Tác giả: HUỲNH
BỬU SƠN
Vấn đề nợ công
của Việt Nam,
bao gồm cả nợ vay nước ngoài lẫn nợ vay trong nước, cần được xem xét đầy đủ
trong mối quan hệ mật thiết với đầu tư công.
Theo số liệu
được công bố, nợ công hiện chiếm 54,6% GDP của Việt Nam (nợ nước ngoài chiếm
41,5% GDP, tương đương 50 tỉ USD) và cho đến năm 2015, con số này sẽ lên đến 60
- 65% GDP, một sự gia tăng mạnh mẽ cả về số tương đối lẫn số tuyệt đối. Các
quan chức Bộ Tài chính cũng như Bộ Kế hoạch và Đầu tư cho rằng so với
nhiều nước tỷ lệ này không cao, vẫn còn trong vòng kiểm soát. Nhưng một số đại
biểu Quốc hội lại nhận định rằng vấn đề nợ công đang trở nên rất nghiêm trọng
trong điều kiện cán cân thương mại nước ta liên tục khiếm hụt trong nhiều năm
và số nợ công hiện đang cao gấp nhiều lần dự trữ ngoại tệ của quốc gia. Đại
biểu Trương Trọng Nghĩa có lý khi kêu gọi cảnh giác về sự gia tăng của nợ công
và đề nghị cần cân nhắc xây dựng lại chỉ tiêu nợ công vì đối với nhiều nước
đang phát triển, nợ công chỉ cần trên 40% GDP đã đáng lo. Còn đại biểu Trần
Hoàng Ngân cho rằng: “Đến cuối năm 2011, nợ công Việt Nam ở mức 54,6% GDP, mức
này theo tôi là rất cao và cần có những cảnh báo, khi so sánh với các nước
trong khu vực - nợ công của Thái Lan là 44%, Indonesia là 39,7%, Philippines là
47,3%. Vậy mà tôi thấy còn nhiều ý kiến cho rằng nợ công Việt Nam vẫn ở mức
an toàn, vẫn đảm bảo an ninh tài chính”.
Thật ra, xem xét
vấn đề nợ công và đánh giá hiệu quả của việc đi vay nợ của Chính phủ cũng gần
giống như xem xét và đánh giá hiệu quả tín dụng của doanh nghiệp, không thể chỉ
nhìn vào con số tuyệt đối. Khi doanh nghiệp đi vay tiền mà làm ăn có hiệu quả,
có lợi nhuận thì có đi vay hàng chục tỉ đồng cũng tốt. Nhưng nếu doanh nghiệp
đi vay tiền mà làm ăn lỗ lã, không trả được nợ gốc và lãi vay thì 1 tỉ đồng
cũng là quá nhiều. Vay nợ không trả được không còn là vấn đề riêng của doanh
nghiệp. Gần đây, thế giới đã chứng kiến những trường hợp vỡ nợ quốc gia mà Hy
Lạp là một điển hình.
Vấn đề nợ công
của Việt Nam,
bao gồm cả nợ vay nước ngoài lẫn nợ vay trong nước, cần được xem xét đầy đủ
trong mối quan hệ mật thiết với đầu tư công. Nợ công sẽ không quá nặng nề khi
đầu tư công được cắt giảm hợp lý và có hiệu quả. Một số liệu do Bộ Tài chính
công bố cho thấy rằng trên 70% nguồn vốn ODA được sử dụng cho đầu tư công và
cung ứng vốn thực hiện các dự án sản xuất kinh doanh của các tập đoàn kinh tế
nhà nước. Điều đáng tiếc là khu vực kinh tế nhà nước làm ăn thường không hiệu
quả. Các số liệu thống kê chính thức cho biết rằng khu vực kinh tế nhà nước
chiếm 70% tổng vốn đầu tư quốc gia nhưng chỉ đóng góp khoảng 30% vào tổng sản
lượng quốc gia. Điều đó có nghĩa là các khu vực tư và khu vực đầu tư nước ngoài
chỉ sử dụng 30% vốn đầu tư quốc gia nhưng lại đóng góp đến 70% tổng sản lượng.
Hiệu quả sử dụng nguồn vốn của khu vực kinh tế nhà nước như vậy là bốn lần kém
hơn các khu vực kinh tế khác, năng suất lao động kém hơn và thu nhập lao động
bình quân cũng thấp hơn, trong khi khu vực này ngoài những ưu đãi mang tính
chính sách về nguồn vốn, về lãi suất còn được hưởng các đặc quyền, các ưu thế
kinh tế vượt trội mà các khu vực khác không có.

Đường cao tốc Hà
Nội - Hải Phòng được xây dựng theo phương thức đầu tư BOT . Ảnh Thanh Tùng
Mặt khác, tình
trạng lãng phí trong việc sử dụng đồng tiền vay nợ của đầu tư công càng ngày
càng đáng báo động. Nguồn vốn vay thường được đầu tư dàn trải cho nhiều ngành,
nhiều địa phương theo sự đòi hỏi không bao giờ đủ của họ trở nên mỏng và thiếu,
dẫn đến tình trạng phổ biến ở mọi ngành, mọi nơi là đầu tư dở dang, kéo dài, dự
án đầu tư chậm đưa vào hoạt động, chi phí đầu tư ngày càng tăng. Chỉ đơn cử một
vài dự án đầu tư xây dựng cầu đường, cảng sông… được báo Tuổi Trẻ ngày
25-10-2011 nêu ra tại TP. Hồ Chí Minh, Hà Nội và Cần Thơ, con số thiệt hại và
lãng phí đã lên đến hàng ngàn tỉ đồng. Nếu tính cho tất cả các dự án đầu tư
công trên cả nước, số thiệt hại và lãng phí về thời gian, tiền bạc sẽ là một
con số khó tưởng tượng. Đó là chưa kể đến hiện tượng tham nhũng đã xà xẻo nguồn
vốn đầu tư, đặc biệt là nguồn vốn ODA ở cả hai đầu: từ phía người đi vay lẫn
người cho vay. Nhiều chuyên gia kinh tế thế giới đã khuyên chính phủ các nước
đang phát triển cần thận trọng, cảnh giác và thể hiện tinh thần trách nhiệm cao
đối với việc vay vốn ODA. Tuy rằng ODA thể hiện thiện chí hỗ trợ phát triển của
nước cho vay và là một nguồn vốn dài hạn lãi suất thấp rất hấp dẫn đối với các
nước nghèo nhưng tấm huy chương ODA không phải không có mặt trái. Việc tiếp cận
nguồn vốn này không dễ dàng và luôn đi kèm với những điều kiện giải ngân nghiêm
ngặt, vừa kinh tế vừa chính trị. Lãi suất vay vốn ODA bề ngoài có vẻ thấp,
nhưng trên thực tế không thấp vì các điều kiện liên quan đến việc tiếp cận và
giải ngân nguồn vốn này làm phát sinh các chi phí phụ không hề nhỏ đối với nước
đi vay. Điều đáng nói hơn là các chương trình ODA từ những nước giàu với những
mục tiêu tốt đẹp và nhân đạo của chúng hiếm khi được thực thi một cách hiệu quả
bởi bộ máy hành chính nặng nề, đầy tính thư lại cùng những thủ tục rắc rối phức
tạp dễ dẫn đến những mối quan hệ tiêu cực và tham nhũng.
Nhiều thập niên
trước đây, khi đánh giá hiệu quả của các khoản viện trợ kinh tế không hoàn lại
từ Mỹ và một số nước công nghiệp phát triển cho các nước nghèo, nhiều nhà kinh
tế đã xác quyết rằng viện trợ không hoàn lại không hiệu quả bằng cho vay, lý do
được nêu ra là viện trợ không gắn với trách nhiệm trả nợ nên nước đi vay khi
tiếp nhận viện trợ đã không màng đến chuyện làm sao sử dụng viện trợ có hiệu
quả mà thường là lãng phí. Viện trợ không hoàn lại trở thành một mảnh đất màu
mỡ cho tham nhũng. Do đó, họ đề nghị các nước giàu nên sử dụng biện pháp cho
vay hỗ trợ phát triển và xem đó như một phương thức tài trợ hiệu quả hơn là
viện trợ không hoàn lại. Thực tế cho thấy các khoản cho vay từ các nước công
nghiệp phát triển không chắc mang đến hiệu quả tốt hơn là bao so với các khoản
viện trợ trước đây, nhưng chúng đã tạo thêm gánh nặng nợ nần ngày càng nặng hơn
cho các nước đang phát triển và trong nhiều trường hợp dẫn đến sự tùy thuộc
ngày càng nhiều hơn của các nước con nợ đối với các nước chủ nợ. Nhiều thập
niên ODA đã trôi qua, nhưng những trường hợp phát triển điển hình từ ODA không
nhiều. Những con hổ châu Á (Đài Loan,
Singapore,
Hongkong, Hàn Quốc) là những nền kinh tế phát triển chủ yếu từ nội lực của
chính họ. Nhưng có một thực tế khác không thể phủ nhận, là đối với người dân
nhiều nước đang phát triển, viện trợ không hoàn lại vẫn tốt hơn đi vay vì chí
ít con cháu họ ngày sau không phải mang oằn vai gánh nặng nợ nần mà thế hệ
trước đã để lại.
Nhưng nợ công
không phải chỉ mang lại những khoản đầu tư công lớn gây áp lực lạm phát cao đối
với nền kinh tế, có đối phần là những công trình xây dựng hạ tầng đã được hoàn
chỉnh hay còn dở dang. Dù sao, những công trình này vẫn là tài sản của nền kinh
tế quốc gia, góp phần cải thiện đời sống vật chất, tinh thần của người dân và
là bệ phóng cho tăng trưởng kinh tế. Còn một phần không nhỏ của nợ công được
cấp phát cho việc đầu tư sản xuất kinh doanh các sản phẩm, dịch vụ công của các
công ty quốc doanh. Trên thực tế, các kết quả thống kê và đánh giá phân tích
đều cho thấy rằng các hoạt động sản xuất kinh doanh của khu vực kinh tế Nhà
nước phần lớn không hiệu quả. Chỉ số ICOR ghi nhận trong khu vực kinh tế nhà
nước là 8, có nghĩa là khu vực này phải bỏ ra 8 đồng đầu tư (cũng có nghĩa là 8
đồng nợ) mới có được 1 đồng sản phẩm, cao gấp đôi khu vực kinh tế tư doanh. Mặt
khác, do năng suất kém đồng thời được hưởng độc quyền, giá cả của sản phẩm và
dịch vụ công thường rất cao trong khi các công ty quốc doanh lại thường xuyên
hoạt động lỗ lã và cần được bù lỗ từ ngân sách quốc gia. Hậu quả là người tiêu
dùng các sản phẩm dịch vụ công đó vừa phải trả một giá cao hơn, vừa phải trả
thuế nhiều hơn. Nói cách khác, chính người dân trong nước phải trả tiền cho sự
kém hiệu quả của đầu tư công, nhất là các doanh nghiệp nhà nước, đồng thời phải
trả thuế để trả nợ công. Chưa hết, việc ưu đãi nguồn vốn cho một vài ngành kinh
tế nhà nước có độc quyền còn đưa đến tình trạng cạnh tranh không cân sức đối
với các khu vực kinh tế khác, nhất là khu vực tư doanh, bằng cách lấy đi những
cơ hội phát triển sản xuất kinh doanh mà đáng lẽ ra họ đáng được hưởng. Những
cơ hội đó không những mang lại lợi ích cho doanh nghiệp, cho người lao động
trong nước mà còn đóng góp vào sự tăng trưởng kinh tế quốc gia. Như vậy, nợ
công nhiều, đầu tư công cao nhất là nguồn vốn cấp cho doanh nghiệp nhà nước
càng lớn, càng làm cho tính kém hiệu quả của nền kinh tế tăng lên, năng lực
cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam và nền kinh tế Việt Nam càng xuống thấp.
Trong báo cáo
trước Quốc hội, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã nhấn mạnh “Chính sách tài khóa
được điều hành theo hướng thắt chặt, tiết kiệm thêm 10% chi thường xuyên từ
ngân sách nhà nước, đồng thời rà soát, cắt giảm và sắp xếp lại đầu tư công...”.
Cắt giảm đầu tư công chắc chắn sẽ giúp giảm nợ công, một bước tiến quyết định
hướng đến mục tiêu cắt giảm bội chi ngân sách và giảm thuế. Cần thay thế nợ
công bằng những phương thức khác hiệu quả hơn như phương thức đầu tư BOT trong
lĩnh vực xây dựng hạ tầng. Đẩy mạnh thực hiện chương trình cổ phần hóa doanh
nghiệp nhà nước cũng sẽ làm giảm việc cấp vốn và bù lỗ, tiết kiệm ngân sách,
tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh, tăng cường năng suất lao động và năng lực
cạnh tranh của nền kinh tế quốc dân. Đó sẽ là những nỗ lực đúng đắn của Chính
phủ vì lợi ích chung của đất nước dân tộc, được mọi người mong đợi.
Theo Doanh nhân
Sài Gòn Cuối tuần
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét