Trần văn Giang(st>)
Không hiểu cuốn sách “Người Trung
Quốc xấu xí” của Bá Dương được xuất bản cách đây gần hai chục năm có liên quan
gì đến sự phát triển mạnh mẽ của Trung Quốc hôm nay hay không? Tuy nhiên,
hình như có nhiều liên quan giữa sự can đảm nhìn nhận ra những yếu kém của
chính mình và sức vươn lên mạnh mẽ cho dân tộc.
Ở hòan cảnh Việt Nam, đã gần một
thế kỷ rồi, thế hệ cha ông của chúng ta cũng đã có rất nhiều người dám vạch
thẳng những tính xấu, những hủ tục của người Việt mình để biết mà sửa đổi. Nhìn
vào hiện tình đời sống xã hội, thậm chí nhìn vào bản thân mình cũng đã đây
nhiều cái thói hư tật xấu! Đến lúc này, thế hệ chúng ta, giữa những thay
đổi lớn lao của đất nước, giữa khát vọng phục hưng dân tộc… đây là một cơ hội
thật tốt để cùng nhau đọc lại những nhận định mà các vị tiền bối đã viết về
những nết xấu của người mình và rồi tự đặt câu hỏi cho bản thân và cộng đồng
của mình phải làm gì để ngày càng tốt hơn, hoàn thiện hơn hơn?
“Có lẽ ta đâu mãi thế này …”
(Nguyễn Công Trứ - “Quân tử cố
cùng”)
1- Chơi bời lãng phí
Trần Chánh Chiếu
(“Lục tỉnh tân văn,” năm 1907)
Theo tục ông bà để lại, hễ mãn
một năm thì ăn Tết một lần ấy cũng là phải. Sao tôi thấy hễ tới ngày ấy, ai ai
cũng đốt pháo, dựng nêu, treo bùa tứ tung ngũ hoành, đánh đáo đánh quần tới bảy
bữa, rồi nào me, nào lú (1), bài cào, xóc đĩa, tổ tôm đủ thứ. Thậm chí có ông
ăn Tết rồi thì bán nhà bán cửa, nợ réo trước nợ réo sau. Đã “bần nhược”
lại “đãi đọa” (2) vậy thì biết chừng nào mà giàu có như người ta đặng?
(1) Theo Huỳnh Tịnh Của, đánh me
là "gây ăn thua trong cuộc chơi tiền,” còn lú là "cuộc con nít dùng
tiền mà đánh đố.”
(2) Biếng nhác
2- Ở đâu cũng thấy học đòi làm
dáng
Hoa Bằng
(“Hiếu thượng,” Tri tân, năm 1943)
Cái hiếu thượng (1) của số đông
người mình đã lộ rõ ở từ ngôn ngữ đến cử chỉ, từ hành vi trong gia đình đến
động tác ngoài xã hội. Người ta chơi câu đối? Phần đông không phải
vì thích chữ tốt yêu văn hay nhưng vì muốn sĩ diện ở mấy cái lạc khoản (2) có
chức tước. Người ta in danh thiếp? Không phải vì cốt thông tính
danh tỏ địa chỉ, song hình như chỉ cốt trưng những chức sắc tước trật và phẩm
hàm. Người ta đăng cáo phó? Có lẽ ít vì cốt để báo tang, nhưng phần
nhiều cốt để lợi dụng cái chết của ông bà cha mẹ mà quảng cáo cái danh phận của
con cháu.
Cái bệnh hiếu thượng ấy truyền
nhiễm đến cả nữ giới làm cho lắm người cũng mắc lây. Một dạo ở xã hội ta
nổi lên cái phong trào “phi cao đẳng bất thành phu phụ.” Vì thế trong
cuộc hôn nhân đã xảy ra lắm chuyện buồn cười. Hoặc mượn văn bằng của
người khác để đưa nhà gái sát hạch lúc cầu hôn, hoặc giả làm nhà tòng sự (3)
suốt mấy tháng để nhà gái nếu có dò la vẫn thấy sớm vác ô đi tối vác về...
(1) thích hướng lên trên, tức
hiếu danh...
(2) tự đề tên họ chức tước ở một
góc câu đối.
(3) làm công chức.
3- Học vấn một đằng, công nghệ
một nẻo
Phan Kế Bính
(“Việt Nam phong tục,” năm 1915)
Tính người mình không biết quý
trọng công nghệ, người làm nghề tựa hồ như bất đắc dĩ không học được làm quan
chẳng lẽ ngồi khoanh tay chịu chết mới phải xoay ra làm nghề thôi. Mà làm
nghề thì không cần gì tinh xảo chỉ cốt bán rẻ tiền được nhiều người mua là hơn.
Công nghệ suy nhược lại còn là vì người có học thức không chịu làm, người
chịu làm thì lại là người không có học thức, chẳng qua chỉ theo lối cũ nghìn
năm xưa chớ không nghĩ được cách thức nào mới.
Ít năm nay, có trường bách công
dạy dỗ, có lắm lời tân học cổ động thì cũng đã tỉnh ngộ ra ít nhiều và cũng đã
có người sinh được nghề khéo, học được nghề mới tranh được lợi buôn bán.
Song cái tính khinh đường công nghệ thì vẫn chưa bỏ được. Có người nhờ
công nghệ mà nên giàu có song vẫn tự coi mình là đê tiện, phải mượn cái phẩm
ông Hàn ông Bá mới là vẻ vang.
4- Khéo tay mà trí không khôn
Phạm Quỳnh
(“Pháp du hành trình nhật ký,”
năm 1922)
Xét ra ở nước Nam ta mới có các
nghề mỹ nghệ là thịnh, phàm nghề khéo toàn là các nghề trang sức cả, còn mỹ
thuật thì chưa có gì sánh được với các nước, nhưng ngay trong mỹ nghệ cũng chưa
có kỷ luật, chưa có thể thống gì, chưa phân rõ các kiểu cách, các thời đại, các
lề lối, các phương pháp, thợ thuyền phần nhiều là những người vô học, phi quen
tay phóng lại lối cũ, thời bắt chước chép của người ngoài, thành ra tay có khéo
mà trí không khôn, không biết biến báo mà vẫn giữ được tinh thần cốt cách cũ ,
tồn cổ mà khéo ứng dụng về đường sinh hoạt mời, nói tóm lại là không có trí
sáng khởi (1) khôn ngoan, gây ra trong mỗi nghề một cái thể thức trang nghiêm
mà đặc biệt. Cho nên các nhà nghề ta không thể bằng cả ở cái tay khéo
được, cũng phải tập cho có cái trí khôn nữa.
Nay muốn gây lấy cái trí khôn
ngoan trong mỹ nghệ, khiến cho có tinh thần có thể thức, thời không gì bằng lập
ra một nhà bảo tàng mỹ nghệ, sưu tập lấy những đồ đẹp trong nước, chia ra từng
thời đại, bày cho có thống hệ (2), để cho những nhà nghề đến đấy mà xem, mà học
cho biết nghề mình duyên cách (3) thế nào, thể cách làm sao, rồi hoặc trông đấy
mà giữ lấy cái cốt cách tinh thần cũ, hoặc nhân đấy mà biển đổi dần
(1) bắt đầu dựng lên, ngày nay
hay viết là “sáng tạo.”
(2) quan hệ của những cái liên
tiếp. Cũng nghĩa như hệ thống.
(3) duyên (có khi đọc diên) ở đây
lá thủ cựu, cách là đổi mới. Duyên cách: Tình hình trong một khu vực nào đó cái
cũ thế nào, cái mới ra sao.
5- Thiếu tinh thần cầu học
Nguyễn Văn Tố
(theo Lê Thanh, “Cuộc phỏng vấn
các nhà văn,” năm 1943)
Phải nhận rằng người mình không
ham học mấy. Thí dụ như người đỗ bằng tốt nghiệp, có công ăn việc làm thì
thôi, không chịu học thêm. Tôi cho thế là nhầm lắm. Người ta dạy
cho bấy nhiêu là để cho mình tạm đủ sức mà học lấy, khi ở trường ra mắt là chỗ
khởi hành, mình lại tưởng đến nơi rồi. Nếu tôi được phép, tôi sẽ khuyên
anh em thanh niên học rõ nhiều, vừa đọc văn Tây, vừa học lại tiếng ta, vì phần
đông người ta mà viết văn ta còn sai nhiều.
6- Mô phỏng đã thành thói quen
Hoa Bằng
(“Phải có cái gì để làm đặc tính
của người mình chứ.” Tri tân, năm 1941)
Hết thảy mọi phương diện, chẳng
hạn, từ văn học tới nghệ thuật - chúng ta đều ăn của người, nhưng đã biết hóa
để làm của riêng của mình chưa?
Bình tĩnh mà xét, từ hình thức
đến tinh thần ta nay cũng có một đôi phần tiến. Nhưng cái óc mô phỏng hay
còn rõ sờ sờ trung hết thảy mọi mặt.
"Chúng ta phải làm con cháu
của cổ nhân chứ không nên làm nô lệ của cổ nhân.” Đối với cổ nhân ta nay
còn phải dè dặt thay, huống chi đối với gió bốn phương, há lại nên bạ chiều nào
che chiều ấy?!
7- Kiếp người bấp bênh văn chương
sầu não
Nguyễn Văn Huyên
(“Văn minh Việt Nam,” năm 1944)
Sự đơn điệu tẻ nhạt của cảnh sắc
thiên nhiên, tính chất chu kỳ của thiên tai, sự cách biệt của các nhóm người,
sự phân chia nam nữ, nền giáo dục khắc nghiệt và khô khan khiển người Việt
thiên về u buồn và sầu não.
Cá nhân bị giam hãm một cách chặt
chẽ và giả tạo trong những khuôn khổ cứng ngắc như gia đình và làng mạc đến nỗi
họ không quan niệm nổi họ có khả năng hành động một mình. Vì thế khi môi
trường chung quanh không còn giữ họ lại bằng những mối ràng buộc thông thường
mà lễ giáo quy định, người ta dễ đắm mình vào những bài hát buồn bã u sầu,
khiến mọi nỗ lực trí tuệ tiêu tán.
Nền văn hóa vốn thấm nhuần lòng
từ bi Phật giáo cũng góp thêm phần dồn nén các dục vọng cá nhân. Rồi quan niệm
siêu hình của đạo Lão khiển nhiều tác giả thiên về một cái nhìn bi quan sâu sắc
và một sự mỉa mai chua chát. Chinh phụ ngâm, Cung oán ngâm, Thu dạ lữ
hoài ngâm cũng như các tác phẩm của Trần Tế Xương, Trần Tuấn Khải, Nguyễn Khắc
Hiếu… chỉ là những tiếng vọng của nỗi đau nhân loại. Trong nhiều tác phẩm
khác, ta luôn luôn thấy cùng những đề tài giống nhau về nỗi đau khổ, ước mong
và hối tiếc, phản ảnh tất cả sự dồn nén tinh thần của cá nhân, hoặc gần như
vậy, sự sợ hãi muôn thuở của một kiếp người bấp bênh, một cuộc sống chật hẹp.
8- Một nền nghệ thuật thiếu tư
tưởng
Hoài Thanh
(“Có một nền văn hóa Việt Nam,” năm 1946)
Trong lịch sử ta biết bao thế hệ
nhà nho kế tiếp nhau mài miệt trong sách vở của thánh hiền mà nào có sáng tác
được gì đâu.
Ta không có một nền quốc học nếu
quốc học là học thuật riêng của nước. Trải qua mấy ngàn năm lịch sử ta cơ
hồ không có sáng tác gì về học thuật. Ấy cũng vì ta kém óc trừu tượng
khái quát, điều kiện căn bản để phát minh về tư tưởng.
Người phương Tây rất ngạc nhiên
thấy ta hôm qua chỉ biết có Tứ thư Ngũ kinh mà hôm nay bỗng tin theo những
thuyết rất mới mẻ, rất cấp tiến của khoa học hiện kim. Họ không biết rằng học
thuật tư tưởng không phải là những căn bản tinh thần của dân tộc ta. Tư
tưởng nào có lợi cho đời sống của dân tộc thì ta theo, nhưng một khi tình thế
đổi thay, tư tưởng ấy trở nên có hại cho đời sống chung, ta sẽ trút bỏ dễ dàng
không tiếc hối.
9- Đằng sau thói quen đẽo gọt là
sự nhu nhược
Phan Kế Bính
(“Việt Nam phong tục,” năm 1915)
Văn chương gọt từng tiếng khác
nào như người gọt củ thủy tiên, cái lá này bắt cho quăn, cài giò kia hãm cho
thấp trông thì hoa nở đều nhau đẹp đẽ nhưng động vào đã gãy, để chưa mấy ngày
đã úa. Cốt lấy cái khéo nhỏ nhặt làm mất đi cái khí mạnh, gọi là "nhu
nhược chi văn chương!"
10- Xu thế trang sức quá nặng
Đào Duy Anh
(“Việt Nam văn hóa sử cương,” năm 1938)
Nghệ thuật Việt Nam thường bị
bó buộc trong lề lối cổ. Phải tôn trọng những phép tắc xưa, cho nên nhà
nghệ tài giỏi mấy cũng chỉ phỏng lại những hình thức có sẵn cho khéo, chứ không
được theo tự ý mà sáng kiến những cách thức mới.
Nhà nghệ thuật Việt Nam không phải
là người biểu diễn ý chí tâm tình của mình, cũng không phải người quan sát và
biểu hiện tự nhiên mà chỉ là người giỗi bắt chước những kiểu mẫu sẵn. Có
muốn hơn người thì họ chỉ cốt ra tay cho khéo cốt làm cho thật tỉ mỉ, thật tinh
tế, thật dụng công, chỉ cốt xếp đặt các bộ phận cho xinh xắn lộng lẫy.
Tính chất đặc biệt của nghệ thuật
Việt Nam
là tính trang sức. Nó thiếu hẳn hoạt khí, vì cách biển hóa tuy lưu động
mà ở trong phạm vi hình thức, cách phối hợp tuy phiền phức mà ở trong phạm vi
thái độ chế kiểu.
11- Lối tính toán thiển cận
Lương Dũ Thúc
(“Nông cổ mím đàm,” năm 1901)
Cách đại thương (1) là có gan làm
giàu. Coi người ta phí (2) là bao nhiêu tiền bạc mà không sợ mất, là vì người
ta tiên liệu đại lợi, kể chi sự phí. Chớ như người bổn quốc ta, muốn cho
thấy trước mắt có lợi mới chịu làm. Nếu đem đại thương mà sánh với bán
hàng bông (3) thì bán hàng bông ắt thấy lợi trước mắt, hễ mua sớm mai thì chiều
thấy lợi, còn mua chiều sáng thấy, chớ như đại thương thì ít nữa là năm năm còn
nhiều hơn là mười năm mới thấy lợi. Song so lợi dễ thấy thì là lợi ít,
cái lợi mà lâu thấy thì thật lớn lắm.
Người nước nào đều có ngay gian
xấu tốt, họ không phải là tiên phật chi hơn mình, song họ làm rồi thì quen, còn
người mình không làm, nên cứ nghi hoặc hoài mà thôi.
(1) buôn bán lớn.
(2) bỏ tiền của ra sử dụng.
(3) bán hoa quả bông trái.
12- Mê tín gây nhiều lãng phí
Phan Kế Bính
(“Việt Nam phong tục,” năm 1915)
Lễ kỳ (1) an chủ ý là trừ khử ma
quỷ cho dân xã bình an. Ta lại tin theo Phật thuyết (2), bày ra vàng mã,
nào mũ Ngọc Hoàng, nào tượng Minh Vương, nào âm quan quỷ tốt, chiến khí binh
tiền được việc cũng cam, nhưng nào có được việc gì đâu, rút lại chỉ tại ta tin
nhảm.
(1) kỳ đây là cầu.
(2) theo tôi (Trần Văn Giang) Cụ Phan Kế Bính không đọc kỹ Phật thuyết (!) nên
hiểu lầm Phật gíao về vấn đề đốt vàng mã, mũ Ngọc Hoàng etc... Đốt vàng mã
không phải là sản phẩm của Phật gíáo mà là sản phẩm của mấy ông nhà Nho Trung
Hoa truyền sang Việt Nam
dướí thời Việt Nam
bị đô hộ. Một số các thầy "cúng," những người nầy không phải là các
Sư Tăng đạo Phật, vẫn còn dùng cái hủ tục mê tín dị đoan này vì nhiều người
Việt nẫn còn tin!
13- Không ai chuyên nhất việc gì
Tân Việt (*)
(“Mỗi người một việc” - Đông Pháp
thời báo, năm 1928)
Các nước phú cường, người nào làm
việc gì. Nhà khoa học lo cả đời phát minh, người làm giàu thì cứ việc làm
giàu. Còn nước ta thì không thế. Một người làm năm bảy việc, trong khi
làm bầu gánh hát bộ, lại có xuất bản một cuốn tiểu thuyết ái tình, lại có mở
một cửa hàng tạp hóa, ít lúc chi đó lại vọt xuống tàu sang Pháp làm chính trị.
Người ngoại quốc thấy vậy, cho
rằng chúng ta có lòng ham hố quá, hoặc cho rằng không có đức chuyên nhất, không
có tính nhẫn nại.
(*) Một bút danh mà Diệp Văn Kỳ
và Phan Khôi ký chung trên Đông Pháp thời báo 1928 (theo Lại Nguyên Ân). Nghe
giọng thì người viết ở đây có lẽ là Diệp Văn Kỳ(?)
14- Dễ dãi trong tiếp nhận nên
hỏng việc
Phạm Quỳnh
(“Giải nghĩa đồng hóa,” Nam
Phong, năm 1931)
Người An Nam vốn có cái thiên
tính dễ đồng hóa (1), dễ am hiểu, dễ thu nạp lấy những cái khác lạ với mình, dễ
đem những điều hay điều dở của người mà hóa (2) làm của mình, nhưng cái tài
đồng hóa đó thường thường chỉ là cái khóe tinh (3), biết xem xét và bắt chước
của người, chỉ phảng phất ở bề ngoài chứ không thấu triệt được đến chỗ căn để
(4) chỗ tinh túy.
Tỷ như thợ An Nam thì phóng chép
tài lắm, những hình dáng kỳ đến đâu, những kiểu cách lạ đến đâu, họ cũng bắt
chước được như hệt cả.
Học trò ta học rất mau, nhớ cũng
rất mau, nhưng chưa chắc đã hiểu thấu đã hóa được những cái người ta dạy mình.
Một người trí não khô cạn hay là
vì không được tiêm nhiễm những cái tinh hoa của nòi giống mà thành ra khó cạn
đi - một người như thế không thể không thể nào hiểu thấu được cái tinh thần của
Tây phương. Có đồng hóa chỉ đồng hóa được cái bề ngoài, chỉ bắt chước được cái
hình thức.
Cái cách đồng hóa dễ dàng thô
thiển đó thiết tưởng không phải là cái tính tốt, mà có thể cho là cái tính xấu
được. Chưa chắc cái học tiếp thu được dễ dàng như vậy đã làm cho óc được
khôn ra, người được chín ra chút nào.
Đồng hóa một cách cấp tốc, một
cách vô độ há chẳng phải là hại hơn lợi?
(1) tiếp nhận.
(2) biến cải
(3) ngón nghề, mánh lới.
(4) gốc rễ, cơ bản.
15- Quá tin ở những điều viển vông
Phan Bội Châu
(“Cao đẳng quốc dân,” năm 1928)
Mê tín sinh ra những việc nực
cười. Ngày giờ nào cũng là trời bầy định mà bảo rằng có ngày dữ ngày lành, núi
sông nào cũng là đất tự nhiên mà bảo rằng có đất tốt đất xấu, vì nấu ăn mới có
bếp mà bảo rằng có ông thần táo, vì che mưa gió mới có nhà mà bảo rằng có ông
thần nhà, cho đến thần cửa thần đường, thần cầu tài, thần cầu tử, trăm việc gì
cũng trông mong vào thần, kết quả thần chẳng thấy đâu, chỉ thấy những cửa nát
nhà tan, của mòn người hết, tin thần bao nhiêu thì tai họa bấy nhiêu...
16- Tầm thường hóa những giáo lý
sâu xa
Phan Kế Bính
(“Việt Nam phong tục,” năm 1915)
Phật giáo là một tôn giáo riêng,
cũng có lý tưởng. Mà lời thiện ác báo ứng cũng đủ khuyên răn người. Nhưng hiềm
ta không cứu (1) đến nguyên lý mà chỉ tin những lời trần hủ (2), sùng tín cái
vỏ xác ngoài còn cái lý cao xa của người ta, không mấy người nghĩ đến. Đã
không ích gì, mà làm hại của cải cũng chỉ bởi lòng tin sai vậy.
(1) xét đoán, tra hỏi.
(2) cũ kỹ, không hợp thời.
17- Vớ được sách nào theo sách ấy
Nguyễn Văn Vĩnh
(“Hương Sơn hành trình,” Đông
Dương Tạp chí, năm 1914)
Có kẻ sáng ngày ra vào phủ thờ bà
cô, ông mãnh nào, chiều lại vào làm tôi con ông Trần Hưng Đạo là thần hay trị
những tà ma, những ông hoàng bà chúa. Đến sáng hôm sau cũng người ấy có thể
chay lòng thực dạ mà nghe giảng những lời đạo đức của ông Khổng, ông này không
có dạy phải tin thờ ông thần ông thánh nào cả hoặc là đi lễ Phật là một đạo
trái hẳn với mọi ma thiêng thần dữ.
Nói rút lại, thì người An Nam ta
tin bậy hình như theo lý tưởng này: Dẫu không có mà tin cũng chẳng hề chi, ngộ
có mà không tin, có lẽ hại đến mình. Cho nên cứ tin liều đi.
Người ta theo lý tưởng ấy cho nên
sinh ra những đạo không có tôn chỉ, quy tắc pháp ở trong tay mấy anh sư mô,
thầy cúng, ngày nay làm theo sách này, ngày mai bịa ra sách khác, có ngược nhau
cũng chẳng ai bảo sao. Mà người tin, người tộc trưởng, người làm lễ tang lễ hỷ,
cũng cứ tùy bện mà theo, vớ được sách nào theo sách ấy, tùy cách lịch sự tùy
gia tư (1) mà theo lễ này hay lễ kia, chứ không theo tôn chỉ nào cả.
Còn như sự đi chùa Hương và các
chùa chiền khác, nhiều người cho như một cái tật của các cụ già và của người
đàn bà. Cũng có kẻ bảo là việc hay, cũng có người cho là việc dở. Hay là vì các
bà các cô đi lễ bái như thể nó cũng thêm được cái dáng đạo đức, cái nếp nhà ra
một chút. Dở là vì các bà ganh nhau tốn kém và mấy ông sư ông vả lại cũng
chưa quên hẳn sự đời.
(1) của cải, tài sản trong gia
đình.
18- Đời sống tôn giáo hời hợt
Nguyễn Văn Huyên
(“Hương Sơn hành trình,” Đông
Dương Tạp chí, năm 1914)
Mặc dù sự có mặt của vô số ma quỷ
và thần linh, người Việt vẫn có một đời sống tôn giáo không lấy gì làm sâu sắc
cho lắm. Người ta chỉ có những niềm tin mơ hồ về linh hồn, về sự sống ở
thế giới bên kia, về các thần. Một số lớn thần được định tính không rõ ràng và
thường thường là phi nhân cách. Không có sự giáo dục tôn giáo cụ thể, cũng như
không có sự tuyên truyền tôn giáo có tổ chức.
Mọi người chỉ cầu tới tôn giáo do
nhu cầu vật chất. Ở một số trường hợp, người ta tìm kiếm một kết quả
trước mắt như khỏi bệnh, có con, có tiền tài. Người ta cũng cầu thần để
cho đời sống một người đã khuất ở thế giới bên kia được dễ dàng, để thi đỗ, để
nhanh chóng trong một việc, để đi xa một chuyển được bình yên... Thường thường
trong ý thức dân gian, tôn giáo được quy lại chỉ còn là một lô thực hành thờ
cúng đã trở thành bắt buộc. Lễ nghi là tất cả, nó đôi khi bao gồm những
nghi thức rắc rối hoặc núp dưới một hình thức long trọng có tính cách bề ngoài.
Nguồn: ttntt.free.fr
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét