Triết Lý, để làm gì ?

Khi ta bế tắc tư tưởng, chân thật công nhận rằng những kiến thức và phương pháp suy luận của ta không cho phép ta sống, tư duy và hành động khớp với khao khát làm người của ta, ngoài vô vàn cách ứng xử khác, ta có thể:

a) Tiếp tục sống, tư duy và hành động như cũ vì, dù sao, ta cũng sống được, không đến nỗi nào

b) Lột áo cũ, khoác áo mới, một tấm áo coi lành lặn đẹp đẽ hơn nhưng cũng hàm hồ không thua gì. Điều ấy luôn luôn khả thi bằng ngôn ngữ.

c) Đi tới cùng bế tắc của chính mình. Nếu không giải quyết được nó, ta ôm nó xuống suối vàng, để lại ở đời chỉ một câu hỏi. Câu hỏi của một con người. Đích thực. Có gì nhục đâu?

Nếu ta tưởng ta đã tìm ra một phần của giải pháp, ít nhất là cho riêng mình, thì cứ viết đi, chẳng cần trích cao nhân nào cả: họ đã là một phần của ta và ta đã phải “vượt” họ để nên mình.

Thế thôi.

(Chungta.com)

Góc nhỏ của Noby Vui Vẻ

Lục lọi, tìm tòi, đọc, cóp nhặt, chia sẻ, ... OK hay không tùy bạn ! ! !

“Nước độc lập mà dân chưa tự do thì độc lập cũng không có ý nghĩa”- Hồ Chí Minh.

27 thg 12, 2011

Liên tiếp các vụ cháy nổ xe: Tầm ngắm ở xăng không đúng quy chuẩn



Thời gian gần đây, người dân lo lắng rất nhiều khi hàng loạt xe máy, ô tô thuộc nhiều hãng xe bốc cháy khi đang đi hay dừng đỗ, trong nhà hay ngoài phố... Điều này dẫn đến một suy luận: Không phải lỗi kỹ thuật mà là nhiên liệu có vấn đề?

Suy luận này không phải không có căn cứ khi gần đây tại TP Hồ Chí Minh có hơn 11 doanh nghiệp bị rút giấy phép kinh doanh vì bán xăng kém chất lượng ra thị trường.

Ngoài ra, các vụ cháy xe không còn tập trung vào một nhãn hiệu Honda mà đã xuất hiện cả ở các thương hiệu khác như SYM, Yamaha, Loncin… và cả ở các mẫu xe ô tô.

Trong các vụ cháy xe máy, những điểm nghi vấn tập trung vào nguồn phát lửa (điện cao áp, ăc quy) và vật liệu cháy (xăng, nhựa, cao su, tạp chất ở cổ ống xả...). Và đến thời điểm này, việc sử dụng xăng kém chất lượng đã trở thành một trong những mối nghi vấn hàng đầu của các vụ cháy, khi mà các hãng sản xuất đồng loạt công bố các yếu tố kỹ thuật vẫn trong điều kiện an toàn.

Xăng kém chất lượng - có thể hiểu là xăng không đạt các quy định về chỉ số octal trong xăng. Ví dụ như xăng A95 nhưng thực tế chỉ đạt tiêu chuẩn của xăng A92, 90 hoặc thậm chí là 85. Nhưng đây chỉ là những gian lận về thương mại, không thể hiểu là có yếu tố tác nhân gây cháy. Vấn đề kém chất lượng ở đây, đáng lưu ý nhất, là xăng bị pha thêm phụ gia, thủ phạm được nhắc đến nhiều nhất phải kể đến cái tên: Methanol. Loại phụ gia này khi pha vào xăng không làm thay đổi nhiều lắm công năng của xe, hoặc nếu có thì người tiêu dùng cũng khó mà phát hiện ra được.

Xăng pha thêm methanol với mục đích trục lợi cá nhân khiến người bán không màng đến sự nguy hiểm cho cộng đồng hay sự bất ổn xã hội mà nó mang lại. Một lít methanol trên thị trường hiện có giá khoảng 11.000đ, nếu pha vào xăng với tỉ lệ khoảng 20-30%, người bán có thể lãi từ 4.000 đồng/lít trở lên, tùy loại xăng mà họ bán ra cho người tiêu dùng, mà quan trọng là người dân không thể phát hiện được nếu sử dụng loại xăng pha này.

Khi dùng xăng pha methanol, nguy cơ cháy nổ tăng lên rất nhiều bởi methanol là một loại dung môi hòa tan cực mạnh, có thể ăn mòn các ống gioăng tại các chi tiết máy, các đường ống cao su dẫn nhiên liệu... Chính điều này dẫn đến rò rỉ nhiên liệu, chảy tràn ra ngoài. Và nếu tia lửa điện (đầu bugi, các mối nối dây điện bị hở...) hay nguồn nhiệt lớn như cổ ống xả, việc bắt cháy là không thể tránh khỏi.
Hiện tại, khi mà các vụ cháy xe máy không còn khu biệt tại một hãng xe nhất định mà xảy ra với rất nhiều hãng xe, kể cả xe mới lẫn xe cũ, lý do dẫn đến hỏa hoạn càng được tập trung vào nhiên liệu không rõ nguồn gốc, xuất xứ.
Chính vì thế, trong khi các cơ quan chức năng chưa đưa ra được kết luận cuối cùng về nguyên nhân các vụ cháy nổ xe, người tiêu dùng nên chủ động sử dụng nhiên liệu từ những đại lý xăng dầu lớn, có uy tín về chất lượng, tránh các nguồn cung cấp xăng dầu không đảm bảo, không đủ độ tin cậy để đảm bảo an toàn cho chính mình và người thân.
Methanol là một loại cồn công nghiệp (có công thức hoá học CH3OH, còn gọi là methyl alcohol), là một chất lỏng, trong suốt, dễ bay hơi, cùng trọng lượng riêng với xăng.

Ngoài ra, một số luồng thông tin còn đặt nghi vấn vào chất Ethyl acetate (có công thức hóa học C2H5COOCH3) cũng là một chất dung môi dễ hòa tan, không màu, có mùi hoa quả ngọt… Nhưng chất phụ gia này được loại trừ khả năng pha trong xăng bởi giá thành của nó hiện tại vào khoảng hơn 30.000đ/lít, nếu pha vào xăng thì không mang lại hiệu quả kinh tế cho người bán.

Việt Hưng

Nguồn: Dân trí

P/S: 
Xe cháy có rất nhiều loại, xe máy thì có cả xe số, xe ga, từ xe chính hãng cho đến xe tàu, ô-tô thì từ xe tải, xe con cho đến xe khách. Tất cả đều cháy. Chắc chỉ có xe đạp là chưa thấy báo chí đưa lên là có cháy thôi. Vậy mà cơ quan chức năng, những đầy tớ của dân vẫn chưa thấy có kết luận gì.
Người ta cứ hỏi tại sao người chủ của những chiếc xe máy thường bỏ đi. Thế nếu không bỏ đi thì ở lại làm gì, nhặt khung xe về bán sắt vụn à. Nếu công an đến điều tra thì còn nhiều rắc rối hơn nữa.
Nhiều ý kiến cho rằng nguyên nhân cháy xe là do xăng có pha methanol. Nhưng mà chưa thấy những người “đầy tớ của nhân dân” nói gì cả. Mà hình như còn có ý tăng giá xăng thì phải.
Thôi thì xe của ai chẳng may mà cháy, ráng mà chịu. Mà có kêu,  trời cũng chẳng thấu.

Mọi người đọc thêm thông tin về các vụ cháy xe: Tại đây

26 thg 12, 2011

Học sinh Ta và Tây - vai trò của giáo dục và truyền thông



Nguyễn Khánh Trung

Không biết đã có nhà nghiên cứu nào so sánh chi tiết cử chỉ hành động, cách sống của các tú tài Việt Nam và Pháp chưa? Nhưng bằng kinh nghiệm thường, ai cũng thấy phần lớn các cô cậu tú Việt Nam “ngoan ngoãn” và cả “thụ động” hơn phần lớn các bạn đồng trang lứa người Pháp.
Có lẽ đây là một hiện tượng tập thể, một hiện tượng xã hội diễn tả hai thói quen, hai tập tính, hai nền văn hóa Âu – Á khác nhau chứ không phải là chuyện cá nhân. Chúng ta có thể phân tích vấn đề từ nhiều cách nhìn, nhưng ở đây tôi xin nói về hai khía cạnh đó là giáo dục và truyền thông.

Người Việt Nam nói: “trẻ em như tờ giấy trắng”, nghĩa là hai đứa trẻ sơ sinh, Tây hay Ta thì cũng giống nhau, những rồi người lớn chúng ta sẽ làm cho một bé trở thành một người Pháp và một bé khác trở thành một người Việt, khác nhau về đủ thứ, trong đó có những biểu hiện như đã nói ở trên. Người lớn làm điều đó bằng con đường nào nhỉ?

Giáo dục

Trước tiên là giáo dục, những khẩu hiệu thường thấy trong nhà trường Việt Nam là “con ngoan trò giỏi” là “tiên học lễ, hậu học văn”. Nghĩa là, trước khi giỏi, trước khi học chuyên môn thì phải ngoan đã, phải học lễ nghĩa phép tắc trong ứng xử với người lớn. Theo cách nào đó sự ngoan ngoãn được định nghĩa như sự vâng lời người lớn. Người lớn, thầy cô dạy sao phải nghe vậy, phận làm trò, làm con không được đặt vấn đề cãi cọ... Nghĩa là người lớn nắm chân lý, nói đúng là đúng, nói sai là sai. Lên tiếng, lý lắc với người lớn nhiều khi học sinh bị cho là hỗn với thầy, là mang tội cãi cha cãi mẹ, một trong những biểu hiện của tội bất hiếu, được xem là rất nặng trong văn hóa Việt Nam. Những khẩu hiệu như thế không chỉ thấy ở các lớp mẫu giáo, các trường tiểu học, mà theo người học sinh tới tận đại học. Trở thành những chuẩn mực chung cho toàn xã hội. Người lớn căn cứ vào đó mà đánh giá học sinh tốt hay xấu, trẻ nhỏ căn cứ vào đó để soi mình, và để hành động cho phù hợp để khỏi bị la rầy. Phải chăng bằng cách đó người Việt Nam đã thiết kế nên tính thụ động nơi nhân cách của con em mình? Phải chăng đây là nguyên nhân của hiện tượng mà có người đã miêu tả: Một đứa bé Việt lúc bắt đầu biết nói rất thông minh, bé hỏi người lớn đủ thứ một cách rất tự nhiên, nhưng rồi số lượng các câu hỏi giảm dần với tuổi tác, với trường lớp, để rồi ở đại học, các sinh viên từa tựa nhau về mặt tư tưởng, rất ít tranh luận, phản biện, đặt lại các vấn đề, những việc mà đáng lý ra sinh viên phải nên làm. 

Ở Pháp thì khác, ngay khi lọt lòng mẹ, đứa bé đã được giáo dục tính tự lập bằng cách cho ngủ riêng, lên mẫu giáo thì phải biết tự làm nhiều thứ, như tự sắp xếp đồ đạc trò chơi sau khi chơi vv. Nghĩa là người lớn chủ trương không làm thay, nhưng giáo dục tính tự chủ, tự làm, tự chịu trách nhiệm cho trẻ. Như đã nói đứa bé Pháp khi còn nhỏ cũng như đưa trẻ Việt thôi, đến cái tuổi nói, tuổi khám phá thế giới xung quanh là chúng đặt đủ thứ câu hỏi, nhưng người lớn Pháp thì đối xử khác xa so với người lớn Việt, phần lớn người Pháp kiên trì trả lời các câu hỏi của trẻ, ngoan ngoãn vâng lời có lẽ cũng được định nghĩa khác. Vì cuộc sống chung, trẻ phải được trang bị một số chuẩn mực xã hội trong cách sống, cách ứng xử với mọi người xung quanh, nhưng người lớn sẵn sàng giải thích cho trẻ hiểu tại sao lại phải tuân thủ như vậy, thầy cô ở trường không khuyến khích trẻ ngoan ngoãn bằng cách bảo sao nghe vậy, nhưng khuyến khích trẻ đặt câu hỏi, chủ động chứng tỏ bản thân, năng khiếu của mình. Lớn lên thì khuyến khích học sinh, sinh viên đặt lại vấn đề, ngay cả đối với những chuẩn mực, những luật lệ mà các em đang buộc phải tuân thủ. Ðiều này bắt nguồn từ quan niệm triết lý giáo dục Châu Âu từ nhiều thế kỷ nay.

Truyền thông

 Một đứa trẻ Việt phải học hỏi vô số những quan hệ xã hội chằng chịt từ trong gia đình và ra ngoài xã hội. Ðứa trẻ không những chỉ học phát âm, mà còn học phép tắc lễ nghĩa gắn liền. Ðối diện với ông bà, cậu dì, chú bác thì phải tự xưng mình là cháu, với cha mẹ thì là con, với anh chị là em... Khi đặt mình vào từng vị trí, bé phải học các thái độ, cách ứng xử đi kèm cho phù hợp để được khen là ngoan. Cách thức xưng hô trong gia đình được mở rộng ra ngoài xã hội. Ví dụ, đối diện với người có tuổi bằng cha chú mình thì phải gọi là bác hoặc chú, và đương nhiên trẻ phải dạ thưa tử tế cho hợp với vai trò phận cháu chắt. Cách xưng hô trong giao tiếp phải cụ thể trong từng trường hợp, văn hóa Việt không khuyến khích chữ chử “tôi”, không “cá đối bằng đầu” trong cách xưng hô. Trật tự xã hội trên dưới đã được thiết lập ngay trong cách truyền thông hằng ngày. Tất cả những điều này trở thành những đường nét trong nhân cách, trong tập tính chung của người Việt, mà có lẽ cũng là một trong các lý do làm nên tính thụ động, bởi rất khó cho một học sinh phải tranh luận một cách công bằng sòng phẳng trước mặt thầy cô, trước mặt những người lớn mà mình chỉ là phận cháu chắt, em út.

Ở Pháp lại khác, cũng có đầy đủ các danh từ như ông bà cha mẹ cô dì chú bác..., nhưng trong truyền thông trực tiếp, đứa bé không buộc phải đóng vai kẻ trên người dưới. Ðối diện với bất kỳ ai trước mặt thì trẻ cũng xưng “tôi”, và người kia là “toi” hoặc “vous” tùy theo mức độ thân mật, và người kia cũng sử dụng cùng những danh từ này để gọi lại. Nghĩa là trong cách xưng hô nói năng hằng ngày đã có sự công bằng, không phân biệt trên dưới, đứa trẻ không phải đổi vai liên tục và cũng không cần phải lễ phép dạ thưa cho dẫu người đối diện là ai. Với ai thì người Pháp cũng chỉ sử dụng “oui” và “non”, chứ không phân biệt như người Việt với dạ, vâng, ừ, hữ... theo thứ bậc. Cứ logic này thì một học sinh Pháp sẽ dễ dàng tranh luận một cách công bằng sòng phẳng với người lớn từ những chuyện ngoài đời cho đến những chuyện học thuật trong trường học, và điều này rất có lợi cho sự phát triển xã hội nói chung và phát triển khoa học nói riêng.

Như nhà sáng lập xã hội học Pháp, E. Durkheim đã nói: chẳng phải giáo dục (giáo dục gia đình, giáo dục trường học) là con đường dẫn trẻ vào xã hội đó sao? Ðúng vậy, nhân cách một con người, tập tính của một dân tộc, phần lớn tùy thuộc vào giáo dục, mà nhân cách, thói quen một con người lại quyết định số phận của người đó, cũng vậy, tập tính chung của một dân tộc cũng quyết định số phận của dân tộc đó. Nghĩa là, muốn thay đổi số phận của một đất nước, phải thay đổi con đường giáo dục.

25 thg 12, 2011

LỰA CHỌN MÔ HÌNH PHÁT TRIỂN TRONG ĐIỀU KIỆN HIỆN NAY




GS.TS. LƯU VĂN SÙNG – Học viện Chính trị – Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh

Lịch sử phát triển các mô hình kinh tế cho thấy, nhân loại đã trải qua hai lần thất bại: Thất bại của thị trường tự do tư bản thiếu sự quản lý, điều tiết của nhà nước vào thế kỷ XVIII – XIX; và thất bại của nhà nước phi thị trường (mô hình Xô-viết trong thế kỷ XX). Để khắc phục hai sự thất bại ấy đã ra đời ba loại hình kinh tế thị trường: Kinh tế thị trường tự do (ở Tây Âu và Bắc Mỹ);  kinh tế thị trường xã hội (Đức và các nước Bắc Âu); kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa (Trung Quốc) và định hướng xã hội chủ nghĩa (Việt Nam).
Sự lựa chọn mô hình phát triển không chỉ do yêu cầu khách quan của kinh tế, mà còn bị quy định bởi chế độ chính trị – xã hội và những điều kiện cụ thể của mỗi quốc gia dân tộc. Phân tích tính tất yếu khách quan của sự phát triển kinh tế thị trường và các loại hình kinh tế thị trường đặt trong điều kiện lịch sử nước ta cho thấy, việc lựa chọn mô hình phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là phù hợp với điều kiện hiện nay.
Tính tất yếu khách quan của sự phát triển kinh tế thị trường
Trước đây, thường có quan niệm rằng kinh tế thị trường là riêng có của chủ nghĩa tư bản. Nhưng theo quan điểm của C.Mác, sự phát triển xã hội như là một quá trình lịch sử tự nhiên, con người không thể dùng sắc luật để bỏ qua một giai đoạn phát triển của xã hội, kinh tế thị trường là một giai đoạn tất yếu của lịch sử mà nền kinh tế nào cũng phải trải qua; phải phát triển đầy đủ nền kinh tế thị trường thì mới đạt tới nấc thang cao hơn trên con đường tiến hóa. Nấc thang cao hơn đó là nền kinh tế cộng sản chủ nghĩa, mà giai đoạn đầu là nền kinh tế xã hội chủ nghĩa. Như vậy, nền kinh tế thị trường được C.Mác xác định là một nấc thang tất yếu, phổ biến trên con đường phát triển của tất cả các quốc gia dân tộc. Kinh tế thị trường được thừa nhận là thành tựu chung của văn minh nhân loại, không phải là cái riêng có của chủ nghĩa tư bản, mặc dù nó ra đời gắn với chủ nghĩa tư bản và được phát triển đầy đủ dưới chủ nghĩa tư bản. Tính phổ biến của  kinh tế thị trường thể hiện ở cấu trúc khung chung cho mọi nền kinh tế thị trường. Những yếu tố cơ bản quy định kinh tế thị trường, cũng là những yếu tố của cấu trúc kinh tế thị trường, bao gồm 5 yếu tố sau:
Thứ nhất, chủ thể của kinh tế thị trường. Nền kinh tế thị trường đòi hỏi sự tồn tại của các chủ thể kinh tế độc lập dưới nhiều hình thức sở hữu khác nhau. Về nguyên tắc, nền kinh tế thị trường có cấu trúc đa sở hữu. Trong cấu trúc này, sở hữu tư nhân luôn là thành tố tất yếu, bắt buộc.
Thứ hai, hệ thống đồng bộ các thị trường và thể chế tương ứng. Mọi nền kinh tế thị trường đều bao gồm các loại hình thị trường: thị trường hàng hóa và dịch vụ, thị trường đất đai, thị trường vốn, thị trường lao động, thị trường khoa học và công nghệ… Để nền kinh tế thị trường hoạt động có hiệu quả, phải bảo đảm hai yêu cầu: Một là, có sự hiện diện đầy đủ tất cả các thị trường nói trên. Hai là, các thị trường phải vận hành đồng bộ và  hiệu quả.
Thứ ba, hệ thống giá cả do thị trường quyết định là yếu tố cốt lõi quy định sự vận hành của các thể chế thị trường và của cả nền kinh tế. Nền kinh tế thị trường chỉ có thể vận hành được một khi hệ thống giá cả được quyết định bởi thị trường trên cơ sở giá trị và quan hệ cung cầu nhằm mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận – động lực chủ yếu thúc đẩy nỗ lực hoạt động và nâng cao hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp.
Thứ tư, cơ chế vận hành của nền kinh tế thị trường là cạnh tranh tự do và bình đẳng.Về bản chất, cơ chế cạnh tranh thị trường là cơ chế tự điều chỉnh. Do vậy, nó còn được gọi là “bàn tay vô hình”. Cơ chế này giúp nền kinh tế tạo lập sự cân bằng khi cân đối cũ bị phá vỡ và thiết lập sự cân đối mới. Thị trường và cạnh tranh cũng là cơ chế chủ yếu phân bổ các nguồn lực phát triển của doanh nghiệp và nền kinh tế.
Thứ năm, vai trò của nhà nước. Thị trường có những khuyết tật và cơ chế thị trường có thể bị thất bại trong việc giải quyết những vấn đề phát triển, như khủng hoảng, đói nghèo, công bằng xã hội, môi trường… Cơ chế cạnh tranh tự do càng hoạt động mạnh, những khuyết tật này càng lộ rõ. Để khắc phục chúng và tránh mắc phải thất bại của thị trường, nhà nước phải tham gia quản lý, điều tiết sự vận hành của nền kinh tế. Nhà nước tham gia  các quá trình kinh tế thị trường vừa với tư cách là bộ máy quản lý xã hội, vừa là một yếu tố nội tại của cơ chế vận hành nền kinh tế. Với tư cách đó, trong nền kinh tế thị trường hiện đại, nhà nước thực hiện ba chức năng cơ bản: (1) Định hướng, tạo môi trường, hỗ trợ, kiểm soát và điều tiết sự phát triển; (2) Phân phối và tái phân phối nguồn lực phát triển và thu nhập quốc dân; (3) Giải quyết các vấn đề xã hội, bảo vệ môi trường và bảo đảm phát triển bền vững.
Để thực hiện ba chức năng đó, nhà nước phải giải quyết bốn nhiệm vụ chủ yếu: (1) Cung cấp khung khổ pháp lý rõ ràng, nghiêm minh, có hiệu lực và phù hợp với đòi hỏi của cơ chế thị trường; (2) Kiến tạo và bảo đảm  môi trường vĩ mô ổn định, có tính khuyến khích kinh doanh; (3) Cung cấp kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội (bao gồm hạ tầng “cứng” như giao thông vận tải, điện, nước v.v.. và hạ tầng “mềm” như dịch vụ thông tin, bưu chính – viễn thông; dịch vụ tài chính v.v..) cũng như các dịch vụ hàng hóa công cộng khác (chăm sóc sức khỏe, giáo dục – đào tạo, bảo vệ môi trường v.v..); (4) Hỗ trợ cho nhóm người nghèo có các điều kiện tối thiểu để tham gia thị trường một cách bình đẳng.
Năm yếu tố trên là những yếu tố cấu thành cơ bản của khung thể chế chung của mọi nền kinh tế thị trường. Chúng tạo thành một tổng thể quy định lẫn nhau. Thiếu bất cứ yếu tố nào trong số đó đều không thể có nền kinh tế thị trường bình thường, vận hành hiệu quả. Tuy nhiên, dù đây là 5 yếu tố cấu thành bắt buộc, song trong mỗi nền kinh tế thị trường, tùy theo chế độ chính trị – xã hội và các điều kiện phát triển cụ thể của mỗi quốc gia mà vai trò, vị trí và chức năng của từng yếu tố không hoàn toàn giống nhau. Điều này tạo nên tính đặc thù của các mô hình kinh tế thị trường và nền kinh tế thị trường ở mỗi quốc gia.
Các loại hình kinh tế thị trường và sự lựa chọn mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta
Thực tế cho thấy kinh tế thị trường không phát triển theo mô hình đơn nhất, nó được thực hiện dưới nhiều mô hình khác nhau. Cơ bản có ba loại:
Mô hình kinh tế thị trường tự do
Kinh tế thị trường trong khuôn khổ chủ nghĩa tư bản chủ yếu phát triển theo mô hình tự do, được thực hiện ở hầu hết các nền kinh tế tư bản chủ nghĩa hàng đầu ở Tây Âu và Bắc Mỹ. Mô hình này đề cao vai trò của chủ sở hữu tư nhân, của tự do cá nhân và cạnh tranh tự do. Trong mô hình kinh tế thị trường tự do, sự can thiệp, điều tiết của nhà nước vào các quá trình kinh tế được hạn chế ở mức thấp. Quá trình phát triển kinh tế chủ yếu do khu vực tư nhân đảm nhiệm dưới sự điều tiết của “bàn tay vô hình” (tức cơ chế cạnh tranh tự do). Chức năng chính của nhà nước là bảo vệ chế độ tư hữu tư nhân và các quyền tự do cá nhân, bảo đảm ổn định vĩ mô, tạo điều kiện để kinh tế tư nhân và cơ chế thị trường tự do vận hành thuận lợi nhất. Sự tham gia của nhà nước vào quá trình phân phối lại, vào hệ thống phúc lợi xã hội nhằm giảm thiểu tình trạng bất bình đẳng, tạo lập công bằng xã hội, ngăn chặn và xử lý các thất bại của thị trường tuy được coi trọng, nhưng không nhiều như ở các mô hình khác. Ở mô hình này, vai trò động lực phát triển của lợi ích tư nhân, cá nhân (lợi nhuận) được đề cao tối đa, còn vai trò “người cầm lái” của nhà nước (bàn tay hữu hình) lại tương đối bị xem nhẹ.
Mô hình này được xây dựng trên cơ sở lý thuyết tự do tư sản. Theo trường phái này, sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất chính là tự do của từng người về những cái mà người ấy có. Tự do cạnh tranh và thị trường tự do sẽ tạo ra sự hài hòa trong xã hội và cực đại hóa thịnh vượng xã hội. Trên cơ sở đó hình thành nền chính trị tự do: Thiết lập và thực thi quyền lực nhà nước nhưng không vi phạm, hạn chế tự do cá nhân, mà phải bảo đảm tự do cá nhân; các chính đảng tự do cạnh tranh qua bầu cử để giành quyền lực nhà nước, thiết lập thể chế đa nguyên chính trị; các nhóm lợi ích chính trị là những tập đoàn áp lực tác động vào chính sách và hoạt động của nhà nước  nhằm bảo đảm lợi ích của mình.
Nền kinh tế tự do là một động lực thúc đẩy xã hội phát triển. Nhưng tự do cạnh tranh “cá lớn nuốt cá bé”, chỉ mang lại tự do cho người giầu có sở hữu, còn người nghèo không có sở hữu thì không có tự do, có chăng chỉ là tự do bán sức lao động. Bất bình đẳng, bất công xã hội dẫn đến tình trạng “kẻ ăn không hết, người lần không ra”. Xung đột giai cấp, dân tộc gay gắt, quyết liệt. Còn nền chính trị tự do tưởng như bảo đảm tự do, dân chủ, công bằng cho mọi người, nhưng trong thực tế, các nhà tư bản lớn nắm giữ quyền lực chính trị. Bầu cử tự do, nhưng thắng cử thuộc về các đảng lớn đại diện cho lợi ích của các tập đoàn tư bản mạnh, tuyệt đại bộ phận các nghị sĩ là giới thượng lưu tư sản. Hội các chủ doanh nghiệp lớn và hội các quan chức là những nhóm lợi ích chính trị hỗ trợ, tạo điều kiện cho hoạt động của quốc hội và chính phủ; hai cơ quan này lại liên kết với nhau để ban hành các chính sách phục vụ cho các nhóm lợi ích; hình thành tam giác quyền lực – quyền lực nhà nước bên trong nhà nước. Nền kinh tế tự do và chính trị tự do không giải quyết được bất công và xung đột xã hội. Khủng hoảng tài chính phát sinh từ trung tâm tài chính phố Uôn của Mỹ và lan ra toàn cầu; các nước có nền kinh tế tự do thường là chủ công trong những cuộc chiến tranh khống chế nguồn nguyên liệu, bao vây cấm vận các nước khác trên trường quốc tế. Tính chất dã man của chủ nghĩa tư bản vẫn hiện hữu, tuy biểu hiện dưới hình thức mới dưới nhãn hiệu “dân chủ”, “nhân quyền”… Mô hình tự do đã lỗi thời, không thể là tương lai của nhân loại.
Mô hình kinh tế thị trường xã hội
Mô hình này được thực hiện thành công ở Cộng hòa Liên bang Đức và các nước Bắc Âu, điển hình là ở Thụy Điển. Về nguyên tắc, mô hình kinh tế thị trường xã hội thừa nhận các yếu tố cơ bản phổ biến của kinh tế thị trường, như cấu trúc đa sở hữu với sở hữu tư nhân làm nòng cốt, hệ thống các thể chế thị trường, cơ chế cạnh tranh tự do và vai trò của nhà nước trong nền kinh tế. Tuy nhiên, so với mô hình kinh tế thị trường tự do mô hình này có hai đặc trưng nổi bật:
- Coi các mục tiêu xã hội và phát triển con người (công bằng xã hội, phúc lợi cho người nghèo và người lao động, quyền tự do phát triển của mọi người dân…) cũng là mục tiêu của quá trình phát triển kinh tế thị trường.
- Nhà nước dẫn dắt nền kinh tế thị trường phát triển không chỉ nhằm mục tiêu tăng trưởng và hiệu quả kinh tế mà còn cả mục tiêu phát triển và hiệu quả xã hội.
Với những đặc trưng trên đây, tuy mô hình kinh tế thị trường xã hội là một biến thể của kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa, song nó phản ánh một xu hướng tất yếu của sự phát triển. Đó là đến một trình độ phát triển nhất định, trong những điều kiện cụ thể, tự kinh tế thị trường không thể giải quyết hiệu quả tất cả các vấn đề phát triển, nhất là các mục tiêu phát triển xã hội và con người. Để đạt được điều đó, trong cơ chế vận hành của nền kinh tế thị trường, cần có thêm “bánh lái” để định hướng thúc đẩy quá trình phát triển đi đúng quỹ đạo nhằm phục vụ tốt nhất không chỉ tăng trưởng và hiệu quả kinh tế mà cả nhiệm vụ phát triển xã hội và con người. Như vậy, để đạt hiệu quả cao nhất quá trình phát triển kinh tế thị trường, cần hướng tới mục tiêu xã hội và phát triển con người. Phương thức để đạt mục tiêu đó không phải là phủ nhận thị trường, xóa bỏ cơ chế thị trường mà là đặt nhà nước vào vị thế tham gia điều tiết và định hướng sự phát triển kinh tế thị trường với tư cách là một yếu tố cấu thành bên trong của cơ chế thị trường hiện đại. Mô hình thị trường xã hội còn chịu tác động của trào lưu tư tưởng xã hội dân chủ. Khác với chủ nghĩa tự do định hướng hiệu quả – khơi dậy động cơ vụ lợi của con người để cực đại hóa thịnh vượng xã hội, trào lưu xã hội dân chủ xuất phát từ định hướng giá trị – mọi người sống trong xã hội phải được bảo đảm cuộc sống phù hợp với nhân phẩm; tự do, bình đẳng là giá trị xuất phát và hướng tới mục tiêu dân chủ. Để đạt giá trị ấy cần thực hiện nền kinh tế hỗn hợp, đa sở hữu, trong đó kinh tế tư nhân là nòng cốt; nền chính trị đa nguyên; nhà nước phúc lợi xã hội; bằng hệ thống bảo hiểm hoàn chỉnh, những chính sách công bằng tự do đã bảo đảm an sinh xã hội, phúc lợi xã hội cho mọi người. Có thể nói thị trường xã hội, dưới  tác động của nhà nước phúc lợi, tuy vẫn là kinh tế tư bản, nhưng so với Tây Âu và Bắc Mỹ, đời sống xã hội ở các nước Bắc Âu dân chủ và công bằng hơn, nhân đạo và đồng thuận hơn. Đó là một bước tiến của nền kinh tế thị trường và văn minh chính trị. Nhưng trong phạm vi chủ nghĩa tư bản, kinh tế tư nhân còn là nòng cốt thì không thể thực hiện được những chính sách thực sự vì xã hội, vì con người, tác dụng của nhà nước phúc lợi cũng có giới hạn.
Mô hình kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa, kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
Loại mô hình kinh tế thị trường này đang được thực thi ở Trung Quốc (kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa) và ở Việt Nam (kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa). Thời gian tồn tại của nó chỉ mới hơn 1/4 thế kỷ và đang từng bước được khẳng định. Tuy vậy, kết quả thực tế đã chứng tỏ đây là mô hình có sức sống mạnh mẽ và có triển vọng lịch sử to lớn. Kinh tế tăng trưởng nhanh và liên tục trong nhiều năm. An sinh xã hội được bảo đảm, chính trị – xã hội ổn định. Loại mô hình này đứng vững trong khủng hoảng kinh tế toàn cầu và khắc phục nhanh hậu quả khủng hoảng tác động đến nền kinh tế trong nước. Việt Nam lựa chọn mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa vì đó là mô hình tiến bộ trong tiến trình phát triển xã hội, đồng thời cũng phù hợp với yêu cầu công cuộc đổi mới ở nước ta – thay đổi cấu trúc mô hình chủ nghĩa xã hội nhưng không từ bỏ mục tiêu xã hội chủ nghĩa, thực hiện mục tiêu ấy bằng phương thức mới, bằng nền kinh tế thị trường. Do vậy chuyển từ nền kinh tế hành chính bao cấp sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, một mặt, phải xác lập và hoàn thiện đầy đủ 5 yếu tố của thể chế thị trường để khơi dậy mọi động lực thúc đẩy phát triển kinh tế, tạo điều kiện vật chất và tinh thần đáp ứng mục tiêu xã hội và giải phóng con người; mặt khác, phải thực hiện mục tiêu xã hội chủ nghĩa. Định hướng xã hội chủ nghĩa là hướng tới xã hội nhân đạo hoàn thiện, khắc phục tha hóa, áp bức, bóc lột, bất công, mọi người được phát triển tự do, “sự phát triển tự do của mỗi người là điều kiện cho sự phát triển tự do của tất cả mọi người” (C.Mác). Trước hết là xây dựng đất nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, “đồng bào ta ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành”. Vì vậy, vấn đề an sinh xã hội, công bằng xã hội, tạo môi trường cho mọi người có điều kiện tự do phát triển cũng chính là mục tiêu của quá trình phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Để thực hiện mục tiêu ấy cần coi trọng vai trò của Nhà nước, vai trò của “bàn tay hữu hình” trong quản lý, điều tiết nền kinh tế. Nhà nước quản lý nền kinh tế, định hướng điều tiết, thúc đẩy sự phát triển kinh tế – xã hội bằng pháp luật, chiến lược, quy hoạch, chính sách và lực lượng vật chất. Lực lượng vật chất chính là các nguồn lực của kinh tế nhà nước. Chỉ trên cơ sở nguồn lực kinh tế mạnh, Nhà nước mới có thể cung cấp kết cấu hạ tầng xã hội bảo đảm giao thông, điện, nước, thông tin, giáo dục – đào tạo, bảo vệ môi trường… Và, cũng chỉ trên cơ sở nguồn lực kinh tế mạnh, Nhà nước mới bảo đảm an sinh xã hội, hỗ trợ người nghèo, hạn chế bất công xã hội… Vì vậy, trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, kinh tế nhà nước phải giữ vai trò chủ đạo. Kinh tế nhà nước cùng với kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng vững chắc của nền kinh tế quốc dân.
Song, kinh tế nhà nước ở nước ta hiện nay còn nhiều hạn chế, khuyết tật, chức năng chủ sở hữu chưa được xác định rõ ràng, thể chế và cơ chế vận hành còn nhiều bất cập tạo môi trường cho tham nhũng, lãng phí, nhất là khi bộ phận thoái hóa biến chất nắm kinh tế cấu kết với bộ phận thoái hóa biến chất nắm quyền lực chính trị tìm cách chiếm đoạt của cải sẽ gây nên tổn thất rất lớn tài sản nhà nước. Mặt khác, nước ta còn ở giai đoạn đầu của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, mới bước sang nền kinh tế thị trường, vừa thoát khỏi  nhóm nước có thu nhập thấp và bước vào nhóm nước phát triển có mức thu nhập trung bình, để có thể phát triển nhanh,  phải biết khơi dậy các động lực của nền kinh tế, đặc biệt là kinh tế tư nhân. Kinh tế tư nhân nếu phát triển đúng định hướng sẽ là một trong những động lực quan trọng của nền kinh tế, vì kinh tế tư nhân có chủ cụ thể với mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận sẽ kích thích, phát huy sức sáng tạo của chủ doanh nghiệp, kích thích đổi mới kỹ thuật – công nghệ, tối ưu hóa sản xuất, tiết kiệm chi phí, tăng năng suất, giảm giá thành. Phát triển kinh tế tư nhân không chỉ tăng của cải xã hội, giải quyết công ăn việc làm, mà còn tăng cường sức cạnh tranh, tăng hiệu quả của nền kinh tế, góp phần khắc phục những yếu tố bất cập của nền kinh tế nước ta hiện nay. Đồng thời, cần coi trọng phát triển loại hình kinh tế sở hữu hỗn hợp, các doanh nghiệp cổ phần đa sở hữu để khơi dậy mọi động lực của nền kinh tế. Mỗi thành phần kinh tế, mỗi hình thức sở hữu, mỗi loại hình doanh nghiệp đều có những thế mạnh và những khuyết tật, vấn đề là biết kết hợp những ưu thế của chúng để hỗ trợ cho nhau tạo nên sức mạnh tổng hợp trong quá trình vận hành của nền kinh tế thị trường; vừa tạo lập đồng bộ các yếu tố thị trường, các loại hình thị trường, vừa tạo ra nhân tố bảo đảm sự vận động của nền kinh tế theo mục tiêu xã hội chủ nghĩa. Đó chính là hoàn thiện thể chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay. Để nền kinh tế thị trường vận động theo mục tiêu xã hội chủ nghĩa, cần xác lập và hoàn thiện các nhân tố của kiến trúc thượng tầng chính trị bảo đảm định hướng cho sự phát triển kinh tế:
- Xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Nhà nước giữ vai trò quản lý điều tiết vĩ mô nền kinh tế để nền kinh tế hoạt động có hiệu quả vì lợi ích của nhân dân.
- Củng cố và hoàn thiện vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản để bảo đảm kiên định thực hiện mục tiêu xã hội chủ nghĩa, bảo đảm tính chất xã hội chủ nghĩa trong nền kinh tế thị trường.
Xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa chính là thực hiện chủ nghĩa nhân đạo trong kinh tế thị trường, đó là xu hướng tiến bộ của kinh tế thị trường và là mô hình phát triển ở nước ta hiện nay./.

24 thg 12, 2011

Những bức ảnh kỉ niệm về thời sinh viên


sẽ nhớ mãi những ngày tháng đại học.

23 thg 12, 2011

Mười mấy sự thực của Trung Quốc khiến người ta lo ngại.


Dương Danh Dy

1.  Bắt đầu từ năm 2008, nợ của chính quyền địa phương của Trung Quốc đã từ 23,5 tỷ USD tăng vọt lên 1600 tỷ USD.
2. Nếu một cư dân thành phố Bắc Kinh nhịn ăn uống trong một năm và dùng số tiền tiết kiệm đó để mua nhà ở thì cũng chỉ mua được 0,56 m2 thôi,
3. Mười bẩy năm qua có khoảng 140 triệu nông dân bị chính quyền cưỡng chế, trưng mua ruộng đất.(trong 12 năm qua số ruộng đất canh tác của Trung Quốc đã giảm bớt 8,33 triệu ha.)
4. Năm năm qua đã có 16.810 công nhân mỏ than Trung Quốc lâm nạn.
5. Trung Quốc đang tiêu thụ 53% xi măng, 48% quặng sắt, và 47% than của thế giới.
6. Đến năm 2025 những nhà chọc trời mà Trung Quốc đã đang và sẽ xây dựng đủ để lấp đầy 10 thành phố Newyork. Đến năm 2015 Trung Quốc sẽ xây dựng được 5 triệu toà kiến trúc mới với diện tích là 40 tỷ m2 trong đó có 5 vạn toà nhà chọc trời.
7. Trung Quốc hiện có khoảng 64 triệu căn phòng để không, thậm chí có một số “thành phố ma” không có người ở.
8. Sau 5 năm nữa nợ thẻ tín dụng của Trung Quốc sẽ tăng tới 600%, ngay trong năm nay(2011) tổng nợ đã từ 63 tỷ USD tăng lên 93 tỷ USD
9. Có hơn 500 triệu ngưòi Trung Quốc sinh hoạt phí mỗi ngày chưa đựoc 2 USD.
10. Tại Trung Quốc mỗi ngày trung bình xảy ra 493 sự kiện có tính quần thể. Riêng năm ngoái đã có khoảng 180.000 vụ có tính quần thể như bãi công, biểu tình chống đối…, nhân tố xã hội không ổn định đang gia tăng.
11. Cứ mỗi giây, người Trung Quốc hút hết 55.000 điếu thuốc lá.
12. Số ngưòi Trung Quốc chấp hành án tử hình bằng 3 lần tổng số ngưòi trên thế giới chịu hình phạt này.(Năm 2008 tại Trung Quốc chí ít có 1718 người chịu án, gấp 3 lần tổng số của thế giói . Có người còn cho rằng con số đó phải là gần 6000 người.)
13. Quân đội Trung Quốc đông nhất thế giới đạt 3,5 triệu người.

                                                   D.Q.A (st và gt)

 Nguồn tạp chí Forbes, mạng Kan Zhong Guo đưa lại ngày 16/11/2011

Đừng nói đạo đức với doanh nghiệp xăng dầu



(Dân Việt) - "Việc kinh doanh xăng dầu chưa bao giờ chịu thua lỗ và thiệt thòi... Việc lỗ-lãi trong kinh doanh đôi khi là có thật, song các doanh nghiệp cũng sẽ tìm mọi cách luồn lách, xin cơ chế để không bị thiệt và lỗ...".

Đó là khẳng định của ông Phạm Tất Thắng - chuyên gia kinh tế cao cấp, nguyên là lãnh đạo trong ngành thương mại (nay là Bộ Công Thương) khi trả lời phỏng vấn phóng viên xung quanh kết quả kiểm tra doanh nghiệp xăng dầu mà Bộ Tài chính vừa công bố.


Theo ông Thắng, các doanh nghiệp đầu mối xăng dầu có lãi nhưng luôn kêu lỗ.

Thưa ông, kết quả thanh tra DN xăng dầu mà Bộ Tài chính vừa công bố đã cho thấy một thực tế là các DN xăng dầu lãi, nhưng luôn kêu lỗ để không giảm giá bán lẻ xăng dầu. Vậy đạo đức trong kinh doanh xăng dầu ở đây được nhìn nhận như thế nào?
- DN xăng dầu lãi nhưng luôn kêu lỗ là sự thật, sự thật từ lâu rồi, nên chúng ta đừng nói tới đạo đức trong kinh doanh xăng dầu. Sự thật là cái gì có lợi thì họ làm bởi kinh doanh xăng dầu độc quyền quá lâu rồi. DN quen với việc họ được hô thanh thế, được ưu ái, chăm bẵm từ lâu, nên khó bỏ.
Không cứ xăng dầu mà ngành kinh tế độc quyền nào trong trường hợp đó cũng vậy, các DN cũng luôn tìm cái lợi cho họ mà thôi. Chính vì thế mà DN thì lỗ nhưng lương của lãnh đạo, nhân viên thì cao, thưởng thì to... Đạo đức kinh doanh có lẽ không đem lại lợi lộc gì nên người ta không cần nghĩ đến.
Nhưng bản thân các DN xăng dầu cũng "kêu" rằng, họ bị soát xét quá nhiều, trong khi định mức kinh doanh thì được quy định sẵn, có những thời điểm những quy định này không phù hợp với thực tế kinh doanh nên DN phải "lách", dẫn tới việc buôn bán thiếu minh bạch, thưa ông?
- Hiện nay, các DN xăng dầu đang dành một "sân sau" để đề phòng "thời thế" thay đổi; nghĩa là phòng trường hợp việc kinh doanh của họ sẽ bị kiểm soát, theo dõi chặt thì DN vẫn có dư địa để mà tránh. Bản thân các DN cũng ý thức được rằng, chắc chắn thời "hoàng kim" trước kia sẽ phải thay đổi, không còn được như trước nữa nên nếu không "phòng bị gậy" sẵn thì khó mà qua được.
Tất nhiên, trong lúc giao thời sự lỗ lãi của DN đôi khi là có thật, nhưng họ vẫn luồn lách và xin cơ chế để có phần bù đắp vào những lúc như thế. DN cũng đã xác định, chỉ còn được "ưu ái", "độc quyền" như thế này một thời gian ngắn nữa thôi.
Chúng ta vẫn chủ trương xăng dầu phải là DN nhà nước nắm để tạo nên "quả đấm"... thì minh bạch với kinh doanh xăng dầu sẽ còn xa mới đạt được.

Ông Phạm Tất Thắng
Kết luận thanh tra của Bộ Tài chính cũng cho thấy, các DN xăng dầu bán hàng cho đại lý dưới giá vốn với số tiền lên tới 847 tỷ đồng để nhận lỗ về mình, kiểu như "mẹ lỗ, con lãi", như vậy có phải đã rõ việc "lãi kêu lỗ" và cho thấy sự sai phạm của DN xăng dầu không, thưa ông?
- Đây là sai phạm đã rõ của DN mà ai cũng biết. Kiểu kinh doanh này ví như "mẹ" chỉ cho "con" lãi từng này nên mẹ bán xăng dầu cho con giá này, còn từng này "con" phải lại quả cho "mẹ", nhưng cần hiểu việc "lại quả" ở đây thì cá nhân được hưởng chứ không phải DN nhà nước được hưởng.
Chuyện này rõ như ban ngày song từ trước tới nay có cơ quan nào kiểm tra, kiểm soát các DN xăng dầu đâu (mà chỉ dựa vào báo cáo của DN) để xử lý vì kinh doanh xăng dầu vốn được ưu ái; nay mới tìm ra được và bắt đầu "mổ xẻ" sai phạm này. Rõ ràng, quản lý nhà nước của chúng ta rất sơ hở, kể cả với DN nước ngoài cũng vậy, nên mới có tình trạng DN lỗ giả lãi thật.
Ngay Bộ Tài chính cũng cho biết, việc thanh tra DN xăng dầu lần này là để dần minh bạch hoạt động kinh doanh xăng dầu, chứ không phải để xử lý sai phạm. Tại sao chúng ta vẫn chưa thể mạnh tay để minh bạch hóa thị trường xăng dầu, thưa ông?
- Cái khó là chúng ta vẫn chưa cổ phần hóa các DN xăng dầu. Nhà nước vẫn giao vốn cho DN và quản lý trên vốn. Chúng ta vẫn chủ trương xăng dầu phải là DN nhà nước nắm để tạo nên "quả đấm"... thì minh bạch với kinh doanh xăng dầu sẽ còn xa mới đạt được.
Nhưng các cơ quan nhà nước "chưa mạnh tay" chứ không thể không mạnh tay vì người tiêu dùng cũng đã phần nào thấy rõ những bất cập, thiệt thòi trong tiêu dùng xăng dầu. Vậy theo ông chúng ta phải có những bước đi như thế nào?
- Bước đi đầu tiên là ngành xăng dầu không độc quyền nữa. Quy định về DN xăng dầu đầu mối phải được mở ra cho nhiều thành phần tham gia. Tách bơm, trữ xăng dầu ra khỏi kinh doanh xăng dầu; tránh tạo hệ thống bơm-trữ-kinh doanh kiểu từ A đến Z cho DN như hiện nay thì "chết". Các trạm xăng được mua xăng ở bất kỳ đầu mối nào.
Tất cả đòi hỏi chúng ta phải mạnh dạn thay đổi, dựa trên tư duy kinh tế và hiệu quả của nền kinh tế, không vì mục đích nào khác thì mới làm nổi. Tôi cho còn những bước đi dài, nhưng không phải chúng ta không làm được mà chúng ta có muốn làm hay không, có quyết tâm làm hay không mà thôi.
Xin cảm ơn ông!
Mai Hương (thực hiện)

Nguồn: http://danviet.vn/70602p1c25/dung-noi-dao-duc-voidoanh-nghiep-xang-dau.htm 

22 thg 12, 2011

Một bài về Bắc Triều Tiên - đọc để biết xem Bắc Triều Tiên là như thế nào



 Bắc Triều Tiên, câu hỏi lớn chưa có lời giải 

Thông tin về Bắc Triều Tiên có rất ít, thậm chí chúng tôi đã làm về Bắc Triều Tiên hơn 30 năm rồi mà cũng chưa giải đáp được những câu hỏi mà các anh lúc nãy đã sơ bộ nêu ra, không biết Bắc Triều Tiên là cái gì đâu. Bây giờ, tôi chưa có tham vọng trả lời với các anh cái ông này nó thế nào, chế độ này nó ra làm sao, hay nó là loại gì trong lịch sử nhân loại. Tôi chỉ xin kể lại những điều mắt thấy tai nghe, những gì đã cảm nhận được trong suốt một thời gian dài công tác ở đây. Thực tế trong quá trình công tác nhiều năm cũng không có những nguồn thông tin gì thực sự đáng tin cậy, cũng là nghe qua người này, người kia, qua bộ phận này, bộ phận khác. Không có một loại tài liệu gì mang tính chất chính thống mà người ta đưa ra.

Tôi chỉ có tham vọng báo cáo để các anh đứng ở góc độ cương vị công tác của mình và trên nhiều góc độ khác để có nhận xét về chế độ, về vị lãnh đạo này, về cái Đảng này nó như thế nào? Gần đây, Bắc Triều Tiên có mấy sự kiện lớn: Vấn đề hạt nhân. Gần đây nhất là vấn đề máy bay trinh thám của Mỹ bay vào không phận Bắc Triều Tiên. Trước đây Bắc Triều Tiên đã rình cái máy bay này mấy lần rồi, nhưng không làm sao bắt được quả tang. Lần này đã có sự chuẩn bị từ trước, Bắc Triều Tiên cho xuất phát 4 máy bay MIC 29, đuổi khoảng 20 phút trên bầu trời, có lúc hai bên đã tiếp cận cách nhau 14, 15 mét. Bắc Triều Tiên đã kiềm chế không bắn, vì nếu bắn thì không bao giờ nó rơi trên đất Bắc Triều Tiên được. Theo địa hình bản đồ Bắc Triều Tiên các anh sẽ rõ vì khi bị đuổi bao giờ máy bay cũng chạy ra phía biển; nếu có bắn trúng thì nó cũng bay được thêm 500 - 600 km ra ngoài biển, rồi mới rơi, lúc đó cãi nhau thì mệt lắm. Bên thì bảo tôi còn bay ở ngoài, anh bắn tôi, bên thì bảo anh đã vào đất liền của tôi, tôi bắn. Nhưng tang chứng thì máy bay lại rơi ngoài biển khơi.

Trước đây, vấn đề hạt nhân của Bắc Triều Tiên cũng rất phức tạp. Bắc Triều Tiên không có khả năng cạnh tranh về kinh tế với Hàn Quốc. Do đó người ta mới nghĩ ra cần có một con bài gì đó để mặc cả. Bắc Triều Tiên đưa ra chính sách phát triển về kinh tế là ưu tiên phát triển công nghiệp nặng. Trong công nghiệp nặng lại ưu tiên phát triển công nghiệp quốc phòng, mà công nghiệp quốc phòng thì lại vô cùng tốn kém: một khẩu súng bằng cả mấy cái máy cày, một quả tên lửa tính ra không biết bao nhiêu tiền của. Do đó từ khi theo con đường này, kinh tế Bắc Triều Tiên cứ luôn luôn bị lệch lạc. Bắc Triều Tiên coi nhẹ công nghiệp nhẹ và nông nghiệp cho nên đời sống nhân dân rất khổ, phải thắt lưng buộc bụng từ khi thành lập nước đến tận bây giờ.

Sang thế kỷ XXI, các nước XHCN phát triển nhanh chóng, nhưng Bắc Triều Tiên vẫn cứ thắt lưng buộc bụng, vẫn đói.

Ở Hàn Quốc còn có Sam Sung, LG Tivi, máy giặt bán trên thế giới, nhưng mà không thể tìm thấy một thứ đồ dùng gì của Bắc Triều Tiên đưa ra thế giới. Người ta nói rằng từ ngày ông Kim Nhật Thành mất đi (1994) ông đã mang theo tất cả những tinh hoa của đất nước. Vì vậy, khi ông Kim Châng In lên thay, đã không lãnh đạo được, để dân chết đói ghê quá. Tính đến năm 1994-1997, theo hãng thông tin cho biết, Bắc Triều Tiên đã để dân chết đói đến 2,8 triệu người, hơn con số ta chết đói năm 1945, khi Nhật bắt nhổ lúa trồng đay, chỉ có 2 triệu. Cuối thế kỷ XX đầu thế kỷ XXI mà một nước XHCN đã để cho dân chết 2,8 triệu, đây là một tội ác, là rất vô nhân đạo. Một chị người Triều Tiên, vừa được sang lấy chồng Việt Nam đã nói với tôi: “Anh ạ, không phải là không có một con đường để Triều Tiên thoát ra khỏi cảnh đói nghèo, có nhưng người ta không đi. Tại sao tôi biết, vì khi tôi vào Sứ quán Hàn Quốc ở khách sạn Deawoo, có một thư viện rất lớn. Tôi đọc sách, tôi mới thấy rõ ràng là có con đường khác mà lãnh tụ của tôi không đi, cứ đi theo con đường này, cho nên dân tôi chết đói. Từ xưa đến nay tôi được giáo dục những điều không đúng sự thật”. Đây là điều ta đáng phải suy nghĩ.

Theo bản đồ thì Bắc Triều Tiên phía Bắc giáp Trung Quốc khoảng 1300 km, có biên giới rất lớn; phía Đông giáp với Liên Xô có 16 km; phía Nam giáp với Hàn Quốc ở vĩ tuyến 38. Phía bên này giáp biển Tây là Trung Quốc; giáp biển Đông là Nhật Bản. Từ đó ta thấy Bắc Triều Tiên là một nước vừa nghèo vừa nhỏ nằm kẹp giữa các cường quốc: Trung Quốc, Nga, Nhật Bản; phía Nam giáp biên giới là người anh em Hàn Quốc, mặc dù chưa phải là cường quốc nhưng là một nước phát triển. Theo ông Tổng thống mới nhất của Hàn Quốc khi nhận chức đã công bố Hàn Quốc đứng hàng thứ 12 Thế giới là loại mạnh rồi.

Vị trí địa lý chính trị làm cho Bắc Triều Tiên ở vào thế rất bị o ép. Từ đó sự an nguy của Bắc Triều Tiên phụ thuộc rất nhiều yếu tố chi phối của các nước lớn này. Chính vì thế mà vấn đề định hướng cho Bắc Triều Tiên, nói rộng ra là cả bán đảo Triều Tiên, vấn đề thống nhất Nam-Bắc (Bắc Triều Tiên và Hàn Quốc) không hoàn toàn phụ thuộc vào ý muốn của nhân dân, hay là ý muốn của Ban Lãnh đạo, mà nó còn phụ thuộc vào lợi ích của các nước lớn xung quanh.

Như các đồng chí đã biết trên thế giới có 3 loại nước bị chia cắt là Đông Đức, Việt Nam và Nam Bắc Triều Tiên. Việt Nam đã thực hiện được thống nhất đất nước theo kiểu của ta. Đông Đức thì thống nhất theo kiểu sáp nhập tức là bên này nuốt chửng bên kia. Theo Hàn Quốc nếu sáp nhập theo kiểu này thì họ không thể cáng đáng nổi, vì Đông Đức ngày xưa so với các nước XHCN khác là vào loại khá. Khi sáp nhập thì Tây Đức đã thấy đây là một gánh nặng đến bây giờ vẫn chưa gỡ ra được, vẫn như cái hố trong nền nhà. Sự phân biệt giữa người Đông Đức và người Tây Đức vẫn còn tồn tại nhiều năm nay. Hàn Quốc cho rằng nếu thống nhất như kiểu Tây Đức thì không kham nổi, tức là phải cõng một ông anh què quặt trên lưng, đi trên một con đường rất dài chưa biết đến bao giờ ông ấy khỏe chân để đặt xuống dắt ông ấy đi. Tính đến bây giờ về tiềm lực kinh tế năm nay tổng sản phẩm quốc dân của Bắc Triều Tiên mới có khoảng 15 tỷ, có ngân hàng nói chỉ có 10 tỷ. Trong khi đó, tổng sản phẩm quốc dân của Hàn Quốc năm 2001 đã là 546 tỷ, một con số chênh lệch quá đáng. Bây giờ muốn thống nhất được trước hết phải tăng cường giao lưu, đầu tư vào Bắc Triều Tiên, vì đằng nào cũng phải đầu tư ra nước ngoài, chi bằng đầu tư lên miền Bắc, cùng một dân tộc, cùng một tính chất, cùng một con người, cùng một tiếng nói thì hiệu quả đầu tư nó sẽ cao hơn. Như vậy Bắc Triều Tiên sẽ phát triển về kinh tế, khoa học kỹ thuật khá dần lên, dần dần hai bên bớt sự chênh lệch, gần nhau hơn thì may ra mới thống nhất được. Ông Tổng thống Kim Tê Chung nói: Việc thống nhất của chúng tôi còn rất lâu dài.

Mẫu thứ hai để thống nhất là Việt Nam, dùng chiến tranh bạo lực thì Hàn Quốc không muốn vì thấy cái giá phải trả nó đắt quá.

Năm 1995, Tổng bí thư Đỗ Mười sang thăm Hàn Quốc. Chủ tịch Đảng cầm quyền là Tổng thống Hàn Quốc đã hỏi Tổng bí thư Đỗ Mười: “Ông có lời khuyên nào cho việc thống nhất của chúng tôi không?”. Đồng chí Đỗ Mười chỉ nói một câu: “Nếu cho tôi có một lời khuyên thì không dùng biện pháp chiến tranh vì nó rất đắt”. Đại ý nói như vậy.

Hàn Quốc cũng không muốn như vậy vì đất nước đã phát triển ổn định, muốn ổn định để phát triển đi lên.

Vậy thì phải chọn ra con đường thứ ba, không phải kiểu Đức hay kiểu Việt Nam, mà là kiểu dần dần tiến tới đoàn kết dân tộc, tăng cường giao lưu hợp tác, rồi tiến tới thống nhất. Con đường này sẽ rất dài, phải 20 năm hoặc 50, 70 năm trở ra. Dân số Bắc Triều Tiên tính đến năm 2001 có khoảng 22 triệu rưỡi. Hàn Quốc có khoảng 46 triệu (gấp đôi). Diện tích cũng gấp đôi, tiềm lực kinh tế thì Hàn Quốc gấp ba bốn chục lần. Thủ đô của Bắc Triều Tiên là Bình Nhưỡng, là một thủ đô tương đối đẹp. Trong quyển sách “Những nền văn minh thế giới” đã liệt thủ đô Bình Nhưỡng là một trong những thủ đô đẹp của thế giới. Sau chiến tranh Triều Tiên 1952-1953, thủ đô Bình Nhưỡng bị san bằng tất cả. Sau đó Liên Xô đứng ra thiết kế lại toàn bộ, cho quy hoạch xây dựng Thủ đô. Quy hoạch này được thiết kế rất hoàn chỉnh, xây rất lớn, như tòa thư viện nhân dân ở giữa thủ đô, Hội trường Quốc hội rất lớn và đẹp, kè của con sông Đại Đồng chảy qua thủ đô đẹp mỹ mãn. Cho đến bây giờ vẫn theo quy hoạch này. Chỉ tội cái nền khoa học kỹ thuật, kinh tế yếu nên trông nó rất buồn tẻ, nhưng lúc nào cũng cảm thấy nó thanh bình, như cây liễu rủ bên sông Đại Đồng, đường phố thì rộng lớn, đẹp đẽ và quy củ. Xã hội rất ngăn nắp, giáo dục rất nghiêm chỉnh tất nhiên là rất lạc hậu.

Lãnh đạo của Bắc Triều Tiên bây giờ là ông Kim Châng In (Kim Chính Nhật), giữ chức Tổng bí thư Đảng Lao động Triều Tiên – chứ không phải là Tổng bí thư của Ban Chấp hành – Chủ tịch Ủy ban Thường vụ Quốc hội là ông Kim Iâng Nam. Theo Hiến pháp sửa đổi năm 1998, Chủ tịch Ủy ban Thường vụ Quốc hội có vai trò đối ngoại như nguyên thủ quốc gia, giống như Nhật Hoàng. Các công việc như Trình quốc thư, ký giấy ủy nhiệm, ban bố sắc lệnh đều do Chủ tịch Ủy ban thường vụ Quốc hội ký.

Sau đó mới đến ông Chê Chung Ốc, Chủ tịch Quốc hội. Ông này chẳng khác gì ông từ giữ đền. Hôm nào họp thì ông trải chiếu, giống như Văn phòng của ta. Danh nghĩa là Chủ tịch Quốc hội, nhưng thực quyền thì không có. Tất cả thực quyền đều tập trung vào ông Kim Châng In. Còn ông Bộ trưởng Bộ Ngoại giao thì không có gì đáng nói.

Chế độ của Bắc Triều Tiên danh chính ngôn thuận gọi là XHCN theo kiểu Triều Tiên. XHCN kiểu Triều Tiên này cũng có rất nhiều cái khó hiểu, một chế độ phong kiến, độc đoán, gia đình trị. Phong kiến vì lễ giáo rất nặng nề, cấp trên cấp dưới sùng bái. Nếu ai không sùng bái ông ấy là đã mất đầu rồi, chưa nói là chống lại, nếu chống lại thì không bao giờ tồn tại. Tệ sùng bái này được kế thừa từ ông bố Kim Nhật Thành. Ở Triều Tiên hiện nay mọi người đều đeo một cái huy hiệu rất to. Có 3, 4 loại huy hiệu; có loại một ảnh là ông Kim Nhật Thành, hoặc ông Kim Châng In rất to; có 2 loại ảnh thì hai ông cùng ngồi. Có phân cấp từng loại một. Tệ sùng bái này bây giờ vẫn còn nặng nề vô cùng. Trung Quốc hiện nay đã bỏ các huy hiệu và ngũ lục Mao Trạch Đông. Thời Kim Nhật Thành còn sống, khi anh chị em gặp nhau trên đường, không bao giờ được phép chào hỏi nhau về sức khỏe, mà phải hỏi nhau đã đọc trước tác Kim Nhật Thành đến chương mấy rồi. Nếu có người thứ 3 ở đấy mà lại hỏi nhau về con cái, sức khỏe thì sau đấy rất phiền toái. Một ngày một người có 12 giờ ở cơ quan gồm: 8 giờ làm công việc được giao, 2 giờ lao động công ích như quét tước ở xung quanh cơ quan, xí nghiệp hay nhà máy, sau đó có 2 giờ ngồi đọc trước tác Kim Nhật Thành.

Học sinh trung học, cấp 2, cấp 3 hay Đại học thì không có lúc nào được phép ngồi để suy nghĩ. Vì ngồi suy nghĩ lại lẩn thẩn nghĩ tại sao mình khổ, tại sao bố mẹ mình lao động 12 tiếng một ngày mà vẫn nghèo. Người ta không muốn có thời gian để suy nghĩ cá nhân, bắt phải đi học, học ở trên lớp xong, về nhà ăn cơm trưa xong thì ra tập múa hát (Hát toàn những bài ca ngợi ông Kim Nhật Thành). Sau đó là lao động công ích, học trước tác. Đến tối là về nghỉ ngơi, ăn cơm. Có những ông giáo nói không bao giờ biết mặt con vì sáng sớm đi làm con chưa ngủ dậy, tối khuya mới về thì con đã đi ngủ. Con mấy tuổi mà vẫn không biết mặt. Cường độ lao động rất căng thẳng. Một xã hội rất nặng nề. Các nước phương Tây gọi xã hội này là binh doanh xã hội, tức là trại lính. Mới nhìn vào thì thấy xã hội rất quy củ, nền nếp, nhưng đi sâu vào thì thấy nó nặng nề lắm. Có một ông Đại sứ Angiêri khi mới sang có nói một xã hội như thế này mà tại sao người ta cứ chửi bới, phong cảnh thì đẹp đẽ, con người thì nền nếp - ông được đi tham quan, dự tiệc tùng. Một tháng sau, sau khi trình quốc thư thì ông bắt đầu chửi Triều Tiên: Sao lại có một xã hội kỳ dị như thế. Mùa đông thì không có lò sưởi, vào nhà làm việc chỉ được 10 phút là phải về, nếu lâu một chút là đau đầu gối, ngồi lâu thì đau lưng vì lạnh quá.

Đến tháng thứ hai thì ông ta chửi thậm tệ: Tại sao một xã hội để cho dân khổ thế này, bắt dân mang giẻ đi lau từng thanh ray, thanh sắt trên cầu, nhiều cái rất vô lý.

Nếu có sang thăm Bắc Triều Tiên, ở độ một tuần thì thấy rất đẹp, nhưng đến một tháng trở ra thì chán lắm. Tôi đã ở bên ấy 15 năm, chịu hết nổi. Những năm 60, 70 ra chợ còn mua được túi táo. Khóa trước khóa vừa rồi thì không còn nữa. Tất cả đều phải mua ở Bắc Kinh. Hàng tháng đại sứ ta cử người đi bằng tàu hỏa sang Bắc Kinh, một ngày đi, một ngày về, 3 ngày đi mua sắm và chuẩn bị. Tất cả các loại thực phẩm gạo, thịt, cá đều mua ở Bắc Kinh, sau đó đưa về sứ quán chia cho anh chị em theo đăng ký của từng người, từng gia đình, còn lại Sứ quán dùng để chiêu đãi hoặc tiếp khách.

Có lần phòng thông tin của Sứ quán cần 20 mét dây điện để làm việc. Các anh đánh xe đi khắp nơi khoảng 2 - 3 tiếng mà không mua được vì các cửa hàng đều không có.

Tôi có cô con gái được sang Xê Un học tập. Trước đó cháu có qua Bình Nhưỡng thăm chúng tôi. Gia đình muốn chụp một kiều ảnh kỷ niệm. Chúng tôi đi 3, 4 cửa hàng, có cửa hàng chỉ còn 1 kiểu, có cửa hàng không có phim, đến một cửa hàng còn 3, 4 kiểu nhưng máy lại rất cổ, không có độ rum, phòng chụp thì bé, người thì nhiều nên chụp không đẹp. Sau đó cháu sang Xê Un, có biên thư cho chúng tôi nói ở Xê Un chẳng thiếu thứ gì.

Năm 2001, có đoàn của Bộ Văn hóa do một đồng chí thứ trưởng dẫn đầu (anh Phúc) sang thăm Triều Tiên, có mang 5.000 tấn gạo để tặng bạn. Qua Bắc Kinh có gặp tôi, anh đề nghị tôi cho vài đường chỉ dẫn (anh nói vui vậy). Tôi có nói: Anh là thứ trưởng, thuộc loại cán bộ cao cấp của Đảng và Nhà nước; hai là lại mang quà sang; ba là lại sang vào cuối tháng 4 - mà tháng 4 là tháng có ngày sinh của ông Kim Nhật Thành - thì rất thuận lợi cho anh. Ba yếu tố đó đã tạo cho anh một cái thẻ của một vị khách được trọng vọng. Nhưng tôi cũng phải nói với anh tại thủ đô Bình Nhưỡng không có điện đường. Anh ấy bảo cậu cứ dọa tớ, thủ đô mà lại không có điện đường. Tại sao tôi nói vậy, vì trước đây có đoàn của anh Vũ Khoan, anh Phạm Tất Đang sang, bạn cho ở tại Khách sạn 5 sao. Khi vào nhà vệ sinh, thấy có một cái bồn tắm để đầy nước, anh tháo nước đi, đến khi đi vệ sinh xong thì không có nước để dội. Gọi người phục vụ thì họ nói: nước chứa trong bồn tắm là nước để dùng cả ngày. Bây giờ phải xin nước ở phòng khác để dùng.

Một ngày thường mất điện không bao giờ dưới 10 lần. Một lần tôi thí điểm bằng cái máy cắt, cứ mỗi lần có điện trở lại thì nó lại cắt đi một đoạn dây bằng cái phong bì. Từ 16 giờ hôm trước đến 8 giờ hôm sau, tôi kiểm tra có 24 mảnh giấy trắng được cắt ra như thế, mất điện thường xuyên, “trường kỳ kháng chiến”.

Hồi tôi mới sang lần đầu tiên, bao giờ cũng có lệ mời anh em đi uống bai - gọi là nhập trạch. Hôm đó thấy mỗi người cầm một cái đèn pin. Tôi nói: ta đến khách sạn cơ mà. Y như rằng đèn pin có tác dụng. Ngồi một lúc thì mất điện, phải bật đèn pin và gọi nhân viên đến châm nến.

Khi đoàn của anh Thứ trưởng Bộ Văn hóa về, qua Bắc Kinh gặp tôi. Anh nói: Ai đời ở khách sạn 5 sao mà mấy ngày trời ăn toàn củ cải, xào rồi luộc, nấu; nước không có; ra đường không có điện đóm gì, tối như bưng, thỉnh thoảng có người chạy vụt qua. Tôi có nói với anh Phúc: ở Thủ đô có chỗ vẫn có điện. Ở ngã tư nào có ảnh của ông Kim đứng, ở dưới chân có một  cái đèn hắt lên. Ở chỗ ấy thì có điện, chỉ chiếu lên người ông thôi, còn chung quanh tối bưng. Điện đấy không phải để thắp sáng cho nhân dân, mà là để “tra tấn” ông Kim Nhật Thành, vì riêng mặt ông ấy sáng, nên muỗi và châu chấu bay đến bao vây đậu vào hoặc lao vào mặt ông ấy. Anh Phúc có nói với tôi: khi nào có đoàn sang, anh báo tin cho tôi để tôi gửi cho các anh mấy cân tôm khô, chứ sống thế này thì khổ quá.

Vấn đề dân trí cũng rất thấp. Họ không biết được Việt Nam đã giải phóng đâu. Năm 1989 có Đại hội Thanh niên sinh viên thế giới lần thứ 13 (Festival) tổ chức tại Bình Nhưỡng. Đoàn Việt Nam do anh Hà Quang Dự làm trưởng đoàn. Anh Hà Quang Dự có đến chào Bí thư thứ nhất Trung ương Đoàn của Bắc Triều Tiên. Ông này chúc đồng chí Hà Quang Dự: “Chúc Việt Nam mau chóng đánh thắng giặc Mỹ xâm lược để giải phóng Tổ quốc”. Đồng chí Hà Quang Dự cho rằng phiên dịch sai. Đồng chí phiên dịch nói: “Tôi đã chinh chiến ở đây mười mấy năm rồi, không dịch sai được đâu”. Đồng chí Dự phải nói lại: “Chúng tôi đã thống nhất đất nước từ năm 1975, đến nay đã gần 20 năm rồi”. Đồng chí Bí thư thứ nhất TW Đoàn Triều Tiên vỗ vai đồng chí Dự và nói: “Chúng ta là những người chiến sĩ cộng sản, không nên giấu nhau, không nên nói dối”. Các đồng chí luôn luôn tin tưởng ở chúng tôi bao giờ cũng chung một chiến hào, sát cánh với các đồng chí đánh thắng giặc Mỹ xâm lược”.

Qua đó ta thấy dân trí ở đây rất thấp. Người ta ví chế độ XHCN của Bắc Triều Tiên như một cái hộp đen, trong đó có rất nhiều cái bí ẩn; không ai được phép xem. Cho nên Bắc Triều Tiên rất sợ mở cửa, cải cách. Nếu mở cửa cải cách thì hộp đen dần dần hé mở thì các bí mật trong đó sẽ lộ ra hết, sẽ thành chuyện tày trời. Vì sao vậy?

Năm 1996, ông Bí thư Trung ương Đảng Bắc Triều Tiên đã dẫn đầu đoàn đại biểu Đảng Lao động Bắc Triều Tiên sang dự Đại hội lần thứ VIII Đảng ta (1996). Đến 1997 thì ông ấy đào tẩu sang Hàn Quốc. Ông ta là một trí thức lớn, hiểu trưởng Trường Đại học Tổng hợp Kim Nhật Thành. Ông là cha đẻ ra tư tưởng chủ thể Kim Nhật Thành. Ông ấy lại bỏ đất nước ra đi. Ông cho rằng: Tôi phải ra đi để nói cho mọi người trên thế giới rằng: cái chế độ này không thể tồn tại, phải tìm ra một cách đi khác cho đất nước này, xã hội này. Chế độ của Bắc Triều Tiên là một chế độ rất hà khắc. Nếu những bí mật của chế độ Bắc Triều Tiên được hé mở ra, thì người ta sẽ thấy nó tàn ác và vô nhân đạo hơn cả chế độ Pôn Pốt ở Campuchia.

Các nhà tù, khu biệt giam ở biên giới được mở rộng nhiều. Trước đây chỉ có ở 2, 3 tỉnh. Sau này phát triển ra mấy chục cái trại ở nhiều tỉnh. Các trại này là một khu rộng lớn, trong đó đầy người như khu biệt xứ ở Sibêri ngày xưa ở Liên Xô.

Thí dụ: Có một ông đang làm Thủ tướng. Bẵng đi một thời gian không thấy tên trên báo chí. Sau đã thấy ông ấy đang ở trên biên giới làm giám đốc lâm trường khai thác gỗ ở biên giới. Cái lệ sùng bái lãnh tụ trở thành một cái bắt buộc để sống. Cho nên ai cũng phải học trước tác, ai cũng phải sùng bái. Hỏi trẻ con về những danh nhân trên thế giới, ông Mác, ông Lênin đều không biết, chỉ biết mỗi ông Kim Nhật Thành thôi. Hỏi về trước tác, chương mấy, điều bao nhiêu nói về thiếu nhi thì các cháu đọc luôn, thuộc lòng.

Ở Bắc Triều Tiên bây giờ có việc mua được một cái đài hay một cái dàn điện tử về, thì Hải quan giữ, cắt hết các sóng ngắn, để khi bật lên chỉ nghe thấy tiếng Kim Nhật Thành nói thôi, không phải dò sóng gì cả. Ở bên đó chỉ có một đề tài là ca ngợi Kim Nhật Thành, khi bật Tivi lên là thấy hai cha con. Phim truyện thì cũng chỉ có một đề tài ca ngợi hai cha con Kim Nhật Thành, không có một đề tài nào khác. Thí dụ: Hai anh chị yêu nhau, nhưng khi đến lúc gay cấn nhất thì lại nghĩ đến ông Kim Nhật Thành. Gần đây nhất có một cô giành được giải nhất về Maratông quốc tế. Phóng viên có hỏi: Chị nghĩ như thế nào trong quá trình tập luyện để đạt được giải. Chị trả lời: “Tôi vừa chạy vừa nghĩ đến Tướng quân Kim Châng In nên đạt được thành tích như vậy”. Tất cả xã hội gần như phải bắt buộc theo một quy chuẩn, bắt buộc tư tưởng người ta phải suy nghĩ như vậy không được suy nghĩ gì khác, mà việc này đôi khi nó cũng có hiệu quả. Thí dụ như trên báo của Đảng đến ngày sinh của ông Kim Châng In là ngày 16 tháng 2 thì năm nào cũng có một bài nói về các hiện tượng kỳ thú, kỳ lạ của tự nhiên như tự dưng trời quang mây tạnh thì có một cầu vồng đôi, hay là tự dưng thấy có bông hoa lan nở hoa trái vụ, hay là tự dưng trên các cây ở hai bờ sông Đại Đồng lại có cò trắng bay về. Trên báo Đảng có những bài mang tính chất mê tín dị đoan, mỵ dân như vậy. Việc chi phí vào tệ sùng bái cá nhân này cũng lớn lắm. Theo lịch sử chính thống thì ông Kim Châng In sinh ở núi Bạch Đầu Sơn. Núi Bạch Đầu Sơn cách thủ đô hàng mấy trăm ki lô mét, đèo heo hút gió, không có người ở trên đó thế mà cũng mang pháo hoa lên trên ấy bắn để ca ngợi ông Kim Châng In.

Ngày sinh của ông Kim không phải là ngày 16 tháng 2 năm 1942 như lịch sử bây giờ, ông Kim sinh năm 1941 ở Viễn Đông - Nga. Hiện có rất nhiều tài liệu mà Hàn Quốc đã công bố. Ở ngay Đại sứ quán Hàn Quốc ở Việt Nam cũng đã có rất nhiều tài liệu nói về lịch sử của Triều Tiên. Ngay cô dâu Việt Nam cũng nói: Ngày sinh của vị lãnh tụ của chúng tôi cũng bị hoán cải đi, bóp méo sự thật. Lãnh tụ sinh năm 1941 ở Liên Xô lại nói sinh năm 1942 ở núi Bạch Đầu Sơn như thế là không đúng. Qua đó ta thấy xã hội không theo một quy chuẩn nào cả, quy chuẩn đạo đức cũng không phải, quy luật phát triển của lịch sử nhân loại cũng không phải.

Cả thế giới người ta đang cách mạng xanh, cách mạng tin học, nhưng Bắc Triều Tiên cứ lục cục sản xuất tên lửa để đi đánh nhau. Nhân dân đều biết nhưng không dám phản đối, vì mới nho nhoe thì đã bị túm rồi. Thủ đô Bình Nhưỡng hiện nay như một ốc đảo. Các tỉnh xung quanh Thủ đô thì rất khổ, rất nghèo, đói rách triền miên. Riêng Thủ đô vẫn rất sạch sẽ và cung cấp cho nhân dân vẫn tương đối đầy đủ, khoảng 400 gram lương thực trong một ngày, còn các chỗ khác chỉ khoảng 250 đến 300 gram, tùy từng vùng. Ở Thủ đô chỉ có gạo thôi, còn thức ăn không có mấy. Thực hiện chế độ bao cấp toàn bộ, tất cả quần áo của cán bộ công nhân viên ở trong thành phố do Nhà nước cấp phát. Ở trường học cấp phát đồng phục. Nhân dân được cấp phát theo chế độ cán bộ này, cán bộ kia. Cho nên nhân dân ăn mặc tươm tất, không có quần áo rách. Thủ đô là ốc đảo vì xung quanh các cửa ô của thủ đô có các quân đoàn quân đội đóng, có trạm gác. Ai ra vào đều bị khám xét rất kỹ, không có lệnh không được vào, không được ra. Có những người ở tỉnh ngoài làm việc ở Thủ đô cũng không được về thăm gia đình, quê hương. Ra khỏi thành phố là phải có giấy phép rất đặc biệt. Vào thành phố phải là những đợt được các tổ chức đoàn thể của Nhà nước cử đi họp, học tập mới được về, không có chuyện vào thăm hay vào chơi trong thành phố.

Tôi xin kể lại chuyện chị người Bắc Triều Tiên đã lấy chồng Việt Nam vừa qua. Chồng chị là anh Cảnh, hiện là huấn luyện viên đội môtô - xe đạp của Sở TDTT Hà Nội - Năm1967, anh được cử sang học ở Triều Tiên. Năm 1968-1969 anh đi thực tập ở một nhà máy, anh yêu chị công nhân Triều Tiên. Vì lúc đó quy định của Nhà nước ta là đi học không được phép yêu đương người nước ngoài. Song hai bên vẫn cứ hẹn hò, chờ đợi cho đến bây giờ. Khi có những đoàn đại biểu cấp cao đi thăm Triều Tiên thì anh lại gửi đơn cho Chủ tịch nước hoặc Bộ trưởng Bộ Ngoại giao đề nghị tác động với Triều Tiên để được lấy nhau.

Năm 2001, Chủ tịch nước Việt Nam sang thăm Bắc Triều Tiên, anh Cảnh lại gửi thư nhờ Chủ tịch nước tác động với Chính phủ Bắc Triều Tiên. Tháng 5 năm 2001 đặt vấn đề. Tháng 8 năm 2001 Quốc hội Triều Tiên họp đã thông qua cho phép chị lấy anh Cảnh. Nhưng vẫn giữ quốc tịch Triều Tiên. Chị sinh năm 1948 - anh Cảnh sinh năm 1949. Anh Cảnh có bố công tác ở Bộ Ngoại giao, anh là con một. Đây là thắng lợi về mặt chế độ. Hôm nhận được lệnh đi, Công an mang một xe tải đến đón chị (bên đó không có xe con), trên đó có một ghế băng. Chị nói chị không đi, dù có chết cũng không đi. Vì chị nghĩ gia đình chị có mấy tội: một là ông bố định bỏ đi miền Nam từ năm 1960, tức là tội bất trung với Đảng, là một tội nặng nhất; hai là bản thân chị lại yêu một người nước ngoài, tức là không trung thành với lãnh tụ. Với những tội đó chắc là bị đưa đi xét xử, do vậy chị nhất quyết không đi. Khi công an nói đó là lệnh của Lãnh tụ, chị phải đi. Khi xe đến biên giới của Thủ đô thì bị ách lại. Sau đó phải điện cho Bộ Ngoại giao. Bộ Ngoại giao cho xe con ra đón, đưa chị vào một khách sạn, lúc đó chị mới tin là còn sống. Sau đó họ tổ chức lễ cưới cho chị ở Triều Tiên, chụp ảnh để lại cho gia đình. Khi sang đây chị kể lại chuyện mẹ chị bị chết đói cách đây mấy năm vì thương con không có gì ăn nên đã nhường lại cho con ăn. Những nơi mà ngày xưa các anh ấy đến học tập, thực tập thì bây giờ không còn gì nữa, chỉ còn lại là đồi trọc, vì không có gì để đun, nên mọi người đến đó chặt hết. Nhà máy phân đạm mà ngày xưa anh Cảnh đến thực tập và chúng tôi yêu nhau, do không có điện nên đã tháo dỡ hết phụ tùng máy móc để cho vào lò đúc thép. Bây giờ ở đó rất buồn tẻ, con người thì bạc nhược. Nếu so sánh với miền Nam Triều Tiên vào năm 1953, sau khi chiến tranh Triều Tiên kết thúc thì miền Bắc Triều Tiên có nhiều ưu thế hơn vì miền Bắc có nhiều khoáng sản, tài nguyên thiên nhiên nhiều, các ngành khai thác đó Nhật bóc lột vơ vét đều tập trung ở miền Bắc như thép, than. Khi Nhật thua rút đi, miền Bắc tiếp thu được. Trong khi đó ở miền Nam thì không có gì. Miền Nam chủ yếu là đồng bằng, nông nghiệp là chính. Nếu tính thu nhập đầu người ở Hàn Quốc năm 1962 mới chỉ có 62 USD/đầu người. Đến năm 1996 thì tổng thu nhập bình quân đầu người đã lên đến 11.000 USD/ người, đứng thứ 11 thế giới. Đến 1997 bị khủng hoảng tài chính nên tụt xuống một chút. Mấy năm sau lại hồi phục được, bây giờ được đánh giá đứng thứ 12 thế giới. Qua đó ta thấy được đường lối chỉ khác nhau một chút kết quả thu được đã tất khác nhau. Hàn Quốc thực hiện đường lối dựa vào ô quân sự của Mỹ, cho Mỹ đóng quân ở Nam Triều Tiên khoảng 37.000 quân, gần 100 căn cứ để rảnh tay đi vào sản xuất kinh tế, buôn bán, sản xuất công nghiệp. Trong khi đó thì Bắc Triều Tiên tập trung vào công nghiệp quốc phòng rất tốn kém, không còn đủ tiềm lực để nâng cao đời sống của nhân dân, phát triển nông nghiệp và công nghiệp nhẹ.

Trong khoảng 14 năm (1962-1975), dưới sự lãnh đạo của Tổng thống Pắc Chung Hy, Hàn Quốc đã khôi phục đất nước xong, sau đó tiếp tục phát triển rất nhanh đã trở thành một con rồng ở khu vực này. Tổng sản phẩm quốc dân đạt 400, 500 tỷ đô la, thu nhập đầu người vượt qua ngưỡng của 10.000 USD/người (11.400 USD).

Con đường phát triển định hướng được đúng thì đi càng nhanh, đất nước càng phát triển được. Nếu định hướng sai, đi càng nhanh càng chết. Ta hình dung Nam- Bắc Triều Tiên như cái kéo, càng đi càng xa nhau, riêng nói về kinh tế chứ chưa nói về các chế độ khác. Khoảng cách chênh lệch giữa hai miền càng ngày càng xa nhau. Mấy năm gần đây Bắc Triều Tiên toàn phát triển trên con số không. Từ 1994-1998 có năm bị âm đến 3,7%. Còn bình thường cứ âm từ 2% hoặc 3%. Trong khi đó mặc dù Nam Triều Tiên bị mắc vào khủng hoảng tài chính năm 1997, nhưng đã bứt lên rất mạnh. Tinh thần dân tộc rất cao. Riêng về kinh tế khi đất nước lâm nguy, người dân sẵn sàng tập trung toàn lực mang vàng, bạc góp cho Nhà nước để cùng thoát ra khỏi khủng hoảng kinh tế.

Ngược lại ở miền Bắc, do đường lối kinh tế xác định không được chính xác, càng ngày càng lún sâu vào khó khăn. Như các đồng chí đã biết mạnh vì gạo bạo vì tiền, khi đã nghèo thì hèn, khi đã không phát triển thì cảm thấy xấu hổ, không dám nói với ai. Tôi lấy ví dụ: Ngoại giao hay dự các buổi gặp mặt, tiệc tùng. Đại sứ hoặc cán bộ ngoại giao của Hàn Quốc gặp mọi người tay bắt mặt mừng, gặp gỡ trao đổi với Bộ Kế hoạch đầu tư, Bộ Nông nghiệp, Bộ Giáo dục, Bộ Văn hóa... Nhưng với Bắc Triều Tiên chỉ đứng một xó, không dám nói chuyện với ai và cũng không có chuyện gì để nói. Gặp cán bộ ngoại giao chúng tôi, là những người chí thân, nhưng cũng không biết nói chuyện gì và cũng không có đề tài gì để nói cả.

Tôi đã kể một số sự kiện vụn vặt để các anh hình dung. Tôi cũng không áp đặt bảo đây nó là cái gì, mà để các anh tự đặt cho nó một cái tên.

Đảng của bạn có tên chính thức là Đảng Lao động Triều Tiên được thành lập từ ngày 10 tháng 10 năm 1945 do ông Kim Nhật Thành tập họp một số lực lượng chống Nhật. Quá trình thành lập Đảng cũng nan giải lắm, đánh nhau ghê gớm. Khi nói về lãnh tụ Đảng này, rất nhiều báo chí phương Tây đăng ảnh Kim Nhật Thành. Để thành lập được Đảng, Kim Nhật Thành đã phải trừ khử không biết bao nhiêu là bạn thân, chiến hữu mới lên được chức, thành lập được Đảng. Chính vì thế mà có nhu cầu đặc biệt là phải sùng bái cá nhân. Tại sao phải sùng bái vì cái gì mà người ta phải bắt người khác ca ngợi thì không phải cái ấy nó tốt, nó đẹp, mà là nó yếu. Do đó phải phát động cả dân, huy động không biết bao nhiêu tiền bạc, của cải vật chất, tinh thần, thời gian, sức lực của cả dân tộc. Ở Bắc Triều Tiên khi cần huy động một lực lượng quần chúng độ một triệu người thì chỉ cần một tiếng đồng hồ đã đứng suốt dọc đường vẫy cờ, mặc áo dài đẹp từ sân bay về đến Nhà khách chính phủ để đón một vị khách nào đó của nước ngoài. Qua đó thấy được một chế độ rất bao cấp và do nhu cầu chính trị nên nó phải lên gân cốt để tạo cho mình một thế vững mạnh.

Riêng về đường lối cách mạng của Đảng Lao động Triều Tiên có rất nhiều cách tranh luận. Về lịch sử, ngày 15 tháng 8 năm 1945, Hồng quân Liên Xô ép được quân Nhật rút khỏi Triều Tiên và giải phóng được Triều Tiên. Phía Nam, Mỹ vào giải phóng quân Nhật, phía Bắc Liên Xô vào giải giáp. Theo hiệp định Giơnevơ ký năm 1945, đến năm 1947 thì Tổng tuyển cử thống nhất đất nước. Đến năm 1948 không thống nhất được, nên mỗi bên thành lập một Nhà nước riêng của mình. Miền Bắc do Kim Nhật Thành đứng ra thành lập nhà nước. Trong quá trình hoạch định ra đường lối phát triển cách mạng của Đảng, cách mạng giải phóng dân tộc, giải phóng đất nước, quá trình xây dựng CNXH cũng có rất nhiều khó khăn. Sau đó quyết định khởi sự cuộc chiến tranh, gọi là Nam tiến. Vấn đề này còn rất nhiều bàn cãi. Có người nói Bắc Triều Tiên tấn công vào miền Nam gây ra cuộc chiến tranh Triều Tiên năm 1952-1953; có người thì nói là do Mỹ và Nam Triều Tiên Bắc tiến. Gần đây, nhiều tư liệu được tiết lộ ra là phía Bắc tấn công phía Nam trước. Có nhiều lập luận để chứng minh, tài liệu bí mật ở Mátscơva tiết lộ bằng giấy tờ chứng minh lúc đó Bắc Triều Tiên đã xin phép Liên Xô và bàn với Trung Quốc, sau đó tấn công. Cũng có người chỉ qua suy luận cũng đoán được rằng Bắc Triều Tiên tấn công Nam Triều Tiên. Ngày 25 tháng 6 năm 1950, cuộc chiến tranh nổ ra. Ba ngày sau, quân của Kim Nhật Thành đã ào ạt tiến vào giải phóng hơn một nửa Nam Triều Tiên. Sau 4, 5 ngày chỉ còn tỉnh Bu San, là tỉnh bé tí ti ở phía Tây Nam. Điều đó chứng tỏ phải có sự chuẩn bị từ trước. Mỹ đứng ra cáng đáng cho Nam Triều Tiên, Mỹ đề nghị Hộ đồng bảo an Liên hợp quốc họp. Mỹ xin được quân của Liên hợp quốc. Quân của Liên hợp quốc đã giúp Nam Triều Tiên để chống lại Bắc Triều Tiên, thì phải có lý do gì đó. Qua 2 ví dụ đó, người ít có điều kiện tiếp xúc với tài liệu cũng có thể suy luận được rằng miền Bắc tấn công miền Nam.

Thế của Nam Triều Tiên lúc đó cũng giống như thế của Đài Loan với Trung Quốc. Họ chưa có tham vọng quay trở lại để giải phóng cả đất nước.

Đường lối giải phóng Nam Triều Tiên của Bắc Triều Tiên không được suôn sẻ. Khi quân của Liên hợp quốc tấn công trở ra, toàn bộ quân miền Bắc bắt buộc phải hậu thoát lui về phía Bắc, tận Ap-Lục giáp với Trung Quốc. Sau đó tràn trở xuống và giữ đúng vĩ tuyến 38 như hồi đầu chiến tranh, chết rất nhiều quân, nhiều tướng tài.

Đường lối đấu tranh thống nhất của Đảng có rất nhiều nan giải, vì khi rút khỏi miền Nam thì đã rút toàn bộ quân đội và những cơ sở cách mạng vốn đã có ở miền Nam. Cuối cùng ở miền Nam là khu vực rất trống, không còn một cơ sở hạt giống cách mạng nào, không giống như cuộc cách mạng giải phóng miền Nam của Việt Nam. Cách mạng giải phóng miền Nam của Việt Nam đã tác động rất nhiều vào đường lối cách mạng của Đảng Lao động Triều Tiên. Nhiều người thấy rằng việc đánh tràn vào Nam Triều Tiên năm 1950 là rất khó khăn mà phải theo kiểu Việt Nam, để cho nhân dân miền Nam tự phát động, miền Bắc ủng hộ, trong đánh ra ngoài đánh vào mới giành thắng lợi. Chính vì thế mà đã gây ra các cuộc tranh cãi và thanh trừng nội bộ Đảng rất gay gắt. Bao nhiêu người đã từng có tư tưởng mới và đã sang Việt Nam để học tập về đều bị thanh trừng hết, có đợt thanh trừng 6, 7 cán bộ cao cấp của quân đội, của Đảng. Cho nên trong nội bộ Đảng có rất nhiều rạn nứt trong việc đấu tranh thống nhất nước nhà thời gian đầu.

Về đường lối xây dựng kinh tế, cân đối giữa phát triển kinh tế với phát triển quốc phòng trong Đảng cũng rất nhiều tranh cãi và phe của Kim Nhật Thành vẫn là phe thắng. Ông Kim đã gạt bỏ những người có tư tưởng cho là hữu khuynh, không nhìn rõ kẻ thù, ảo tưởng về hòa bình. Đảng kiên quyết phát triển công nghiệp nặng, sau đó mới đến phát triển công nghiệp nhẹ và nông nghiệp, do đó rất tốn kém tiền của, vì thế mà sự tin tưởng của nhân dân ở Đảng ngày càng giảm. Cũng chính vì đường lối phát triển không hợp lý, do vậy không thể thực hiện được ước mơ của Chủ tịch Kim Nhật Thành là “Toàn dân được ăn cơm trắng và chan canh thịt” cho đến tận bây giờ. Về mặt tổ chức của Đảng cũng không hoàn chỉnh. Trước năm 1980 thì cứ 5 năm đại hội Đảng một lần. Nhưng từ Đại hội VI (10/1980) đến nay - 23 năm không họp Đại hội Đảng. Vậy các chi bộ sinh hoạt kiểu gì? Bầu bán ông Kim lên làm Tổng bí thư như thế nào? Đó là chuyện rất lạ.

Quá trình đưa ông Kim con lên làm lãnh tụ, sẽ nói sau. Riêng chuyện bầu ông làm Chủ tịch Đảng là cách làm rất độc đáo, không có Đảng nào làm như  thế cả. Theo như báo Đảng cho biết, ông Kim sinh hoạt trong một chi bộ, được chi bộ suy tôn lên làm Tổng bí thư. Một người có ý kiến như vậy, chả ai dám phản đối cả. Ai mà phản đối là phải rút thẻ Đảng ngay. Cuối cùng cả chi bộ phải đồng ý. Chi bộ báo cáo lên Đảng ủy khu. Đảng ủy khu lại phổ biến cho các chi bộ khác. Cũng không có chi bộ nào dám phản đối cả, cứ theo vết dầu loang đó, cả nước suy tôn ông Kim Châng In làm Tổng bí thư của Đảng, không có một cái phiếu bầu, không có một cái biên bản, không cần có một Đại hội nào cả. Tự dưng ông làm Tổng bí thư, kỷ luật Đảng, tổ chức Đảng không chặt chẽ, theo một sự duy ý chí. Tất nhiên là ông ấy đã bật đèn xanh cho một tay nào đó làm. Bên trong thì không ai có thể hiểu được, nhưng hình thức bên ngoài thì là chuyện có thật, viết ở trên báo.

Quá trình lên nắm chính quyền của Kim con là do Kim Nhật Thành (Kim bố) chọn làm người thừa kế.

Về gia đình của Kim Nhật Thành: Bà vợ trước có 3 con trai. Kim Châng In là thứ 3. Ông rất lười học, chỉ thích chơi. Ông đã phá không biết bao nhiêu xe Mercedes của bố. Ông tập cả lái máy bay phản lực, tập cả phi ngựa. Nhìn ảnh ông thì ta thấy rất xấu tướng, bẩn tướng, tóc lúc nào cũng dựng ngược lên, môi thì thâm như có bệnh tim, da dẻ thì xỉn. Cho nên mỗi khi ông xuất hiện, các phóng viên ảnh thi nhau chụp và tập trung chụp vào cái môi để chứng minh là ông ta có bệnh tim. Chỉ được cái Kim con rất hăng hái với phụ nữ. Các cô diễn viên điện ảnh xinh xinh, đẹp đẹp là được tướng quân “chỉ đạo” tại chỗ, nhiều lắm. Tại sao tôi nói vậy, vì từ thời anh Nguyễn Văn Trọng, phó ban đối ngoại Trung ương Đảng làm Đại sứ ở bên ấy, có một cô con gái học ở Trường Đại học Kim Nhật Thành có mấy bạn gái người Triều Tiên rất xinh. Một cô đã nói với con gái anh Trọng: Làm con gái đẹp ở Triều Tiên nhục lắm. Tao đã bị tướng quân đưa lên “chỉ đạo” ở trên đó một đêm. Giờ tao chỉ muốn chết. Chỗ nào có bông hoa đẹp là ông ấy hái ngay.

Bà vợ hiện nay của ông Kim Châng In cũng là một diễn viên điện ảnh. Bà này đã có chồng, có con rồi. Ông Kim thích, thế là bà ta dứt khoát bỏ chồng để lấy ông Kim Châng In.

Nói rộng ra thì Kim Nhật Thành cũng thế. Bố nào con nấy. Trong nhà Kim Nhật Thành có cái bể tắm bát tiên, bể tắm lục tiên, tức là 6 hoặc 8 cô gái trẻ cùng tắm với ông ta. Về sau khi tuổi già, bác sỹ riêng của ông ta luôn luôn phải thay máu của ông ta bằng máu của các cô gái trẻ. Vì máu là cái quyết định sinh khí của con người, máu đó sẽ quyết định anh già hay trẻ, thay được máu trẻ vào thì khả năng sống và sức trẻ của con người sẽ rất tốt và mạnh mẽ hơn. Vì vậy cứ định kỳ là thay máu để kéo dài tuổi thọ. Thứ hai là tại sao lại bắt 8 cô, 6 cô cùng tắm với ông ta, vì để trao đổi iông giữa người già và người trẻ, sẽ tăng cường sức trẻ của người già. Kim con được chọn là người thừa kế duy nhất và đã được Kim bố chuẩn bị rất chu đáo. Khi còn sống Kim bố đã tuyên bố: “Tôi sẽ chọn đồng chí Kim Châng In làm người thừa kế, vì tôi thấy đồng chí Kim Châng In có rất nhiều  phẩm chất và năng lực công tác, đạo đức cách mạng, có nhiều khả năng thay thế tôi làm việc, cho nên tôi tin rằng toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ủng hộ để đồng chí Kim Châng In làm việc”.

Vì vậy khi Kim Châng In lên là nghĩ ngay muốn giữ gìn được an ninh chính trị phải nắm được 3 lực lượng: một là quân đội để có sức mạnh trị vì đất nước; thứ hai là lực lượng an ninh để phát hiện được những chỗ hỏng hóc trong xã hội để chấn chỉnh, để dẹp. Nhưng quan trọng nhất vẫn là phải nắm được lực lượng trẻ, đó là lực lượng thanh niên. Nhưng khi lên nắm quyền thì mạnh nhất là nắm được quân đội và một nửa thanh niên. Còn an ninh thì không nắm được. Ông ta nghĩ rằng cũng như các thời đại vua chúa khác, không có quân mạnh thì không trấn yên được bờ cõi, không dẹp được loạn trong nước. Vả lại quân đội là loại nước sông công lính, tuyển vào không phải trả lương, bắt đi lao dịch ở đâu là phải đi. Cho nên rất nhiều công trình lớn của Triều Tiên phần lớn đều do lực lượng quân đội làm, kể cả đập chắn nước lớn bên bờ biển Tây. Thời hạn nghĩa vụ của Bắc Triều Tiên hiện nay tăng từ 7 năm lên 14 năm. 14 năm thì coi như hết cả đời thanh xuân của họ.

Quá trình đưa Kim Châng In lên nắm quyền (1975) trong nội bộ Đảng đã có rất nhiều thắc mắc. Những năm đó số cán bộ cốt cán của triều đình còn rất nhiều, về tuổi đời, năng lực làm việc, công lao với cách mạng rất lớn. Thế mà lại đưa một anh còn trẻ măng mới học trong trường - khoa kinh tế - để thay thế, không khỏi có nhiều người phản đối. Vì vậy muốn duy trì được ý định của mình, Kim Nhật Thành phải thay đổi rất nhiều cán bộ để duy trì chế độ cha truyền con nối.

Khi ông Kim Nhật Thành chết đột ngột ngày 8 tháng 7 năm 1994, người ta tưởng đây là cơ hội thuận lợi để ông Kim con lên nắm tất cả các chức quyền trong Đảng, Nhà nước, Quốc hội và Chính phủ. Nhưng đến tháng 5 năm 1998, tức là 4 năm sau Quốc hội mới họp, lúc đó ông Kim Châng In mới lên nắm các chức vụ Tổng bí thư Đảng, Chủ tịch Hội đồng quân sự Nhà nước. Theo Hiến pháp sửa đổi năm 1998 thì Hội đồng quân sự Nhà nước thâu tóm toàn bộ quyền hành kể cả về Đảng lẫn chính quyền trong đất nước. Người làm Chủ tịch Hội đồng quân sự Nhà nước thâu tóm toàn bộ các quyền, kể cả quyền phát động chiến tranh. Như vậy ông Kim con đã giữ hai chức vụ to nhất của đất nước. Theo Hiến pháp sửa đổi năm 1998, toàn Đảng, toàn dân Triều Tiên suy tôn đồng chí Kim Nhật Thành làm Chủ tịch nước vĩnh viễn của Nhà nước Triều Tiên, không có ghế Phó chủ tịch nước. Kim con cũng muốn giữ chức vụ chủ tịch nước nhưng trong quá trình đấu đá nhau không thể ngồi được, nên quy cho ông Kim bố làm chủ tịch vĩnh viễn, mặc dù ông ta đã chết, đang nằm dưới đất. Như vậy không ai nhảy được vào chiếc ghế này. Như vậy, tất cả các quyền hành đều nằm trong tay Kim con. Cho nên có chuyện vui khi ông Đại sứ Bắc Triều Tiên sang nhậm chức tại nước ta năm 1997, trình quốc thư: Trong thư trình thì người ký lại là ông Kim Nhật Thành, mặc dù ông đã chết được 3 năm rồi. Bộ Ngoại giao ta không chấp nhận, đề nghị bạn về báo cáo, sau đó thông tin cho Việt Nam biết. Sau đó Bộ Ngoại giao bạn đề nghị ta chấp nhận vì nước bạn lúc đó chưa có chủ tịch nước chính thức nên cứ tạm thời để Kim Nhật Thành ký. Bạn cho biết một số nước khác đã chấp nhận như vậy. Cuối cùng Bộ Ngoại giao xin ý kiến Trung ương. Trung ương chấp nhận mặc dù người đã chết vẫn ký văn bản cho người đang sống. Qua đó ta thấy trong Đảng bạn cũng đấu tranh quyền lực ghê gớm lắm.

Khi Kim Châng In tốt nghiệp cấp III, ông có sang Liên Xô vào Trường Đại học Lômônôxốp tham quan. Sau đó ông ta về nước và nói học ở trong nước cũng tốt. Câu nói “học ở trong nước cũng tốt” của ông đã trở thành phương châm giáo dục của Bắc Triều Tiên. Từ đó trở đi không gửi lưu học sinh ra nước ngoài. Mãi gần đây có một số học sinh do các tổ chức quốc tế mời đi tham quan, hoặc đi du lịch 1, 2 tháng rồi về, nhưng thường không được trọng dụng. Phương châm giáo dục của Kim Châng In đưa ra là phải đào tạo trở thành những trung thần chỉ biết có trung thành với một lãnh tụ là Kim Châng In mà thôi.

Vấn đề tự hào dân tộc thì rất quá đáng. Lãnh tụ Kim Nhật Thành đã nói chỉ có đúng, chứ không bao giờ không đúng vì Hiến pháp năm 1998 sửa đổi đã ghi rõ đường lối kinh tế là theo đường lối Thanh Sơn Lý (Làng Thanh Sơn). Đường lối Thanh Sơn Lý do ông Kim Nhật Thành đề ra năm 1959. Đường lối này là Đảng lãnh đạo kinh tế, tất cả đảng viên tập trung vào thực hiện nghị quyết của Đảng về kinh tế. Bí thư chi bộ của làng đứng ra phân công lao động: Tổ này đi bới cỏ, tổ kia đi bắt sâu. 8 giờ ra đồng, đến 10 giờ giải lao 15 phút hát mấy câu, cờ lá chuối cắm khắp cả cánh đồng, đánh trống ầm ĩ. 11 giờ nghỉ về ăn cơm. Như vậy thì làm sao nông nghiệp phát triển được.

Thí dụ thứ 2: Năm 1999, anh Trần Văn Đăng sang thăm Bắc Triều Tiên, đi thăm rất nhiều nơi, có những tòa nhà diện tích mặt bằng 2000 m2 , cao 5, 6 tầng. Hỏi ai thiết kế. Họ nói chúng tôi thiết kế, xây dựng trong một năm. Đến đâu hỏi đều được bạn trả lời trong một năm. Đến tàu điện ngầm, anh Đăng hỏi: Ga tàu điện ngầm xây trong bao lâu. Họ lại nói trong một năm. Ở nhà máy sản xuất xi măng, máy móc đều nhập của Hà Lan, đều dán tem sản xuất tại Hăm Buốc (Tây Đức) và Hà Lan. Khi phóng viên hỏi họ nói chúng tôi tự sản xuất lấy. Trong khi đó các chuyên gia Hà Lan đang cầm máy bộ đàm để chỉ đạo sản xuất, lắp ráp. Họ vẫn bảo tất cả kỹ thuật của Triều Tiên. Chúng tôi thiết kế, thi công, lắp đặt, vận hành. Tất cả là theo đường lối chỉ đạo của Kim Châng In.

Ông Kim Châng In cũng rất thích có tiếng tăm. Năm 1989 có Đại hội Thanh niên thế giới họp tại Bình Nhưỡng, ông chỉ đạo xây khách sạn Liễu Cảnh 105 tầng, hình tháp có 3 chân chĩa ra như đuôi của cái tên. Xây được một năm thì móng đã bị nghiêng. Báo chí ngày nào cũng đăng tin: Hôm nay xây được một tầng, hôm nay xây được hai tầng. Sau đó bỗng thấy báo chí im hẳn. Hóa ra móng nghiêng, không làm nữa. Đến bây giờ xi măng đã mọc rêu, trên đỉnh vẫn còn có cái cần cẩu để trên đó. Rất nhiều nước xin vào gia cố, nhưng họ không cho. Lãnh tụ đã làm, đã nói là đúng, có sai cũng để đấy thôi.

Hiện nay xã hội Triều Tiên nói Đảng là gì: Đảng là lãnh tụ, lãnh tụ là Đảng. Nhìn vào lãnh tụ là biết Đảng ra sao.

Về giáo dục của bạn là hình thức chủ nghĩa, hời hợt. Bạn đã biết trên thế giới đang phát triển về mọi mặt, nên bạn cũng rất lo, đang tìm cách giải quyết, không thể để mãi tình trạng hiện tại, sợ sẽ đảo chính. Tin đảo chính thì nhiều, nhưng chúng tôi cũng không nắm được chính thức. Nhưng tự dưng có vụ nổ, họ nói đó là đảo chính.

Bắc Triều Tiên cũng đang tìm cách để thoát ra khỏi khó khăn. Kim Châng In khẳng định: Trên thế giới này chỉ có một siêu cường, đó là Mỹ. Khi mà khai thông được với Mỹ thì khâu trung tâm sẽ khai thông được tất cả các quan hệ khác. Đó là tư tưởng thông suốt chỉ đạo của Kim Châng In. Vì không mặc cả được với Mỹ và Hàn Quốc về kinh tế, phải mặc cả với Mỹ bằng vũ khí hạt nhân. Năm 1985 đã xây dựng phát triển vũ khí hạt nhân. Còn việc Bắc Triều Tiên đã có vũ khí hạt nhân chưa thì hiện tại chưa ai khẳng định được. Nhưng Mỹ cũng phải nể và Bắc Triều Tiên cũng đã kéo được Mỹ vào bàn hội đàm và ký được hiệp định khung năm 1994. Qua hiệp định, Mỹ yêu cầu Bắc Triều Tiên không sản xuất vũ khí hạt nhân nữa, Mỹ sẽ xây dựng cho Bắc Triều Tiên một nhà máy phát điện bằng năng lượng hạt nhân nguyên tử, trị giá năm 1994 khoảng 4,6 tỷ USD, tính trượt giá đến bây giờ phải non 10 tỷ USD.

Trên đà thắng đó, Bắc Triều Tiên tiếp tục dùng con bài hạt nhân để mặc cả với Mỹ với mục đích bắt Mỹ phải ngồi bàn trực tiếp với Bắc Triều Tiên như thiết lập quan hệ đối ngoại, viện trợ kinh tế cho Bắc Triều Tiên. Từ chuyện đó bắt buộc Nhật cũng phải thiết lập quan hệ ngoại giao, phải viện trợ cho Bắc Triều Tiên.

Bây giờ Mỹ và thế giới cứ phải quan tâm đến vũ khí hạt nhật của Bắc Triều Tiên, mặc dù không biết thực hư sẽ ra sao. Nhiều người cho rằng Bắc Triều Tiên nói vậy chứ làm gì có vũ khí hạt nhân vì tiềm lực kinh tế yếu, tổng sản phẩm quốc dân có 15 tỷ USD. Trong khi đó, Hàn Quốc có 500 tỷ USD. Nhưng mà ai cũng sợ vì tính khí của họ là tên khủng bố quốc tế rồi. Nhật và Hàn Quốc rất sợ vì họ có một cơ ngơi khang trang đẹp đẽ, rất cần có một không khí hòa bình ổn định để phát triển làm ăn kinh tế. Họ rất sợ chiến tranh. Cho nên nếu mà Mỹ làm căng với Bắc Triều Tiên thì Hàn Quốc và Nhật Bản lại phải lạy van Mỹ vì Mỹ đánh nhau với Bắc Triều Tiên thì chỉ thanh lý được một số vũ khí từ chiến tranh thế giới thứ hai đến giờ. Còn nếu chiến tranh nổ ra thì Hàn Quốc và Nhật Bản sẽ bị thiệt hại trước tiên và rất lớn. Mỹ cũng rất muốn đánh Bắc Triều Tiên. Có 2 lần, đó là cuối năm 1994, Mỹ đã định dội bom nguyên tử xuống Bắc Triều Tiên. Thông tin này đã được kết luận. Tháng 12 năm ngoái, Mỹ cũng đã định đánh Bắc Triều Tiên một lần nữa, nhưng Hàn Quốc và Nhật Bản lại can.

Tại sao lại gọi Bắc Triều Tiên là khủng bố quốc tế vì ngay từ lâu đã có tư tưởng dùng bạo lực để ám sát, triệt lãnh đạo của Hàn Quốc. Năm 1988, Tổng thống Hàn Quốc đi thăm Rang-un (Miến Điện), đến thăm nghĩa trang Nhà nước. Bắc Triều Tiên đã cử 2 đặc công sang cài mấy quả mìn ở cổng nghĩa trang. Rất may xe của Tổng thống vừa đi qua thì mìn nổ, 4 xe tiếp theo chở các Bộ trưởng và tùy tùng thì chết. Xe của Tổng thống thì thoát. Sau đó an ninh Miến Điện cho lùng soát và bắt được 2 người Bắc Triều Tiên. Sau đó là vụ “quả bom nước 20 tỷ tấn” định dội vào Hàn Quốc. Vì khu vực núi Kim Cương Sơn do rất nhiều trái núi hợp thành hệ thống núi. Bắc Triều Tiên cho xây chắn núi nọ với núi kia thành ra một cái bể chứa 20 tỷ mét khối nước. Mỗi mét khối nước nặng 1 tấn. Người ta gọi là 20 tỷ tấn. Đập đó cách thủ đu Xê-un 100 km và cao hơn thủ đô Xê-un hơn 1000 mét. Nếu Bắc Triều Tiên cho đặt 1 tấn bộc phá ở dưới chân đập và cho nổ đồng thời thì 20 tỷ tấn nước này sẽ thổi thủ đô Xê-un bay sang biển Đông như ta lấy một thùng nước hắt một cái lá tre xuống cống. Cho nên thế giới gọi Bắc Triều Tiên là tên khủng bố quốc tế và phản đối kịch liệt. Thế giới đã giúp thành phố Xê-un xây một cái đập, gọi là đập Hòa Bình cong cong để chắn lượng nước từ bên kia tràn sang, sẽ tóe sang hai bên.

Sau đó lại có vụ nổ máy bay của hãng hàng không Koreairlines của Hàn Quốc năm 1988 làm chết mấy trăm người. Rồi là bắt cóc người Nhật về Bắc Triều Tiên. Rồi việc thanh trừng nội bộ rất nhiều. Cuối cùng Mỹ đã quy Bắc Triều Tiên vào danh sách nước ủng hộ khủng bố quốc tế.

Bắc Triều Tiên quan hệ với Việt Nam cũng có rất nhiều trắc trở. Bắc Triều Tiên rất cơ hội chủ nghĩa và vì quyền lợi dân tộc hẹp hòi, chẳng có vì quốc tế cộng sản hay vì cái gì hết. Thời gian cuộc kháng chiến chống Mỹ của Việt Nam, Bắc Triều Tiên cũng ủng hộ nhưng với tinh thần là để chia lửa với Hàn Quốc, để Mỹ tập trung quân đánh Nam Việt Nam, để cho Nam Triều Tiên rảnh tay đỡ chuyện tranh giành khu vực bán đảo Triều Tiên. Chính vì thế nhiều khi Việt Nam cần thì Bắc Triều Tiên không ủng hộ, lúc không cần thì lại dương cao ngọn cờ yêu cầu Việt Nam theo Bắc Triều Tiên lập ra Mặt trận châu Á chống Mỹ vào khoảng 1968-1970 là lúc cuộc chiến ở miền Nam Việt Nam đang rất quyết liệt.

Khi Việt Nam giải phóng hoàn toàn miền Nam thống nhất đất nước năm 1975, sáu tháng sau báo chí Bắc Triều Tiên vẫn không đưa tin thắng lợi vĩ đại của Việt Nam. Cả thế giới người ta hân hoan vui mừng, trống dong cờ mở để hoan hô Việt Nam đánh thắng giặc Mỹ xâm lược, nhưng ông bạn Bắc Triều Tiên vẫn cứ im lặng. Sau đó ta vận động, lúc đó báo chí mới đưa tin, nhân dân mới biết Việt Nam giải phóng rồi. Sau đó lại thôi luôn cho nên rất nhiều người về sau này không biết được Việt Nam đã giải phóng. Họ cho rằng các đồng chí Việt Nam không chịu chờ đợi để giải phóng Nam Triều Tiên đồng thời giải phóng Nam Việt Nam, như vậy là các đồng chí dồn hết khó khăn sang cho chúng tôi. Mỹ xong bên đó rồi sẽ quay sang đánh chúng tôi. Các đồng chí không có tinh thần quốc tế. Họ lập luận quái gở như vậy. Còn vấn đề vì lợi ích dân tộc hẹp hòi theo đuôi Trung Quốc trong vấn đề Campuchia chống Việt Nam thì rất lớn. Nhưng vì ta không bắt được tài liệu, không bắt được chuyên gia tại đấy, vì ta đánh Pôn Pốt theo kiểu xua chân, nếu đánh chụp, đánh bao vây thì chắc chắn bắt được nhiều chuyên gia của Bắc Triều Tiên. Bắc Triều Tiên thực ra cũng chẳng tốt gì với Việt Nam, nhưng lúc nào cũng có tư tưởng đòi nợ Việt Nam: trước kia, chúng tôi giúp các đồng chí trong chiến tranh chống Mỹ, bây giờ các đồng chí phải giúp chúng tôi. Các đồng chí không được quan hệ với Nam Triều Tiên. Nhưng do xu thế không thể đảo ngược được, các nước XHCN, Liên Xô, Trung Quốc đều đặt quan hệ với Nam Triều Tiên. Việt Nam cũng là nước XHCN cuối cùng đặt quan hệ với Nam Triều Tiên cho nên bạn đỡ hậm hực. Khi ta lập được quan hệ ngoại giao rồi thì lại khuyên ta chỉ đặt quan hệ ngoại giao, đừng đặt về quan hệ kinh tế, quan hệ với Đảng cầm quyền ở Hàn Quốc. Sau này, Tổng bí thư Đảng ta đi thăm Hàn Quốc, thiết lập quan hệ với Đảng cầm quyền của Hàn Quốc. Bạn cũng chẳng thể đảo ngược lại được, đành phải ngậm ngùi. Mặc dù vậy họ vẫn có những trắng trợn, thí dụ: viên đại sứ Bắc Triều Tiên hiện nay ở Việt Nam, khóa trước làm tham tán Sứ quán Triều Tiên ở Việt Nam, lúc đó là năm 1995, anh ta lên Bộ Ngoại giao khuyên chúng tôi: Các đồng chí đừng có tin Nam Triều Tiên kinh tế phát triển, họ không làm được ô tô, tivi..., mà họ mua của các nước khác về để tuyên truyền.

Trong khi đó, Việt Nam đã buôn bán với Hàn Quốc, các công ty của Hàn Quốc đã vào đầu tư ở Việt Nam và họ cũng biết chúng tôi đã từng công tác, học tập ở Hàn Quốc nhiều năm. Tóm lại, con người Bắc Triều Tiên là rất khó chịu, xã hội, lãnh đạo rất khó chịu, không hiểu nó là cái gì? Chúng tôi đã công tác ở Bắc Triều Tiên mấy chục năm, nhưng bây giờ nói Bắc Triều Tiên là cái gì thì rất khó.

Bắc Triều Tiên đưa ra tư tưởng chủ thể. Vậy tư tưởng chủ thể là gì? Đó là tư tưởng cho con người là chủ thể của cách mạng, cũng là chủ thể của vận mệnh của mình, của chính bản thân mình. Đó là nội dung của tư tưởng chủ thể. Nhưng mà việc thực hiện tư tưởng chủ thể thì lại thực hiện theo một ý đồ đằng sau những danh từ của tư tưởng chủ thể. Cho nên thế giới đánh giá tư tưởng chủ thể là loại tư tưởng đóng cửa, không tin vào bất cứ một ai, không tin vào bạn bè, đóng cửa chặt. Có người nước ngoài nói tư tưởng chủ thể là một loại tư tưởng phản động. Xã hội càng phát triển, càng văn minh lên thì tư tưởng chủ thể càng bộc lộ rõ tính phản động, kìm hãm sự phát triển. Nghe họ nói thì rất hay, nhưng làm thì rất dở. Thế giới sợ và ghét, ngại không muốn đến gần.

Tư liệu sưu tầm của Triệu Xuân



Tổng số lượt xem trang

free counters