Triết Lý, để làm gì ?

Khi ta bế tắc tư tưởng, chân thật công nhận rằng những kiến thức và phương pháp suy luận của ta không cho phép ta sống, tư duy và hành động khớp với khao khát làm người của ta, ngoài vô vàn cách ứng xử khác, ta có thể:

a) Tiếp tục sống, tư duy và hành động như cũ vì, dù sao, ta cũng sống được, không đến nỗi nào

b) Lột áo cũ, khoác áo mới, một tấm áo coi lành lặn đẹp đẽ hơn nhưng cũng hàm hồ không thua gì. Điều ấy luôn luôn khả thi bằng ngôn ngữ.

c) Đi tới cùng bế tắc của chính mình. Nếu không giải quyết được nó, ta ôm nó xuống suối vàng, để lại ở đời chỉ một câu hỏi. Câu hỏi của một con người. Đích thực. Có gì nhục đâu?

Nếu ta tưởng ta đã tìm ra một phần của giải pháp, ít nhất là cho riêng mình, thì cứ viết đi, chẳng cần trích cao nhân nào cả: họ đã là một phần của ta và ta đã phải “vượt” họ để nên mình.

Thế thôi.

(Chungta.com)

Góc nhỏ của Noby Vui Vẻ

Lục lọi, tìm tòi, đọc, cóp nhặt, chia sẻ, ... OK hay không tùy bạn ! ! !

“Nước độc lập mà dân chưa tự do thì độc lập cũng không có ý nghĩa”- Hồ Chí Minh.

16 thg 1, 2012

Ngày thi cuối cùng của đời sinh viên + liên hoan tất niên với bạn bè...

quán bún đậu 

Viện Công nghệ thực phẩm - chỗ nhậu quen thuộc 

Thắng Béo 



xả hơi say 


Chúc mọi người và gia đình một năm mới an khang thịnh vượng!!! 

P/S: 
Tất cả những hình ảnh ngày hôm đấy: 


Vì Facebook bị chặn ác quá nên không post ảnh lên được. để tạm ở đây để mọi người cùng xem. Hy vọng qua tết fb lại vào được bình thường.

Trước khi về quê ăn tết ...

Kính chúc mọi người năm mới an khang thịnh vượng, sức khỏe dồi dào. 





P/s: tết là thời gian nghỉ ngơi để chuẩn bị cho năm sau sẽ có nhiều điều tốt đẹp hơn... cảm ơn quý vị đã ghé thăm trang blog nhỏ này. xin chân thành cảm ơn và chúc năm mới an khang thịnh vượng.

Kiên Hồ Xuân Kính chúc.

Cội nguồn của những khó khăn bất ổn hiện nay


Suy nghĩ về những ý kiến của Thầy Hoàng Tụy

Trương Quang Đệ

Hơn nửa thế kỷ trước, tôi là sinh viên khoa Toán, Trường ĐHSP Hà Nội. Trong các bộ môn mà tôi theo học, có môn “Phương pháp giảng dạy Toán” do Thầy Hoàng Tụy phụ trách. Bộ môn này không hoàn toàn trừu tượng và thuần tuý lí thuyết như đa số các bộ môn khác, bởi lẽ nó có nhiều phần mang nặng tính nhân văn như lịch sử toán học, cuộc đời và sự nghiệp các nhà toán học, thăng trầm của những phát minh toán học, triết lí toán học vv. Chúng tôi rất quí mến Thầy Tụy vì tầm hiểu biết và nhân cách của Thầy. Thực ra tôi học hành không lấy gì làm xuất sắc nên cho đến nay chắc Thầy không nhớ ra tôi là ai. Nhưng tôi theo dõi sự nghiệp của Thầy và vui mừng thấy Thầy có những đóng góp không nhỏ cho toán học nước ta và thế giới, đặc biệt trong lĩnh vực lý thuyết tối ưu. Điều làm mọi người quan tâm là gần đây Thầy có nhiều ý kiến mạnh mẽ nhằm giúp ngành giáo dục và ngành văn hoá thoát ra khỏi tình trạng bế tắc, hỗn loạn mà ai cũng nhận thấy rõ. Vào những ngày đầu năm 2012, Thầy có viết bài “Tái cấu trúc và sửa lỗi hệ thống” đăng trên mạng viet-studies của Trần Hữu Dũng. Bài này khái quát lại những gì Thầy đã suy nghĩ về hệ thống chính trị, văn hoá, giáo dục trong thời gian qua. Tôi không sợ mình sai lầm khi nhận xét rằng bài viết nói trên của Thầy có` giá trị như một học thuyết (doctrine). Đó là học thuyết về “lỗi hệ thống trong các hoạt động chính trị, kinh tế- xã hội” ở nước ta hiện nay. Học thuyết của Thầy, theo tôi, có thể được tóm tắt như sau: Nếu một khâu nào đó của hệ thống bị trục trặc một cách riêng lẻ, cục bộ thì hệ thống đã lường trước cách khắc phục. Nhưng khi sự trục trặc liên tiếp xẩy ra và không có cách gì sửa chữa được, đó là vì hệ thống có lỗi, tức là một yếu tố nào đó của hệ thống có vấn đề, bị khuyết tật. Trong trường hợp đó, ta rà soát hệ thống để sửa chữa lỗi. Thay hệ thống có khuyết tật bằng một hệ thống mới bảo đảm việc vận hành ổn định được gọi là tái cấu trúc hệ thống.
Thầy Hoàng Tụy đã chỉ ra một số trục trặc tiêu biểu của các ngành hoạt động xã hội như tham nhũng tràn lan mà không ai kiểm soát, lộng quyền mà nhân dân đành bó tay chịu đựng, bệnh viện quá tải với nhiều thầy thuốc vô cảm, sự gian dối chết người trong các ngành thực phẩm, xăng dầu…và cuối cùng là giáo dục yếu kém và phần nào lệch hướng.. Rõ ràng những trục trặc ấy không thể được khắc phục một cách riêng lẻ, cục bộ. Người ta đã đặt ra những ban chống tham nhũng và các ban ấy cũng thấy mình không có hiệu quả gì đáng kể..Người ta làm đủ chuyện để dẹp hàng vỉa hè, để chấn chỉnh giao thông nhưng rồi phố xá cứ ngổn ngang, tai nạn giao thông ngày càng nghiêm trọng. Trước tình hình ấy, Thầy Tụy kêu gọi tái cấu trúc hệ thống, rà soát hệ thống chính trị, rà soát những chủ trương kinh tế-xã hội, rà soát đến cội nguồn của những đều bất hạnh, tức là trả lời một cách trung thực cho câu hỏi “Tại sao lại như thế? Do đâu mà tình trạng đó cứ dai dẳng không dứt?
Để tìm hiểu sâu về học thuyết Hoàng Tụy, ta cần xác định các khái niệm cơ bản “hệ thống” và “cấu trúc”
Trong một tập hợp nào đó có các phần tử a, b, c….và các mối quan hệ alpha, bêta, gamma…người ta thường xét các phần tử của tập hợp theo hai bước. Bước một là việc sắp xếp các phần tử thành từng lớp theo một tiêu chí nhất định. Bước hai là sắp các lớp nói trên trên một hàng ngang theo các mối quan hệ alpha, bêta  vv.
Trong ngôn ngữ học, tập hợp các từ của một thứ tiếng được khảo sát trên hai trục, theo Ferdinand de Saussure. Trục dọc (hay trục liên tưởng – paradigm) là trục của các lớp từ chung một tiêu chí từ vựng-ngữ pháp như danh từ, động từ vv. Các phần tử của trục dọc thay thế cho nhau trong một cấu trúc. Chẳng hạn từ “Cha” trong câu “Cha đi vắng” có thể được thay thế bằng từ “Mẹ” để có câu “Mẹ đi vắng”. Trục ngang (hay trục ngữ đoạn –syntagm) thể hiện các mối quan hệ giữa các từ. Chẳng hạn các từ “cha”, “đi vắng”, “mấy hôm rồi” kết hợp với nhau theo hàng ngang để tạo ra câu “Cha đi vắng mấy hôm rồi”, trong đó “cha” đóng vai trò chủ ngữ, “đi vắng” là vị ngữ, còn “mấy hôm rồi” là bổ ngữ chỉ thời gian.
Con đường của ngôn ngữ học được khái quát cho các ngành khoa học khác. Bất luận đối tượng gì, tập hợp gì, ta cũng nghiên cứu theo hai trục ngang và dọc. Những phần tử thuộc trục dọc tạo thành hệ thống. Còn các phần tử thuộc trục ngang tạo thành cấu trúc. Thí dụ: hệ thống chính trị nước ta gồm các phần tử Đảng, Chính quyền, Quốc hội, Đoàn thể….Khi ta nói: “Đảng lãnh đạo các đoàn thể” thì ta nêu ra một cấu trúc, tức là mối quan hệ giữa các phần tử nào đó của một hệ thống.
Thầy Hoàng Tụy đề xuất việc “Tái cấu trúc và sửa lỗi hệ thống” nhằm một sự chỉnh đốn trên hai bình diện: rà soát những tiêu chí tạo thành hệ thống và các mối quan hệ nối kết chúng với nhau.
Một người làm toán trong lĩnh vực hình học sơ cấp Euclide một hôm phát hiện điều dị thường: Có một tam giác với tổng các góc lớn hơn 180 độ. Anh ta cần cù rà soát lại hệ tiên đề mà mình sử dụng và phát hiện trong hệ này có chứa một mệnh đề khả nghi, đó là: từ một điểm ở ngòai một đường thẳng, ta chỉ vẽ được một đường vuông góc với đường thẳng ấy, ngọai trù có trường hợp vẽ được hai hay nhiều hơn. Chính cái vế “ngoại trù” ấy dẫn đến điều dị thường. Trong xã hôi hiện nay ta thấy dân thường phàn nàn: Biết tỏng anh ta tham nhũng nhưng đành chịu. Rà soát lại “hệ tiên đề chính trị” ta thấy có mệnh đề khà nghi “không vị trí nào nằm ngoài pháp luật, ngoại trừ một số vị trí nhạy cảm”. Chính cái ngọai trừ đó sinh ra những bất ổn xã hội hay bất hạnh cho con người.
Người làm toán nói trên cuối cùng nhận ra rằng anh ta làm toán trên hai hệ tiên đề hỗn tạp, không ra Euclide mà cũng không phải Riemann. Trong một hoàn cảnh như vậy phải chấp nhận những kết quả không lấy gì làm tốt đẹp. Xã hội ta hiện nay sống với những hệ tiên đề hỗn tạp, tư duy chồng chéo, kết quả tùy tiện.  Thầy Hoàng Tụy muốn loại bỏ sự hỗn tạp ấy và xây dựng những cấu trúc hợp lý, đó là những mối quan hệ văn minh, bình đẳng, dân chủ, hiệu quả giữa các thành viên của xã hội.
Nhưng học thuyết Hoàng Tụy không dừng lại ở hai khái niệm hệ thống và cấu trúc (lỗi hệ thống và tái cấu trúc các hệ thống). Có một khía cạnh rất quan trọng của học thuyết ẩn chứa trong cụm từ “….mối quan hệ giữa các phần tử của hệ thống với môi trường bên ngoài”. Vậy môi trường bên ngoài là gì? Đây là một phạm trù khá rộng, bao gồm bối cảnh lịch sử, bản sắc văn hóa, truyền thống giáo dục, phong tục tập quán, định kiến xã hội, tín ngưỡng, vv. Cũng như trong nghiên cứu ngôn ngữ, người ta không dừng lại ở cấp độ từ vựng (hệ thống) và cú pháp (cấu trúc), người ta để nhiều công sức để nghiên cứu ngữ nghĩa (môi trường-ngữ cảnh), tức là tìm ý nghĩa thực tại của câu, từ trong các phát ngôn thuộc các tình huống khác nhau. Chẳng hạn câu “Mỹ tăng cường hiện diện quân sự ở Thái Bình Dương” sẽ có những ý nghĩa khác nhau trong những bối cảnh khác nhau. Đối với Việt Nam câu đó xuất hiện vào những năm sáu mươi của thế kỷ trước được coi như một sự kiện nguy hiểm cho an ninh đất nước. Ngày nay câu đó có thể có ý nghĩa ít bi quan hơn, và tùy đối tượng mà câu đó làm yên lòng hay gây lo ngại. Một thí dụ khác: Qua vẻ mặt của các nhân viên một cơ quan nọ khi thì thầm hỏi nhau: “Sếp đến chưa?” ta có thể biết nhân cách của sếp như thế nào. Nếu câu thì thầm với vẻ mặt lo lắng u sầu, chắc chắn vị sếp là người ít thân thiện với cộng sự. Còn nếu câu thì thầm với vẻ mặt tươi vui tràn trề hy vọng thì ta biết ngay sếp là người tốt, là chỗ dựa cho cộng sự.
Chính môi trường văn hóa ảnh hưởng rất lớn đến các phần tử của các hệ thống chính trị, kinh tế …từ thấp đến cao, không loại trừ ai. Môi trường đó thúc đẩy sự tiến bộ, hỗ trợ hữu hiệu cho sự vận hành của các hệ thống, nhưng nó cũng là nguyên nhân của những khuyết tật của các hệ thống, gây ra các lỗi hệ thống, làm rối loạn các cấu trúc. Ai cũng biết một dự án hay một chương trình nhà nước không hoàn thành được một phần do tham nhũng, cán bộ thiếu năng lực nhưng phần  không kém quan trọng là dân trí thấp. Giao thông hỗn lọan, phố xá xô bồ, một phần do nhà nước quản lý yếu kém, một phần do dân tình lạc hậu, thiếu ý thức cộng đồng. Ở các nước tiên tiến, trong các cơ sở thương mại dịch vụ họ không có đông người như ở ta. Siêu thị hay mặt bằng thương mại lớn chi có thu ngân. Ở ta thì ngoài thu ngân còn có vô số người khác bảo vệ vòng trong vòng ngoài, các sếp lớn nhỏ luôn đi lại kiểm tra công việc. Phải đầu tư nhiều tiền của để ngăn chặn tình trạng dân trí thấp, khiến cho lợi nhuận bị ảnh hưởng. Dân tình như vậy do đâu mà ra? Cán bộ yếu kém vì sao? Chúng ta sẽ tìm lời giải đáp ở những phần sau.
Môi trường văn hóa mà ta đang sống hiện nay rõ ràng là một môi trường không hoàn toàn lành mạnh. Nó chứa đầy những định kiến, thói quen, lối suy nghĩ, não trạng…của một thời chiến tranh du kích, không còn phù hợp với đời sống hiện đại nữa.  Do đó trong học thuyết Hoàng Tụy, bên cạnh việc sửa lỗi hệ thống, tái cấu trúc hệ thống, còn có việc khá quan trọng là “làm sạch môi trường”. Để minh họa cho những điều nói trên, ta lần lượt xét một vài thói quen cố hữu và một vài “minh triết” màu xám phổ biến trong xã hội ta hiện nay. Trước hết đó là chiến thuật nổi tiếng
 Lấy nông thôn bao vây thành thị.
Đây là chiến thuật của Mao Trạch Đông trong nội chiến quốc-cộng và Việt Nam, Algérie phần nào sử dụng trong các cuộc chiến tranh giải phóng. Vấn đề là dựa hẳn vào nông dân, sống trong lòng nông dân, đả phá những gì có tính đô thị như phá bỏ các công trình giao thông, xóa bỏ nếp sống đô thị…Nhờ đó mà quân cách mạng làm chủ nông thôn, cô lập các thành phố và cuối cùng chiếm lĩnh các thành phố. Hậu quả của chiến thuật này là sau khi thắng lợi, người ta nông thôn hóa thành thị, gây ra hỗn loạn trong giao thông, lối sống, vệ sinh môi trường. v.v.  Ở ta, trước thời kỳ đổi mới, người ta chỉ chú ý đến nông nghiệp, coi nông nghiệp là then chốt, là cứu cánh của xã hội. Người ta sẵn sàng cắt điện trường học, bệnh viện, xí nghiệp để lấy điện phục vụ chống hạn cho vài cánh đồng nhỏ bé, mặc dầu người ta biết như thế là làm mất hàng tỷ đồng để cứu vài triệu đồng, chưa tính hậu quả tinh thần khác. Chiến thuật lấy nông thôn bao vây thành thị làm ta bỏ lỡ nhiều cơ hội hiện đại hóa đất nước. Sau năm 1975 hay sau khi chủ trương đối mới, đáng lý ra phải làm ngược lại chiến thuật của Mao, có nghĩa là phải thành thị hóa nông thôn, hiện đại hóa đời sống nông dân, nâng cao học vấn dân trí nông thôn, đưa nước sạch về mọi nơi .,.thì người ta cứ kiên trì đường lối thời du kích. Điều đó giải thích tại sao phố xá xô bồ, giao thông hỗn loạn, ở Hà Nội người nói ngọng lên đến tầng lớp cao…
Một trong những “dư chấn” của não trạng chiến tranh du kích là mọi thứ nhất nhất phải được giữ bí mật, thậm chí thiên tai dịch bệnh cũng là những điều cần được giữ kín. Ngày nay bí mật được tháo gỡ nhiều nhưng vẫn còn những vị trí nhạy cảm mà báo chí không tiếp cận được. Ở những vị trí đó tiền lương, tiền thưởng, thu nhập cá nhân, ngân sách dành cho đơn vị….đều còn là những điều cấm kỵ. Người ta nghĩ rằng chỉ cần cơ quan có trách nhiệm nắm thông tin là được rồi, nhân dân không cần biết làm gì. Ai cũng thấy nếu không có thông tin thì việc chống tham những không tiến hành được, hơn nữa, các nhà nghiên cứu, các nhà sử học…rất cần thông tin để giúp cho hệ thống xã hội vận hành trôi chảy. Ở những nước Âu-Mỹ, cứ ba mươi hoặc bốn mươi năm, dân được tiếp cận với tài liệu lưu trữ. Ở ta gần như chưa ai nghĩ tới chuyện đó.
Rồi đến  những “minh triết màu xám” đang hoành hành trong hệ tư tưởng của chúng ta. Không lúc nào chúng ta không gặp những lối nói dễ dãi – lectio facilior-  kiểu Đạo đức kinh của Lão tử:
          Hình vuông lớn không có góc
          Âm thanh lớn là âm khe khẽ
          Cảnh lớn không có dạng
….
Chẳng hạn hàng ngày ta thường gặp những kiểu lý luận như
  A là A mà cũng không phải là A.
Hiện nay người ta không còn giữ các hợp tác xã nông nghiệp thời xưa nữa, việc cưỡng bách lập các hợp tác xã như vậy là không phù hợp với lòng dân, với thời cuộc. Nhưng những sách giáo khoa, sách lý luận vẫn nói rằng chủ trương hợp tác xã là đúng, nếu không có các hợp tác xã thì không có thắng lợi…Nếu bỗng dưng một ngày nào đó lập lại các hợp tác xã thì đó sẽ là một chủ trương đúng. Ngày trước chủ trương xóa bỏ tư hữu, tư sản, nông dân cá thể là đúng, nay tôn vinh doanh nhân, chủ trang trại, nông dân cá thể cũng đúng. Tóm lại “lý kẻ mạnh bao giờ cũng thắng” như bao đời nay dù thực tế lý đó sai mấy chăng nữa. Tôi không bao giờ sai lầm, nhưng cũng có lúc sai lầm! Y hệt như một người làm toán trên hai hệ tiên đề Euclide và Riemann hỗn hợp, có kết quả khi thì Euclide khi thì Riemann.
Ta lại có
  A đúng nhưng điều trái với A (gọi là không-A) cũng đúng.
Mọi người đều biết hiện nay trong nền kinh tế thị trường, không một lý thuyết cũ nào áp dụng được nữa. Tuy nhiên trong các trường học, các môn kinh tế chính trị vẫn nguyên si thời “bao cấp”. Gần đây người ta được xem phim “Bí thư tỉnh ủy”. Thật cảm động khi thấy nước ta có những vị bí thư vì dân vì nước như vậy. Đó là một cán bộ kiệt xuất. Nhưng những người từng chỉ trích vị bí thư này, làm tình làm tội ông đủ điều vẫn được coi là những cán bộ kiệt xuất. Vậy A là kiệt xuất và không-A cũng là kiệt xuất.
Chuyện xấu không hề tồn tại (Làm gì có chuyện ấy?) là cách nhìn quá khứ trong lĩnh vực văn hóa tư tưởng. Có những cá nhân bị xử lý oan sai trong những đợt “đấu tranh tư tưởng” nhưng trong các bài viết của giới tư tưởng hiện nay, họ được coi như không bị phiền hà gì cả.
 “Minh triết màu xám” còn rất nhiều, người dân bình thường thiếu cảnh giác tưởng đó là những chân lý lịch sử, đã được thử thách. Thực ra đó là những món hàng dỏm, trôi nổi trên thị trường và làm rối loạn hệ thống vận hành chính thức. Sau đây là một số thí dụ không cần bình luận:
  Cứ làm đi, rồi sai đâu sửa đấy, đó là tác phong dám nghĩ dám làm!
 Thương trường là chiến trường.
 vv….
Như Thầy Hoàng Tụy vạch rõ, thấy vấn đề đã khó, giải quyết vấn đề phức tạp hơn nhiều. Bởi lẽ, những khuyết tật của hệ thống gắn liền với những nhóm lợi ích đang cố tình bảo vệ hệ thống khuyết tật. Sửa lỗi hệ thống, tái cấu trúc hệ thống, làm sạch môi trường là những việc không tránh khỏi động chạm đến lợi ích của những nhóm ấy. Chỉ có áp lực mạnh mẽ của quần chúng, của các vị thức giả, của những người công tâm vì đất nước may ra mới làm cho tình hình chuyển biến.
Tôi thành tâm cáo lỗi với Thầy Hoàng Tụy vì bàn bạc về ý kiến của Thầy mà không trực tiếp tham khảo Thầy trước. Trong bài viết chắc chắn có những chỗ chưa đúng với ý của Thầy hay chưa thật thích đáng. Tôi mong Thầy và bạn bè xa gần khoan dung chỉ bảo.
HCM tháng 1/2012
Trương Quang Đệ

14 thg 1, 2012

Những phiên tòa và sự so sánh


1.Những ngày cuối năm này, có khá nhiều phiên tòa xử thu hút được dư luận báo chí. Từ việc xét xử một thiếu nữ tát CSGT, chiến sĩ công an dùng nhục hình tra tấn một người phụ nữ. Cho đến hai phiên tòa xử hai kẻ sát nhân: Lê văn Luyện và Nguyễn văn Ninh.
Trong phiên tòa xét xử cô gái có hành vi tát CSGT, cái án 6 tháng tù giam phải chăng là quá nặng đối với một cô gái trẻ, nhận thức pháp luật còn hạn chế và đã có sự ăn năn hối cải. Tòa án nhận định rằng đây là hành vi gây mất trật tự xã hội, xem thường pháp luật và được coi gây nguy hiểm cho xã hội. Có lẽ chuyện chẳng có gì đáng nói nếu như trong một phiên tòa khác. Phiên tòa xử hai đối tượng công an dùng nhục hình với phạm nhân. Nhưng hai “cán bộ điều tra” này chỉ bị hưởng có 9 tháng tù treo.

Tin về hai phiên tòa xem link phía dưới:

Nếu như hành vi của cô gái kia là xem thường pháp luật và ảnh hưởng đến xã hội, thì cái cách tra tấn của hai “đồng chí” cán bộ kia lại không nguy hiểm bằng ư? Tôi nghe nhiều trên báo chí thấy có nhiều vụ người dân chống lại CSGT nhưng đâu thấy họ bị xử đâu. Nhưng hãy khoan nói chuyện đó vì ở đây đang bàn đến tính chất của hai phiên tòa, ở cách xử án và mức độ nguy hiểm đến xã hội. Và nếu phán quyết của tòa án như thế mà được coi là công bằng thì, chả lẽ cái nhà nước pháp quyền là vậy sao???

2.Tiếp theo là hai phiên tòa xử hai tên giết người.
Vụ án Lê Văn Luyện đã làm xôn xao dư luận trong thời gian qua, việc cái án 18 năm tù được coi là quá nhẹ. Nhưng điều mà báo chí nhắc nhiều lại là hình ảnh hắn cười, cho thấy sự mất hết nhân tính của hắn. và hầu như báo nào cũng nhắc đến.
Nhưng có rất ít bảo đưa tin về một phiên tòa khác, chứ đừng nói đến bình luận gì. Phiên tòa xử Nguyễn văn Ninh, người đã gây lên cái chết của ông Trịnh Xuân Tùng. Nhưng vị TRUNG TÁ CÔNG AN này chỉ phải nhận 4 năm tù giam. Xem lại hình ảnh ông TRUNG TÁ này ngồi vắt chân trong phiên tòa thì nào có khác gì Lê văn Luyện đâu. Cái sự vô lương tâm nó cũng như nhau cả.
Nhưng cái hiểu biết của một người là trung tá công an với một kẻ bỏ học lông bong phải khác nhau nhiều chứ. Tại sao? Tại sao?

chuyện đất đai


nửa đêm thâu nghe lòng tê tái
khi đọc những dòng tin ấy
ngỡ rằng đây chỉ còn trong sử
mà vẫn còn hiện ở hôm nay.

ngày xưa anh Pha vì đâu nên nỗi
nhưng thời địa chủ thực dân nói làm gì
ngày hôm nay hòa bình đã lập
vậy mà sao chẳng của nhân dân.

ngồi trên cao với lời thề hứa
phục vụ cho lợi ích của dân
mà vì dân chỉ là bột giặt
mà tự do chỉ là đường đi
còn dân chủ, chỉ là nơi giải trí...

đã từ lâu tôi không còn tin nữa
rằng dấn thân là sẽ được no cơm
rằng cứ tin vào những lời có cánh
của một lũ biến chất, ruồi bâu.

đã từ lâu tôi không còn nghĩ nữa
phấn đấu để được cái bằng cao
công danh ư? được gì đâu chứ
thà về quê để thức tỉnh lòng người.

tôi hôm nay vẫn nghe lòng tê tái
chợt lạnh lòng khi nghĩ chuyện tương lai
nếu một ngày quê tôi nổ súng
ai đặt mìn,chĩa súng, có là tôi...

12 thg 1, 2012

Trần Đăng Khoa: Trầm ngâm ngoái nhìn năm cũ



(VOV) - Hình như chính chúng ta cũng đang đi lệch. Chúng ta quá quan tâm đến việc phát triển kinh tế mà lại sao nhãng, nếu không nói là bỏ quên văn hóa.
Thế là năm 2011 đã đi qua. Còn nhớ đêm cuối cùng của năm Dương lịch, Đài Truyền hình Việt Nam đã điểm lại những ấn tượng nổi bật trong năm bằng một chương trình đã được chuẩn bị khá công phu “Dấu ấn 2011”. 365 ngày, với 8760 giờ - Một bức tranh toàn cảnh của Việt Nam và Thế giới - thành cuộc diễu binh kỳ vĩ diễn ra trước mắt ta chỉ trong hơn hai giờ đồng hồ. Đại hội Đảng. Cuộc bầu cử Quốc hội. Cuộc chiến tranh ở Libya, cơn Đại sóng thần kinh hoàng tại Nhật Bản…Có một hình ảnh đã để lại trong tôi một ấn tượng rất đep. Đó là cuộc giải cứu hơn vạn người Việt Nam trong cuộc chiến tranh đẫm máu ở Libya. Lần đầu tiên, chúng ta đã tổ chức thành công đưa hơn 10.000 người Việt Nam thoát khỏi lửa đạn. Một công việc không thể nói là dễ dàng, vậy mà chúng ta đã làm được một cách ngoạn mục. Đây cũng là dấu ấn đẹp nhất của Chính phủ ta trong năm vừa qua.
Ở phần cuối chương trình là những việc nổi cộm nhức nhối. Tai nạn giao thông. Bạo lực học đường. Những bộ mốt lố lăng của giới ca sĩ trên sân khấu… Các bạn đồng nghiệp của tôi gọi đó là lệch chuẩn. Tôi thấy không phải chỉ lệch chuẩn mà còn loạn chuẩn. Hình như chính chúng ta cũng đang đi lệch. Chúng ta quá quan tâm đến việc phát triển kinh tế mà lại xao nhãng, nếu không nói là bỏ quên văn hóa.
Nhìn lại những thước phim tư liệu về Đại hội Đảng và các kỳ họp Quốc Hội trước đây, quây quần bên Bác là Chế Lan Viên, Xuân Diệu, Nguyễn Đình Thi, Trà Giang và rất nhiều nhà hoạt động văn hóa. Trong Đại Hội Đảng của chúng ta vừa rồi, có đến 1.700 đại biểu, mà không có đại biểu nào đại diện cho giới văn chương. Nhà thơ Hữu Thỉnh, một tác giả lớn, Chủ tịch của cả hai hội lớn: Hội Nhà văn Việt Nam và Hội Liên hiệp Văn học nghệ thuật Việt Nam, mà cũng không phải là đại biểu đến dự. Trong số hơn 500 Đại biểu Quốc Hội, trong đó có đầy đủ các thành phần xã hội, đặc biệt có rất nhiều các nhà Doanh nghiệp, nhưng cũng không có đại biểu nào Đại diện cho giới Văn hóa, Văn nghệ sĩ. Trong khi chúng ta có đến 7 Hội chuyên ngành. Đó là điều rất không bình thường.
Không thể phủ nhận vai trò quan trọng của văn nghệ sĩ trong tiến trình phát triển của lịch sử. Mặc dù số phận họ rất mong manh. Mong manh như cái đẹp. Mong manh như kiếp người. Nhưng họ lại là Hàn thử biểu của cả xã hội. Đằng sau họ là Nhân dân. Đặc biệt với những tài năng lớn, họ yêu ai, người đó sẽ bất tử, họ ghét ai, kẻ đó sẽ bị nguyền rủa đến hàng trăm năm, thậm chí là ngàn năm. Bằng sự mẫn cảm đặc biệt, nhiều nghệ sĩ còn đi trước cả thời đại.
Người đầu tiên chính thức gọi tên Thành Phố Hồ Chí Minh là Tố Hữu. Ngay sau khi Giải phóng Điện Biên Phủ, năm 1954, Tố Hữu đã gọi Sài Gòn là “Thành phố Hồ Chí Minh rực rỡ tên vàng”. 18 năm sau, mùa hè 1972, Chế Lan Viên nhắc lại: “Một Thế hệ Hồ Chí Minh - ấy là lực lượng/ Một Con Đường Hồ Chí Minh- Đó là phương hướng/ Một Thành phố Hồ Chí Minh là đích phía chân trời…”. Ba câu thơ Chế Lan Viên có thể xem như tư tưởng chỉ đạo Chiến dịch Hồ Chí Minh năm 1975. Mãi năm 1976, Thành phố Hồ Chí Minh mới chính thức có tên.
Bây giờ chúng ta mới học Tư tưởng Hồ Chí Minh, nhưng Chế Lan Viên đã đề xuất từ những năm kháng chiến. Lúc ấy, chúng ta đâu đã nhìn ra. Chúng ta học là học “ Chủ nghĩa Mác Lênin. Tư tưởng Mao Trạch Đông và Đạo đức Hồ Chí Minh”. Vẻ đẹp của Bác, lúc bấy giờ chúng ta mới chỉ nhìn thấy ở phạm trù Đạo đức. Những văn nghệ sĩ đích thực thường đi trước thời đại. Nhiều khi một bài thơ, hay một câu hát có sức mạnh bằng cả một binh đoàn. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhận ra sức mạnh ấy. Người đã quy tụ được những tinh hoa dân tộc từ những bến bờ cô lẻ: “Ta là một. Là riêng. Là thứ nhất” để hòa vào đời sống chung của toàn dân tộc: “Tôi cùng xương thịt với Nhân dân tôi”.
Nhiều văn nghệ sĩ, nhiều trí thức lớn đã từ bỏ những tháp ngà nghệ thuật, đến với cuộc sống cần lao gian khổ, cùng với nhân dân. Không ít người đã chiến đấu dũng cảm và đã hy sinh như những người anh hùng: Nam Cao, Trần Mai Ninh, Nguyễn Thi… và nhiều lắm. Có người đến nay vẫn không tìm được hài cốt.
Một nhà thơ đã viết: “Mẹ nuôi cái lẽ ở đời - Sữa nuôi phần xác. Hát nuôi phần hồn”. Và như thế, đứa trẻ lớn lên bằng sữa mẹ và câu hát. Rồi đến cả người trưởng thành cũng vẫn không thể thiếu hai bầu sữa vật chất và tinh thần. Đấy là hai cánh giúp chúng ta bay. Nếu thiếu vật chất, cơ thể còi cọc còn dễ nhìn thấy và cũng dễ khắc phục. Nhưng đứt gãy văn hóa thì hiểm họa khôn lường.
Nhiều người trông bề ngoài rất béo tốt nhưng lại ẩn chứa trong tâm hồn một cơ thể tàng tật, bệnh hoạn mà căn bệnh nguy hiểm này lại không dễ nhìn ra. Và rồi, cái gì đến sẽ đến. Chưa bao giờ đạo đức xã hội lại xuống cấp trầm trọng: Hiệu trưởng mua dâm học trò. Học sinh giết cô giáo ngay trên bục giảng. Quan chức ở một tỉnh nghèo mà còn đánh bạc mỗi lần đến cả 5 tỷ đồng. Rồi bạo lực tràn lan ở học đường. Những vụ hận tình ở lứa tuổi nhí rồi “tỉ thí”, hạ nhục nhau tung đầy lên mạng cho cả thế giới “chiêm ngưỡng”. Thật không thể tưởng tượng được.
Vụ cắt đầu người yêu của sinh viên  Nguyễn Đức Nghĩa đã làm ta ghê rợn. Vụ giết đến cả mấy mạng người trong một gia đình của Lê Văn Luyện mới làm ta thực sự kinh hoàng. Trong số những người bị giết một cách thảm khốc, có cả cháu bé mới mười tám tháng tuổi. Tội ác đã đến đỉnh điểm. Kẻ giết người tàn bạo nhất từ xưa đến nay ấy, vẫn đang còn ở lứa tuổi vị thành niên.
Hôm nay (10/1), vụ án ấy sẽ được đem ra xét xử. Theo Bộ luật hình sự hiện hành, mức phạt cao nhất đối với người ở lứa tuổi vị thành niên là mười tám năm tù giam. Bởi thế mà Luyện vẫn nhơn nhơn, lại còn vui vẻ đùa cợt trong lúc chờ ra pháp đình. Nếu có chút ân hận thì Luyện chỉ ân hận vì đã làm phiền đến bố mẹ hắn. Còn việc hắn xóa sổ cả một gia đình, để lại nỗi kinh hoàng cho cả mấy dòng tộc và niềm bất an cho cả một xã hội trong cái Tết này thì sao?
Nếu Luyện thoát được án tử hình, mà chỉ phải chịu mức phạt 18 năm ấy thôi thì rồi sẽ dẫn đến những hệ lụy chúng ta không thể lường hết được: Sẽ xuất hiện hàng loạt những kẻ giết người rất tàn bạo ở lứa tuổi vị thành niên. Thì đã có bao nhiêu nhóm côn đồ nhí tự nhận mình là “Đàn em anh Luyện” ở trên mạng đó thôi. Rồi chính những kẻ giang hồ, những kẻ dã tâm sẽ lại mượn bàn tay các em để thanh toán các đối thủ của mình, nghĩa là có thể giết được người, giết nhiều mạng người mà vẫn có thể thoát được sự trừng phạt cao nhất của pháp luật, như thế có khác gì chính Bộ luật chưa phải đã hoàn thiện vì thiếu tính chuyên nghiệp cao của chúng ta đã “giải thoát” cho kẻ tội đồ. Đấy mới là điều đau lòng và đáng sợ nhất.
Một năm đã đi qua với bao nhiêu niềm vui nhưng cũng không ít những nguy cơ có thể dẫn đến những thảm họa tương lai, nếu chúng ta không có những biện pháp kịp thời ngăn chặn.
Năm tới là năm CON RỒNG. Chúng ta đang mong ước sẽ thành một CON RỒNG của Châu Á phồn thịnh, an bình và phát triển. Cầu mong, cũng như những năm kế tiếp, cả dân tộc ta sẽ thực sự là một CON RỒNG đã cất cánh, để bay tới những đỉnh cao mới. Những đỉnh cao mà ở đấy, chỉ thấy lấp lánh ánh sáng của Trí tuệ  và lòng Nhân ái mà không có máu người…/.
Trần Đăng Khoa

Nguồn: http://vov.vn/

11 thg 1, 2012

Xả súng vào công an: Cùng quẫn và manh động


(Dân Việt) - Mất đất, có nghĩa là mất tư liệu sản xuất. Mất tư liệu sản xuất, đối với nông dân, là mất tất cả. Mất tất cả, có nghĩa chẳng còn gì để đổi ngoài mạng sống.

Khi viết "Bước đường cùng", nhà văn Nguyễn Công Hoan "đẩy" nhân vật chính – Pha - vào thế bị bần cùng hóa, chẳng còn gì để mất. 84 năm trước đây, trong đời thật, anh em nhà Mười Chức, trong thế bước đường cùng, đã đổi 5 mạng sống của gia đình, trong đó có một con người thậm chí chưa kịp được sinh ra, để giữ đất, cũng là lẽ sinh tồn, trong vụ án nổi tiếng, xảy ra vào năm 1928 tại Bạc Liêu.
Có lẽ, khi đặt mìn, xả súng tự chế vào nhà chức trách hôm 5.1, anh em nhà họ Đoàn có lẽ cũng ý thức được hậu quả mà hành vi phạm pháp của mình mang lại (?).
Nhưng vì sao cả Pha, cả anh em Mười Chức thời xưa, và nay là Đoàn Văn Vươn sẵn sàng đánh đổi với cái giá quá đắt đến như vậy?

Công an, bộ đội gỡ mìn cài trong trang trại của Đào Văn Vươn. T.L
Câu trả lời thực ra không khó. Họ đã bị đẩy đến bước đường cùng. Như 300.000 hộ nông dân ở đồng bằng sông Hồng, 100.000 hộ nông dân ở vùng nghèo khó Đông Nam Bộ và hàng trăm ngàn nông hộ khác trên khắp dải đất chữ S này.
Mất đất, có nghĩa là mất tư liệu sản xuất. Mất tư liệu sản xuất, đối với nông dân, là mất tất cả. Mất tất cả, có nghĩa chẳng còn gì để đổi ngoài mạng sống. Có người cho đây là bất đắc dĩ. Bất đắc dĩ dẫn đến manh động, đến bạo lực. Nhưng trường hợp Đoàn Văn Vươn có lẽ sẽ rất oan khi cho đây chỉ là bất đắc dĩ.
Đầu những năm 90 của thế kỷ trước, cuộc chinh phục biển cả của Đoàn Văn Vươn bắt đầu bằng những gánh đất "quăng" xuống biển. "Có người bảo Vươn dại như con vích". Có người thách đố Vươn. Người khác bảo anh mạo hiểm khi dám thách thức thần biển.
Người đàn ông của đất Hải tần phòng thủ bấy giờ đã nói đầy tự tin: "Người thách đấu, tôi không sợ. Chỉ sợ trời thách đố tôi thôi". Từng hạt đất bám trụ. Từng viên đá trơ gan. 20.000m3 đất, đá đã được đổ ra biển để sú, vẹt có chỗ bám chân, để con tôm, con cá có chỗ sống, và để con người có kế sinh khai, có cái mà hy vọng.
Và, với không biết bao nhiêu mồ hôi, nước mắt, và có lẽ cả máu nữa, công việc tưởng chừng như dã tràng xe cát rút cục cũng đã giúp Đoàn Văn Vươn tạo lập một cơ ngơi 50ha đầm nuôi trồng thủy sản. Đoàn Văn Vươn sợ trời. Nhưng xưa nay nhân định thắng thiên cũng nhiều".
Đây là những nét chính về Đoàn Văn Vươn và công cuộc trường chinh lấn biển của anh trong bài báo "Kỳ tài đất Tiên Lãng và cuộc chinh phục lời nguyền của biển", được đăng tải trên báo Đời sống và Pháp luật 14 tháng trước.
Nhưng càng thắng Thiên, họ Đoàn càng nợ nần, càng lệ thuộc vào "tư liệu sản xuất", vừa là sinh kế, vừa là món nợ vật chất có thể sẽ phải "di truyền" sang đời con cháu nếu họ Đoàn, một người nông dân, mất sạch tư liệu sản xuất.
Sự cùng quẫn trong hành vi manh động của họ Đoàn, càng cho thấy tính chất "bước đường cùng" trong thân phận của anh, một thân phận mà các nhà văn hiện thực phê phán đã nhiều lần nói tới, tưởng như chỉ xảy ra thời kỳ phong kiến: Cố cùng liều thân.
Vì sao một quân nhân phục viên, một kỹ sư nông nghiệp, một người nông dân cả đời bán mặt cho đất, bán lưng cho giời, lại có thể manh động, bạo lực đến như vậy?
Câu trả lời, đơn giản đến tàn nhẫn: Người nông dân này bị thu hồi khi thời hạn giao đất đã hết 14 năm chứ không phải 20 năm theo quy định của Luật Đất đai 1993 để có một sinh kế. Không phải là ngẫu nhiên mà Hội Nông dân không ít lần đề nghị Nhà nước sửa đổi Luật Đất đai, giao quyền sử dụng lâu dài cho nông dân từ 20 năm lên 50-70 năm và thậm chí… 99 năm.
Nguyên do của những hành động vi phạm pháp luật đến mức nguy hiểm là từ quyết định mang tính tước đoạt, nhấn mạnh là không một xu bồi thường, làm những người nông dân như Đoàn Văn Vươn mất toàn bộ tư liệu sản xuất, rơi vào cảnh bần cùng hóa. Khi người nông dân đã phải nói "lên bờ (mất ruộng đất) chỉ có chết thôi, "lên bờ" không thể sống bằng cái gì được, nhà cửa không có". Thì rõ ràng, chính quyền địa phương đã đẩy người nông dân đến bước đường cùng.
Có hai kỷ lục về câu chuyện mất đất được nói đến trong thời gian gần đây. Ở Đà Nẵng, có trên 40.000 hộ nông dân bị mất đất do phải di dời, giải tỏa. Ở Bắc Ninh, một tỉnh có diện tích "nhỏ nhất nước", sau 10 năm "trải thảm đỏ", 3.000ha đất nông nghiệp bị thu hồi. Việc "Cứ 5 hộ dân thì có 1 hộ mất đất canh tác"; "Có những thôn xóm mà 90-95% diện tích đất nông nghiệp bị "khai tử", có lẽ cũng là một kỷ lục khác.
Website Hội NDVN hồi đầu năm nay đã đưa ra các con số: Vùng ĐBSH có số hộ bị thu hồi lớn nhất với khoảng 300.000 hộ. Đông Nam Bộ cũng khoảng trên 100.000 hộ. Hai địa phương có số hộ bị thu hồi đất lớn nhất là Hà Nội: 138.291 hộ và TP.HCM: 52.094 hộ. Theo cách tính toán khá chi li của Cục Hợp tác xã và Phát triển nông thôn (Bộ NNPTNT), mỗi ha đất thu hồi ảnh hưởng tới 10 lao động nông nghiệp. Như vậy, việc thu hồi đất nông nghiệp trong 5 năm đã làm đời sống của 2,5 triệu người bị lung lay.
Mất đất, có nghĩa là mất tư liệu sản xuất. Mất tư liệu sản xuất là mất chiếc cần câu cơm. Có nghĩa là mất hết. Đoàn Văn Vươn chỉ manh động hơn gần 500 nghìn nông hộ khác là anh và gia đình phải chịu, ở mức độ nặng nề hơn, lối đòi đất không khác gì tước đoạt.
Đoàn Văn Vươn có thể thắng Thiên. Nhưng có lẽ anh không thể đo được độ nông sâu của lòng người, không thể biết hết được sự tàn nhẫn và trắng trợn của chính quyền địa phương.
Đào Tuấn

Nguồn: Danviet.vn

10 thg 1, 2012

Kỳ tài đất Tiên Lãng và cuộc chinh phục lời nguyền của biển


Đời sống & Pháp luật
Thứ Năm, 22/07/2010-8:33 AM

Kỳ tài đất Tiên Lãng và cuộc chinh phục lời nguyền của biển

Đã biết về anh cách đây mấy năm, biết về cuộc đời đầy sóng gió và bão táp, biết cả những nỗi đau và day dứt hằn sâu tâm can con người anh, nhưng tôi chưa có dịp tìm hiểu sâu về cuộc đời nhiều bi hùng ấy. Trung tuần tháng 7 vừa qua, tôi lại có dịp về Tiên Lãng, đúng vào ngày có dự báo cơn bão Conson chuẩn bị đổ bộ vào nước ta, để ngồi với anh, nghe anh kể về cuộc chinh phục lời nguyền của biển...

Chinh phục "thần" biển
Câu tôi nói vui với anh, ngay khi biết về những việc anh đã làm, là cái tên anh nó vận vào đời anh nhiều quá. Anh tên là Đoàn Văn Vươn, sinh ra trong một gia đình có truyền thống cách mạng ở xã Bắc Hưng, huyện Tiên Lãng, T.P Hải Phòng. Dường như, khi cha mẹ sinh ra anh đã có dự cảm về cuộc đời đứa con mình nên đã đặt cho anh cái tên lạ lạ: Vươn. Cái tên như gửi gắm một hi vọng: anh sẽ vươn ra biển khơi, chinh phục cuộc đời, chinh phục biển cả để thoả lòng mong mỏi của người cha già với nguyện ước "con hơn cha, nhà có phúc".
Đối với người dân vùng biển, biển luôn là người mẹ nuôi dưỡng những khát khao. Biển cũng là nguồn tài nguyên thuỷ hải sản vô giá và cũng là nỗi lo sợ, ám ảnh trước những cơn bão tố. Một trận cuồng phong có thể san bằng tất cả! Hơn ai hết, Đoàn Văn Vươn, người con của một vùng biển nghèo hiểu rõ điều đó. ở tuổi hừng hực chí trai, sức trẻ, anh đã đầu quân đi bộ đội. Môi trường quân đội đã thêm một lần nữa rèn giũa ý chí, nghị lực cho anh. Rời quân ngũ năm 1986, trở về địa phương, anh chỉ có một khát khao duy nhất, chinh phục chính miền đất quê mình để làm kinh tế. Để có cái ăn, để có cái mặc. Mặc dù đã nhanh chóng trang bị kiến thức bằng một tấm bằng đại học Nông lâm, nhưng anh lại từ chối làm cán bộ Nhà nước. Từ bỏ mộng quan trường ở thời điểm đó là một quyết định “lạ đời”, nhất là khi có bằng cấp trong tay. Đoàn Văn Vươn đã quyết làm một người nông dân thực thụ. Quyết làm một điều mà trước anh không ai dám nghĩ đến, chứ đừng nói là bắt tay làm.
Bỏ bằng đại học đi làm nông dân
Tiên Lãng có một địa danh gắn với sự dữ dội của biển và nghèo khó của con người: cống Rộc. Mỗi mùa mưa bão đến, sóng biển, gió biển ào ạt ngập lụt, đói kém thì sự cùng cực mà người dân nơi đây phải gánh chịu, phải chống đỡ trong kiệt quệ tinh thần, vật chất không gì diễn tả nổi. Trên một con đê trải dài ngút ngát, cống Rộc như một hiệp sỹ dũng cảm đối đầu với biển cả để bao bọc, chở che cho những người dân trót gắn đời mình vào phận biển. Nhưng sức mạnh khủng khiếp của thiên tai đã không biết bao lần bắt cống Rộc phải đầu hàng và cũng vì thế nó thành nỗi khiếp sợ mỗi khi bão biển, nước biển vượt qua phòng tuyến này. Lúc đó chỉ là mênh mông trời nước. Lòng người cũng dậy sóng theo từng con nước lớn.
Hiểu rõ điều đó, Đoàn Văn Vươn đã quyết làm một điều gần như không tưởng: chinh phục "thần" biển. Chinh phục cả nỗi khát khao không chịu đầu hàng số phận. Thế là từ cuối những năm 80, những viên đá đầu tiên được chàng trai Đoàn Văn Vươn mang đến trong cuộc trường chinh lấn biển, tạo hành lang bảo vệ để lấy diện tích khai thác nuôi trồng thuỷ sản. Chuyện đời, đâu dễ như nói.
Bằng cách nào để khuất phục biển? Đó là câu hỏi ngày đêm Đoàn Văn Vươn trăn trở. Anh đã bỏ hàng tháng trời để ăn biển, nằm biển, lắng nghe từng cơn sóng thuỷ triều lên, xuống, mải miết tìm đáp án. Không có sách vở nào dạy, không có kinh nghiệm tiền lệ nào để học theo. Chỉ có một điều đang dần lớn lên - Đó là ý chí. Bão lòng người đang dần lớn hơn bão biển. Nó dường như muốn phá tung khao khát đang bùng cháy trong anh. Đoàn Văn Vươn đối diện với hàng ngàn thách thức, suy tư. Khi đã hiểu rõ quy luật con nước, hiểu rõ thời điểm nào cần "ra tay" để bắt đầu, thì anh vấp phải không ít sự dèm pha.
Cái sự dám khuất phục "thần" biển của Đoàn Văn Vươn chả hiểu thế nào lại lan ra khắp vùng, lan ra cả các địa phương khác, trong đó có vùng đất Tiền Hải của tỉnh Thái Bình. Anh kể: "Lúc đó có một người chuyênkhai thác các vùng đất ven biển của huyện Tiền Hải tỉnh Thái Bình, để làm ăn. Khi biết tôi có ý định chinh phục vùng biển quê Tiên Lãng này, người ấy đã thông qua nhiều người thách thức tôi, rằng nếu tôi làm được, sẽ sẵn sàng mất cho tôi một chiếc xe máy đẹp. Người ấy mỉa mai, diễu cợt việc làm của tôi. Người vùng biển, nói là làm, người kia thách thức tôi chắc vì nghĩ tôi không làm nổi. Mặt khác, tôi hiểu đây còn là một sự thách đấu. Lúc đó, một chiếc xe máy đẹp có thể ví như con xe Camry bây giờ. Người thách đấu tôi không sợ, chỉ sợ Trời thách đố tôi thôi", anh nói, mắt nhìn xa xăm. "Đã thế tôi càng quyết tâm làm".
Đã có người bảo Vươn dại như con vích. Một con vật kỳ lạ của biển, là hay lôi ngược lại người ta. Nếu muốn bắt nó vào bờ, thì thay vì lôi nó vào bờ, người ta lôi nó ra... biển để nó đi theo chiều ngược lại. Cũng có người bạo mồm nói, thằng Vươn dám đi khuất phục "thần" biển là việc làm mạo hiểm.

"Vui sao nước mắt lại trào"
Nhiều năm trời, người dân nơi đây chứng kiến Đoàn Văn Vươn cùng anh em họ hàng quần quật lao vào cuộc trường chinh lấn biển. Có khi hôm trước làm, hôm sau sóng biển san thành bình địa. Hôm sau nữa lại làm, sóng biển lại biến sức người thành bong bóng. Có khi nhìn thấy ít đất, đá còn bám trụ sau con sóng mà rơi nước mắt, Vươn đã tự đặt câu hỏi, thế này thì đến bao giờ? Hay là mình thất bại? Cứ thế, cứ thế, từng hạt đất bám trụ, từng viên đá trơ gan bám trụ là lại thêm một tia hi vọng. Một ngày trôi qua là khắc khoải chờ đợi một ngày mới, công sức bỏ ra không biết bao nhiêu mà kể hết.
Nói với chúng tôi, anh bồi hồi nhớ lại: "Nếu tính sơ sơ, đã có trên 20.000 m3 đất, đá được đưa đến đây, trên vùng đất ven biển Tiên Lãng mà các anh đang đứng trong cuộc chinh phục biển cả của tôi. Nói ra chính tôi cũng ngỡ ngàng, tôi làm như mê, như say. Bởi chỉ còn phía trước để tiến, chỉ còn biển để vươn ra. Tôi không có đường lùi, bởi thành công chỉ có cách duy nhất với tôi, đó là vươn ra biển".

Ngoài hàng chục ngàn m3 đất, đá đó, là biết bao sức người, sức của. Vừa lấn biển, chỉnh trị dòng nước triều dâng, vừa trồng cây bám đất, đã biết bao lần cây trồng lên lại bị biển nuốt trôi. Mất sạch. Tiếp tục trồng lại từ đầu, hàng ngàn cây bần, cây vẹt đã theo con sóng lẫn vào trùng khơi. Tiếp đó, không chỉ đất đá, hàng trăm tấn xi măng được đưa vào để tiếp thêm sức gắn kết thô mộc của đất và đá... Cuối cùng Trời không phụ lòng người, dòng chảy của biển ngoài đê biển cống Rộc đã bị khuất phục mà chuyển hướng. Phía chân đê có chỗ sâu gần 2 m, cốt âm, đã được nâng lên cốt dương. Từ đó hàng chục héc ta đất bãi bồi ven biển hình thành. Cũng theo đó, gần 70 ha rừng vẹt ngăn sóng biển đã bám trụ thành công. Không có tiếng vỗ tay.
Ngày nhìn thấy thành công trong mắtN, trong lòng, thoả khát khao của ước mơ ngàn đời "xưa nay nhân định thắng thiên cũng nhiều", lại là ngày nước mắt ầng ậc tuôn trào. Một nỗi đau câm nín, ngày đón nhận sự thành công mà có người đã nói là không tưởng đó, Đoàn Văn Vươn đã một mình đi lang thang ven biển. Đi trên chính phần đất bồi ven biển mà công sức anh đã tạo nên. Một mình vừa đi vừa lẩm nhẩm gọi tên đứa con gái xinh xắn dễ thương của mình, để tưởng nhớ đến nỗi đau và mất mát của riêng anh. Con gái anh, đứa con gái 8 tuổi ngây thơ và thân thương, nó cũng mang trong mình dòng máu chinh phục biển cả của bố đã vĩnh viễn ra đi. Và lý do cũng chính vì con nước biển trào dâng dẫn đến việc cháu chết đuối ở cống Rộc, trong chính những ngày bão tố ầm ầm, khi đó cũng là lúc anh đang chinh phục biển. Nỗi khiếp đảm khi nhắc lại chữ cống Rộc với người dân xứ này giờ trở nên thanh bình kỳ lạ. Anh đã thành công, cống Rộc trở nên yên ả trước phong ba, bão tố. Còn anh, một mình hứng nỗi đau câm lặng.
Anh không nói, nhưng vị đồng nghiệp đi cùng bảo, sự thành công trong việc trồng rừng chắn sóng, lấn biển của anh đã khiến người Nhật quan tâm. Một số chuyên gia nguời Nhật cũng đã tìm đến anh để học hỏi, trao đổi kinh nghiệm. Ngẫm ra, anh cũng là bậc kỳ tài rồi. Vậy mà 3 năm gặp lại, kể từ ngày biết anh, anh vẫn thế, mộc mạc và thuần hậu. Những việc anh làm có trời biết, đất biết. Còn việc đời và mất mát của anh, tôi cũng chỉ chia sẻ được phần nào. Bởi có những lúc, lòng người còn dậy sóng hơn biển cả. Đứng với anh trên con đê nơi có cống Rộc, phóng tầm mắt nhìn ra, ngút ngát một mầu xanh, mầu xanh tươi từng thấm đẫm cả máu, mồ hôi và công sức. Phía xa hình như đang có một cơn giông...
Quang Trung

5 thg 1, 2012

Đảng chính trị và điều kiện cầm quyền



Ở Việt Nam, sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, về thực chất, đã tồn tại chế độ một đảng cầm quyền, mặc dù có một thời gian dài ngoài Đảng Cộng sản Việt Nam còn có Đảng Dân chủ, Đảng Xã hội cùng hoạt động chính trị. Và có lẽ vì thế, mọi chủ trương xây dựng Đảng đều tập trung vào vấn đề nâng cao năng lực cầm quyền, ít và dường như không đề cập đến vấn đề điều kiện để Đảng giữ vững được vị thế cầm quyền.
Về mặt pháp luật, Bộ luật Dân sự Việt Nam đã xác định cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội… là những pháp nhân dân sự, nhưng không xác định rõ tổ chức nào là tổ chức chính trị. Điều đó làm cho khái niệm “tổ chức chính trị”, tiêu chí phân biệt nó với các tổ chức khác, nhất là với tổ chức chính trị - xã hội trở nên không rõ ràng. Trên thực tế, người ta có thể hiểu tổ chức chính trị rộng hơn, không chỉ là Đảng và các tổ chức của Đảng, vượt ra ngoài phạm vi điều chỉnh mà các nhà* lập pháp xác định.
Cũng từ yêu cầu và chủ trương chính trị nên nhiều chương trình, đề tài khoa học chỉ khuôn vào nghiên cứu những vấn đề lý luận về đảng cầm quyền, trong đó có khái niệm “đảng cầm quyền”; khái niệm “tổ chức chính trị”, “đảng chính trị” ít được chú ý làm rõ. Nhưng, thực tiễn chính trị cả trong quá khứ và hiện tại, ở tất cả các quốc gia đều cho thấy, không một đảng cầm quyền nào lại trước hết không là đảng chính trị. Công đoàn Đoàn kết Ba Lan trước đây đã trở thành lực lượng chính trị cầm quyền, mà thực chất là đảng chính trị, mang bản chất và thuộc tính của đảng chính trị, phai lạt, mất đi các thuộc tính vốn là thiên chức của Công đoàn.
Như vậy, làm rõ những đặc trưng bản chất của đảng chính trị, từ đó đặt cơ sở cho việc xác định khách quan những điều kiện để một đảng chính trị cầm quyền giữ được vị thế cầm quyền, dù trong chế độ đa đảng hay một đảng, là hết sức có ý nghĩa khoa học và thực tiễn.
Cũng như sự phức tạp của chính trị, của chính trường chính trị, quan niệm về đảng chính trị không kém phần phức tạp. Trước đây, trong một đạo luật về đảng chính trị của Cộng hoà liên bang Đức đã đưa ra khái niệm “đảng chính trị” và các khái niệm về hội, hiệp hội - những thành viên của xã hội dân sự, làm nên diện mạo và sức sống của xã hội ấy. Theo đạo luật này thì Đảng chính trị là một tổ chức được hình thành trên cơ sở các thành viên có chung một thế giới quan và chung mục đích là đấu tranh (tranh giành) giành quyền lực nhà nước; còn Hội hoặc hiệp hội là sự tập hợp của những cá nhân có chung những lợi ích nhất định, nhằm hình thành ý chí tập thể và để bảo vệ những lợi ích chung đó của các thành viên.
Theo quan niệm trên và từ nghiên cứu thực tiễn chính trị các nước, có thể thấy sự khác nhau giữa đảng chính trị và tổ chức xã hội (hội, hiệp hội) căn cứ chủ yếu vào hai tiêu chí sau:
Một là, Cơ sở hình thành tổ chức, với đảng chính trị là thế giới quan, gắn với nó là lợi ích chính trị của một giai cấp, tầng lớp xã hội nhất định; với tổ chức xã hội là lợi ích, chủ yếu là lợi ích nghề nghiệp. Như thế, đảng chính trị mang tính giai cấp, là đảng của giai cấp, trong khi tổ chức xã hội mang tính xã hội, của xã hội.
Biểu hiện tập trung của thế giới quan của đảng chính trị là ở hệ tư tưởng và chủ thuyết cầm quyền, thể hiện ra ở cương lĩnh chính trị của đảng, ở quan điểm của đảng về các vấn đề xã hội, chính trị, kinh tế, về quan hệ giữa các quốc gia, dân tộc và các vấn đề quốc tế khác, nhằm bảo vệ lợi ích của quốc gia, dân tộc mà đảng chính trị có tham vọng đại diện. Ở các nước có hệ thống chính trị đa đảng, cương lĩnh chính trị của đảng thể hiện ở cương lĩnh tranh cử trong các cuộc bầu cử nghị viện, tổng thống, các hội đồng địa phương. Từ cương lĩnh tranh cử và bằng một bộ máy vận động bầu cử hết sức phức tạp, sôi động mà đảng chính trị tranh đua số phiếu với ứng cử viên của các đảng chính trị khác. Trước đó, một cuộc tranh đua không kém phần quyết liệt đã được diễn ra ngay trong nội bộ đảng chính trị, giữa các đảng viên để được đảng giới thiệu là ứng cử viên. Như vậy, tranh cử giữa các đảng chính trị không chỉ là tranh giành quyền lực mà còn là hoạt động tổ chức quan trọng để đánh giá, lựa chọn người đứng đầu đảng, thay mặt đảng để sử dụng các cơ cấu quyền lực xã hội phục vụ lợi ích của đảng. Đó cũng là sự đánh giá của xã hội đối với tính đúng đắn của hệ tư tưởng, cương lĩnh của đảng, là sự tham gia của xã hội vào sự lựa chọn chính xác người đứng đầu đảng.
Trong khi đó, sự hình thành tổ chức xã hội chỉ là sự tập hợp, liên kết các thành viên trên cơ sở những lợi ích tinh thần, vật chất nhất định, cùng chia sẻ và bảo vệ những lợi ích ấy. Đương nhiên, các đảng chính trị cũng có lợi ích, nhưng đó không phải là lợi ích nghề nghiệp, mà là lợi ích chính trị, lợi ích quyền lực, không gắn với ngành nghề mà gắn với vị trí, địa vị của giai cấp, tầng lớp xã hội mà đảng đại diện. Nếu lợi ích của các tổ chức xã hội chịu sự chi phối của các quy luật xã hội, chủ yếu là quy luật kinh tế, các quy tắc kỹ thuật, thì lợi ích của đảng chính trị lại phụ thuộc và chịu sự tác động bởi tương quan so sánh giữa các giai cấp, tầng lớp xã hội, và ở một mức độ đáng kể, trực tiếp phụ thuộc vào sự đánh giá của xã hội, sự lựa chọn của cử tri.
Hai là, Phân biệt về mục đích thành lập và tính chất hoạt động của tổ chức. Đối với đảng chính trị, đó chính là mục đích tranh giành quyền lực nhà nước, nhằm chia sẻ hoặc nắm giữ toàn bộ quyền lực nhà nước. Đây cũng là lý do chính trị sâu xa mà ở các nước có hệ thống đa đảng, mô hình phân quyền trong tổ chức quyền lực nhà nước được áp dụng phổ biến để tạo ra trạng thái ổn định và cơ hội chia đều cho các đảng trong cuộc tranh giành quyền lực. Trong khi đó, mục đích hình thành tổ chức xã hội là để hình thành ý chí tập thể, trên cơ sở những lợi ích chung của các thành viên, nhằm chia sẻ, bảo vệ, phối hợp các hoạt động cho lợi ích chung ấy, và chống lại có hiệu quả các tác động có tính xâm phạm từ phía Nhà nước, cá nhân và các tổ chức xã hội khác. Vì mục đích thành lập như vậy nên hoạt động của các tổ chức xã hội có tính chất xã hội, đôi khi cũng gay gắt, quyết liệt song không có nguy cơ làm thay đổi định hướng phát triển xã hội, đảo lộn thể chế.
Ba là, Phân biệt về tính chặt chẽ và ổn định về tổ chức. Dù là đảng chính trị, ngay cả đảng chính trị cầm quyền hay tổ chức xã hội thì việc tổ chức, từ thành lập, xây dựng cương lĩnh, điều lệ và toàn bộ hoạt động của nó đều phải theo những nguyên tắc nhất định và đều phải hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật. Tuy nhiên, đối với đảng chính trị, việc kết nạp đảng viên, thực hiện các quyền hạn, nhiệm vụ, đến việc quản lý, kiểm tra, đánh giá, kỷ luật đảng viên... đều hết sức chặt chẽ, nghiêm ngặt. Trong khi đó, đối với các tổ chức xã hội, những yếu tố trên mềm dẻo, linh hoạt hơn. Đảng chính trị hay tổ chức xã hội - theo pháp luật các nước, trong đó có pháp luật Việt Nam - đều là các pháp nhân dân sự, song ngay cả điều này giữa đảng chính trị và tổ chức xã hội cũng có sự khác nhau. Người đứng đầu tổ chức xã hội chỉ có tư cách thay mặt tổ chức (pháp nhân) để thực hiện các quyền và nghĩa vụ ấy, mà pháp luật quy định cho tổ chức, trong khi với đảng chính trị, người đứng đầu không chỉ thay mặt đảng thực hiện quyền và nghĩa vụ, mà còn đại diện, thay mặt cho cả một giai cấp, tầng lớp xã hội, vì lợi ích của giai cấp, tầng lớp xã hội này. Tổ chức xã hội có thể được thành lập, giải thể dễ dàng, bởi nó phụ thuộc vào những lợi ích nghề nghiệp, sở thích... do đó, phụ thuộc vào những rủi ro nghề nghiệp, vào tiến bộ của khoa học công nghệ, vào trạng thái tâm lý xã hội... Trong khi đó, đảng chính trị lại hết sức ổn định về tổ chức, thể hiện tính vững bền và tính đúng đắn của cương lĩnh chính trị của đảng, ở sự kiên định của đội ngũ đảng viên của đảng, ở sự hiện diện với tính cách là một lực lượng của các giai cấp và tầng lớp xã hội mà đảng chính trị đại diện.
Từ sự phân tích về đảng chính trị, phân biệt nó với tổ chức xã hội, chúng ta có thể khái quát những đặc trưng cơ bản của đảng cầm quyền như sau:
- Đảng cầm quyền là đảng chính trị, có những đặc trưng của đảng chính trị, song là đảng đối lập với các đảng chính trị khác (trong chế độ đa đảng).
- Đảng cầm quyền có thể là một đảng độc lập, song cũng có thể là một liên minh nhiều đảng cùng cầm quyền, trong trường hợp không đảng nào giành đủ số phiếu trong Quốc hội để thành lập Chính phủ. Trường hợp này diễn ra ở nhiều nước tư bản theo chế độ cộng hòa đại nghị.
- Điều quan trọng nhất khiến cho một đảng chính trị là đảng cầm quyền là nó không chỉ chi phối được Nhà nước mà còn chi phối được định hướng phát triển của xã hội. Đó là hai mặt thống nhất mà đảng cầm quyền phải giải quyết hài hòa, tùy theo điều kiện lịch sử, hoàn cảnh chính trị cụ thể trong nước và quốc tế để có được cách thức, phương pháp phù hợp. Suy cho cùng, đảng cầm quyền là đảng được xã hội tôn vinh, thừa nhận là người lãnh đạo, chi phối và sử dụng Nhà nước, pháp luật như một công cụ, sức mạnh để duy trì, củng cố, không ngừng làm tăng thêm lòng tin của xã hội đối với chính mình, làm cho vị thế xã hội của đảng luôn ưu trội so với các đảng chính trị đối lập.
Cho dù là tồn tại trong hệ thống chính trị đa đảng hay một đảng, trong điều kiện của nền chính trị đương đại, toàn cầu hóa và kinh tế thị trường, một đảng cầm quyền, ngay cả với Đảng Cộng sản Việt Nam, để giữ được vị thế cầm quyền cần phải đáp ứng được những điều kiện tiên quyết sau:
- Có một chủ nghĩa, chủ nghĩa luôn được cách tân, phát triển, hợp thời đại, thuận lòng dân. Sinh thời, khi đề cập đến điều cốt tử này, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Đảng muốn vững thì phải có chủ nghĩa làm cốt, trong Đảng ai cũng phải hiểu, ai cũng phải theo chủ nghĩa ấy. Đảng mà không có chủ nghĩa thì cũng như người không có trí khôn, tàu không có bàn chỉ nam”1. Trên nền tảng của chủ nghĩa ấy, đảng phải xây dựng được cương lĩnh, đường lối chính trị sát hợp từng giai đoạn lịch sử, thể hiện quan điểm, chính sách của đảng trên những vấn đề bức xúc của xã hội, trong việc bảo vệ chủ quyền quốc gia, lợi ích cơ bản của dân tộc, trong những vấn đề về phát triển, về đời sống và sự hài lòng của dân chúng đối với sự cầm quyền của đảng. Như thế, đảng cần phải có sự tự nhận thức và một cơ chế phản biện, bảo đảm sự phán xét kịp thời những sai lầm của đường lối, không để trở thành những vấn đề mà sự phán xét chỉ thuộc về lịch sử.
- Ở thời kỳ lịch sử nào, đảng cầm quyền cũng phải có lãnh tụ. Lãnh tụ của đảng cũng phải là lãnh tụ của dân tộc, được cả dân tộc, nhân dân lựa chọn, tôn vinh theo những hình thức nhất định, tùy theo truyền thống chính trị của mỗi nước. Có thể quan niệm về lãnh tụ còn có sự khác nhau, song chắc chắn đó phải là người kết tinh được tinh hoa trí tuệ, văn hóa của dân tộc, thời đại, có đầy đủ phẩm chất của một nhà cai trị, đề ra được chủ thuyết cai trị hiệu quả, huy động được mọi nguồn lực của dân tộc, quốc gia, sức mạnh của đảng và Nhà nước cho việc thực hiện thành công chủ thuyết.
Một đảng có lãnh tụ là có được một sức mạnh của trí tuệ và một uy quyền thu phục. Và điều đó tránh cho đảng nguy cơ bè phái, tranh giành quyền lực, và nhất là nguy cơ hình thành chủ nghĩa độc tài tập thể, đem đa số thay cho trí tuệ, lẽ phải. Bi kịch của một đảng cầm quyền, của một quốc gia, dân tộc là ở một thời kỳ lịch sử nào đó đã không có được một lãnh tụ của mình.
- Đảng cầm quyền phải chính danh, nghĩa là toàn bộ hoạt động của đảng phải đúng với mục tiêu, lý tưởng mà đảng theo đuổi, hứa hẹn với công chúng; đường lối, chủ trương của đảng phải được công khai, minh bạch; từ lãnh tụ của đảng đến mọi đảng viên trong suy nghĩ, lời nói và việc làm phải nhất quán, đúng với con người, chức danh và trách nhiệm của mình, sẵn sàng nhận sai lầm và chịu trách nhiệm cá nhân trước đảng, trước Nhà nước và trước dân chúng. Đảng chính danh như thế là làm cho nền chính trị cai trị chính danh, cái đem lại lòng tin cho dân chúng, là điều kiện cho hội nhập quốc tế.
- Đảng cầm quyền, và là đảng vô sản cầm quyền, phải có một đội ngũ đảng viên trung thành với lý tưởng của đảng, có phẩm chất cá nhân ưu việt, là “những đầu óc tích cực nhất, sáng suốt và cương quyết nhất”, “vô cùng trung thực, thông minh, tận tụy, trong sạch và cuồng tín hiểu theo nghĩa tốt nhất của chữ đó”, như những Ủy viên Công xã Pari mà một nhà văn tư sản đương thời ca ngợi. Điều cốt yếu là đội ngũ đảng viên ấy, dù có giữ trọng trách cao nhất trong đảng cũng đều phải được kiểm soát chặt chẽ, được đặt trong khuôn khổ pháp lý, với những thể chế tố tụng tương xứng. Và, vì đảng là đảng cầm quyền nên đội ngũ đảng viên của đảng phải biết cầm quyền, nghĩa là phải “biết tri ân với dân và thông hiểu hình luật”, phải hành xử theo nguyên tắc “trăm điều phải có thần linh pháp quyền”- nguyên tắc cai trị hàng đầu mà sinh thời, ngay từ năm 1918 Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng đề xướng.
Thiết nghĩ, với những điều kiện cầm quyền nêu trên, thực trạng cầm quyền của Đảng ta hiện nay đặt ra nhiều vấn đề hết sức đáng suy nghĩ, để áp dụng cái đúng, khắc phục các tồn tại.
(1)    Xem Văn kiện Hội nghị lần thứ Tám Ban Chấp hành Trung ương Đảng, khoá VII, Hà Nội, 1995 tr. 7.


PGS,TS, Luật học Lê Văn Hòe

Nguồn: Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp 

Gặp đồng chí, ít gặp đồng bào


- Cơ chế tiếp xúc cử tri hiện nay thiên về gặp đồng chí, ít gặp đồng bào. Chúng ta đang rất cần những cán bộ “4 chịu” - chịu học, chịu đọc, chịu nghe, chịu đi cơ sở để tổng kết thực tiễn.
1. Chịu học:
Như tôi đã nói, điều đáng sợ nhất là cán bộ dốt mà không biết mình dốt. Muốn xóa dốt cho mình thì trước hết phải chịu học. Lenin dạy “Học, học nữa và học mãi. Học phải trở thành bộ phận khăng khít của cuộc sống chúng ta. Học để cải thiện đời sống của chính mình”. Bác Hồ cũng dạy: “Học để làm người, học để phục sự đoàn thể và nhân dân”. Cha ông mình cũng đề cao việc học hành thi cử, ngày xưa làm quan cũng phải thi. 
Thực tiễn đã chứng minh chưa có mô hình nào cán bộ dốt mà dân sướng. Ngạn ngữ đã có câu “Quan đần, dân khổ”. Một cán bộ chân chính là suốt đời phải học qua trường, qua dân, qua thực tế để phụng sự nhân dân ngày một tốt hơn.
2. Chịu đọc:
Tri thức ở trong trường, trong sách, trong dân. Thời đại ngày nay không thiếu thông tin, chỉ sợ không chịu tiếp cận thông tin. Trên lĩnh vực thông tin, Internet ra đời là một bước tiến ngoạn mục của loài người. Theo quan điểm của riêng tôi: đọc báo là để làm giàu, đọc sách mới để làm người. Cha ông mình đã quen gọi là sử sách. Đọc sách nào cũng quý, nhưng có 3 loại sách quý nhất cần được ưu tiên đọc trước là: triết học, lịch sử và kinh tế chính trị học. Đó là 3 loại sách chung mở đường, ngoài ra làm nghề gì nên đọc sâu các loại sách chuyên ngành để làm chủ kiến thức khi hành động.
3. Chịu nghe:
Làm lãnh đạo mà chịu nghe là một đức tính cần thiết và quý giá. Nghe để xóa dốt cho mình, nghe để tập hợp trí tuệ, nghe để biết mong muốn và khát vọng của nhân dân mà hành động. Cơ chế tiếp xúc cử tri của chúng ta hiện nay thiên về gặp đồng chí, ít gặp đồng bào. 
Thực tiễn cũng chỉ ra rằng: Một cán bộ đúng nhiều hơn sai thường quan tâm mở rộng dân chủ, chịu nghe góp ý của cán bộ dưới quyền. Ngược lại, một cán bộ sai nhiều hơn đúng thì rất sợ phát huy dân chủ, đe nạt cấp dưới, nói dối cấp trên, khống chế người trung kiên, thích người xu nịnh, đam mê thành tích, quan liêu độc quyền. Vì thế chịu nghe là một tiêu chuẩn cần có của cán bộ chủ trì, là điều kiện cần và đủ để cán bộ ít phạm sai lầm.
4. Chịu đi cơ sở để tổng kết thực tiễn:
Thực tiễn là thước đo chân lý, toàn bộ nhu cầu đổi mới luôn luôn xuất hiện và đặt ra từ cơ sở. Ai đi cơ sở nhiều thì người đó có nhu cầu đổi mới mạnh hơn, người đó có ích cho dân hơn, người đó thương dân hơn. Mọi nguyên nhân dẫn đến quan liêu đều do xa dân, xa cơ sở. 
Khi cấp trên đủng đỉnh, lừng khừng, chậm trễ là vì cấp trên xa cơ sở, không cảm nhận hết sự nóng hổi, bức xúc của cuộc sống. Nên khuyết điểm chung của bộ máy công quyền chúng ta là xa cơ sở nên chậm trễ, thậm chí là “chậm, chờ, chán, chạy”, khi giải quyết các kiến nghị của dân của doanh nghiệp.
Đi cơ sở để tổng kết thực tiễn, chỉ ra những việc cần làm từ tầm vĩ mô đến vi mô; từ lý luận đến thực tiễn, từ khát vọng của dân đến trách nhiệm người đứng đầu các cấp. Bác Hồ đã dạy: Sợ nhất của một Đảng cầm quyền là xa dân, không làm đúng những điều dân muốn, dân mong.

Lê Doãn Hợp
Nguyên Bộ trưởng Thông tin và Truyền thông

4 thg 1, 2012

LÊ HIỀN ĐỨC: NHỮNG VỤ VIỆC CỤ THỂ CẦN GIẢI QUYẾT NGAY ĐỂ CHỈNH ĐỐN ĐẢNG



Thư của Bà Lê Hiền Đức gửi Nguyễn Xuân Diện:

Kính gửi tiến sĩ Nguyễn Xuân Diện!
Năm mới công dân Lê Hiền Đức chúc tiến sĩ và gia đình mạnh khỏe, trang blog của tiến sĩ ngày càng lớn mạnh là nơi tập hợp ý nghĩ của những tri thức yêu nước.
Tôi xin gửi tiến sĩ một bài viết để chỉnh đốn Đảng, đây là những suy nghĩ đầu năm mới của tôi khi đọc được ý kiến của ông Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng trên mạng về việc chỉnh đốn Đảng.
Nếu bài viết này của tôi được đăng trên trang mạng của tiến sĩ, vui lòng tiến sĩ thông báo cho tôi biết.
Xin chân thành cảm ơn tiến sĩ!
Công dân Lê Hiền Đức
____________________ 

Những vụ việc cụ thể cần giải quyết ngay để chỉnh đốn Đảng
Lê Hiền Đức

Khi nghe phát biểu của đồng chí Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng: “Chúng ta biết rằng, xây dựng, chỉnh đốn Đảng là công việc rất khó, rất phức tạp ….. khó nhưng không thể không làm, vì nó liên quan đến sinh mệnh của Đảng và sự tồn vong của chế độ” nhiều phóng viên trong nước và quốc tế gọi điện, trực tiếp phỏng vấn Lê Hiền Đức: “Bà đánh giá  thế nào về ý kiến của Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng ?”

Tôi xin thưa: “Tôi hoàn toàn nhất trí với ý kiến đó” song tôi nghĩ nói là một chuyện, còn khi biết rõ đạo đức của Đảng viên suy thoái trầm trọng rồi thì ta phải làm gì đây, tôi nghĩ đó mới là mấu chốt của vấn đề. Nhớ lại năm 1953, sau đợt chỉnh đốn Đảng thì mọi chuyện có thay đổi rõ rệt làm cho tinh thần tiến tới tổng phản công của quân dân rất mạnh mẽ, quyết liệt  là tiền đề cho chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ, và giải phóng thủ đô Hà Nội năm 1954.

  Ảnh họp chuẩn bị tổng phản công năm 1953 (Ảnh Lê Hiền Đức lưu  giữ)

 Bác Hồ trong một cuộc họp chỉnh đốn Đảng (Ảnh Lê Hiền Đức lưu giữ)

Vậy ngày nay nếu suy nghĩ của đồng chí Tổng bí thư  thật đúng thì việc chỉnh đốn Đảng cần phải gấp rút làm ngay, làm mạnh và phải làm bằng được. Muốn như vậy xin các đồng chí hãy lắng nghe dân, hãy dũng cảm nhìn thẳng vào sự thật:

Hàng nghìn người dân từ miền Nam (An Giang, Long An, Tây Ninh, Bình Phước, Đắc Nông….) bị chính quyền, đảng viên địa phương bao che cho các cá nhân tổ chức cướp đất của dân, (tôi có đầy đủ ảnh, băng hình, chứng cứ do người dân cung cấp) kéo ra Hà Nội để khiếu nại lên trung ương. Song những người dân lương thiện mất đất khốn cùng ấy ra rồi lại về, lại ra rồi lại về  nhưng mọi chuyện lại vẫn rơi vào im lặng. Bởi lẽ Thanh tra chính phủ cứ đá đi đá lại vụ việc, cuối cùng Thanh tra chính phủ lại giao vụ việc về cho các tỉnh, địa phương giải quyết nhưng tỉnh lại bao che cho những kẻ cướp đất của dân mất rồi, thì làm sao tỉnh giải quyết được?

 Đất của bà Dương Thị Dưỡng ở Tây Ninh bị chiếm

 Bà con Tây Ninh bị thu hồi đất phải sống tạm bợ trong rừng.

Còn miền Bắc thì thế nào đây?

Bà con nông dân xã Đại Bái huyện Gia Bình tỉnh Bắc Ninh đã phải dựng lều lán ở cánh đồng, lập bàn thờ Bác Hồ để giữ đồng ruộng với khẩu hiệu: “Nông dân coi ruộng như máu xương của mình”.

 “Nông dân coi ruộng như máu xương của mình”.
Ảnh do dân xã Đại Bái Bắc Ninh gửi Lê Hiền Đức

 Nhân dân Xã Đại Bái lập bàn thờ Bác Hồ  ở lán giữa đồng để giữ ruộng. 
Ảnh do dân xã Đại Bái Bắc Ninh gửi  Lê Hiền Đức

Còn ở Văn Giang, Hưng Yên hàng nghìn người dân cũng đổ về thanh tra chính phủ để nộp đơn kêu cứu vì ruộng lúa của dân bị lấy với giá đền bù rẻ mạt phục vụ cho dự án Ecopark.

Ngay giữa thủ đô Hà Nội hàng nghìn người dân phường Dương Nội quận Hà Đông đã kéo về thanh tra chính phủ để kêu cứu, có nhiều ảnh, băng hình ghi lại cảnh máy ủi ngang nhiên phá hủy những cánh đồng lúa đang trổ đòng, cày xéo cả mổ mả  ông cha họ. Ai chẳng xót thương trước cảnh hàng trăm công an, bộ đội, dân quân tự vệ đến cưỡng chế, bắt bớ, ngăn chặn những người dân lương thiện muốn giữ đất.




Điều đáng nói là những dự án lấy đất này không hề phục vụ cho mục đích dân sinh như xây cầu, đường, trường học, bệnh viện mà tất cả, tất cả những dự án này là phục vụ  cho lợi ích của một số cá nhân trong Đảng, họ đã dầy xéo lên quyền lợi và cuộc sống của người dân lương thiện.

Lúc này đây tôi tha thiết kính mong các quan chức trong Đảng và chính quyền hãy mau mau tỉnh lại để chấn chỉnh đạo đức như đồng chí Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nói ở trên. Riêng công dân  Lê Hiền Đức suy nghĩ:“Các vị lãnh đạo Đảng và nhà nước Hãy cứu lấy Đảng, cứu lấy Đất Nước, cứu lấy Nhân Dân này, có như vậy thì khi ta trút hơi thở cuối cùng ta mới mong nhắm được mắt dễ dàng, linh hồn mới siêu sinh tịnh độ được.”

Các quan tham hãy nhớ rằng:“Chết là hết, các ngài giàu có bao nhiêu chăng nữa cũng không đem theo được đâu, nhà cửa, đất đai, vàng bạc, dollar, … cũng bỏ lại hết. Vậy kính mong các ngài sớm tỉnh ngộ để lại tiếng thơm muôn đời cho con cháu!”

Ngoài chuyện đất đai, tôi xin dẫn thêm một vài thí dụ tuy nhỏ mà không nhỏ chút nào: Vì nó đã đang và sẽ làm cho uy tín của Đảng ta bị ảnh hưởng nghiêm trọng:

- Vụ Bí thư chi bộ kiêm hiệu trưởng tiểu học Nguyễn Khả Trạc nay đã chuyển sang làm hiệu trưởng trường Nam Trung Yên – Cầu Giấy - Hà Nội, Tạ Thị Bích Ngọc chỉ đạo tổ chức ăn bớt tiền ăn của hơn 500 học sinh trong suốt hai năm học 2004 – 2006 mà vẫn được bình bầu là “Đảng viên hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ”. Vậy những đảng viên không được  bầu là Đảng viên hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ thì còn tệ đến mức nào nữa?

- Nguyễn Thị Hảo Trưởng ban tổ chức quận ủy quận Cầu Giấy – Hà Nội lấn chiếm hàng nghìn m2 đất công ở phường Nghĩa Đô (đã bị khiển trách Đảng) nhưng lại được chuyển sang làm Giám đốc trung tâm Bồi dưỡng chính trị. Thật mỉa mai quá con người này thì còn bồi dưỡng chính trị về Đảng  cho ai được nữa?

-  Lại nữa một con sâu béo múp Đặng Thị Bích Hòa Tổng giám đốc công ty cổ phần chuyển phát nhanh Bưu điện đã quan hệ, móc ngoặc, câu kết với những cán bộ cấp cao của Đảng như Bộ trưởng bộ nội vụ Trần Văn Tuấn, Thứ trưởng bộ ngoại giao Nguyễn Thanh Sơn và Ả đã dùng những đảng viên này làm bình phong che chắn để tham ô hàng tỷ đồng của nhà nước. Rồi khi bị người lao động trong công ty chuyên phát nhanh EMS tố cáo ả tham nhũng, ả đã dùng quyền lực của một viên tổng giám đốc, chủ tịch hội đồng quản trị kiêm bí thư đảng ủy để sa thải 12 người lao động chân chính cùng một lúc. Ả đã mua bằng đủ “mọi thứ” với các quan chức cấp cao để đến nỗi đã hơn 1 năm qua kể từ khi bị người lao động tố cáo, ả vẫn nhởn nhơ ngoài vòng pháp luật, còn 12 người lao động chân chính thì điêu đứng trong cuộc sống, bức xúc về tinh thần, hoang mang về niềm tin với Đảng. Tại sao đã hàng năm trời qua mà mọi việc cứ bị các cơ quan chức năng có thẩm quyền đùn đẩy, né tránh không cơ quan nào dám giải quyết mặc dù vụ việc tham nhũng của Đặng Thị Bích Hòa đã được nhiều cơ quan truyền thông đăng tải có thể kể đến:
Báo Thanh tra Chính Phủ số 47 ngày 19/04/2011:
http://chongthamnhung.thanhtra.com.vn/tabid/73/newsid/2157/Default.aspx;
Báo Thanh tra chính phủ Số 48 ngày 21/04/2011:
Báo người cao tuổi số 905:  
Báo người cao tuối  số 906: 
Báo người cao tuối  số 907
Báo Đời sống pháp luật (số 217 ngày 18/11/2011),
Báo Lao động thủ đô (số 133 ngày 05/11/2011). 
Trang tin điện tử của Viện Kiểm sát nhân dân tối cao (ngày 25/04/2011 Viện Kiểm sát nhân dân tối cao chỉ đạo, xử lý thông tin báo đăng,  trang điện tử của văn phòng luật sư Vì Dân cũng đưa tin bài về vụ việc, đã đưa tin bài phản ánh chi tiết về vụ việc. Nhưng không hiểu vì sao đến  giờ vụ việc lại bị chìm dần vào quên lãng và Hòa vẫn đang làmbí thư Đảng ủy? Nếu vụ việc Đặng Thị Bích Hòa không được giải quyết nghiêm minh thì thật khó để nói đến chuyện phòng chống tham nhũng và chỉnh đốn Đảng ở Việt Nam. Chúng ta đang bảo vệ ĐẢNG hay bảo vệ bí thư họ ĐẶNG?
Hi vọng  Tổng bí thư và các Ủy  viên Bộ chính trị  nhìn thẳng vào sự thực của  một vài thí dụ nhỏ nêu trên  để chấn chỉnh Đảng càng sớm càng tốt, để giữ được niềm tin của dân với Đảng, và niềm tin của những người Đảng viên chân chính với Đảng. 


Những suy nghĩ của Công dân Lê Hiền Đức trong đêm giao thừa 01/01/2012.


3 thg 1, 2012

Việt Nam trong một thế giới đang thay đổi


Trần Lê Anh


(TBKTSG) - 2011 là năm thế giới có nhiều biến động về chính trị, kinh tế và xã hội rất sâu sắc. Những biến động này vừa làm lộ rõ hậu quả của những diễn tiến đã và đang xảy trong nhiều năm qua và vừa khẳng định những xu hướng mới trên toàn cầu. Nắm bắt những điểm này là điều rất cần thiết trong việc định hướng đất nước hướng tới một giai đoạn phát triển mới tích cực hơn.
Một thế giới nhiều biến động
Về phương diện chính trị, ấn tượng nhất là làn sóng phản đối chống chính phủ ở nhiều nước Bắc Phi và Trung Đông. Cho đến thời điểm này, ba chính phủ đã bị lật đổ (ở Tunisia, Ai Cập, và Libya) trong khi sự phản đối vẫn mạnh mẽ ở một số nơi khác, chẳng hạn như Syria. Có nhiều lý do dẫn đến phong trào trên, nhưng nổi bật nhất vẫn là sự hà khắc của giới cầm quyền, những bất công trong xã hội, nạn tham nhũng, và những khó khăn về kinh tế.
Ở một chừng mực nào đó, phong trào này cũng đã “hà hơi” cho phong trào “Chiếm phố Wall” ở Mỹ, bắt nguồn từ New York rồi lan rộng ra nhiều thành phố lớn khác. Ảnh hưởng kéo dài của cuộc khủng hoảng tài chính ở Mỹ đã làm một bộ phận dân Mỹ rơi vào tình trạng khó khăn. Họ bất bình vì cảm thấy rằng tình trạng khó khăn của họ một phần là do những nhóm tài phiệt có ảnh hưởng chính trị gây ra. Do đó, “Chiếm phố Wall” là dịp để họ lên tiếng phản đối về sự bất bình đẳng giàu nghèo đang gia tăng trong xã hội cũng như sự lũng đoạn của những nhóm lợi ích và sự lúng túng của chính phủ trong việc tháo gỡ những bất cập của nền kinh tế.
Trong khi đó, cuộc khủng hoảng nợ công châu Âu vẫn đang trên đà lan rộng. Nguyên nhân chính của tình trạng này là sự vay mượn và chi tiêu quá trớn của chính phủ trong những năm trước đó. Trong những nỗ lực xoay xở tình hình, ngoài việc thương lượng những gói giải cứu, chính phủ các nước liên quan buộc phải đưa ra những kế hoạch cắt giảm chi tiêu khá mạnh tay. Việc này tất nhiên gây ảnh hưởng tiêu cực đến những chương trình phúc lợi xã hội cũng như làm trầm trọng thêm vấn đề thất nghiệp. Do đó, từ Hy Lạp đến Ý, nhiều người dân lại xuống đường phản đối chính phủ.
Những ảnh hưởng từ sự trỗi dậy của Trung Quốc cũng là chủ đề thường được đề cập đến trong quan hệ quốc tế. Là một nước có nền kinh tế lớn thứ nhì thế giới, Trung Quốc ngày càng trở nên quan trọng hơn trong việc cùng cộng tác với các nước để giải quyết các vấn đề có tính chất toàn cầu. Trung Quốc cùng các nước khác trong khối BRIC (gồm Brazil, Nga, Ấn Độ, và Trung Quốc) đã ngày càng có ảnh hưởng hơn trong tiến trình cải tổ các định chế quản trị toàn cầu theo hướng gia tăng sự tham gia của các nước đang phát triển vào quá trình ra quyết định để họ có thể theo đuổi các lợi ích của mình hữu hiệu hơn.
Tuy nhiên, với những tham vọng riêng của mình, Trung Quốc đang gây ra nhiều thách thức đối với siêu cường của thế giới (Mỹ) và các nước trong khu vực Đông Á. Trong lúc Mỹ bận rộn với hai cuộc chiến ở Iraq và Afghanistan cũng như với những nỗ lực chống khủng bố trên toàn cầu thì Trung Quốc đã có những bước đi mạnh mẽ hơn trong khu vực. Do đó, để củng cố địa vị siêu cường của mình, Mỹ đang tập trung hơn nữa vào khu vực châu Á-Thái Bình Dương. Điều này phần nào được thể hiện qua những động thái gần đây của Mỹ, chẳng hạn như nỗ lực trong việc đàm phán để ký kết Hiệp định Thương mại Xuyên Thái Bình Dương và tuyên bố của Tổng thống Obama về kế hoạch gửi 2.500 binh sĩ Thủy quân Lục chiến đến đồn trú tại Úc (mặc dù đây là con số khiêm tốn nhưng nó được xem như là một bước đi tượng trưng khá mạnh khiến Trung Quốc phải suy nghĩ nhiều hơn). Một cách ngắn gọn và rõ ràng, Ngoại trưởng Hillary Clinton đã gọi thế kỷ 21 là Thế kỷ Thái Bình Dương của Mỹ.
Những xu hướng chính
Từ những diễn biến toàn cầu quan trọng ở trên, có thể thấy những điểm trọng yếu sau đây. Một là, sự gia tăng bất bình đẳng là hiện tượng toàn cầu chứ không phải tập trung ở các nước đang phát triển. Nó phần nào cho thấy rằng tiến trình toàn cầu hóa, mặc dù đã giúp nhiều người trên thế giới thoát khỏi tình trạng nghèo tuyệt đối, đã làm nặng thêm tình trạng kẻ mất người được có khuynh hướng gây bất ổn xã hội nhiều hơn.
Hai là, tình trạng bất ổn kinh tế vĩ mô vừa khó lường hơn vừa có sức lan tỏa nhanh hơn. Thủ phạm chính của hiện tượng này là sự thiếu trách nhiệm của chính phủ cộng với sự chi phối của giới tài phiệt toàn cầu.
Ba là, người dân ở nhiều nơi trên thế giới ít ngần ngại hơn trong việc phản đối những bất công và áp bức trong xã hội. Họ trở nên hữu hiệu hơn phần lớn nhờ vào sự sử dụng những kỹ thuật truyền thông hiện đại, trong đó gồm có cả các mạng xã hội trên Internet, trong cuộc tranh đấu của mình.
Bốn là, trước tình trạng suy giảm nguồn tài nguyên, các quốc gia buộc phải tìm mọi cách để xoay xở đối phó. Theo đây, ngoài sự tranh giành, các nước phải tìm mọi cách để đưa ra những sáng kiến và phát minh mới nhằm sử dụng tài nguyên một cách hiệu quả và bền vững hơn. Do đó, xu thế cạnh tranh toàn cầu sẽ là cạnh tranh dựa trên sức sáng tạo và khả năng tích lũy vốn con người.
Năm là, với sự trỗi dậy của một số nước đang phát triển, xu hướng hướng tới một thế giới đa cực có phần rõ nét hơn. Trước diễn tiến này, các cường quốc sẽ vừa cạnh tranh để chiếm (hoặc cố giữ) một địa vị có sức ảnh hưởng toàn cầu và vừa hợp tác để giải quyết những vấn đề chung của nhân loại.
Ứng xử cho Việt Nam
Vậy Việt Nam nên ứng phó như thế nào trong một bối cảnh thế giới mới? Trước hết, cần phải nhìn nhận rằng vì độ mở của nền kinh tế, thực tiễn địa chính trị, và những thay đổi trong xã hội của mình, Việt Nam ít nhiều đều chịu ảnh hưởng từ tất cả những xu hướng mới của toàn cầu như đã nêu. Điều đó cũng có nghĩa là Việt Nam phải đối mặt với cả cơ hội và thách thức. Vấn đề quan trọng là biết tận dụng cơ hội và biến thách thức thành cơ hội để đẩy mạnh đất nước phát triển theo hướng bền vững, công bằng và dân chủ hơn.
Cơ hội tương đối dễ thấy nhất là Việt Nam đang nằm trục tăng trưởng (khu vực Đông Á) của nền kinh tế thế giới. Điều này có nghĩa là triển vọng thu hút đầu tư nước ngoài, đẩy mạnh giao thương, điều chỉnh luật lệ phù hợp hơn với thông lệ quốc tế, và tham gia vào mạng lưới sản xuất trong khu vực được nâng cao. Nhưng để có thể tận dụng triệt để cơ hội này trong khi giảm thiểu các tác động tiêu cực thì cần phải có những chính sách đúng đắn. Quan trọng nhất vẫn là đấu tranh với tham nhũng và thúc đẩy dân chủ trong quy trình làm chính sách để có thể ngăn chặn bớt sự thao túng của các nhóm lợi ích.
Bên cạnh đó, tình trạng phân hóa giàu nghèo đang gia tăng ở Việt Nam cần phải được giải quyết. Muốn xã hội vững mạnh hơn, Việt Nam cần đặc biệt xây dựng một tầng lớp trung lưu ngày càng lớn. Đây là lực lượng chính để thúc đẩy phát triển một nền kinh tế quốc dân vững mạnh, có khả năng giảm bớt các tác động khủng hoảng đến từ bên ngoài, và một xã hội dân chủ.
Chi tiết hơn, trước hết cần phải chiến lược hóa lại cơ cấu đầu tư công. Nhà nước cần hạn chế trút vốn vào những ngành công nghiệp làm ăn thiếu hiệu quả và đang có xu hướng lỗi thời. Thay vào đó, nên hướng nguồn vốn này để thúc đẩy phát triển khu vực nông thôn bằng cách xây dựng các cơ sở hạ tầng trọng yếu, đầu tư vào giáo dục (đặc biệt là các trường dạy nghề phù hợp với nhu cầu của nền kinh tế), và tạo điều kiện thuận lợi để các hộ nông dân vay vốn nhằm phát triển công việc của họ.
Trước sự gia tăng của dân số cũng như những ảnh hưởng của thay đổi môi trường và khí hậu, vấn đề an ninh lương thực càng trở nên quan trọng hơn. Theo đây, cần duy trì tốt diện tích đất canh tác nông nghiệp và hạn chế tình trạng biến đất canh tác thành các khu công nghiệp và khu giải trí (chẳng hạn như sân golf) một cách bừa bãi thiếu hiệu quả kinh tế. Đất dành cho các khu này phải là đất không còn (hoặc ít có) khả năng canh tác nông nghiệp có hiệu suất.
Hơn nữa, các hoạt động kinh tế gây ảnh hưởng tiêu cực nghiêm trọng đến cuộc sống sản xuất của người nông dân (có thể thấy qua các ví dụ như những dòng sông bị ô nhiễm và tác hại của một số ngành khai khoáng) cần phải được xử lý nghiêm minh. Những luật lệ về bảo vệ môi trường cần phải được thực thi rốt rào và điều chỉnh cho phù hợp với xu hướng phát triển xanh và sạch của thế giới.
Mở rộng ra hơn, luật pháp nói chung cần phải thật sự là công cụ để xây dựng một xã hội văn minh hàm chứa những tính chất như tôn trọng tự do, dân chủ, yêu chuộng công lý, khuyến khích sáng tạo, tương thân tương ái, và yêu chuộng hòa bình. Khi làm được như vậy, Việt Nam sẽ có nhiều thuận lợi hơn nữa khi kêu gọi các nước giải quyết tranh chấp dựa trên những luật lệ quốc tế. Một nước Việt Nam văn minh với một hệ thống pháp lý phù hợp với trào lưu tiến bộ của nhân loại thì tất nhiên sẽ có nhiều ảnh hưởng hơn trên trường quốc tế.


Tổng số lượt xem trang

free counters