Suy nghĩ về những ý
kiến của Thầy Hoàng Tụy
Trương Quang Đệ
Hơn nửa thế kỷ trước, tôi là sinh
viên khoa Toán, Trường ĐHSP Hà Nội. Trong các bộ môn mà tôi theo học, có môn
“Phương pháp giảng dạy Toán” do Thầy Hoàng Tụy phụ trách. Bộ môn này không hoàn
toàn trừu tượng và thuần tuý lí thuyết như đa số các bộ môn khác, bởi lẽ nó có
nhiều phần mang nặng tính nhân văn như lịch sử toán học, cuộc đời và sự nghiệp
các nhà toán học, thăng trầm của những phát minh toán học, triết lí toán học
vv. Chúng tôi rất quí mến Thầy Tụy vì tầm hiểu biết và nhân cách của Thầy. Thực
ra tôi học hành không lấy gì làm xuất sắc nên cho đến nay chắc Thầy không nhớ
ra tôi là ai. Nhưng tôi theo dõi sự nghiệp của Thầy và vui mừng thấy Thầy có
những đóng góp không nhỏ cho toán học nước ta và thế giới, đặc biệt trong lĩnh
vực lý thuyết tối ưu. Điều làm mọi người quan tâm là gần đây Thầy có nhiều ý
kiến mạnh mẽ nhằm giúp ngành giáo dục và ngành văn hoá thoát ra khỏi tình trạng
bế tắc, hỗn loạn mà ai cũng nhận thấy rõ. Vào những ngày đầu năm 2012, Thầy có
viết bài “
Tái
cấu trúc và sửa lỗi hệ thống” đăng trên mạng viet-studies của Trần Hữu
Dũng. Bài này khái quát lại những gì Thầy đã suy nghĩ về hệ thống chính trị,
văn hoá, giáo dục trong thời gian qua. Tôi không sợ mình sai lầm khi nhận xét
rằng bài viết nói trên của Thầy có` giá trị như một học thuyết (doctrine). Đó
là học thuyết về “lỗi hệ thống trong các hoạt động chính trị, kinh tế- xã hội”
ở nước ta hiện nay. Học thuyết của Thầy, theo tôi, có thể được tóm tắt như sau: Nếu
một khâu nào đó của hệ thống bị trục trặc một cách riêng lẻ, cục bộ thì hệ
thống đã lường trước cách khắc phục. Nhưng khi sự trục trặc liên tiếp xẩy ra và
không có cách gì sửa chữa được, đó là vì hệ thống có lỗi, tức là một yếu tố nào
đó của hệ thống có vấn đề, bị khuyết tật. Trong trường hợp đó, ta rà soát hệ
thống để sửa chữa lỗi. Thay hệ thống có khuyết tật bằng một hệ thống mới bảo
đảm việc vận hành ổn định được gọi là tái cấu trúc hệ thống.
Thầy Hoàng Tụy đã chỉ ra một số
trục trặc tiêu biểu của các ngành hoạt động xã hội như tham nhũng tràn lan mà
không ai kiểm soát, lộng quyền mà nhân dân đành bó tay chịu đựng, bệnh viện quá
tải với nhiều thầy thuốc vô cảm, sự gian dối chết người trong các ngành thực
phẩm, xăng dầu…và cuối cùng là giáo dục yếu kém và phần nào lệch hướng.. Rõ
ràng những trục trặc ấy không thể được khắc phục một cách riêng lẻ, cục bộ.
Người ta đã đặt ra những ban chống tham nhũng và các ban ấy cũng thấy mình
không có hiệu quả gì đáng kể..Người ta làm đủ chuyện để dẹp hàng vỉa hè, để
chấn chỉnh giao thông nhưng rồi phố xá cứ ngổn ngang, tai nạn giao thông ngày
càng nghiêm trọng. Trước tình hình ấy, Thầy Tụy kêu gọi tái cấu trúc hệ thống,
rà soát hệ thống chính trị, rà soát những chủ trương kinh tế-xã hội, rà soát
đến cội nguồn của những đều bất hạnh, tức là trả lời một cách trung thực cho
câu hỏi “Tại sao lại như thế? Do đâu mà tình trạng đó cứ dai dẳng không dứt?
Để tìm hiểu sâu về học thuyết
Hoàng Tụy, ta cần xác định các khái niệm cơ bản “hệ thống” và “cấu trúc”
Trong một tập hợp nào đó có các
phần tử a, b, c….và các mối quan hệ alpha, bêta, gamma…người ta thường xét các
phần tử của tập hợp theo hai bước. Bước một là việc sắp xếp các phần tử thành
từng lớp theo một tiêu chí nhất định. Bước hai là sắp các lớp nói trên trên một
hàng ngang theo các mối quan hệ alpha, bêta vv.
Trong ngôn ngữ học, tập hợp các
từ của một thứ tiếng được khảo sát trên hai trục, theo Ferdinand de Saussure.
Trục dọc (hay trục liên tưởng – paradigm) là trục của các lớp từ chung một tiêu
chí từ vựng-ngữ pháp như danh từ, động từ vv. Các phần tử của trục dọc thay thế
cho nhau trong một cấu trúc. Chẳng hạn từ “Cha” trong câu “Cha đi vắng” có thể
được thay thế bằng từ “Mẹ” để có câu “Mẹ đi vắng”. Trục ngang (hay trục ngữ
đoạn –syntagm) thể hiện các mối quan hệ giữa các từ. Chẳng hạn các từ “cha”,
“đi vắng”, “mấy hôm rồi” kết hợp với nhau theo hàng ngang để tạo ra câu “Cha đi
vắng mấy hôm rồi”, trong đó “cha” đóng vai trò chủ ngữ, “đi vắng” là vị ngữ,
còn “mấy hôm rồi” là bổ ngữ chỉ thời gian.
Con đường của ngôn ngữ học được
khái quát cho các ngành khoa học khác. Bất luận đối tượng gì, tập hợp gì, ta
cũng nghiên cứu theo hai trục ngang và dọc. Những phần tử thuộc trục dọc tạo
thành hệ thống. Còn các phần tử thuộc trục ngang tạo thành cấu trúc.
Thí dụ: hệ thống chính trị nước ta gồm các phần tử Đảng, Chính quyền,
Quốc hội, Đoàn thể….Khi ta nói: “Đảng lãnh đạo các đoàn thể” thì ta nêu ra một
cấu trúc, tức là mối quan hệ giữa các phần tử nào đó của một hệ thống.
Thầy Hoàng Tụy đề xuất việc “Tái
cấu trúc và sửa lỗi hệ thống” nhằm một sự chỉnh đốn trên hai bình diện: rà soát
những tiêu chí tạo thành hệ thống và các mối quan hệ nối kết chúng với nhau.
Một người làm toán trong lĩnh vực
hình học sơ cấp Euclide một hôm phát hiện điều dị thường: Có một tam giác với
tổng các góc lớn hơn 180 độ. Anh ta cần cù rà soát lại hệ tiên đề mà mình sử
dụng và phát hiện trong hệ này có chứa một mệnh đề khả nghi, đó là: từ một điểm
ở ngòai một đường thẳng, ta chỉ vẽ được một đường vuông góc với đường thẳng ấy,
ngọai trù có trường hợp vẽ được hai hay nhiều hơn. Chính cái vế “ngoại trù” ấy
dẫn đến điều dị thường. Trong xã hôi hiện nay ta thấy dân thường phàn nàn: Biết
tỏng anh ta tham nhũng nhưng đành chịu. Rà soát lại “hệ tiên đề chính trị” ta
thấy có mệnh đề khà nghi “không vị trí nào nằm ngoài pháp luật, ngoại trừ một
số vị trí nhạy cảm”. Chính cái ngọai trừ đó sinh ra những bất ổn xã hội hay bất
hạnh cho con người.
Người làm toán nói trên cuối cùng
nhận ra rằng anh ta làm toán trên hai hệ tiên đề hỗn tạp, không ra Euclide mà
cũng không phải Riemann. Trong một hoàn cảnh như vậy phải chấp nhận những kết
quả không lấy gì làm tốt đẹp. Xã hội ta hiện nay sống với những hệ tiên đề hỗn
tạp, tư duy chồng chéo, kết quả tùy tiện. Thầy Hoàng Tụy muốn loại bỏ sự
hỗn tạp ấy và xây dựng những cấu trúc hợp lý, đó là những mối quan hệ văn minh,
bình đẳng, dân chủ, hiệu quả giữa các thành viên của xã hội.
Nhưng học thuyết Hoàng Tụy không
dừng lại ở hai khái niệm hệ thống và cấu trúc (lỗi hệ thống
và tái cấu trúc các hệ thống). Có một khía cạnh rất quan trọng của học thuyết
ẩn chứa trong cụm từ “….mối quan hệ giữa các phần tử của hệ thống với môi
trường bên ngoài”. Vậy môi trường bên ngoài là gì? Đây là một phạm trù khá
rộng, bao gồm bối cảnh lịch sử, bản sắc văn hóa, truyền thống giáo dục, phong
tục tập quán, định kiến xã hội, tín ngưỡng, vv. Cũng như trong nghiên cứu ngôn
ngữ, người ta không dừng lại ở cấp độ từ vựng (hệ thống) và cú pháp (cấu trúc),
người ta để nhiều công sức để nghiên cứu ngữ nghĩa (môi trường-ngữ
cảnh), tức là tìm ý nghĩa thực tại của câu, từ trong các phát ngôn thuộc
các tình huống khác nhau. Chẳng hạn câu “Mỹ tăng cường hiện diện quân sự ở Thái
Bình Dương” sẽ có những ý nghĩa khác nhau trong những bối cảnh khác nhau. Đối
với Việt Nam
câu đó xuất hiện vào những năm sáu mươi của thế kỷ trước được coi như một sự
kiện nguy hiểm cho an ninh đất nước. Ngày nay câu đó có thể có ý nghĩa ít bi
quan hơn, và tùy đối tượng mà câu đó làm yên lòng hay gây lo ngại. Một thí dụ
khác: Qua vẻ mặt của các nhân viên một cơ quan nọ khi thì thầm hỏi nhau: “Sếp
đến chưa?” ta có thể biết nhân cách của sếp như thế nào. Nếu câu thì thầm với
vẻ mặt lo lắng u sầu, chắc chắn vị sếp là người ít thân thiện với cộng sự. Còn
nếu câu thì thầm với vẻ mặt tươi vui tràn trề hy vọng thì ta biết ngay sếp là
người tốt, là chỗ dựa cho cộng sự.
Chính môi trường văn hóa ảnh
hưởng rất lớn đến các phần tử của các hệ thống chính trị, kinh tế …từ thấp đến
cao, không loại trừ ai. Môi trường đó thúc đẩy sự tiến bộ, hỗ trợ hữu hiệu cho
sự vận hành của các hệ thống, nhưng nó cũng là nguyên nhân của những khuyết tật
của các hệ thống, gây ra các lỗi hệ thống, làm rối loạn các cấu trúc. Ai cũng
biết một dự án hay một chương trình nhà nước không hoàn thành được một phần do
tham nhũng, cán bộ thiếu năng lực nhưng phần không kém quan trọng là dân
trí thấp. Giao thông hỗn lọan, phố xá xô bồ, một phần do nhà nước quản lý yếu
kém, một phần do dân tình lạc hậu, thiếu ý thức cộng đồng. Ở các nước tiên
tiến, trong các cơ sở thương mại dịch vụ họ không có đông người như ở ta. Siêu
thị hay mặt bằng thương mại lớn chi có thu ngân. Ở ta thì ngoài thu ngân còn có
vô số người khác bảo vệ vòng trong vòng ngoài, các sếp lớn nhỏ luôn đi lại kiểm
tra công việc. Phải đầu tư nhiều tiền của để ngăn chặn tình trạng dân trí thấp,
khiến cho lợi nhuận bị ảnh hưởng. Dân tình như vậy do đâu mà ra? Cán bộ yếu kém
vì sao? Chúng ta sẽ tìm lời giải đáp ở những phần sau.
Môi trường văn hóa mà ta đang
sống hiện nay rõ ràng là một môi trường không hoàn toàn lành mạnh. Nó chứa đầy
những định kiến, thói quen, lối suy nghĩ, não trạng…của một thời chiến tranh du
kích, không còn phù hợp với đời sống hiện đại nữa. Do đó trong học thuyết
Hoàng Tụy, bên cạnh việc sửa lỗi hệ thống, tái cấu trúc hệ thống, còn có việc
khá quan trọng là “làm sạch môi trường”. Để minh họa cho những điều nói trên,
ta lần lượt xét một vài thói quen cố hữu và một vài “minh triết” màu xám phổ
biến trong xã hội ta hiện nay. Trước hết đó là chiến thuật nổi tiếng
Lấy nông thôn bao vây thành
thị.
Đây là chiến thuật của Mao Trạch
Đông trong nội chiến quốc-cộng và Việt Nam, Algérie phần nào sử dụng trong
các cuộc chiến tranh giải phóng. Vấn đề là dựa hẳn vào nông dân, sống trong
lòng nông dân, đả phá những gì có tính đô thị như phá bỏ các công trình giao
thông, xóa bỏ nếp sống đô thị…Nhờ đó mà quân cách mạng làm chủ nông thôn, cô
lập các thành phố và cuối cùng chiếm lĩnh các thành phố. Hậu quả của chiến
thuật này là sau khi thắng lợi, người ta nông thôn hóa thành thị, gây ra hỗn
loạn trong giao thông, lối sống, vệ sinh môi trường. v.v. Ở ta, trước
thời kỳ đổi mới, người ta chỉ chú ý đến nông nghiệp, coi nông nghiệp là then
chốt, là cứu cánh của xã hội. Người ta sẵn sàng cắt điện trường học, bệnh viện,
xí nghiệp để lấy điện phục vụ chống hạn cho vài cánh đồng nhỏ bé, mặc dầu người
ta biết như thế là làm mất hàng tỷ đồng để cứu vài triệu đồng, chưa tính hậu
quả tinh thần khác. Chiến thuật lấy nông thôn bao vây thành thị làm ta bỏ lỡ
nhiều cơ hội hiện đại hóa đất nước. Sau năm 1975 hay sau khi chủ trương đối
mới, đáng lý ra phải làm ngược lại chiến thuật của Mao, có nghĩa là phải thành
thị hóa nông thôn, hiện đại hóa đời sống nông dân, nâng cao học vấn dân trí
nông thôn, đưa nước sạch về mọi nơi .,.thì người ta cứ kiên trì đường lối thời
du kích. Điều đó giải thích tại sao phố xá xô bồ, giao thông hỗn loạn, ở Hà Nội
người nói ngọng lên đến tầng lớp cao…
Một trong những “dư chấn” của não
trạng chiến tranh du kích là mọi thứ nhất nhất phải được giữ bí mật, thậm chí
thiên tai dịch bệnh cũng là những điều cần được giữ kín. Ngày nay bí mật được
tháo gỡ nhiều nhưng vẫn còn những vị trí nhạy cảm mà báo chí không tiếp cận
được. Ở những vị trí đó tiền lương, tiền thưởng, thu nhập cá nhân, ngân sách
dành cho đơn vị….đều còn là những điều cấm kỵ. Người ta nghĩ rằng chỉ cần cơ
quan có trách nhiệm nắm thông tin là được rồi, nhân dân không cần biết làm gì.
Ai cũng thấy nếu không có thông tin thì việc chống tham những không tiến hành
được, hơn nữa, các nhà nghiên cứu, các nhà sử học…rất cần thông tin để giúp cho
hệ thống xã hội vận hành trôi chảy. Ở những nước Âu-Mỹ, cứ ba mươi hoặc bốn
mươi năm, dân được tiếp cận với tài liệu lưu trữ. Ở ta gần như chưa ai nghĩ tới
chuyện đó.
Rồi đến những “minh
triết màu xám” đang hoành hành trong hệ tư tưởng của chúng ta. Không lúc
nào chúng ta không gặp những lối nói dễ dãi – lectio facilior- kiểu
Đạo đức kinh của Lão tử:
Hình vuông lớn không có góc
Âm thanh lớn là âm khe khẽ
Cảnh lớn không có dạng
….
Chẳng hạn hàng ngày ta thường gặp
những kiểu lý luận như
A là A mà cũng không
phải là A.
Hiện nay người ta không còn giữ
các hợp tác xã nông nghiệp thời xưa nữa, việc cưỡng bách lập các hợp tác xã như
vậy là không phù hợp với lòng dân, với thời cuộc. Nhưng những sách giáo khoa,
sách lý luận vẫn nói rằng chủ trương hợp tác xã là đúng, nếu không có các hợp
tác xã thì không có thắng lợi…Nếu bỗng dưng một ngày nào đó lập lại các hợp tác
xã thì đó sẽ là một chủ trương đúng. Ngày trước chủ trương xóa bỏ tư hữu, tư
sản, nông dân cá thể là đúng, nay tôn vinh doanh nhân, chủ trang trại, nông dân
cá thể cũng đúng. Tóm lại “lý kẻ mạnh bao giờ cũng thắng” như bao đời nay dù
thực tế lý đó sai mấy chăng nữa. Tôi không bao giờ sai lầm, nhưng cũng có lúc
sai lầm! Y hệt như một người làm toán trên hai hệ tiên đề Euclide và Riemann
hỗn hợp, có kết quả khi thì Euclide khi thì Riemann.
Ta lại có
A đúng nhưng điều
trái với A (gọi là không-A) cũng đúng.
Mọi người đều biết hiện nay trong
nền kinh tế thị trường, không một lý thuyết cũ nào áp dụng được nữa. Tuy nhiên
trong các trường học, các môn kinh tế chính trị vẫn nguyên si thời “bao cấp”.
Gần đây người ta được xem phim “Bí thư tỉnh ủy”. Thật cảm động khi thấy nước ta
có những vị bí thư vì dân vì nước như vậy. Đó là một cán bộ kiệt xuất. Nhưng
những người từng chỉ trích vị bí thư này, làm tình làm tội ông đủ điều vẫn được
coi là những cán bộ kiệt xuất. Vậy A là kiệt xuất và không-A cũng là kiệt xuất.
Chuyện xấu không hề tồn tại (Làm
gì có chuyện ấy?) là cách nhìn quá khứ trong lĩnh vực văn hóa tư tưởng. Có
những cá nhân bị xử lý oan sai trong những đợt “đấu tranh tư tưởng” nhưng trong
các bài viết của giới tư tưởng hiện nay, họ được coi như không bị phiền hà gì
cả.
“Minh triết màu xám” còn
rất nhiều, người dân bình thường thiếu cảnh giác tưởng đó là những chân lý lịch
sử, đã được thử thách. Thực ra đó là những món hàng dỏm, trôi nổi trên thị
trường và làm rối loạn hệ thống vận hành chính thức. Sau đây là một số thí dụ
không cần bình luận:
Cứ làm đi, rồi sai đâu sửa
đấy, đó là tác phong dám nghĩ dám làm!
Thương trường là chiến
trường.
vv….
Như Thầy Hoàng Tụy vạch rõ, thấy
vấn đề đã khó, giải quyết vấn đề phức tạp hơn nhiều. Bởi lẽ, những khuyết tật
của hệ thống gắn liền với những nhóm lợi ích đang cố tình bảo vệ hệ thống
khuyết tật. Sửa lỗi hệ thống, tái cấu trúc hệ thống, làm sạch môi trường là
những việc không tránh khỏi động chạm đến lợi ích của những nhóm ấy. Chỉ có áp
lực mạnh mẽ của quần chúng, của các vị thức giả, của những người công tâm vì
đất nước may ra mới làm cho tình hình chuyển biến.
Tôi thành tâm cáo lỗi với Thầy
Hoàng Tụy vì bàn bạc về ý kiến của Thầy mà không trực tiếp tham khảo Thầy
trước. Trong bài viết chắc chắn có những chỗ chưa đúng với ý của Thầy hay chưa
thật thích đáng. Tôi mong Thầy và bạn bè xa gần khoan dung chỉ bảo.
HCM tháng 1/2012
Trương Quang Đệ
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét