LƯƠNG ĐÌNH HẢI (*)
Trong bài viết này, trên cơ sở
phân tích một cách khái quát thực trạng của đất nước trong bối cảnh mới, tác
giả khẳng định rằng cần thiết phải có một tư duy mới, quan niệm mới hay lý thuyết
phát triển mới thì mới có thể đưa đất nước phát triển nhanh hơn. Đồng thời, tác
giả cũng phân tích một số khía cạnh, nội dung cơ bản của tư duy mới dựa trên
yêu cầu phát triển đột phá và những tiền đề nhất định đã xuất hiện ở nước ta
hiện nay.
Một trong những đặc điểm nổi bật
của Việt Nam
trong giai đoạn phát triển hiện nay là tính chất sản xuất nhỏ vẫn ảnh hưởng và
chi phối mọi mặt của đời sống xã hội. Trong tư duy, suy nghĩ, lối sống và nói
chung trong toàn bộ nền văn hoá dân tộc, từ văn hoá dân gian đến văn hoá bác
học, từ sản xuất vật chất đến đời sống tinh thần, tính chất sản xuất nhỏ thể
hiện khá đậm nét. Tuy nhiên, cũng phải thấy rằng, không phải mọi thứ nảy sinh
trong nền sản xuất nhỏ ngày nay đều là bất hợp lý, là lạc hậu, cản trở sự phát
triển. Nhưng, tính chất sản xuất nhỏ với tính cách tàn dư quá khứ lại gây ảnh
hưởng trái chiều một cách mạnh mẽ đến sự phát triển của tất cả các lĩnh vực của
đời sống xã hội hiện đại. Nhận thức đúng những biểu hiện và tác động trái chiều
của tính chất sản xuất nhỏ là điều kiện cần cho việc hạn chế những ảnh hưởng
của nó và đảm bảo cho sự phát triển có chất lượng tốt hơn trên mọi phương diện.
Đời sống vật chất, tồn tại xã hội
quyết định đời sống tinh thần, ý thức xã hội. Không ai chối cãi điều này, nhưng
cần nhớ rằng, đó là xét đến cùng. Trong thực tiễn đời sống cá nhân cũng như đời
sống xã hội, chúng ta có thể thấy tình hình dường như không phải lúc nào cũng
vậy mà ngược lại thì mới đúng. Mọi sự phức tạp trong đời sống xã hội dường như
đều xuất phát trực tiếp từ ý thức con người, nghĩa là từ những ý nghĩ, quan
niệm, cách nhìn nhận, trình độ văn hoá, kiến thức, sự hiểu biết, kinh nghiệm
hay sự từng trải thực tiễn của những con người trong cuộc và trong một chừng
mực nào đó, còn xuất phát từ cả tính cách, nhân tâm, khát vọng của họ. Nhưng,
những cái đó lại cũng xuất phát từ những yếu tố nói trên. Như vậy, có thể nói,
dường như mọi sự biến trong xã hội con người đều trực tiếp xuất phát từ văn hóa
được chứa đựng, tích tụ và trầm lắng trong ý thức con người.(*)
Một nền sản xuất nhỏ đã tồn tại
qua hàng ngàn năm lịch sử tất yếu để lại một nền văn hoá, có thể tạm gọi là văn
hoá sản xuất nhỏ, xét từ bình diện xã hội; và cũng tất yếu như vậy, để lại một
tư duy sản xuất nhỏ với những nội dung văn hoá sản xuất nhỏ, xét cả từ bình
diện xã hội lẫn cá nhân. Trong xã hội hiện nay, văn hoá sản xuất nhỏ, tư duy
sản xuất nhỏ đang tồn tại như một trong những yếu tố trong dung môi của sự phát
triển xã hội. Tư duy sản xuất nhỏ vừa là sản phẩm của các xã hội truyền thống,
chưa qua công nghiệp hoá và hiện đại hoá xã hội, vừa là yếu tố đóng vai trò đặc
biệt quan trọng trong việc duy trì, củng cố sự tồn tại của các xã hội này(1).
Lịch sử nhiều nước phương Đông, đặc biệt của Việt Nam và Trung Quốc, cho thấy
một trong những nét đặc trưng của tư duy sản xuất nhỏ, khác với tư duy của các
xã hội hiện đại, là định hướng trở về quá khứ nổi trội hơn so với hướng tới
tương lai. Cách giải quyết những vấn đề hiện tại được rút ra từ khuôn mẫu giải
quyết vấn đề của tiền nhân; xã hội quá khứ là hình mẫu cho xã hội hiện tại;
thời Nghiêu, Thuấn là thời đại mẫu mực cho mọi xã hội về sau,… Với tư duy kỹ
trị, tương lai bao giờ cũng tiến bộ hơn quá khứ và hiện tại; xã hội hạnh phúc,
phồn vinh đang ở phía trước chứ không phải ở phía sau. Những hành xử của các
bậc tiền nhân chỉ để tham khảo kinh nghiệm chứ không phải là khuôn mẫu buộc
phải tuân theo,… Bởi vậy, chỉ tư duy phát triển (bao gồm nhiều loại tư duy khác
nhau, trong đó có tư duy kỹ trị) mới thích hợp với xã hội phát triển, xã hội
đang hiện đại hoá. Các xã hội đang phát triển và hiện đại hoá luôn đòi hỏi có
các dạng tư duy phát triển đồng hành với nó.
Đất nước và dân tộc ta đang ra
sức thực hiện khát vọng phát triển, hiện đại hoá xã hội, đặng sánh vai cùng các
cường quốc năm châu. Công cuộc đổi mới 25 năm qua đã thu đuợc nhiều thắng lợi
to lớn, tạo đà và thế cho sự phát triển tiếp theo. So với các quốc gia khác
trong khu vực và trên thế giới, tốc độ tăng trưởng kinh tế và phát triển xã hội
nói chung của nước ta trong những năm qua là rất ấn tượng, chỉ đứng sau Trung
Quốc. Sự chuyển đổi từ xã hội truyền thống sang xã hội hiện đại đã diễn ra
nhanh chóng trên hầu hết các mặt, các vùng, các lĩnh vực của đời sống xã hội.
Nhưng ngay từ khi bước vào những năm đầu của thế kỷ XXI này đã bắt đầu một thời
kỳ mới, thể hiện một tình thế phát triển mới, đòi hỏi cái mà có người gọi là
những đột phá mới trong tư duy, hoặc lý luận phát triển mới, còn theo chúng tôi
là đòi hỏi một dạng tư duy phát triển mới.(1).
Trong thời đại cách mạng khoa học
- kỹ thuật, công nghệ và toàn cầu hoá, tốc độ phát triển các lực lượng sản xuất
vô cùng nhanh chóng so với các giai đoạn trước đây của lịch sử. Vòng đời của
các sản phẩm tiêu dùng ngày càng rút ngắn lại theo tỷ lệ nghịch với tốc độ phổ
cập đại trà của sản phẩm ấy. Vòng đời các công nghệ sản xuất quy định vòng đời
các sản phẩm tiêu dùng dường như không chỉ ngày một ngắn đi, mà còn trực tiếp
quy định sự sống còn của các doanh nghiệp, công ty. Hiện nay, tốc độ thay đổi
và khả năng thích ứng công nghệ trở thành vấn đề sống còn của các công ty, các
nền kinh tế, chứ không phải là vấn đề quy mô lớn hay bé của chúng như trước
đây(2). Trong bối cảnh thế giới đang phát triển và đi vào tương lai với tốc độ
hết sức nhanh chóng, thì chúng ta lại đang tụt hậu. Nếu mắc phải sự sai sót, dù
chỉ là những sai sót nhỏ trên con đường phát triển, chúng ta sẽ bị chậm chân,
sự tụt hậu càng xa hơn, càng khó khắc phục hơn, nguy cơ tụt hậu dài lâu càng
hiển hiện.
Với một tầm nhìn mới, xa hơn,
không dừng lại ở năm 2020 mà chúng ta đang hy vọng là đến thời điểm đó, nước ta
cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại, giả sử đến năm 2040,
chúng ta sẽ thấy rõ hơn nhu cầu phát triển với tốc độ nhanh hơn, chất lượng tốt
hơn, hiệu quả lớn hơn, thành tựu to lớn hơn, đang ngày một trở nên hết sức cấp
bách. Sau khoảng 30 năm nữa, nếu với tốc độ tăng trưởng GDP bình quân đầu người
như hiện nay (bình quân 8,6%/năm từ 1990 đến nay), Trung Quốc có thể đạt mức
thu nhập bình quân đầu người xấp xỉ 48.000 đôla Mỹ, cao hơn mức của Nhật Bản và
tương đương Mỹ, Hà Lan hiện nay, hoặc nếu mức tăng truởng GDP bình quân đầu
người hàng năm giảm còn khoảng 5,8 - 6%/năm, thì Trung Quốc cũng đạt khoảng
30.000 đôla, tương đương mức của Italia, Tây Ban Nha hiện nay. Trong khi đó,
nếu với mức độ tăng trưởng được xem là cao như hiện nay (khoảng 6% trong hơn 20
năm vừa qua), thì đến năm 2040, GDP bình quân đầu người của chúng ta mới chỉ
khoảng 8.000 đôla, bằng mức của Mêhicô năm 2006. Còn nếu tốc độ tăng trưởng GDP
đầu người hàng năm chậm lại, chỉ còn trung bình khoảng 4,8 - 5% năm, thì đến khi
đó chúng ta chỉ được khoảng 4.000 đôla, thấp hơn mức của Malaixia hiện nay. ở
đây, chúng ta mới chỉ nói đến mặt lượng của tăng trưởng mà chưa nói đến mặt
chất của tăng trưởng – mặt mà hiện nay chúng ta đang còn nhiều bất cập.(2).
Từ góc độ phát triển nói chung,
chúng ta đang đứng trước hàng loạt vấn đề nan giải mà từ nay đến năm 2040 sẽ
ngày càng trở nên căng thẳng và không thể không giải quyết. Đó không chỉ là tốc
độ phát triển nhanh của thế giới và các nước trong khu vực, của khoa học và
công nghệ, sự biến động của nền kinh tế thế giới, nói tóm lại là của những yếu
tố bên ngoài, mà còn là của các yếu tố bên trong. Cùng với những yếu tố bên
ngoài, các yếu tố bên trong cũng đang tạo nên những sức ép rất lớn, những
chướng ngại cản trở chúng ta phát triển nhanh, làm tăng nguy cơ tụt hậu ngày
càng xa.
Trong hàng loạt các yếu tố ấy,
trước hết phải kể đến điều kiện tài nguyên, môi trường. Đất nước chúng ta không
thuộc loại giàu có tài nguyên thiên nhiên như một số nước khác trên thế giới.
Các nguồn tài nguyên không quá khan hiếm, nhưng có trữ lượng thấp. Một số nguồn
tài nguyên đã bắt đầu cạn kiệt. Hàng năm, thiên tai, dịch bệnh luôn xảy ra và
diễn biến phức tạp, khó lường, gây ảnh hưởng lớn đến tốc độ phát triển đất nước
và chất lượng cuộc sống con người. Ngoài ra, các yếu tố thuộc hạ tầng cơ sở và
tài sản vật chất mà các thế hệ trước đây để lại, như hệ thống các thành phố,
thị xã, khu dân cư, tập quán, lối sống và văn hoá nói chung cũng là những yếu
tố có ảnh hưởng lớn. Tuy nhiên, chúng không phải là những yếu tố quyết định tốc
độ phát triển của quốc gia - dân tộc, dù ở đây đang có hàng loạt những bất cập,
cản trở sự phát triển.
Một trong những yếu tố có tính
chất quyết định tốc độ phát triển quốc gia là chất lượng nguồn nhân lực. Báo
chí, các phương tiện thông tin đại chúng đã nói nhiều về những khía cạnh, những
mặt tích cực, mặt mạnh của nguồn lực con người Việt Nam. Nhưng, nếu xem xét kỹ sẽ thấy
một loạt những vấn đề về nguồn lực con người, như sức khoẻ, trình độ học vấn và
văn hoá, năng lực sáng tạo, ý chí, bản lĩnh, sự đồng tâm nhất trí, tinh thần
dân tộc - quốc gia,… của chúng ta còn quá nhiều bất cập và điểm yếu. Cùng với
chất lượng nguồn nhân lực và gắn liền với nó là các thiết chế xã hội: hệ thống
chính trị, hệ thống luật pháp, hệ thống quản lý kinh tế, quản lý xã hội, bộ máy
hành chính,… Chất lượng các thiết chế vĩ mô này do chất lượng nguồn nhân lực
quyết định. Nhưng một khi các thiết chế đó đã hình thành thì chúng lại quy định
chất lượng nguồn nhân lực và tốc độ phát triển của xã hội.
Chất lượng nguồn nhân lực và hệ
thống các thiết chế xã hội cùng tương tác với nhau tạo nên hàng loạt các sản
phẩm rất quan trọng, có thể thúc đẩy hoặc kìm hãm sự phát triển. Đó là những
sản phẩm, như các chính sách, chất lượng thực thi các chính sách, mức độ sẵn
sàng tiếp nhận các cải cách, các ý tưởng mới về phát triển, chất lượng lựa chọn
và đào thải những người có vị trí ở các bậc thang trong hệ thống các thiết chế
xã hội. Phải nói rằng, ở nước ta hiện nay tất cả những cái đó so với các nước
trong khu vực và thế giới đều đang ở mức quá thấp so với yêu cầu phát triển đột
phá. Một trong những sản phẩm hết sức quan trọng thể hiện chất lượng nguồn nhân
lực và chất lượng các thiết chế xã hội mà ở trên chúng tôi đã nhắc đến, đó là
lý luận phát triển hay tư duy phát triển.
Thực tiễn phát triển của các nước
trên thế giới cũng như lịch sử nước ta, đặc biệt trong thời kỳ đổi mới vừa qua,
đều cho thấy rằng, trước mỗi bước phát triển xã hội, dù lớn hay nhỏ, dài hay
ngắn, dù ở bất kỳ thời đoạn lịch sử nào, dưới bất cứ chế độ xã hội nào, đều
xuất hiện tư duy phát triển mới. Sự nghiệp đổi mới của chúng ta được bắt đầu
bằng việc đổi mới tư duy. Thực chất của đổi mới tư duy chính là đổi mới các
quan niệm về phát triển đã từng tồn tại, nhưng đã bộc lộ những bất cập và bất
lực trước những đòi hỏi phát triển mới của đất nước; đồng thời, tạo lập cho xã
hội những tư tưởng mới về phát triển phù hợp hơn với tình hình mới, có thể đáp
ứng được những đòi hỏi mới của sự phát triển. Đổi mới tư duy lúc đó đã tạo ra
được tư duy phát triển mới với những quan niệm mới về sự phát triển của xã hội
Việt Nam, như kinh tế thị trường, mở cửa, hội nhập, con đường đi lên chủ nghĩa
xã hội,… Tư duy đó đã góp phần tạo nên những thành tựu lớn cho sự phát triển
trong hơn 20 năm qua.
Có thể nói, tư duy mới đã tạo đà
cho đổi mới và hiện nay nó vẫn tiếp tục là cơ sở, nền tảng cho sự phát triển
đất nước trong những năm đầu thế kỷ XXI. Nhưng thực tiễn đã chúng tỏ rằng, trên
nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội, hàng loạt vấn đề do cuộc sống đặt ra không
thể giải quyết được nếu tiếp tục dựa vào tư duy hiện có. Chúng ta tiến hành cải
cách hành chính chưa có hiệu quả, cải cách giáo dục đã được thực hiện nhiều năm
nhưng vẫn chưa nâng cao được chất lượng. Tương tự, trong hệ thống y tế, hệ
thống lương, hệ thống chính trị và các hệ thống khác cũng đều đang tồn tại
những bất cập mà dù đã rất cố gắng trong một thời gian dài, song chúng ta vẫn
chưa khắc phục một cách hiệu quả. Trước những đòi hỏi cấp thiết của sự phát
triển, tình hình dường như càng trở nên phức tạp hơn trong nhiều lĩnh vực của
đời sống xã hội và cho thấy rõ thêm tình thế bức xúc: nếu không phát triển đột
phá, đất nước ta không thể thoát khỏi sự tụt hậu ngày càng xa. Nhưng không thể
có phát triển đột phá, nếu chúng ta không có triết lý, lý luận, hay tư duy phát
triển mới.
Tư duy phát triển mới không thể
chỉ bó hẹp hay chủ yếu mang nội dung kinh tế như trước đây. Bối cảnh mới đòi
hỏi tư duy mới ít nhất phải bao quát toàn bộ hệ thống kinh tế, xã hội trong
giai đoạn hiện nay, còn phải thể hiện được cả những thay đổi của tình hình quốc
tế. Những quan niệm mới, cách nhìn mới, lối tiếp cận mới, phương pháp tư duy
mới và trên cơ sở đó có cách giải quyết mới đối với các vấn đề đang được đặt ra
sẽ là nội dung của triết lý phát triển mới hay tư duy mới về phát triển. Thậm
chí, ở mức độ cao hơn, những tư tưởng mới về sự phát triển cũng sẽ được bao
chứa và là tiền đề nền tảng cho tư duy mới về phát triển. Những đòi hỏi của
thực tiễn đã xuất hiện và biểu hiện qua sự bất lực hoặc kém hiệu quả của tư duy
cũ, của các nguyên tắc cũ, cách nhìn cũ. Đây đó trong thực tiễn đã xuất hiện
những ý tưởng mới, cách nhìn, quan niệm mới và cách giải quyết mới về một số
vấn đề của thực tiễn. Nhưng, cho đến nay, một tư duy mới có thể giải quyết
những vấn đề mà đòi hỏi phát triển đột phá đang đặt ra thì lại chưa xuất hiện.
Tuy nhiên, có thể hình dung về đại thể những nét căn bản nhất mà tư duy đó phải
có dựa trên yêu cầu phát triển đột phá và những tiền đề nhất định đã xuất hiện
hiện nay.
Từ trước đến nay, trong lý luận
cơ bản chúng ta vẫn thường quan niệm rằng sự phát triển của mọi sự vật, hiện
tượng trong thế giới đều có nguồn gốc từ sự thống nhất và đấu tranh của các mặt
đối lập tồn tại ngay trong lòng các sự vật và hiện tượng ấy. Các mặt đối lập
tạo nên mâu thuẫn với tính cách là nguồn gốc và động lực cho sự phát triển. Quá
trình tồn tại và phát triển của sự vật, hiện tượng cũng đồng thời là quá trình
giải quyết những mâu thuẫn giữa các mặt đối lập. Việc giải quyết mâu thuẫn đó
dẫn đến kết cục hoặc là cả hai mặt đối lập đều bị tiêu diệt, làm xuất hiện hai mặt
đối lập mới thúc đẩy sự phát triển; hoặc là một trong hai mặt đối lập bị tiêu
diệt, mặt đối lập còn lại “chiến thắng” cùng với một mặt đối lập khác, mới hình
thành, tạo nên mâu thuẫn mới, tạo nên động lực mới cho sự phát triển. Cách quan
niệm như vậy của tư duy đã làm nghèo nàn bức tranh phát triển của thế giới nói
chung, của đời sống xã hội nói riêng.
Trong thực tiễn, cuộc đấu tranh
của các mặt đối lập còn có thể dẫn đến khả năng thứ ba, đó là nó làm cho tất cả
các mặt đối lập cùng phát triển, làm xuất hiện những mặt đối lập khác cùng tồn
tại, góp phần tạo nên những động lực mới của sự phát triển. Chính điều này mới
có thể khiến cho sự vật, hiện tượng trong thế giới ngày càng đa dạng, phong
phú. Các khả năng phát triển trong thực tế trở thành đa hướng, nhiều nhánh
khiến con người không dễ dàng tiên liệu hết các khả năng vận động, phát triển
của thế giới các sự vật, hiện tượng. Khả năng thứ ba này trong việc giải quyết
mâu thuẫn tồn tại trong suốt quá trình thống nhất và đấu tranh của các mặt đối
lập, nghĩa là tồn tại trong toàn bộ quá trình vận động và phát triển của sự
vật, hiện tượng. Thế giới thực vật, động vật ngày càng đa dạng, đời sống xã hội
ngày càng phong phú, nhiều vẻ không thể giải thích được đầy đủ nếu chỉ quy một
cách giản đơn sự vận động và phát triển vào một trong hai khuynh hướng “thắng”,
“thua” nói trên của các mặt đối lập. Chính khả năng thứ ba mới là khả năng nổi
trội, giữ vị trí chủ đạo trong thế giới các sự vật, hiện tượng. Nếu không tính
đến khả năng thứ ba này thì không thể lý giải hết hàng loạt các hiện tượng của
xã hội hiện đại hoặc của giới tự nhiên do các ngành khoa học tự nhiên hiện đại
phát hiện(3).
Thế giới đương đại cho thấy nó
bao chứa trong mình rất nhiều động lực phát triển. Sự phát triển xã hội không
thể chỉ quy một cách giản đơn về sự đấu tranh của các mặt đối lập, càng không
thể chỉ quy giản đơn về sự thắng thua của hai mặt đối lập. Động lực phát triển
của xã hội rất phong phú và đa dạng. Tuỳ thuộc vào tương quan trong ngoài, tuỳ
thuộc vào từng giai đoạn phát triển mà có những động lực nổi trội, chi phối
hoặc đóng vai trò quyết định sự vận động và phát triển của xã hội ở giai đoạn
này nhưng ở giai đoạn khác thì nó lại chìm xuống, giữ vai trò thứ yếu, phụ
thuộc. Không thể lý giải sự phát triển của xã hội Việt Nam hôm nay bằng lối tư
duy chỉ thấy đấu tranh hay thống nhất của các mặt đối lập, càng không thể lý
giải đúng động lực phát triển của xã hội Việt Nam chỉ là thống nhất và đấu
tranh giữa hai mặt đối lập nào đó.(3)Thực tiễn cho thấy, giống như trong các hệ
thống phức tạp khác của thế giới, sự vận động và phát triển của xã hội đương
đại do một hệ thống các động lực khác nhau, trong đó mỗi động lực có vai trò
khác nhau trong việc chi phối sự phát triển của xã hội. Nếu không thấy hết các
động lực ấy, mà chỉ nhìn thấy hai mặt đối lập nào đó, như đấu tranh giai cấp,
như cái cũ và cái mới,… thì sẽ làm nghèo nàn bức tranh hiện thực về phát triển
xã hội và do đó, sẽ không thể phát huy được sức mạnh tổng hợp để tạo nên những
bước phát triển mang tính đột phá cho đất nước. Đúng là không thể bỏ qua mặt
đấu tranh. Nhưng rõ ràng là phải chú ý hơn đến mặt thống nhất và các mặt khác
liên quan đến sự phát triển.
Trong hàng loạt các phương diện,
các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội Việt Nam đương đại, việc phát hiện
động lực và tạo lập cơ chế phát huy động lực đang là một đòi hỏi có ý nghĩa
sống còn đối với sự phát triển. Trên phương diện lý luận chung, tư duy mới về
phát triển đòi hỏi phải tạo lập căn cứ đầy đủ cho việc huy động và phát huy tối
đa tiềm năng và sức mạnh tổng lực của quốc gia - dân tộc. Trong bối cảnh hiện
nay, tư duy mới về phát triển tất yếu phải tạo lập căn cứ cho việc phát huy
tinh thần dân tộc như một động lực xã hội thiết yếu và đặc biệt quan trọng cho
sự phát triển đột phá của Việt Nam trong nửa đầu thế kỷ XXI, bởi có như vậy mới
có thể huy động tối đa sức mạnh dân tộc cùng nỗ lực thoát khỏi nguy cơ tụt hậu
ngày càng xa so với các nước phát triển cao trên thế giới.
Khơi dậy được tinh thần dân tộc
sẽ làm bùng lên khát vọng và nỗ lực vươn dậy của cả một dân tộc đi lên từ chiến
tranh và nghèo đói. Những bài học kinh nghiệm từ Nhật Bản, Hàn Quốc và Trung
Quốc gần đây có ý nghĩa rất lớn và có thể áp dụng thành công cho nước ta hiện
nay. Tinh thần dân tộc là một trong những nội dung chính yếu, mang tính nền
tảng trong triết lý phát triển của các quốc gia nói trên, đã giúp họ thành công
trong công cuộc hiện đại hoá đất nước vào nửa cuối thế kỷ XX vừa qua. Tinh thần
dân tộc có thể tạo nên ý chí phát triển mạnh mẽ, làm nên những kỳ tích lớn, đưa
đất nước thoát khỏi nghèo nàn và lạc hậu. Trong lịch sử, tinh thần dân tộc đã
được Hồ Chí Minh khơi dậy và phát huy mạnh mẽ trong suốt một thời kỳ lịch sử
trong thế kỷ XX và làm nên những kỳ tích phi thường. Lịch sử dân tộc ta đã
chứng tỏ rằng mỗi khi tinh thần dân tộc được phát huy, ý chí quật khởi vùng lên
mạnh mẽ, thì sức mạnh dân tộc được nhân lên gấp bội. Trong giai đoạn mới, tinh
thần dân tộc càng phải là động lực căn bản thì Việt Nam mới hy vọng có thể có được
những bước phát triển đột phá. Nếu ngược lại, tình trạng trì trệ, chậm phát
triển, lạc hậu và bị đẩy ra vùng ngoại biên của thế giới sẽ trở thành hiện
thực; cơ hội phát triển của đất nước sẽ bị bỏ qua. Có thể mạnh dạn mà nói rằng
các thiết chế xã hội và việc đổi mới tư duy trong 25 năm qua của chúng ta cho
đến nay vẫn chưa động chạm được đến đáy sâu của tinh thần dân tộc. ý chí, sức
mạnh và bản lĩnh vươn lên để trở thành giàu có, văn minh, sánh vai cùng các
cường quốc năm châu ở dân tộc ta vẫn đang rất mờ nhạt, vừa yếu, vừa thiếu, vừa
chưa đủ điều kiện để phát huy.
Trong bối cảnh quốc tế có nhiều
cơ hội cho sự phát triển của đất nước hiện nay, vấn đề dân chủ hoá cũng phải là
một nội dung trọng yếu của tư duy mới về phát triển. Tính chất đa dạng, phong
phú, muôn hình muôn vẻ trong khả năng phát triển của thế giới chính là biểu hiện
sống động của dân chủ trong hiện thực. Kinh nghiệm của các quốc gia phát triển,
những thành tựu của các khoa học hiện đại, như lý thuyết hệ thống, khoa học tổ
chức, khoa học điều khiển và quản lý, thông tin,… đều chứng tỏ rằng dân chủ là
một động lực vĩ đại của sự phát triển. Lịch sử phát triển của các quốc gia phát
triển cao và bài học của các xã hội đương đại cũng đều chứng tỏ không có dân
chủ hoá thật sự thì xã hội sẽ trì trệ, bảo thủ và kém phát triển. Không có dân
chủ, tinh thần dân tộc sẽ dần dần phai nhạt, sẽ bị tổn thương và đưa đến những
hệ luỵ lâu dài cho sự phát triển, thủ tiêu mọi sự phát triển đột phá nói chung.
Muốn có được những phát triển đột
phá phải có được một quy trình dân chủ hoá thực sự. Cảm nhận rõ điều này, những
năm qua chúng ta đã có nhiều cố gắng và thực hiện hàng loạt các bước dân chủ
hoá đời sống kinh tế, xã hội: giải phóng lực lượng sản xuất, xoá bỏ việc kiểm
soát phi dân chủ đối với quá trình sản xuất, tự do hoá chuyển dịch tư liệu sản
xuất, vốn và hàng hoá, thực hiện dân chủ cơ sở,… Tất cả những cái đó đã tạo nên
những bước phát triển nhanh chóng của nền kinh tế và những chuyển biến tích cực
trong đời sống xã hội và chất lượng sống của người dân. Tuy nhiên, những bước
tiến đó vẫn chỉ diễn ra trong những khuôn khổ nhất định, vẫn bị trói buộc bởi
những quan niệm của tư duy cũ.
Để có được những đột phá trong sự
phát triển tiếp theo của đất nước cần phải thủ tiêu tình trạng “khan hiếm”
nguồn nhân lực: người tài năng, trung thực, tâm huyết với sự phát triển của
quốc gia - dân tộc; xoá bỏ tình trạng “ngủ đông” của tinh thần dân tộc, thái độ
thờ ơ, vô cảm của nhân dân trước tình trạng tụt hậu của đất nước, hoặc chỉ
nhiệt tình, hăng hái với lợi ích cá nhân, mà xem nhẹ lợi ích phát triển của
cộng đồng. Để có đột phá càng không thể để tồn tại quá lâu tình trạng thiếu
minh bạch trong các công việc chung ở các cấp, các ngành, các lĩnh vực như hiện
nay. Để có đột phá cần phải ngăn chặn triệt để tình trạng tham nhũng của một bộ
phận cán bộ, đảng viên đã thoái hóa, biến chất hiện nay. Để đột phá phải có môi
trường bình đẳng, tự do cho sự sáng tạo và thử nghiệm, cho sự phản biện xã hội
về mọi vấn đề mà xã hội quan tâm và động chạm đến lợi ích cộng đồng, phải cải
cách không chỉ trong lĩnh vực hành chính, mà cả trong tổ chức cán bộ, trong tất
cả các hệ thống của xã hội đương đại. Muốn vậy, không thể không thực hiện đột
phá trong dân chủ hoá. Đột phá trong dân chủ hoá sẽ tạo nên phản ứng dây chuyền
làm chuyển biến tất cả các mặt của xã hội, có thể tạo nên những đột phá lớn cho
sự phát triển đất nước nếu được định hướng tốt. Trái lại, nó có thể tạo nên sức
phá hoại khôn lường nếu sai lầm về định hướng. Do đó, để có những đột phá trong
phát triển nhằm bứt phá vươn lên cần có tư duy mới, đúng đắn về dân chủ hoá xã
hội, phù hợp hơn với điều kiện và tốc độ phát triển mới của đất nước.
Nội dung của tư duy mới về phát
triển chắc chắn là phong phú hơn, gồm nhiều tầng, bậc khác nhau, hai vấn đề nói
trên chỉ là hai thí dụ để phân tích mà thôi. Đòi hỏi về một tư duy phát triển
mới, hay một triết lý phát triển mới, hoặc một lý luận phát triển mới như một
số học giả trong và ngoài nước vẫn nói, vượt ra khỏi khuôn khổ đổi mới tư duy
của hơn 20 năm vừa qua đang là một đòi hỏi bức thiết cho sự phát triển đột phá
của đất nước. Cũng tương tự như những năm 80 của thế kỷ XX, đổi mới tư duy là
một đòi hỏi bức thiết để đưa đất nước ra khỏi khủng hoảng, hiện nay tư duy mới
về phát triển là một đòi hỏi bức thiết để đất nước trong vòng vài ba chục năm
tới có thể đột phá nhanh, tiến kịp các nước công nghiệp phát triển trên thế
giới, thoát khỏi tình trạng tụt hậu lâu dài.
*************************
(*) Phó giáo sư, tiến sĩ khoa
học, Phó Viện trưởng Viện Triết học, Viện Khoa học Xã hội Việt Nam.
(1) Cho đến nay, vẫn có không ít
người nghĩ rằng khi một xã hội đã công nghiệp hoá thì đuơng nhiên xã hội đó đã
là xã hội hiện đại, không cần biết nó đã trải qua quá trình hiện đại hoá xã hội
hay chưa. Tất nhiên, các xã hội tiến hành công nghiệp hoá luôn đòi hỏi phải
hiện đại hoá xã hội. Nhưng, trong những điều kiện xác định, không phải cứ có
công nghiệp hoá là có hiện đại hoá xã hội. Một số quốc gia dầu mỏ có thu nhập
bình quân đầu người cao, lao động công nghiệp và nền công nghiệp phát triển cao
với kỹ thuật và công nghệ hiện đại, nhưng ở đó vẫn chưa có xã hội đã được hiện
đại hóa. Xã hội hiện đại hoá lại chỉ có thể có khi xã hội ấy được công nghiệp
hoá, vì chỉ có trên cơ sở công nghiệp hoá mới có thể hiện đại hoá xã hội được.
(2) Có thể thấy rõ điều này qua
tốc độ đổi mới công nghệ sản xuất máy điện thoại di động hoặc máy tính điện tử.
Hiện tại, vòng đời của điện thoại di động chỉ còn khoảng 10 tháng; vòng đời của
các thế hệ máy tính điện tử (Pentum I, Pentum II, III, IV, Duo Core…) chỉ còn
khoảng 2-3 năm; sự chậm trễ trong việc thay đổi công nghệ là nguyên nhân chủ
yếu nhất của việc thua lỗ và phá sản của các công ty trong các nước phát triển.
Nếu không thay đổi công nghệ sản xuất kịp thời thì sản xuất càng nhiều càng
thua lỗ nặng, càng phá sản nhanh chóng. Trong thời đại cách mạng khoa học - kỹ
thuật và công nghệ và toàn cầu hoá, việc tìm kiếm và áp dụng các công nghệ mới
là con đường chắc chắn nhất cho sự thành công của các doanh nghiệp, các nền
kinh tế. Việc sát nhập, tăng quy mô hiện nay do đòi hỏi của công nghệ quyết
định, chứ không duy nhất do thị trường quyết định như trước đây.
(3) Đó là những hiện tượng như cả
xã hội cùng giàu có, cùng khá giả, tất cả các tầng lớp, các giai cấp cùng phát
triển, xã hội hiện đại phát triển đa diện, đa dạng, phong phú, nhiều vẻ. Thế
giới đa cực, thế giới cùng tồn tại và phát triển. Các hệ thống tự tổ chức bao
chứa nhiều khả năng phát triển khác nhau, bao chứa không chỉ quan hệ tuyến tính
mà cả những quan hệ phi tuyến tính, hỗn độn, mạng tương tác, v.v..
Nguồn: Tạp chí Triết học số 1 (236) năm 2011
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét