Bùi Trinh
Trong nghị quyết phiên họp thường
kỳ tháng 8.2011 vừa qua, Chính phủ đã yêu cầu bộ Kế hoạch và đầu tư, ngân hàng
Nhà nước, bộ Tài chính chỉ đạo các cơ quan chức năng nghiên cứu, phân tích làm
rõ nguyên nhân lạm phát ở nước ta, từ đó đề xuất các giải pháp căn bản ứng phó
có hiệu quả, phù hợp với tình hình thực tiễn, trình Chính phủ xem xét tại phiên
họp thường kỳ tháng 9.
Trước đó, trong quá trình thẩm
tra báo cáo tình hình thực hiện nhiệm vụ kinh tế – xã hội sáu tháng đầu năm
2011 của Chính phủ, chuẩn bị nội dung cho kỳ họp đầu tiên của Quốc hội khoá
XIII vào cuối tháng 7, nhiều ý kiến cho rằng Chính phủ lý giải nguyên nhân lạm
phát cao chưa thuyết phục.
Từ đó đến nay, những thảo luận
xung quanh câu chuyện này vẫn đang được tiếp tục. Xin giới thiệu tổng hợp, phân
tích và góc nhìn của tác giả Bùi Trinh về vấn đề này.
Lạm phát là sự tăng lên theo thời
gian của mức giá chung của nền kinh tế. Bản chất của lạm phát về cơ bản là quan
hệ tiền hàng. Tiền (M1, M2,…) nhiều hơn lượng hàng hoá (vật chất và dịch vụ)
được tạo ra trong nền kinh tế.
Hiện có hai luồng ý kiến về vấn
đề lạm phát của Việt Nam.
Luồng ý kiến của đa số những người quản lý, giám sát và một số chuyên gia khá
nổi tiếng cho rằng lạm phát của Việt Nam hiện nay đến từ phía cầu và mối
quan hệ giữa tổng cầu và lượng cung tiền (M2). Đa số các chuyên gia coi C + I
(tiêu dùng cuối cùng và tích luỹ tài sản) là tổng cầu bắt nguồn từ chữ
aggregate demand.
Còn theo hệ thống các tài khoản
quốc gia (SNA), tổng cầu bao gồm cầu cho sản xuất và nhu cầu cuối cùng. Nhu cầu
cuối cùng bao gồm nhu cầu cho tiêu dùng cuối cùng của hộ gia đình (C), chi tiêu
dùng cuối cùng của Chính phủ (G – khoản này theo định nghĩa của SNA chỉ là các
khoản chi tiêu thường xuyên của Chính phủ), tích luỹ gộp tài sản cố định (I) và
xuất khẩu thuần.
Việc sử dụng thuật ngữ đôi khi
cũng dẫn đến những ngộ nhận, và đôi khi cũng dẫn đến những nhân định sai lệch
về tình hình kinh tế nói chung và vấn đề lạm phát nói riêng.
Việc thắt chặt tiền tệ từ cuối
năm 2010 đến nay nhằm giải quyết mối quan hệ giữa lượng tiền và hàng (bao gồm
các sản phẩm vật chất và dịch vụ). Một điều cần để ý là lượng hàng hoá ở đây
không phải là tương thích với “tổng cầu” theo cách hiểu của nhiều chuyên gia mà
tương thích với tổng cầu theo cách hiểu của SNA (output).
Ở Việt Nam dư nợ tín dụng cho tiêu dùng
cuối cùng của hầu hết các ngân hàng thương mại chỉ chiếm khoảng từ 10,5 – 12%
trong tổng dư nợ (năm 2009). Đến năm 2011, do thắt chặt tiền tệ và mức lãi suất
cao, hầu như không ai dám vay cho tiêu dùng, cho vay đối với tiêu dùng chiếm tỷ
trọng thấp (ở các nước phát triển tỷ trọng này thường chiếm khá cao trong tổng
dư nợ).
Một vấn đề nữa, lạm phát là do
mất cân đối giữa lượng cung tiền và lượng hàng hoá trong nền kinh tế, nhưng hầu
như các báo cáo của chuyên gia, tổ chức và hành động thắt chặt tiền tệ chỉ tập
trung giải quyết vấn đề ở một vế đó là lượng cung tiền. Vế thứ hai là lượng
hàng hoá cũng cần được giải quyết. nếu lượng hàng hoá ngày càng ít dần thì việc
thắt chặt tiền tệ cũng chẳng có tác dụng gì.
Luồng ý kiến thứ hai của một số
chuyên gia cho rằng cần thiết phải tăng cung hàng hoá. Theo họ, đúng là khi chỉ
số giá tiêu dùng (CPI) tăng cao thì người tiêu dùng gặp rất nhiều khó khăn
trong cuộc sống, nhưng cũng cần để ý rằng suốt từ các quý trong năm 2010 đến
nay chỉ số giá sản xuất (PPI) luôn tăng cao hơn chỉ số giá tiêu dùng. Cộng với
việc “hơn 130.000 tỉ đồng “chết” trong hàng tồn kho”, tăng 32% so với cùng kỳ
năm ngoái và gần 20% so với đầu năm (theo cafef.vn trên cơ sở phân tích số liệu
của hơn 500 doanh nghiệp trên thị trường chứng khoán) thì có thể thấy khó khăn
của các doanh nghiệp còn lớn hơn cả khó khăn của người tiêu dùng. Những khó khăn
này của doanh nghiệp cộng với việc thắt chặt tiền tệ, lãi suất cao… sẽ khiến
lượng hàng hoá giảm đi và những mất cân đối về cung tiền và hàng hoá vẫn còn
nguyên.
Tất nhiên, giải quyết vấn đề về
phía cung (supply side) không phải là việc của ngày một ngày hai, cần có một
quá trình nhưng cũng không thể không bắt đầu từ bây giờ. Phía cung yếu kém cơ
bản do hiệu quả đầu tư quá thấp và cơ cấu kinh tế không hợp lý, dẫn đến lượng
hàng hoá sản xuất không tương xứng với lượng tiền bỏ ra. Theo tính toán từ
nguồn số liệu của tổng cục Thống kê thì yếu tố vốn đóng góp vào tăng trưởng
trong giai đoạn hiện nay lên đến hơn 70%, trong khi yếu tố thay đổi về công
nghệ, phương thức quản lý… (năng suất nhân tố tổng hợp) chỉ đóng góp vào tăng
trưởng trên 15%; trong khi giai đoạn trước đóng góp của yếu tố vốn chỉ là trên
60% (cung đã là không hiệu quả rồi!) và đóng góp của yếu tố năng suất nhân tố
tổng hợp là trên 22%. Sự không hiệu quả này chủ yếu diễn ra ở hai khu vực là
khu vực doanh nghiệp nhà nước và khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài
(FDI). Hiệu quả đầu tư và cơ cấu kinh tế như vậy mà lại chạy theo tăng trưởng,
nên liên tục tung tiền ra để đầu tư và chạy đua kêu gọi đầu tư từ nước ngoài,
không cần biết mình được gì mất gì. Đó mới là nguyên nhân sâu xa của lạm phát.
Như vậy theo cá nhân tôi thì lạm
phát của Việt Nam
là do cả hai phía. Phía cung tiền thì do việc chạy theo thành tích tăng trưởng
nên tung tiền đầu tư quá mức và quá sức[1] từ những năm trước nên việc
thắt chặt tiền tệ trong mấy tháng gần đây chưa có tác dụng nhiều. Và do việc
thắt chặt cũng như nới lỏng lãi suất không có trọng tâm dẫn đến phía cung (hàng
hoá) đã yếu càng yếu. Phía cung mà yếu thì không thể tạo ra mặt bằng giá mới
như mong đợi của một số chuyên gia.
Để hướng tới phát triển và ổn
định bền vững cần thiết phải tiến hành song song các biện pháp trước mắt và lâu
dài và có chủ đích rõ ràng.
Chú thích:
[1] Đầu tư hàng năm phải dựa
vào tích luỹ từ nội bộ nền kinh tế (saving), trong khi đầu tư hàng năm chiếm
trong GDP trên 40% nhưng tỷ lệ tích luỹ từ nội bộ ngày càng giảm, nếu không
tính lượng kiều hối thì ước tính đến năm 2010 tỷ lệ này chỉ trên 20% GDP.
SOURCE: BÁO SÀI GÒN TIẾP THỊ
Trích dẫn từ:
http://sgtt.vn/Goc-nhin/153192/Mot-goc-nhin-khac-ve-nguyen-nhan-lam-phat.html
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét