tại các Hội đồng nhân dân theo tỷ lệ đảng viên trên tổng dân số toàn quốc, hoặc tại mỗi khu vực bầu cử (tỷ lệ nào, thì cần n/c cụ thể hóa cho thích đáng).
+ Thay vì thực hiện chế độ đa đảng, Đảng Cộng sản – đã chứa đựng tính toàn dân - sẽ chứng minh tính không độc quyền và tính dân chủ, công bằng của mình bằng cách tổ chức cạnh tranh lành mạnh, công khai, minh bạch trong tranh cử chung và nội bộ. . .dưới sự dám sát của toàn dân, ngay cả trong các cơ cấu đảng của đảng toàn dân này.
+ Vì là Đảng toàn dân, một dạng đa đảng kiểu mới sáng tạo, nên kỷ luật đảng chỉ nên (?) bắt buộc đảng viên phải nghiêm chỉnh tuân theo các Nghị quyết Đại hội Đảng. Mọi đảng viên có quyền tranh luận, chất vấn, yêu cầu sửa đổi, bảo lưu, thậm chí không chấp hành các NQ của Ban CH TƯ, của các cấp ủy Đảng các cấp, nếu thấy có sự đi chệch NQ Đại hội Đảng, hoặc vi phạm Hiến pháp, khi có những vấn đề không nhất trí nẩy sinh, tạo khả năng hiện thực dân chủ đa nguyên tác động phản biện kịp thời vào các quyết định chưa trúng, hoặc sai lầm của các cấp ủy Đảng.
+ Cần n/c lại vấn đề quy định "Các điều cấm đảng viên không được làm". Đối với đảng viên, ngoài Hiến pháp, điều lệ Đảng, nghị quyết Đại hội Đảng, và luật pháp cụ thể đã quá nhiều, không nên khoanh thêm một vòng luât lệ hẹp hơn nữa để bó buộc tư duy và trí tuệ đảng viên. Đảng nên trân trọng đảng viên của mình, không hơn, thì cũng phải bằng người dân ngoài đảng.
(Xin xem thêm các bài giải trình liên quan tại www.vids.org.vn)
+ V.v…và v.v . .(Còn tiếp tục góp ý)
(Mỗi đảng viên hãy tưởng tượng rằng, nêu mình là người ngoài Đảng, hoặc khi đã về hưu, mình sẽ muốn sống và góp ý với Đảng như thế nào. Càng tin tưởng trông chờ ở Đảng, càng không chỉ ca ngợi, mà cần chỉ ra cả những yếu kém của tổ chức này !)
Tóm lại: Nước ta muốn giữ được vị trí của một nước có thể chế chính trị vững vàng, tham gia vào đội ngũ có trách nhiệm các thuyền trưởng của con tầu toàn cầu, nhằm tạo những điều kiện căn bản để thực hiện thắng lợi Cương lĩnh mới của Đảng và Mục tiêu chiến lược của đất nước, chúng tacần nhanh chóng dũng cảm, khẩn trương, quyết liệt cải cách cái thể chế chính trị cũ kỹ, lạc hậu hiện nay của chúng ta nhanh hơn nữa.
Chúng ta đang đứng trước những vận hội rất lớn, và cũng thật nhiều nguy cơ đáng ngại, do sự chuyển biến rất nhanh chóng nội dung tiến hóa của thời đại và thiên nhiên, nên không một mình riêng ai dù có tài giỏi đến đâu cũng không lường tính hết được. Lịch sử đã chứng minh rằng, những hệ thống quản lý lãnh đạo Dân trị đã được Loài người lựa chọn và gọt dũa đang tiến tới hoàn hảo, sẽ tiến nhanh và bền vững hơn mọi hệ thống nhân trị, độc tài toàn trị mà thế giới đã từng loại bỏ.
Nếu đổi mới thể chế kinh tế đã đưa chúng ta thoát khỏi đói nghèo và lạc hậu, thì đổi mới thể chế chính trị (theo một phương thức chuyển đổi có tính toán thông minh) chắc chắn sẽ sớm đưa nước ta vào thế ổn định và vững vàng phát triển trở thành một nước “Xã hội Văn minh mới”(*). Thời cơ vàng đang mở ra trước Đất nước ta.
(*) Đã đề cập ở mục “Xã hội Tư bản tiến hóa liên tục . . .” ở phía trên.
Hà Nội,10- 2010. Vũ Duy Phú (Viện VIDS)
theo VIDS.org.vn