Quan niệm về chính thể hỗn hợp trong lịch sử tư tưởng chính trị Hy - La cổ đại
Hồ Xuân Kiên
Lịch sử các học thuyết chính trị Hy – La gắn liền với quá trình tiến hóa của xã hội và nhà nước Chiếm hữu nô lệ. Những tư tưởng chính trị ra đời trong hoàn cảnh những cuộc chiến tranh không ngừng diễn ra giữa các thành bang để tranh giành quyền lực, và những mâu thuẫn ngày càng gay gắt giữa chủ nô với phần còn lại của xã hội, mà đặc biệt là của nô lệ. Chính điều đó đã khiến cho trong giai đoạn này, ở Hy – La cổ đại đã xuất hiện rất nhiều những nhà tư tưởng chính trị vĩ đại. Nhưng phần lớn các tư tưởng này đều ủng hộ một nền dân chủ chủ nô, tức là coi xã hội chiếm hữu nô lệ là vĩnh cửu, nhưng điều đó không làm cho tầm quan trọng và giá trị của những tư tưởng này bị suy giảm mà còn có được chỗ đứng nhất định trong chính trị học hiện đại. Đặc biệt là những học thuyết có đề cập đến những hình thức nhà nước, các kiểu chính thể.
Trong các loại chính thể, ta có thể thấy cái chính thể hỗn hợp gần như là hoàn thiện nhất trong số các chính thể của xã hội chiếm hữu nô lệ. Và nó cũng là tiền đề của quan niệm tam quyền phân lập sau này. Vậy quan niệm về chính thể hỗn hợp bắt đầu xuất hiện từ khi nào và sự phát triển của loại hình chính thể này như thế nào, đó chính là nội dung chính của tiểu luận này.
Đầu tiên, chúng ta không thể không nhắc đến Herodot, người được xem là “người cha của chính trị học”, đã có công phân loại và so sánh các loại hình chính thể khác nhau là : Quân chủ, Quý tộc, Dân chủ. Ông phân loại chúng bằng hai tiêu chí : số lượng người cầm quyền và mục đích cầm quyền. Từ đó ông tiến hành phân loại và chỉ ra những ưu nhược điểm của mỗi loại hình chính thể. Đồng thời, ông cũng chỉ ra “ sự biến chất” của những người cầm quyền và khi đó hình thức nhà nước sẽ chuyển từ trạng thái đúng sang trạng thái sai. Trong học thuyết của mình, Herodot thiên về chính thể quân chủ hơn cả, bởi theo ông đây là hình thức mà dễ được tạo lập khi xã hội trở nên hỗn loạn. Song cái quan trọng nhất trong những đóng góp của Herodot là tu tưởng về chính thể hỗn hợp. Mặc dù có rất ít tư liệu về quan niệm này của ông nhưng một điều chắc chắn rằng đây là đóng góp quan trọng nhất của Herodot đối với chính trị học. Sau khi nêu ra ưu nhược điểm của các hình thức chính thể, ông đã đề xuất một loại chính thể mà ở đó có sự kết hợp những ưu điểm và khắc phục được những nhược điểm của cả ba loại chính thể đã nêu. Quan niệm về chính thể hỗn hợp của Herodot được Plato, Arixtot, Polibi, …, kế thừa và phát triển.
Thứ hai, chúng ta nhắc đến Plato – một trong những nhà triết học, nhà tư tưởng vĩ đại nhất của thời kỳ cổ đại. Tư tưởng chính trị của ông được trình bày trong nhiều tác phẩm ở những giai đoạn sang tạo khác nhau cảu ông, tuy nhiên đáng chú ý nhất là hai tác phẩm : “Nền cộng hòa” và “ Luật pháp”. Ở đó, quan niệm về chính thể hỗn hợp của Plato được thể hiện rõ trong tư tưởng về mô hình nhà nước lý tưởng. Ông chia xã hội ra làm ba tầng lớp: một là tầng lớp các nhà thông thái – có nhiệm vụ lãnh đạo chính quyền và điều hành xã hội ( tức nắm vai trò là người cai trị). Hai là tầng lớp chiến binh – những người có tâm hồn mạnh mẽ, họ là những người bảo vệ thành bang. Ba là tầng lớp lao động – họ có nghĩa vụ sản xuất cung ứng cho những nhu cầu thiết yếu trong xã hội. Và mục đích chính của mô hình nhà nước kiểu Plato là phục vụ lợi ích chung và vì hạnh phúc của mọi tầng lớp. Tuy vậy, ông cho rằng để vì cái lợi ích chung ấy được đảm bảo thì mọi người phải hoàn thành nghĩa vụ của mình và chỉ biết nhiệm vụ của mình, và hơn thế cái ranh giới giữa ba tầng lớp là cố định và vĩnh cửu, không bao giờ có được sự biến đổi dù là nhỏ nhất. Còn về hình thức chính thể mà Nhà nước phải lựa chọn thì theo Plato, đó phải là một “nhà nước đúng”, một nhà nước kết hợp trong nó những nhân tố của thể chế cơ bản – chuyên chế và dân chủ, tức là ông muốn “sự lựa chọn, nói chung đã được tiến hành , phải nằm giữa thể chế chuyên chế và dân chủ: thể chế nhà nước cần phải luôn giữ thế trung gian”. Và tất nhiên trong Nhà nước lý tưởng của Plato sẽ không có sự biến chất như trong các chính thể quân chủ, quý tộc hay dân chủ mà Herodot đã nêu trước đó. Trong suy tư của mình, Plato cũng đã đề cập đến một nhà nước hoàn thiện mà ở đó những người cầm quyền bị chế ước bởi pháp luật. Trong tác phẩm “ luật pháp” của mình ông viết: “ Ở đâu mà pháp luật là chủ nhân đứng trên những người cầm quyền, còn họ là nô lệ của pháp luật, thì tôi nhìn thấy sự giải thoát của nhà nước, đó chính là lợi ích mà Thượng đế có thể ban tặng cho nó”. Đồng thời, Plato cũng nói đến việc thành lập các Hội đồng để bảo vệ pháp luật ( hội đồng 37 người), một đại hội nhân dân cho mọi người dân tham gia và là nghĩa vụ bắt buộc đối với họ ( hội đồng 360 người), và cuối cùng là một hội đồng mà về bản chất nó gần như đứng trên nhà nước ( hội đồng 10 nhà thông thái và người già nhất). Mặc dù tư tưởng chính trị của Plato còn một số hạn chế như muốn khôi phục vị trí của tầng lớp chủ nô, song những tư tưởng của ông về vai trò của luật pháp thì dường như có sự manh nha của tư tưởng pháp quyền sau này. Tức là sự đề cao pháp luật trong tư tưởng của ông, dẫu cho nó còn “ sơ khai”. Một điều quan trọng nữa trong học thuyết của Plato đó là “thể chế xã hội công bằng” (trong sự phù hợp với nguyên tắc phân công lao động).
Tiếp theo, đó là quan niệm của Arixtot – “ nhà tư tưởng vĩ đại của htowif kỳ cổ đại” về chính thể hỗn hợp. Cũng như Herodot, Arixtot cũng phân loại các chính thể bằng hai tiêu chí: số lượng người cầm quyền và mục đích của sự cầm quyền. Ở đó cũng có kiểu nhà nước đúng và nhà nước sai. Ông cũng phân chia làm ba loại chính thể : Quân chủ, Quý tộc, và Dân chủ. Sau khi đi vào phân tích chúng ông cho rằng nếu cứ lựa chọn những hình thức chính thể trên thì sẽ không thoát ra khỏi được cái vòng luẩn quẩn : dân chủ - mị dân – độc tài. Do đó, trong học thuyết của mình, Arixtot đã đưa ra quan niệm về một thứ chính thể hỗn hợp mà ông gọi là thể chế cộng hòa. Đây là hình thức hỗn hợp giữa chính thể quý tộc và chính thể dân chủ. Trong quan niệm về chính thể Cộng hòa, Arixtot đã có những điểm kế thừa và có những điểm bất đồng. Như trong nhà nước cộng hòa của mình, Arixtot đã mở rộng cơ cấu quyền lực hơn Plato. Tức là ngoài tầng lớp các nhà thông thái, còn có tầng lớp giữa, đó là tầng lớp khá đông những công dân sung túc về của cải. Họ - theo Arixtot- là những người không quá nghèo mà cũng không quá giàu, cho nên sẽ không bị những cám dỗ của cải và không bị đè nén bởi sự nghèo khó. Bởi vậy mà ông dành nhiều sự ưu ái cho tầng lớp giữa. Và nhà nước cộng hòa này hoạt động dựa trên cơ sở pháp luật, những người tham gia bộ máy nhà nước sẽ được lựa chọn theo nguyên tắc kết hợp giữa tuyển cử và bốc thăm. Nói chung thì học thuyết chính trị của Arixtot cũng không thể tránh được những hạn chế nhất định (nhất là về những quyền lợi của giai cấp quý tộc chủ nô). Song không thể vì thế mà phủ nhận những giá trị mà học thuyết chính trị của Arixtot mang lại, như về việc tạo dựng cuộc sống cho con người. Mà hơn hết là quan niệm về chính thể cộng hòa đã mở ra con đường của truyền thống chính trị học phương Tây. Học thuyết chính trị của Arixtot đã đặt một dấu mốc trong sự phát triển của các học thuyết chính trị của nhân loại.
Quan điểm cuối cùng trong bài này là quan niệm của Polibi về chính thể hỗn hợp. Nội dung chủ yếu trong học thuyết chính trị của Polibi là qua các nghiên cứu, tổng kết của ông về các hình thức nhà nước thông qua những nghiên cứu về lịch sử Hy lạp và La mã cổ đại. Qua đó ta thấy sự phát triển tư tưởng của Polibi có sự kế thừa rất nhiều từ Arixtot và các nhà tư tưởng chính trị khác. Sau khi phân loại các hình thức chính thể bằng hai tiêu chí đã trở thành truyền thống tư duy chính trị Hy –
Thay lời kết, qua quan niệm của bốn nhà tư tưởng chính trị lớn nêu trên, chúng ta thấy được sự phát triển của quan niệm chính thể hỗn hợp càng về sau càng được hoàn thiện hơn. Và những tư tưởng đó được lấy làm cơ sở cho nền móng của ngành chính trị học hiện đại sau này. Quan trọng nhất là nó có những đóng góp giá trị vào thực tiễn chính trị trong thời hiện đại. Chứ không chỉ đơn thuần là lý thuyết chính trị. /. .
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét