Triết Lý, để làm gì ?

Khi ta bế tắc tư tưởng, chân thật công nhận rằng những kiến thức và phương pháp suy luận của ta không cho phép ta sống, tư duy và hành động khớp với khao khát làm người của ta, ngoài vô vàn cách ứng xử khác, ta có thể:

a) Tiếp tục sống, tư duy và hành động như cũ vì, dù sao, ta cũng sống được, không đến nỗi nào

b) Lột áo cũ, khoác áo mới, một tấm áo coi lành lặn đẹp đẽ hơn nhưng cũng hàm hồ không thua gì. Điều ấy luôn luôn khả thi bằng ngôn ngữ.

c) Đi tới cùng bế tắc của chính mình. Nếu không giải quyết được nó, ta ôm nó xuống suối vàng, để lại ở đời chỉ một câu hỏi. Câu hỏi của một con người. Đích thực. Có gì nhục đâu?

Nếu ta tưởng ta đã tìm ra một phần của giải pháp, ít nhất là cho riêng mình, thì cứ viết đi, chẳng cần trích cao nhân nào cả: họ đã là một phần của ta và ta đã phải “vượt” họ để nên mình.

Thế thôi.

(Chungta.com)

Góc nhỏ của Noby Vui Vẻ

Lục lọi, tìm tòi, đọc, cóp nhặt, chia sẻ, ... OK hay không tùy bạn ! ! !

“Nước độc lập mà dân chưa tự do thì độc lập cũng không có ý nghĩa”- Hồ Chí Minh.

1 thg 12, 2010

sự nghiên cứu chính thể của xã hội Hy - La cổ đại.


Lịch sử tư tưởng chính trị Hy – La gắn liền với quá trình hính thành, tiến hóa của xã hội Hy – La cổ đại và nhà nước chiếm hữu nô lệ. Sự ra đời và suy vong của nhà nước chiếm hữu nô lệ Hy Lạp và La Mã luôn gắn liền với các cuộc đấu tranh giai cấp mãnh liệt. Từ đó tạo ra những đòi hỏi sâu sắc trong đời sống xã hội quốc gia – thành thị đã làm nảy sinh một nhu cầu tìm hiểu một cách sâu sắc về quản lý quốc gia. Tư tưởng chính trị từ đó xuất hiện như là một trong những lĩnh vực kiến thức nhằm định hướng cho việc điều hành những công việc phức tạp của quốc gia. Trong thời kỳ này, ở Hy – La cổ đại cũng diễn ra bước phát triển nhảy vọt về trí tuệ, những nghiên cứu ở nhiều lĩnh vực có giá trị phổ quát, trong đó có chính trị học. Vậy những nguyên nhân sâu xa nào dân đến việc đời sống xã hội nảy sinh được nhu cầu tìm hiểu về các cách thức để quản lý quốc gia, mà cụ thể là các chính thể.

Bằng những kiến thức mà tôi được biết thì có mấy nguyên nhân sau khiến cho các chính thể luôn là vấn đề được nhiều nhà tư tưởng chính trị của thời kỳ Hy – La cổ đại nghiên cứu như một xu hướng lặp đi lặp lại. Đó là :

- Vị trí địa lý – chính trị thuận lợi.

- Sự phát triển của công cụ sản xuất làm nảy sinh chế độ tư hữu về của cải vật chất => quan hệ tiền hàng hình thành và phát triển.

- Quá trình phân công lao động của các giai tầng trong xã hội.

- Sự xuất hiện của những con người kiệt xuất trong xã hội.

Một nhà nghiên cứu đã nói Phương Đông trong quá trình tiến hóa của mình, đã đi lên bằng lưỡi cày đồng và quan hệ tập thể. Còn phương Tây thì bằng thanh gươm sắt và ý chí cá nhân. Quả vậy, nhìn vào quá trình lịch sử hình thành và phát triển của xã hội phương Tây và những thành quả mà nó đạt được thì ta có thể thấy được sự khác biệt giữa phương Đông và phương Tây. Và cái tạo nên sự khác biệt ấy chủ yếu là do những nguyên nhân trên đã tạo nên những tư tưởng mà cho đến ngày nay nhiều nước trên thế giới đã kế thừa, phát triển và áp dụng vào thực tiễn.

Do Hy Lạp cổ đại có vị trí địa lý thuận lợi với lãnh thổ rộng lớn, bao gồm miền nam bán đảo Ban Căng, các đảo Egie và miền ven biển phía Tây tiểu Á, rất thuận tiện cho công – thương nghiệp phát triển. Thêm nữa, ngay từ thế kỷ IX – VIII tr.CN, nền sản xuất chiếm hữu nô lệ ở Hy – La cực kỳ phát triển. Đó là thời kỳ nhân loại chuyển từ thời kỳ đồ đồng sang thời kỳ đồ sắt làm cho sản xuất phát triển. Với sự thuận lợi trong việc phát triển thương mại với các khu vực lân cận đã là cho quan hệ tiền hàng xuất hiện. Quan hệ tiền – hàng xuất hiện đã làm cho việc buôn bán ngày càng phát triển, tạo điều kiện cho việc giao lưu kinh tế và văn hóa giữa các vùng, các dân tộc.

Đồng thời sự phát triển của sản xuất đã dẫn đến việc các quan hệ và tổ chức trong xã hội cũ bị đảo lộn. Trong xã hội Nguyên thủy, các tổ chức xã hội là các thị tộc, bộ lạc mang tính cộng đồng cao, thì giờ đây với sự phát triển của quan hệ sản xuất, tư tưởng tư hữu của cải bắt đầu xuất hiện và sau đó phát triển lên thành chế độ tư hữu về của cải. Điều đó làm cho mỗi người buộc phải có ý thức và suy nghĩ hơn về bản thân và về xã hội. Như việc làm sao cho của cải của mình được nhiều hơn mọi người và nắm giữ được một chức vụ gì đó để có tài sản riêng….

Cùng với sự phát triển của công cụ sản xuất là sự tiến xa hơn trong các quan hệ sản xuất mà ở đây là sự phân công lao động. Chế độ chiếm hữu nô lệ không coi người nô lệ là người mà chỉ coi là một công cụ lao động biết nói. Họ không có quyền hành gì hết, chỉ biết tuân theo oong chủ và bị đem đi mau bán trao đổi như hàng hóa. Việc lao động tạo ra của cải vật chất trong xã hội nghiễm nhiên là nhiệm vụ của tầng lớp nô lệ và những người dân tự do. Còn tầng lớp quý tộc chủ nô không phải làm việc mà thực hiện việc quản lý xã hội và bóc lột thậm tệ bọn nô lệ ( những người này được gọi là chủ nô quý tộc). Ngoài ra còn có một bộ phận giai tầng chủ nô không quý tộc, tức là những người làm giàu bằng con đường buôn bán, thương mại.( những người này còn được gọi là chủ nô dân chủ). Kết quả của sự phân công lao động nói ở trên là cho phép xã hội xuất hiện tầng lớp những người lao động trí óc, những người không lao động chân tay có thời gian để nghiên cứu các vấn đề về khoa học, nghệ thuật,…, và do đó, càng tạo điều kiện nảy sinh các tư tưởng chính trị và các tư tưởng gia vĩ đại mà đến này chúng ta được biết.

Những tư tưởng chính trị này ra đời trong hoàn cảnh những cuộc chiến tranh diễn ra không nghừng giữa các thành bang nhắm tranh giành quyền lực và những mâu thuẫn gay gắt giữa giới chủ nô và tầng lớp nô lệ, giữa giới chủ nô dân chủ và chủ nô quý tộc. Giới chủ nô dân chủ thì chủ trương đập tan chế độ độc đoán và chuyên chế của tầng lớp quý tộc. Còn giới quý tộc thì lại muốn duy trì chế độ cũ, và bằng mọi cách để bảo vệ đặc quyền đặc lợi của minh. Song dù cuộc đấu tranh ấy có gay gắt đến đâu đi chăng nữa thì vẫn có một điều không hề thay đổi trong quan niệm của cả hai tầng lớp chủ nô, đó là họ vẫn ủng hộ và chấp nhận chế độ chiếm hữu nô lệ. Sự thừa nhận câu chuyện người bóc lột người là điều phải có. Nhà nước chỉ là thiết chế là của người tự do và chỉ dành cho người tự do.

Song cái mâu thuẫn chủ yếu trong xã hội Chiếm hữu nô lệ là cái mâu thuẫn giữa giới chủ nô và nô lệ. Người nô lệ đã vùng lên để chống lại sự áp bức tàn bạo nghiệt ngã của bọn chủ nô. Tuy vậy, cái xiềng xích nô lệ mà những người nô lệ cố gắng đấu tranh để vứt bỏ đã không thực hiện được. Nhưng những ảnh hưởng của các phong trào đấu tranh ấy đã có những ảnh hưởng nhất định đối với các tư tưởng chính trị. Và nhiều quan niệm về bình đẳng tự nhiên và tự do cho tất cả mọi người đã nảy sinh. Đặc biết là những tư tưởng về cách thức tổ chức xã hội – một xã hội có dân chủ, quyền công dân, sự tôn trọng lý trí, đạo đức và trí tuệ trong đời sống chính trị.

Còn một nguyên nhân cuối cùng, theo tôi đó là sự xuất hiện của các tư tưởng gia vĩ đại. Như Herodot, Plato, Arixtot, Polybe,… cùng những nhà cải cách chính trị như Solon, Crixten, Ephianten và Pericolet,… Chính những tư tưởng chính trị của những vị đó đã góp phần làm cho lịch sử các học thuyết chính trị phương Tây thêm phong phú và có nhiều giá trị. Đặc biệt là những giá trị của những tư tưởng về các vấn đề chính thể cũng như các cách thức tổ chức nhà nước.

Tóm lại, với những nguyên nhân trên, ta có thể dễ dàng nhận thấy vì sao giữa phương Đông và phương Tây có sự phát triển khác nhau đến vậy. Và vì sao mà trong lịch sử các học thuyết chính trị Hy – La cổ đại lại có nhiều nhà tư tưởng chính trị luôn nghiên cứu về các chính thể. Nhìn vào lịch sử Hy – La cổ đại chúng ta có quyền học hỏi các tư tưởng dân chủ và phát triển, kế thừa nó trong bối cảnh xã hội nước ta hiện nay. / .


Hồ Xuân Kiên

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét


Tổng số lượt xem trang

free counters