Vương Trí Nhàn
Trời sinh vua để làm vua
Và thi sĩ để làm thơ ru đời
Một ông vua trái luật trời
Việc vua thì nhác, lại đòi… làm thơ.
Trên đây là đoạn mở đầu của bài
thơ Nhà vua và nhà thơ của Tú Mỡ, in trên báo Ngày nay ở Hà
Nội năm 1939. Câu chuyện tiếp tục như sau: làm thơ xong, vua lại thích đưa cho
các cận thần đọc để kiếm lời khen. Một vị quan kiêm thi sĩ -- quan ngày
xưa người nào cũng làm thơ và thạo thơ -- mới nói toẹt ra rằng thứ thơ đó
chả ra gì.
Thế là vua cho ông ta vào nhà pha ( tiếng ngày xưa chỉ nhà tù ).
Sau vua có ý hối, cho người đến nói với nhà thi sĩ chân chính nọ là sẽ thả ông
ta ra, miễn ông ta nói rằng thơ vua hay. Tức là tiếp tục buộc ông ta nói dối.
Trong cảnh tù đày, ông này phải nghĩ một lúc. Tú Mỡ viết tiếp
Phân
vân bên tội bên tình
Nhà thơ tỏ vẻ bực mình băn khoăn
Cắn môi mắt nhíu mày nhăn
Trong đầu như nổi mấy lần phong ba
Ngập ngừng lời chẳng nói ra
Nói hư ? nói thực ? biết là làm sao?
Bài
thơ kết lại bằng hai câu bất ngờ:
Khổ
tâm thi sĩ cúi chào
Muôn tâu thần lại trở vào nhà pha
Tôi
thường nhớ tới bài thơ này của Tú Mỡ ( đúng hơn là một thứ vè vui vui ) để nhắc
mình một sự thực: là con người ngày xưa tốt quá.
Tôi tin không phải ở đây Tú Mỡ muốn nêu một tấm gương cốt dạy dỗ thiên hạ (
kiểu các đồng nghiệp của tôi thời nay).
Mà ông chỉ miêu tả một sự việc có thực, hơn nữa một sự việc điển
hình. Tức là người xưa phần lớn cư xử như viên
quan kiêm nhà sư ở đây đã làm.
Thế thì sao
lại bảo bài thơ có cái kết bất ngờ?
Đó
là đặt vào tâm lý của người hôm nay.
Vào những trường hợp tương tự, tôi ngờ phần lớn con người hôm nay sẽ cư
xử kiểu khác. Để khỏi vào nhà pha thì bảo làm gì cũng làm. Mà chẳng đợi đến
cuộc mặc cả cuối cùng; trước đó, bởi thừa biết rằng nếu khen vung cả lên sẽ thủ
lợi, người ta tranh nhau khen từ đầu cả rồi.
Nói tốt quá
còn chung chung. Cái chính là người xưa, hơn bù kém, tốt hơn so với con người
hôm nay.
Vả chăng
nhìn rộng ra thì thấy con người hồi ấy, cả giàu lẫn nghèo, cả ông to lẫn ông
nhỏ, chẳng những không nói dối nịnh bợ mà còn giữ được nhiều phẩm chất cao đẹp.
Tôi nhớ
tới nhiều trường hợp khác. Các nhân vật của Thạch Lam như mẹ Lê nghèo khổ, như
cô hàng xén đảm đang đều đồng thời là người tự trọng và cứng cỏi. Lão Hạc
của Nam Cao thì “trên cả tuyệt vời“, thà chết chứ không ăn vào vốn của
con cái.
Cũng liên quan đến Nam Cao là trường hợp của Chí Phèo. Trong một cuộc hội thảo,
một nhà nghiên cứu đã nhận định “ Chí Phèo tỉnh, Chí Phèo không say “. Bởi chỉ
một người sáng suốt trong giây phút hệ trọng của đời mình mới biết hỏi “ nhưng
ai cho tao lương thiện ?”
Xuân tóc đỏ thường
được xếp vào loại nhân vật loại xấu xa bậc nhất trong văn học tiền chiến. Nhưng
đọc kỹ thì thấy chính ra Xuân khá thông minh, lại chịu học hỏi để thích ứng với
thời đại. Và biết điều. Và tự trọng nữa: Lúc được Văn Minh hứa gả cô Tuyết,
Xuân nói thẳng cái nguồn gốc xuất thân hèn hạ của mình. Ở chỗ này Xuân tỏ ra
sòng phẳng, biết mình biết người!
Trở lên
chỉ là một vài phẩm chất mà con người ngày nay đánh mất.
Không khó khăn gì lắm để tìm ra lý do khiến chúng ta có nhiều thói xấu như vậy.
Trước hết là cuộc chiến tranh kéo quá dài. Trong Câu chuyện triết
học, phần viết về H.Spencer, W. Durant cho rằng “xã hội chiến tranh thường
ca ngợi một vài đức tính ( nguyên tắc ứng xử VTN ) và dung túng
những việc mà các dân tộc khác xem là có tội”.
Nếu nơi không chiến tranh, con người quảng đại và nhân đạo, thì nơi chiến tranh
kéo dài, người ta quen với cướp bóc, bạo lực, dối trá, vô cảm.
Đây là luật phổ biến song người Việt mình thường quên và tự cho mình cũng
như cuộc chiến tranh ở mình, là một ngoại lệ.
Con người hôm nay lao vào cuộc làm ăn kinh tế, mà thói quen sống kiểu
chiến tranh còn nguyên vẹn. Kinh tế thị trường rút lại được hiểu là thói cạnh
tranh không lành mạnh, nói nôm na là chúa đã chết, ai muốn làm gì thì làm.
Thành thử có xảy ra lộn xộn hỗn hào thì cũng là điều dễ hiểu.
Từ chỗ chăm chăm chửi bới kẻ giàu cho rằng kẻ giàu là xấu, nay người ta lao vào
làm giàu để rồi lãnh đủ những xấu xa bỉ ổi đó, và đưa cái ác lên một trình độ
hiện đại đáng sợ. Bảo suy thoái là vì thế.
Trong một cuốn sách mang tên Miền đất huyền ảo, có phụ đề Các dân tộc
miền núi nam Đông Dương ( tác giả Jacques Dournes, Nguyên Ngọc dịch,
NXB Hội nhà văn in năm 2003 ), ở trang 13, tôi đọc được một lời cảnh cáo:
Định mệnh
của con người là vươn tới tiến bộ; nhưng mọi sự tìm tòi sẽ là vô nghĩa và kết
quả sẽ là tai họa nếu vận động đó lại dẫn đến sự suy thoái về nhân cách. Có
nghĩa gì một sự tiến bộ kỹ thuật nếu nó giết chết tinh thần ?
Đã in TBKTSG 6-2008
In lại trong Những
chấn thương tâm lý hiện đại,2009
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét