Triết Lý, để làm gì ?

Khi ta bế tắc tư tưởng, chân thật công nhận rằng những kiến thức và phương pháp suy luận của ta không cho phép ta sống, tư duy và hành động khớp với khao khát làm người của ta, ngoài vô vàn cách ứng xử khác, ta có thể:

a) Tiếp tục sống, tư duy và hành động như cũ vì, dù sao, ta cũng sống được, không đến nỗi nào

b) Lột áo cũ, khoác áo mới, một tấm áo coi lành lặn đẹp đẽ hơn nhưng cũng hàm hồ không thua gì. Điều ấy luôn luôn khả thi bằng ngôn ngữ.

c) Đi tới cùng bế tắc của chính mình. Nếu không giải quyết được nó, ta ôm nó xuống suối vàng, để lại ở đời chỉ một câu hỏi. Câu hỏi của một con người. Đích thực. Có gì nhục đâu?

Nếu ta tưởng ta đã tìm ra một phần của giải pháp, ít nhất là cho riêng mình, thì cứ viết đi, chẳng cần trích cao nhân nào cả: họ đã là một phần của ta và ta đã phải “vượt” họ để nên mình.

Thế thôi.

(Chungta.com)

Góc nhỏ của Noby Vui Vẻ

Lục lọi, tìm tòi, đọc, cóp nhặt, chia sẻ, ... OK hay không tùy bạn ! ! !

“Nước độc lập mà dân chưa tự do thì độc lập cũng không có ý nghĩa”- Hồ Chí Minh.

30 thg 3, 2012

Ngụy biện vì ông Đinh La Thăng



Dành thời gian đọc, sau đó phân tích các lỗi ngụy biện ở một bài viết như bài “Kính thưa ‘quý cô cái gì cũng muốn’” của tác giả Hoàng Thắng trên Petro Times (http://www.baomoi.com/ Home/ AmNhac/ www.petrotimes.vn / Kinh-thua-quy-co-cai- gi-cung-muon/8162668.epi) là một việc có lẽ chỉ nên làm trong lúc rảnh quá. Tuy nhiên, xét thấy sự ngụy biện đang lan tràn trong tất cả các cuộc tranh luận trên mạng, trên không gian báo chí, không loại trừ cả không gian học thuật, nên tôi nghĩ việc chỉ ra các lỗi ngụy biện sơ đẳng trong bài viết này cũng là điều cần thiết. Bên cạnh các lỗi ngụy biện là một số sai sót về kỹ thuật viết báo, tôi cũng sẽ cố gắng chỉ ra một phần.

Xin lưu ý: Đây là bài viết phân tích về ngụy biện và báo chí, không nhận xét và không phán xét tác giả Hoàng Thắng.
* * *
1.

Trích: “Trong bài trả lời phỏng vấn của mình, ca sỹ Mỹ Linh cho rằng: Thuế chồng lên thuế, phí chồng lên phí, chất lượng công trình giao thông chưa tương xứng với những khoản tiền mà dân phải đóng… và cuối cùng là kết luận một câu xanh rờn “Đề xuất giải pháp đó, theo tôi, chứng tỏ anh Đinh La Thăng quá kém cỏi!”

Chỉ chờ có thế, các trang mạng đua nhau đăng lại bài phỏng vấn ca sỹ này với tiêu đề “Bắt dân đóng phí, anh Đinh La Thăng quá kém cỏi!” Đã không ít người tung hô cho bài phỏng vấn này của Mỹ Linh, đơn giản vì đó là lời nói của một người nổi tiếng. Tuy nhiên, để nói về hàm lượng kiến thức hay tư duy trong câu nói thì cũng chưa được nhiều cho lắm”.

Về khía cạnh nghiệp vụ báo chí, để đảm bảo tính khách quan, nhà báo không được sử dụng tính từ, phó từ, nhất là các tính từ và phó từ mang tính phán xét, nặng hơn nữa là có hàm ý miệt thị. Các động từ, nếu không đảm bảo trung tính, cũng không được dùng. Trong đoạn viết trên đây, tác giả Hoàng Thắng, ngược lại, đã sử dụng ít nhất ba từ không khách quan: “xanh rờn”, “đua nhau”, “tung hô”.

Suy luận “đơn giản vì đó là lời nói của một người nổi tiếng” là quá đơn giản. Người ta “tung hô” (nếu có) ý kiến của ca sĩ Mỹ Linh có thể còn vì nhiều nguyên nhân khác, như: cô ấy đẹp, cô ấy là dân thường (giống người ta) chứ không phải lãnh đạo, cô ấy là phụ nữ, cô ấy đã nói đúng điều người ta thích, v.v.

2.

Trích: “Mặc dù phát biểu văng mạng rằng “thuế chồng thuế, phí chồng phí” nhưng xin cam đoan là nữ ca sỹ sẽ chẳng thể nào chỉ ra nổi “phí chồng phí” ở đâu. Bởi đơn giản: Việc phân định có hay không chuyện “phí chồng phí” đang được các nhà hoạch định chính sách, các chuyên gia kinh tế tranh luận quyết liệt và chưa có hồi kết. Những phát ngôn của “người đẹp hát” cũng chỉ có thể là… nghe người ta nói thế thì biết thế thôi.

Còn kết luận phê phán kiến thức của Bộ trưởng Bộ GTVT “Bắt dân đóng phí chứng tỏ anh Đinh La Thăng kém cỏi” thì có lẽ là nên miễn bàn vì đơn giản: Tiến sỹ Đinh La Thăng cũng sẽ không bao giờ tranh cãi với ca sỹ Mỹ Linh về âm nhạc”.

Tác giả sử dụng các từ và lối diễn đạt sau đây: “văng mạng”, “phát ngôn của ‘người đẹp hát’”, “nghe người ta nói thế thì biết thế thôi”, “miễn bàn”… Về khía cạnh báo chí, lỗi lặp lại như ở trên: chủ quan, cảm tính, hàm ý miệt thị cá nhân. Có dấu hiệu của ngụy biện “tấn công cá nhân” với cách gọi Mỹ Linh là “người đẹp hát” trong ngoặc kép.

Với cách diễn đạt “miễn bàn về…”, tác giả phạm lỗi ngụy biện “Appeal to Ridicule”, tạm dịch là “Lố bịch hóa”, nghĩa là (chưa gì đã) chế nhạo ý kiến của người nói thay vì chỉ ra lỗi của người đó. Ví dụ (trích tài liệu của TS. Michael C. Labossiere, dự án Nizkor, 1995):

- Chắc chắn là đối thủ xứng đáng của tôi tuyên bố là chúng ta nên giảm bớt học phí rồi, nhưng điều này thật nực cười.

- Ủng hộ ERA à? Tất nhiên rồi, khi nào phụ nữ trả tiền đồ uống đã! Haha!

3.

Trích: “Cô ca sỹ còn đưa ra bằng chứng khá ngô nghê là “Ai bảo bắt cái ô tô oằn mình chịu đủ thứ thuế, thứ phí… là sẽ giúp giảm thiểu được tai nạn giao thông, khi mà đi xe máy ở Việt Nam mới là dễ bị tai nạn nhất! Chỉ mới cách đây hơn hai tuần thôi, vào đúng ngày 8/3, chị bạn tôi vừa mất một câu con trai 10 tuổi cũng vì hai bố con chở nhau đi xe máy, bị người ta quệt phải. Còn trước đó đi ôtô thì không sao, nhưng ô tô đã phải bán vì bố mẹ cháu không chịu nổi cơn tăng giá, phí.”

Lấy ví dụ thế thì chả hóa ra chỉ có đi ôtô như Mỹ Linh mới an toàn còn những người đi xe máy đều nguy hiểm cả. Chẳng lẽ an toàn giao thông chỉ là thứ người giàu người riêng hưởng?”.

Tương tự trên, tác giả dùng từ “ngô nghê” là vi phạm nguyên tắc báo chí, vì vừa chủ quan, vừa cảm tính, vừa miệt thị cá nhân.

Ở đây, nếu muốn phản bác Mỹ Linh, tác giả hoàn toàn có thể chỉ ra lỗi ngụy biện trong ý kiến của ca sĩ Mỹ Linh. Tuy nhiên, thay vì thế, tác giả đã đánh phủ đầu bằng miệt thị, chế nhạo, và vẫn không có cơ sở khoa học nào. Ý kiến của tác giả, do không được chứng minh, cho nên cũng không có lý hơn Mỹ Linh là bao nhiêu.

“Lấy ví dụ thế thì chả hóa ra chỉ có đi ôtô như Mỹ Linh mới an toàn còn những người đi xe máy đều nguy hiểm cả”. Thật ra thì, căn cứ vào lời được trích dẫn trên báo, thì ca sĩ Mỹ Linh không nói rằng CHỈ có đi ô-tô thì mới an toàn. Tác giả phạm hoặc là lỗi quy chụp, hoặc là lỗi trích dẫn. Một khi đã phạm lỗi quy chụp hoặc lỗi trích dẫn rồi thì các lập luận tiếp sau đó của người phạm lỗi không còn ý nghĩa nữa.

Tuy nhiên, ở đây cứ giả sử rằng chúng ta chấp nhận lỗi này của tác giả, giả sử rằng Mỹ Linh có ý cho rằng đi ô-tô an toàn hơn đi xe máy, thì Mỹ Linh vẫn đúng thay vì tác giả. Theo thống kê, tính trên 1 mile (dặm, tương đương 1,6 km), đi xe máy có nguy cơ gặp tai nạn cao hơn từ 30 đến 40 lần so với đi ô-tô. Còn khi tai nạn xảy ra, người đi xe máy có xác suất bị thương cao gấp 3 lần người đi ô-tô, và xác suất tử vong cao gấp 15 lần. Đây là các thống kê của US National Traffic Safety Board.

“Chả hóa ra chỉ có đi ô-tô như Mỹ Linh mới an toàn”. Đưa cụm từ “như Mỹ Linh” vào, tác giả đã phạm lỗi ngụy biện “Appeal to Spite”, tạm dịch là “gây thù chuốc oán”. Đây là ngụy biện theo đó, thay vì đưa bằng chứng cho thấy một người nào đó (Mỹ Linh) nói như vậy là sai, thì lại tìm cách làm cho người đó bị số đông ghét bỏ.

Tương tự, “Chẳng lẽ an toàn giao thông chỉ là thứ người giàu người riêng hưởng?”, cũng là lỗi ngụy biện “gây thù chuốc oán”.

4.

Trích: “Hàm lượng “chất xám” trong phát biểu của ca sỹ Mỹ Linh có lẽ cũng chỉ nên bàn đến thế. Cái cần bàn của chúng ta ở đây là thái độ xây dựng, cách phát ngôn của những “con người công chúng” với công việc chung, với lợi ích chung của cả xã hội.

Trong khi cả hệ thống chính trị, cả xã hội đang sôi sục để cùng chung lưng đấu cật tìm ra biện pháp tháo gỡ vướng mắc, giải bài toán ách tắc giao thông thì “người của công chúng” lại đăng đàn và phát ngôn một cách vô trách nhiệm như thế”.

“Hàm lượng “chất xám” trong phát biểu của ca sỹ Mỹ Linh có lẽ cũng chỉ nên bàn đến thế”: chủ quan, cảm tính, miệt thị, xúc phạm cá nhân.

“Trong khi cả hệ thống chính trị, cả xã hội đang sôi sục để cùng chung lưng đấu cật tìm ra biện pháp tháo gỡ vướng mắc, giải bài toán ách tắc giao thông thì “người của công chúng” lại đăng đàn và phát ngôn một cách vô trách nhiệm như thế”. Tác giả phạm các lỗi ngụy biện sau đây:

- gây thù chuốc oán (Appeal to Ridicule), đã phân tích ở trên

- có dấu hiệu của ngụy biện “viện đến tình cảm của số đông” (Appeal to Emotion): “trong khi cả hệ thống chính trị, cả xã hội đang sôi sục…”. Sở dĩ mới là “có dấu hiệu”, vì ngụy biện này của tác giả, ngay cả khi được sử dụng, vẫn không có hiệu quả. Trong khi cả hệ thống chính trị, cả xã hội đang sôi sục để cùng chung lưng đấu cật tìm ra biện pháp… thì Mỹ Linh cũng vậy, cô ấy cũng đang góp một tiếng nói trong cái hệ thống chính trị và cái xã hội đó, cho dù nó có vô trách nhiệm (như tác giả đã miệt thị một cách ngụy biện, thiếu căn cứ) hay không.

- đe dọa (Appeal to Fear): Đây là kiểu ngụy biện trong đó thay vì lập luận, đưa ra bằng chứng cho thấy Mỹ Linh sai thì lại có hàm ý đe dọa: Tất cả mọi người đều đang như thế này mà cô lại như thế kia à?

- “sức ép về bằng chứng” (Burden of Proof): Ví dụ của ngụy biện này như sau: “Theo tôi, chắc chắn là có ma. Vì sao à? Thì anh thử chứng minh xem? Đấy, anh không chứng minh được là không có ma. Như vậy tức là có ma”.

Ở đây, tác giả cũng đẩy sức ép về bằng chứng sang cho ca sĩ Mỹ Linh: Cô có biện pháp tháo gỡ vướng mắc, giải bài toán ách tắc giao thông không mà cô dám lên tiếng?

5.

Trích: “Ngay sau khi cô ca sỹ này đăng đàn vài ngày, tại cuộc họp của Thành ủy Hà Nội bàn về vấn đề chống ùn tắc, Bí thư Thành ủy Hà Nội Phạm Quang Nghị tâm sự “Gia đình tôi đã hạn chế đi xe cá nhân để giảm ùn tắc”. Sự gương mẫu của Bí thư Phạm Quang Nghị hẳn sẽ là một tấm gương lớn cho nhiều người noi theo.

Ông cho rằng: “Nhiều cá nhân khi bị đụng chạm quyền lợi thì phản ứng gay gắt. Bỏ ra cả tỉ đồng mua xe thì không công khai rằng tiền từ đâu ra, trong khi đóng vài triệu xây dựng đường thì phản ứng”.

Lỗi nghiệp vụ báo chí: “Sự gương mẫu của Bí thư Phạm Quang Nghị hẳn sẽ là một tấm gương lớn cho nhiều người noi theo” là một cách viết suy diễn, chủ quan, cảm tính (chưa nói đến sự thiếu công bằng, và dụng ý xu nịnh).

Ngụy biện “Appeal to Authority”, tạm dịch là “viện dẫn thẩm quyền”: Đây là cách viện dẫn ý kiến của một người thực ra không phải là nhân vật chính đáng để có thể được trích dẫn. Phía trên bài, tác giả có ý cho rằng Mỹ Linh, với tư cách ca sĩ, không xứng đáng để nói về chính sách thu thuế và phí của Bộ trưởng GTVT Đinh La Thăng. (Trong khi thực ra Mỹ Linh hoàn toàn có thể phát biểu với tư cách một người dân có sở hữu ô-tô, và sử dụng ô-tô để tham gia giao thông). Vậy ở đây, ông Phạm Quang Nghị – với các chuyên ngành ông từng học là lịch sử và triết học trường Nguyễn Ái Quốc – có phải là nhân vật xứng đáng hơn Mỹ Linh để được tác giả viện dẫn, muốn số đông phải noi theo?

6.

Trích: “Nữ ca sỹ Mỹ Linh: Nhà rộng 1,3 hecta, hai vợ chồng mỗi người một chiếc xe hơi. Đấy là chưa kể xe của Mỹ Linh là xe Mitsubishi Grandis có 7 chỗ ngồi. Như vậy là một mình nữ ca sỹ mỗi khi ra đường đã chiếm diện tích bằng 4 người đi xe máy. Hẳn nữ ca sỹ cũng muốn đóng phí cho “đỡ ngại” với mọi người!

Tôi cũng xin cược rằng: Ca sỹ Mỹ Linh với son phấn, váy vóc xúng xính, quần áo thời trang chắc hẳn sẽ hiếm khi dám rời xế hộp vủa mình để leo lên xe bus, chung tay góp phần giảm ách tắc giao thông như Bộ trưởng Thăng. Đơn giản thôi, xế hộp có, lên xe bus làm gì, vừa đông người vừa… hỏng váy!”.

Ngụy biện “gây thù chuốc oán” được sử dụng triệt để. Bên cạnh đó là ngụy biện “tấn công cá nhân” (Personal Attack), một loại lỗi ngụy biện kinh khủng bởi vì nó rất… vô học.

7.

“Chuyện Mỹ Linh đăng đàn khen chê cũng nhắc chúng ta nhớ lại một cái bệnh rất xấu mà truyền thông đang mắc phải: Khi nhà nước cần lấy ý kiến về một vấn đề gì đó thì không ít người nhảy vào chê bai một cách thiếu khách quan, không mang tính xây dựng:

Lấy ý kiến về công trình xây dựng thì hỏi ý kiến… nhà thơ.

Lấy ý kiến về việc bắt buộc đội mũ bảo hiểm thì hỏi… nhà văn hóa.

Lấy ý kiến về chính sách giao thông, các kỹ sư còn chưa kịp nói gì thì ca sỹ, nghệ sỹ đã… lên tiếng ầm ầm”.

Nếu bàn ra ngoài văn bản thì có thể đồng ý với tác giả phần nào, tuy nhiên, xét trên văn bản, đây là những đoạn viết chủ quan, cảm tính, miệt thị, không bằng chứng.

8.

Trích: “Ai cũng thừa nhận rằng: bất cứ một cuộc đại phẫu nào cũng phải chịu đau, trong cuộc sống muốn có được thứ này thì phải hi sinh thứ khác, muốn đạt được cái đại cục thì phải hi sinh cái tiểu tiết. Còn nếu muốn cái gì cũng được, chắc phải lên… thiên đàng – thông minh và xinh đẹp như Mỹ Linh, chắc sẽ hiểu điều đó!

Người dân yêu mến Bộ trưởng Đinh La Thăng vì ông là con người hành động. Không lẽ giờ Bộ trưởng phải “nằm im thở khẽ”, đừng đụng chạm đến quyền lợi của ai thì mới làm cho nữ ca sỹ hài lòng!”.

Xin nhắc lại một đoạn ở trên: Ở đây có lỗi nghiệp vụ báo chí: “Người dân yêu mến Bộ trưởng Đinh La Thăng vì ông là con người hành động” là một cách viết suy diễn, chủ quan, cảm tính (chưa nói đến sự thiếu công bằng, và dụng ý xu nịnh).

Ngụy biện “gây thù chuốc oán” được sử dụng triệt để. Bên cạnh đó là ngụy biện “tấn công cá nhân” (Personal Attack), một loại lỗi ngụy biện kinh khủng bởi vì nó rất… vô học.

Đoan Trang



P/S: Mình đang học nghiệp vụ báo, đọc những bài phân tích thế này, rút ra được nhiều bài học hơn. 

29 thg 3, 2012

Đừng kêu lương thấp, vì đơn giản nó không thể cao hơn được nữa ...

Tôi không muốn viết dài, bởi khả năng và bởi nhiều thứ... 
Lương cơ bản của công chức Việt Nam thấp, và chính vì nó thấp nên dẫn đến muôn vàn các hình thức để các công chức kiếm thêm thu nhập cho mình. Trường học thì dạy thêm, bệnh viện thì phong bì, chính quyền thì tham nhũng, và nó mở ra một "đường dây" chạy việc, cũng là một các kiếm thêm nữa, vân và vân... 
Vậy nguyên do đâu mà tình trạng này cứ kéo dài mà ngày một trầm trọng. 
Trước khi nói đến nguyên nhân, tôi muốn nhắc đến những người được hưởng lương nhà nước là những người nằm trong biên chế nhà nước - tạm bỏ qua những người đang làm nhà nước nhưng chưa vào được biên chế - và lương của họ thì dĩ nhiên, được lấy từ thuế của nhân dân, từ thu nhập GDP hàng năm. 
Nước Mỹ họ có GDP là hơn 14.000 tỷ đô la mỹ năm 2008, mà chỉ phải trả lương cho công chức nhà nước, tức những người nằm trong chính quyền. Không có tổ chức, đảng phái nào hết. 
Còn ở ta, thì những công chức được biên chế và tuyển dụng vào các cơ quan sau được hưởng lương: 


- Đảng Cộng sản Việt Nam
- Cơ quan Nhà nước
- Tổ chức chính trị – xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện
- Cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân Việt Nam mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng
- Cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân Việt Nam mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp
- Trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam
- Trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Nhà nước
- Trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Nhà nước tổ chức chính trị – xã hội.

Tức là bộ máy công chức hưởng lương nhà nước của ta rất nhiều, trong khi GDP của nước ta là hơn 106 tỷ đô la mỹ ( theo ngân hàng thế giới - 2010). 
Vậy sao mà lương không thấp cho được. 
Thế cho nên nếu kêu lương thấp, đừng kêu, vì nó sẽ không thể cao lên được khi mà phải cõng trên vai cả một bộ máy công chức kềnh càng như vậy. 
Có mấy điều nho nhỏ để lương công chức cao lên. 
Một là, các tổ chức chính trị xã hội, phải là tổ chức dân sự nằm trong một xã hội dân sự. Không cần nhà nước bao cấp. 
Hai là, Đảng không nên lấy tiền nhà nước trả lương, trừ những quan chức nằm trong chính quyền. 
Ba là, giảm bớt các chức vụ không cần thiết. 


Khẩu hiệu chống ùn tắc giao thông...

Ảnh: Facebook Binh Nhì. 
Ảnh chụp tại đường Giảng Võ, Hà Nội 

Hoan hô bác La Thăng và Kim Tiến giao lưu và hợp tác (giao hợp) với nhau.... 

Lời kêu gọi giúp đỡ của Kỹ sư Vi Toàn Nghĩa


Kỹ sư Vi Toàn Nghĩa. Ảnh: KHX. 

ĐƠN KÊU GỌI GIÚP ĐỠ KHẨN CẤP
Tôi: Vi Toàn Nghĩa - công dân nước CHXHCN Việt Nam xin thông báo khẩn cấp đến các hãng truyền thông trong và ngoài nước.
        Tính mạng tôi đang bị đe dọa. Vừa qua - trong một vụ án mà tôi là người bị hại - việc công an đã làm sai quy trình điều tra ( Tôi sẽ gửi lên mạng tất cả tài liệu).
        Tôi có thư kiến nghị lên Ông Thiếu tướng - Giám đốc Công an Tỉnh Lạng Sơn: Trần Đăng Yến. Tôi gửi vào lúc 11h00 ngày 28/3/2012, nhưng thật bất ngờ chỉ hôm sau (Tức hôm nay ngày 29/3/2012 lúc 12h trưa) tôi nhận được điện thoại đòi gặp và dọa giết tôi. 
        Đơn tôi gửi đúng chỗ tin cậy - đó là công an. Sao người dọa giết tôi không quen biết. Vậy hỏi khẩn cấp rằng: Công an có liên kết với thế lực ngoài? Thiếu tướng Yến có biết không? Tại sao những bí mật của một vụ án lại bị lộ ra ngoài? dân còn trông vào đâu hỡi các ông.
        Tôi sẽ cùng Đại biểu Quốc hội đơn vị Lạng Sơn làm việc này - có bác Lê Hiền Đức cùng giúp đỡ.Tôi sẽ có công văn chính thức.
        Sự việc rất khẩn cấp mong các hãng truyền thông hãy đăng thông báo này. Tôi có trách nhiệm trình bày vụ án ngay sau đây.
                                                                       Người kêu gọi giúp đỡ


                                                                         Kĩ sư Vi Toàn Nghĩa
ĐT: 0433653899.

Số điện thoại người thụ lý vụ án: 0978789045

Đồn CA  thụ lý: 0253820222

HÃY GIÚP TÔI LÀ GIÚP 90 TRIỆU DÂN VIỆT NAM.
TÔI XIN CHỊU HOÀN TOÀN TRÁCH NHIỆM THÔNG TIN CUNG CẤP.

THẾ GIỚI ƠI ! HÃY CÔNG NHẬN - DÂN VIỆT NAM CŨNG LÀ NHỮNG CON NGƯỜI.
Đề nghị DLB đăng luôn - công bố mối hiểm họa của tôi tôi không sợ chết - nhưng báo trước thế này để thế giới hiểu được người dân VIỆT NAM đang ở trong tình trạng nào- CÓ PHẢI 90 TRIỆU CON LỢN TRONG CHUỒNG - NUÔI BÉO CON NÀO SẼ XUẤT CON ĐẤY.


HỌ ĐANG CHĂM DÂN NHƯ VẬT NUÔI TRONG CHUỒNG CỦA HỌ.

Về chuyện xe cộ và giao thông...





Về chuyện hạn chế phương tiện cá nhân, Chính phủ tính thu phí với mục đích hạn chế xe, tức là làm cho người dân vì đi xe tốn nhiều tiền quá mà chuyển sang đi bộ hoặc xe bus, trong khi đó xe bus thì quá nhiều bất tiện và nhiều vấn đề... 
Chính phủ cũng nói rằng thu phí để làm đường, sửa đường. Vậy bao nhiêu thuế của dân đã thu không đủ để làm đường, hay công trình đường xá nào cũng bị cắt xén. 
Và mục đích là giảm thiểu tắc đường. Xin thưa rằng, cho dù có chuyển hết các trường đại học ra ngoại thành, chắc gì đã hết được tắc đường. Bệnh viện thì không thể chuyển hết rồi. người dân vẫn có nhu cầu đi lại trong nội thành. rồi buôn bán, rồi mưu sinh. Cái chuyện đổi giờ vừa rồi cho thấy ảnh hưởng đến người dân rất nhiều... mà hiệu quả thì không có gì cả. 

Quyền lực - Bertrand Russell - Phần 10


Chương XI. TỔ CHỨC DƯỚI NHÃN QUAN SINH VẬT HỌC



    Cho tới nay chúng ta đã xét những tình cảm vốn là nguồn gốc tâm lý quan trọng nhất của quyền lực truyền thống, nhất là sự kính trọng tăng sĩ và vua chúa, sự sợ hãi và tham vọng cá nhân, nguồn gốc của bạo lực; sự lấy một tín niệm mới thay cho tín niệm cũ, nguồn gốc của quyền lực cách mạng; và những ảnh hưởng qua lại giữa các tín niệm và các nguồn gốc khác của quyền lực. Giờ đây chúng ta xét đến một khía cạnh mới của vấn đề: sự nghiên cứu những tổ chức từ đó quyền lực xuất phát. Chúng ta sẽ coi những tổ chức là những cơ quan có đời sống riêng, rồi xét tới chúng trong tương quan với những hình thức quản trị của chúng, và sau hết là ảnh hưởng của chúng đối với những cá nhân nằm trong tổ chức. Trong phần này chúng ta sẽ cố gắng hết sức không nói đến mục đích của tổ chức: cách nói khác, chúng ta sẽ xét đến con người theo nhãn quan cơ thể học và sinh hóa học.

    Chúng ta nhận thấy một tổ chức cũng là một cơ quan có đời sống riêng, có khuynh hướng tăng trưởng và suy tàn. Sự cạnh tranh của các tổ chức tương đương với sự cạnh tranh của thú vật, của thảo mộc, và có thể giải thích ít nhiều theo thuyết Darwin. Nhưng đừng đưa sự tương tự này đi xa quá, nó có thể gợi ý và soi sáng nhưng không dùng để chứng minh được. Thí dụ chúng ta chẳng thể cho rằng không tổ chức xã hội nào tránh được suy tàn.

    Quyền lực tùy thuộc ở tổ chức trong phần chính yếu nhưng không hoàn toàn. Quyền lực thuần túy tâm lý như của Plato hay Galileo có thể hiện hữu mà không có định chế xã hội tương xứng nào. Nhưng thường thì một quyền lực như thế không quan trọng trừ khi nó được truyền bá bởi một giáo hội, một đảng chính trị hay một cơ quan xã hội tương tự nào đó. Trong phần này tôi sẽ bỏ qua quyền lực nào không có liên quan đến tổ chức.

    Một tổ chức là một nhóm người liên kết với nhau bởi những hoạt động hướng đến các mục tiêu chung. Tổ chức có thể có tính cách hoàn toàn tự nguyện như một hội ái hữu; có thể là một nhóm sinh lý tự nhiên như một gia đình hay một dòng họ; có tính cách cưỡng chế, như một quốc gia; hay có thể là một hỗn hợp phức tạp như một công ty hỏa xa. Mục đích của tổ chức có thể hiển nhiên hay ẩn tàng, ý thức hay vô thức; mục đích của tổ chức có thể là quân sự hay chính trị, kinh tế hay tôn giáo, giáo dục hay thể  thao…

    Mỗi tổ chức, bất kể tính chất hay mục đích, bao hàm sự tái phân quyền lực. Phải có một ban quản trị để đưa ra những quyết định nhân danh cả tổ chức, và có quyền lực hơn các phần tử, để đạt tới những mục đích, vốn là lý do hiện hữu của tổ chức. Những lợi ích của việc kết hợp càng rõ ràng hơn vì con người ngày càng trở nên văn minh và kỹ thuật càng ngày trở nên phức tạp hơn. Những sự kết hợp luôn luôn bao hàm sự mất độc lập; chúng ta có thể có nhiều quyền lực đối với kẻ khác, nhưng họ cũng có quyền đối với những kẻ khác, nhưng họ cũng có quyền lực đối với chúng ta. Càng ngày những quyết định quan trọng càng trở nên là của tập thể, không phải của các cá nhân đơn lẻ. Và những quyết định của các tập thể, ngoại trừ đối với những tập thể ít nhân số, chỉ có thể đạt tới qua những ban quản trị. Như vậy vai trò của quản trị trong đời sống một cộng đồng văn minh tân tiến lớn trong những xã hội tiền kỹ nghệ nhiều.

    Ngay cả một ban quản trị hoàn toàn dân chủ - giả thiết như thế - cũng bao hàm sự tái phân quyền lực. Nếu mỗi người có tiếng nói đồng đều trong các quyết định chung, và giả thiết có một triệu đoàn viên, mỗi người có một phần triệu quyền lực chung của một triệu đoàn viên, thay vì anh ta chỉ có quyền đối với chính mình và không có quyền lực nào đối với người khác, như anh ta sẽ có nếu anh ta là một con vật cô đơn. Tâm lý của một cộng đồng đoàn ngũ hóa không giống như một nhóm cá nhân vô chính phủ. Và thường bao giờ cũng vậy, ở đâu sự quản trị không hoàn toàn dân chủ, ảnh hưởng tâm lý sẽ gia tăng. Những đoàn viên trong ban quản trị sẽ có nhiều quyền lực hơn các người khác, ngay cả trong trường hợp họ được bầu lên một cách dân chủ, và điêù này được đúng với những viên chức  được một chính phủ dân chủ bổ nhiệm. Tổ chức càng lớn thì quyền lực của ban tổ chức càng nhiều. Như vậy khi tổ chức càng mở rộng, những bất bình đẳng về quyền lực càng sâu sắc hơn vì một mặt sự độc lập của các đoàn viên thường bị thu hẹp, một mặt quyền hành động của ban quản trị gia tăng. Một người thường tuân phục vì họp đoàn sẽ làm nhiều việc hơn là đứng riêng rẽ. Và người ham muốn quyền lực mạnh mẽ vui mừng vì có cơ hội tốt  – trừ trường hợp mà chính phủ hình thành do thế tập, hay là cá nhân ham muốn quyền lực này thuộc vào một nhóm bị kỳ thị (trường hợp người Do Thái tại nhiều quốc gia).

    Sự cạnh tranh để đạt tới quyền lực có hai loại: sự cạnh tranh giữa các tổ chức, và sự dành quyền lãnh đạo giữa các cá nhân cùng ở một tổ chức. Sự cạnh tranh giữa các tổ chức chỉ xảy ra khi những tổ chức có những đối tượng giống nhau ít nhiều, nhưng không dung hòa; sự cạnh tranh có thể trong lĩnh vực kinh tế, hay quân sự hay bằng tuyên truyền, hay gồm tất cả các phương thế này. Khi Napoléon III tìm cách tự phong Hoàng đế, ông ta phải tạo nên một tổ chức để phục vụ quyền lợi riêng, và giữ tổ chức này ở vị thế ưu thắng. Để đạt tới mục đích này ông cho một số người xì gà đây là biện pháp kinh tế, ông cho một số người khác biết ông là cháu Napoléon - biện pháp tuyên truyền. Sau hết ông bắn một số địch thủ - biện pháp quân sự[1]. Trong khi đó các địch thủ của ông chỉ ca ngợi thể chế Cộng hòa và không màng đến xì gà và coi thường súng đạn. Kỹ thuật biến đổi nền dân chủ thành độc tài đã thông dụng từ thời Hi Lạp, và luôn luôn có hối lộ, tuyên truyền và bạo động. Tuy nhiên đây không phải là đề tài chương sách này. Chúng ta trở lại việc nghiên cứu tổ chức dưới nhãn quan sinh vật học.

    Các tổ chức khác nhau về hai khía cạnh quan trọng: kích thước và mật độ của quyền lực, tạm gọi thế vì ta muốn nói mức kiểm soát các đoàn viên. Do sự yêu thích quyền lực thường thấy nơi các viên chức quan trọng trong chính quyền, mỗi tổ chức sẽ gia tăng về kích thước và mật độ của quyền lực trong trường hợp không có phản động lực nào. Những nguyên nhân nội tại có thể làm ngưng cả hai sự tăng trưởng trên. Thí dụ một hội chơi cờ quốc tế có thể gồm đủ các cao thủ, và chỉ lưu ý đến tài đánh cờ của các hội viên mà bỏ qua những hoạt động khác. Một viên thư ký đắc lực có giúp hội truyền bá hiệu quả thú chơi cờ, song điều này khó xảy ra nếu ta muốn viên thư ký giỏi chơi cờ, và nếu điều này có tới, những cao thủ có thể bỏ đi làm hội tan rã. Nhưng đây chỉ là những trường hợp bất thường, chừng nào mục tiêu của tổ chức có đủ hấp lực đối với mọi người, thí dụ sự giàu sang hay quyền lực chính trị sự tăng trưởng kích thước chỉ có thể bị ngừng lại vì áp lực của các tổ chức khác, hay vì chính tổ chức sắp trở nên bao trùm thế giới, và chỉ có lòng ham muốn độc lập quá mạnh mới làm ngưng được sự gia tăng mật độ quyền lực.

    Quốc gia là một thí dụ hiển nhiên nhất. Mỗi quốc gia đều nghĩ đến việc chinh phục nước ngoài khi đủ mạnh, những thí dụ trái ngược xảy ra khi một quốc gia tự biết mình không thực mạnh do kinh nghiệm, hay không tự biết sức mạnh vì thiếu kinh nghiệm. Luật chung là một quốc gia phải chinh phục đến đâu hay đến đó, và chỉ ngưng lại khi tới một biên giới có áp lực của một hay nhiều quốc gia khác cũng hùng mạnh chẳng kém. Anh quốc không xâm lăng A Phú Hãn vì ở đó Nga cũng mạnh như Anh, Napoléon bán Louisiana cho Mỹ vì không đủ sức mạnh bảo vệ miếng đất xa xôi này. Nói về những động lực nội tại mỗi quốc gia có khuynh hướng bao trùm thế giới. Nhưng quyền lực của một quốc gia ít nhiều bị chi phối bởi hoàn cảnh địa lý: nó thường tỏ ra từ một trung tâm điểm, càng ra xa càng yếu đi. Vì vậy, ở một khoảng cách nào đó nó tính từ trung tâm, quyền lực của một quốc gia cân bằng với một quyền lực của một quố gia khác. Chỗ này là biên giới, trừ khi có sự can thiệp của truyền thống.

    Những điều vừa nói quá trừu tượng nên ta cần thay đổi chút ít cho phù hợp với thực tế. Những quốc gia nhỏ bé tồn tại không phải do thực lực của chúng mà vì các cường quốc tranh ăn nhau. Thí dụ xưa Bỉ quốc tồn tại vì Anh và Pháp muốn vậy. Bồ Đào Nha có những thuộc địa lớn vì những đại cường không biết chia phần ra sao. Không phải mỗi lúc, lại gây chiến với một quốc gia nhỏ có thể giữ được đất lâu dài. Các lực lượng nhỏ bé rút cục cũng không ngăn được quyền lực tàn bạo hoành hành.

    Người ta thể viện Mỹ quốc là trường hợp ngoại lệ. Rõ ràng Mỹ có thể chinh phục Mễ Tây Cơ và toàn thể Châu Mỹ La Tinh không khó khăn gì lắm. Tuy nhiên có nhiều lý do đi ngược lại cuộc xâm lăng. Trước cuộc nội chiến, các tiểu bang miền Nam đã chiếm được một lãnh thổ rộng lớn nhờ chiến tranh với Mễ Tây Cơ. Sau cuộc Nội Chiến, nhân lực và tài lực quốc gia bị thu hút vào công cuộc khai khẩn và phát trển kinh tế miền Tây. Ngay sau khi miền Tây tạm ổn, khuynh hướng đế quốc đã làm chiến tranh Mỹ - Tây Ban Nha bộc phát vào năm 1898. Nhưng sau việc sáp nhập đất đai mang lại nhiều bất tiện cho Hiến Pháp Hoa Kỳ: có thêm cử tri và vùng thương mại tự do nội địa mở rộng, điều này không có lợi về phương diện kinh tế. Người ta quay về lý thuyết Monreo cổ vũ sự bảo hộ Mỹ Châu La Tinh. Cuộc chinh phục chính trị chắc chắn xảy ra nếu có lợi về phương diện kinh tế.

    Những kẻ cai trị luôn tìm cách gia tăng sự tập trung quyền lực trong lĩnh vực chính trị còn những kẻ bị trị thì chống lại. Sự tập trung quyền lực hoàn toàn ở các nước đế quốc thời cổ hơn trong một chế độ độc tài nhất hiện thời, nhưng trong thực tế, những điều kiện kỹ thuật giới hạn sự tập trung này. Chẳng hạn di động tính là vấn đề khẩn thiết của các vua chúa thời xưa. Ở Ai Cập và Balylonia có nhiều công lớn, nhưng sự thịnh vượng của đế quốc Ba Tư tùy thuộc ở đường bộ. Sử gia Herodotus đã mô tả con đường hoàng gia vĩ  đại dài 1500 dặm từ Sardis đến Susa; thời kỳ có các kỵ mã đưa thư, thời loạn là đường chuyển quân cho binh đội hoàng gia. Ông nói: “Dọc theo con đường có rất nhiều trạm và những khách điếm tuyệt hảo dành cho các đoàn du hành, con đường xuyên qua những vùng hoang vu, an toàn… Rời Phrygia ta phải vượt qua Halys. Một lực lượng mạnh trấn giữ nơi này … Ta phải dùng thuyền vượt qua dòng Euphrates, biên giới ngăn cách Cilia và Armenia. Ở Armenia có 15 trạm nghỉ, trên một lộ trình khoảng 180 dặm. Có một nơi có lính canh. Trong vùng có bốn dòng suối lớn phải vượt qua bằng thuyền… Tổng cộng các trạm lên tới 111” Ông tiếp tục: “Phải mất đúng 90 ngày mới đi hết với tốc độ 159 furlong một ngày (khoảng tốc độ của một quan đội)”[2].

    Một con đường như vậy đã giúp đế quốc bao la tồn tại, nhưng nhà vua không kiểm soát được trấn xa kỹ lưỡng. Một kỵ mã có thể mang tin từ Sardis đến Susa trong một tháng nhưng đạo quân phải mất ba tháng trời. Khi dân Ionian nỗi loạn chống Ba Tư họ biết sẽ được thảnh thơi ít tháng mới phải đánh nhau với binh đội không ở sẵn ở Tiểu Á. Mọi đế quốc cổ đều phải dẹp loạn, nhiều khi do các trấn thủ (provincial governors), và ngay cả khi không có nổi loạn thật sự, quyền tự trị địa phương không tránh được trừ khi cuộc chinh phục còn mới mẻ, và với thời gian, tự trị sẽ đưa tới độc lập. Khó mà cai trị nếu thiếu phương tiện di chuyển mau chóng.

    Những người Ba Tư, rồi Macedonian đã dạy Đế quốc La Mã cách tăng cường chính quyền trung ương bằng đường xá. Những xứ giả Hoàng gia có thể vượt trung bình mười dặm một giờ ngày đêm suốt vùng Tây Âu, Nam Âu, Bắc Âu và Tây Á. Nhưng vị chỉ huy quân sự kiểm soát trạm tại mỗi tỉnh nên ông ta có thể cho quân của mình di chuyển mà người ngoài không biết được. Sự nhanh chóng của các binh đoàn và sự chậm trễ tin tức thường làm lợi cho các kẻ phản loạn chống đối Hoàng Đế ở La Mã. Kể lại cuộc chuyển quân của Constantine từ Bắc Gaul xâm lăng Ý Đại Lợi, sử gia Gibbon làm nổi bật sự dễ dàng của Constantine so với khó khăn của Hannibal như sau:

    “Khi Hannibal đưa quân từ Gaul vào Ý, trước tiên ông ta phải khám phá, rồi mở một con đường qua núi non và qua vùng của những bộ lạc dã man chưa từng cho bất cứ quân đội chính quy nào vượt qua. Lúc bấy giờ vùng núi Alps do thiên nhiên phòng vệ. Bây giời người ta dùng nghệ thuật chiến tranh để lập đồn lũy kiên cố. Nhưng trong những giai đoạn chuyển tiếp sau này các viên tướng đi qua ít khi gặp khó khăn nào. Vào thời Constantine, những người dân miền núi là những kẻ đã văn minh và thần phục, vùng quê đầy lương thực và các con đường La Mã xây ngang dãy Alps mở nhiều trục giao thông nối Gaul và Ý Đại Lợi. Constantine thích con đường Cottian Alps, nay là núi Cenis, và chuyển quân nhanh chóng đến nổi tới đồng bằng Piedmont trước khi triều đình Maxentius ở La Mã nhận được tin tình báo xác nhận ông đã khởi hành từ sông Rhine”

    Kết quả là Maxentius thua trận và Thiên Chúa giáo trở nên quốc giáo. Bộ mặt thế giới có thể khác nếu người La Mã có đường xấu hơn hay một phương pháp truyền tin mau chóng hơn.

    Trong thời đại hiện đại các chính phủ có thể hành xử quyền hành tới những vùng xa xôi nhờ tàu thủy, tàu hỏa và máy bay. Bây giờ ta có thể dẹp tan một cuộc nổi loạn ở Sahara hay Mesopotamia trong vòng vài giờ; trong khi một trăm năm trước đây phải mất nhiều tháng mới đưa quân đội đến được, chưa kể đến vấn đề nước uống khó khăn, như trường hợp binh sĩ của Alexander chết khát ở Baluchistan.

     Sự truyền tin nhanh chóng cũng có tầm mức quan trọng như di động tính của nhân sự và hàng hóa. Trong cuộc chiến tranh năm 1812 trận New Orlcans xảy ra sau khi hòa bình ký kết, cả hai bên không hay biết chi cả. Vào cuộc chiến bảy năm quân đội Anh chiếm được Cuba và Phi Luật Tân nhưng các nước Châu Âu chỉ biết sau khi hòa bình được ký kết. Trước khi phát minh ra điện tín các đại sứ thời bình và tướng lãnh thời chiến phải tự mình hành động vì những chỉ thị cho họ không thể đề cập đến những biến cố mới nhất. Những phái viên (agent) của một nhóm chính phủ ở xa thường phải hành động theo phán đoán riêng, và như vậy có quyền nhiều hơn ta tưởng.

    Sự truyền tin nhanh chóng quan trọng, mà sự kiện đưa tin đi nhanh hơn người còn quan trọng hơn. Cho tới cách đây hơn 100 năm một chút, không có gì nhanh hơn ngựa được. Một tên cướp có thể trốn vào thành phố lân cận trước khi người ta được nghe tin tức về tội ác của hắn. Bây giờ vì tin tới trước, việc lẩn trốn khó khăn hơn. Vào thời chiến chính phủ kiểm soát mọi phương tiện giao thông nhanh chóng và nhờ vậy quyền lực gia tăng.

    Kỹ thuật hiện đại, nhờ đó ta có thể truyền tin mau chóng, và sử dụng đường xe lửa, điện tín, xe cộ và tuyên truyền chính quyền, khiến các đế quốc ổn định hơn thời xưa. Các satraps Ba Tư và Tổng đốc La Mã có thể nỗi loạn dễ dàng vì mức độc lập cao. Khi Alexander chết đế quốc của ông tan rã. Nhưng đế quốc của Atrila và Jenghis Khan không bền vững, và các dân tộc Âu Châu mất hầu hết thuộc địa ở Tân Thế giới. Nhưng ngày nay nhờ kỹ thuật hiện đại phần lớn đế quốc khá an ninh trừ trường hợp bị ngoại xâm, và cách mạng chỉ có thể xảy ra khi một quốc gia bại trận.

    Ta phải để ý rằng những nguyên do kỹ thuật không hoàn toàn giúp sự hành xử quyền hành của nhà nước ở nơi xa dễ hơn, về một vài khía cạnh chúng có tác dụng trái ngược.

    Binh đội của Hannibal tồn tại trong nhiều năm mà không cần giao tiếp với bên ngoài trong khi một đạo quân hiện đại lớn không sống hai ba ngày trong những hoàn cảnh tương tự. Khi chỉ sử dụng các tàu buồm, các đội Hải quân có thể hành động ở khắp thế giới, hiện nay, vì chúng phải tái tiếp tế nhiên liệu luôn luôn chúng không thể hoạt động quá lâu xa căn cứ. Vào thời Nelson, nếu Anh quốc làm chủ mặt biển một vùng; sẽ làm chủ khắp nơi; hiện nay, dù Anh quốc làm chủ hải phận của mình, lực lượng họ yếu ở Viễn Đông và không dám lai vãng đến bể Baltic.

    Tuy nhiên, lệ chung là hành xử quyền hành ở những điểm xa trung tâm hiện nay dễ hơn xưa. Kết quả là sự gia tăng cường độ cạnh tranh giữa các quốc gia.

    Xét về phương diện kỹ thuật một quốc gia toàn cầu có thể tạo dựng được mà chủ nhân ông sẽ là kẻ chiến thắng trong một trận thế chiến quan trọng hay quốc gia trung lập hùng mạnh nhất.

    Những câu hỏi liên quan tới mật độ của quyền lực rất phức tạp và quan trọng. Ở những quốc gia văn minh hiện nay, Nhà nước hiếu động hơn thời trước rất nhiều. Nhà nước tham dự vào hầu hết lãnh vực hoạt động như ở Nga, Đức và Ý chẳng hạn. Vì con người yêu chuộng quyền lực và bình thường mà nói, những người tạo được quyền lực càn ham quyền lực hơn, chúng ta thấy trong hoàn cảnh bình thường những người kiểm soát guồng máy Nhà nước thường muốn gia tăng những hoạt động quốc nội (internal activities) cũng như mở rộng lãnh thổ (solid reasons) để gia tăng những nhiệm vụ của Nhà Nước, người dân thường như đã được sửa soạn để tuân theo những ý muốn của chính phủ trong phạm vi này. Tuy nhiên, con người hẳn vẫn muốn độc lập mà tinh thần này có lúc đủ mạnh để ngăn chận sự gia tăng mật độ của tổ chức dù chỉ tạm thời thôi. Kết quả là lòng yêu độc lập của người dân và lòng yêu quyền lực của viên chức chính quyền sẽ tương đương nhau khi tổ chức đã đạt tới trình độ khả quan, cho nên nếu tổ chức gia tăng thì lòng yêu độc lập mạnh hơn và nếu tổ chức suy giảm lòng yêu quyền lực mạnh hơn.

    Trong hầu hết trường hợp lòng yêu độc lập không phải là ghét bỏ mơ hồ sự can thiệp bên ngoài, nhưng là chán ghét một hình thức kiểm soát nào đó của chính quyền – chẳng hạn như ngăn cấm, quân dịch, sự đồng loạt về tôn giáo v.v… Một đôi khi những tình cảm này có thể dần dần gạt bỏ bằng tuyên truyền và giáo dục, vì chúng làm suy yếu ý hướng mưu tìm sự độc lập cá nhân. Nhiều động lực liên kết để tạo nên hiện tượng đồng loạt trong những cộng đồng hiện nay; nhà trường, báo chí, điện ảnh, phát thanh, luyện tập (drill) v.v… Mật độ dân số cũng đem tới hậu quả này. Tình trạng thăng bằng tạm thời giữa tình cảm độc lập và lòng yêu quyền lực đang nghiêng dần về phía quyền lực trong đời sống hiện nay, đưa đến khuynh hướng tạo dựng những chế độ độc tài. Giáo dục có thể làm suy yếu lòng yêu độc lập đến mức độ khó lường nổi. Không thể biết mức độ nhà nước gia tăng từ quyền lực nội bộ đến đâu thì có nổi loạn; nhưng chúng ta tin là với thời gian nó có thể gia tăng vượt xa mức hiện thời của những quốc gia độc trị (autoratre) nhất.

    Những tổ chức không phải là nhà nước cũng tuân theo những luật chúng ta vừa xét, ta cần lưu ý là những tổ chức này không thể dùng sức mạnh. Tôi không xét những tổ chức như hội ái hữu vì chúng không bao hàm sự thôi thúc của quyền lực. Những tổ chức quan trọng nhất ở đây là đảng chính trị, giáo hội và các tổ hợp kinh doanh. Đa số giáo hội nhằm đến toàn thế giới kể cả những giáo hội không đáng kể; các giáo hội cũng muốn can dự vào những nhiệm vụ riêng tư nhất của tín đồ, như hôn nhân và việc giáo dục con cái. Khi nào có thể được, các giáo hội chiếm hữu cả những nhiệm vụ của nhà nước ở Tây Tạng và lãnh địa thánh Phê-rô và ít nhiều ở khắp Đông Âu cho đến thời Cải cách (the Reformation). Trừ ra một vài trường hợp, tham vọng của các giáo hội chỉ bị giới hạn bởi sự thiếu cơ hội, và sự sợ hãi những cuộc nổi loạn dưới hình thức tà giáo hay ly khai. Tuy nhiên chủ nghĩa quốc gia đã giảm thiểu rất nhiều quyền lực của các giáo hội tại nhiều nước và nhiều tình cảm khi xưa có lối thoát ở tôn giáo thì nay được nhà nước giải tỏa (1.tr.206). Sự giảm thiểu sức mạnh của tôn giáo một phần là nguyên do, một phần là hậu quả của chủ nghĩa quốc gia và sức mạnh gia tăng của các quốc gia có chủ quyền.

    Mãi cho đến gần đây các đảng chính trị là những tổ chức rất lỏng lẻo không cố gắng là bao trong việc kiểm soát các hoạt động của đoàn viên. Suốt thế kỷ 19 các dân biểu nhiều khi bỏ phiếu chống lại các lãnh tụ đảng nên ta khó mà tiên liệu được các hành vi chính trị của họ. Các chính trị gia Walpole, North và Pitt (the younger Pitt) dùng tiền bạc kiểm soát các ngươi ủng hộ; nhưng sau khi tiền bạc không còn dồi dào và chính trị hãy còn tính cách trưởng giả các chính quyền lãnh tụ các đảng vô phương gây áp lực hữu hiệu. Hiện nay nhất là trong đảng Lao Động Anh, các đảng viên tuyên thệ theo đúng đường lối chính thống và kẻ nào bội hứa coi như sự nghiệp chám dứt và phải hao tài tốn của. Người ta đòi hỏi hai loại trung thành: sự trung thành với chương trình, trong ý kiến phát biểu; và sự trung thành với lãnh tụ, trong các hành xử hằng ngày. Chương trình được quyết định theo lề lối bề ngoài có vẻ dân chủ, nhưng thực ra do ảnh hưởng của một thiểu số những kẻ giật dây. Quyền quyết định, là của các lãnh tụ với những hoạt động ở nghị trường hay trong chính quyền. Nếu họ quyết định không thi hành, bổn phận của các người theo họ là bỏ phiếu chấp thuận, trong khi luôn luôn rêu rao trong các diễn từ là chương trình đã được thực thi nghiêm chỉnh. Chính hệ thống này giúp các lãnh tụ coi rẻ các đảng viên thường (rank-and-file supporters) và hô hào những cải cách mà không thi hành gì cả.

    Nhưng mặc dầu mật độ tổ chức trong các đảng chính trị đã gia tăng nhiều, những đảng dân chủ thua xa các đảng Cộng sản; Phát xít và quốc xã. Dưới nhãn quan lịch sử và tâm lý, các đảng sau này không phải là thối thân của đảng chính trị mà là của hội kín. Dưới một chế độ độc tôn, những người muốn cải cách triệt để phải lui vào bí mật, và khi họ hoạt động chung với nhau, sự lo sợ bị phản bội đưa tới kỷ luật rất chặt chẽ. Phải có một lối sống rất đặc biệt mới ít bị gián điệp phát giác. Sư nguy hiểm, sự bí mật, sự đau khổ hiện tại và lòng hi vọng chiến thắng tương lai tạo nên một lòng nhiệt thành cuồng tín, và hấp những kẻ có khuynh hướng nồng nhiệt. Vì lẽ đó trong một hội kín cách mạng, ngay cả khi hội này có mục đích tạo nên tình trạng vô chính phủ, lề lối sinh hoạt của hội rất ư là khắc nghiệt và nhất cử nhất động đều bị dòm ngó, xét nét. Sau khi Napoléon bại trận, Ý Đại Lợi có rất nhiều hội kín, một số theo lý thuyết cách mạng, một số tham gia những hoạt động tội ác. Ở Nga Sô khủng bố gia tăng. Cả những người Cộng Sản Nga và phát xít Ý thấm nhuần sâu xa tâm thức hội kín, và các đảng viên quốc xã được rập khuôn y hệt. Khi các lãnh tụ của họ nắm được chính quyền, họ cai trị quốc gia với cùng một tinh thần như khi điều hành đảng. Và người ta đòi các người theo họ phải phục tùng triệt để.

    Sự gia tăng kích thước của các tổ chức kinh tế đã gợi cho Marx những ý niệm của ông ta về động học lực quyền lực (the dynamics of power). Phần lớn những điều ông nói đã được chứng minh, nhưng những điều này đúng cho tất cả mọi tổ chức giúp giải tỏa được sự thúc đẩy của quyền chứ không chỉ cho các tổ chức kinh tế. Về tổ chức sản xuất chúng ta sẽ thấy xuất hiện nhiều tổ hợp của một cường quốc và các chư hầu, nhưng chúng ta sẽ ít thấy những tổ hợp toàn cầu (worldwide trust) ngoại trừ trong khu vực sản xuất vũ khí. Kinh doanh lớn liên kết chặt chẽ với Nhà nước vì hàng rào quan thuế (tariffs) và các thuộc địa. Sự xâm lăng trong lĩnh vực kinh tế tùy thuộc vào sức mạnh quân sự của quốc gia gốc tổ hợp. Đã hết thời cạnh tranh kinh tế thuần túy. Tương quan giữa đại kinh doanh và Nhà nước chặt chẽ và rõ ràng ở Ý và Đức hơn trong các nước dân chủ, nhưng chúng ta không thể cho rằng đại kinh doanh dưới chế độ Phát xít kiểm soát Nhà nước (chi phối) nhiều hơn ở các quốc gia Anh, Pháp hay Mỹ. Trái lại ở Ý và Đức, Nhà Nước đã đưa ra chiêu bài chống cộng sản phá hoại để nắm lấy toàn quyền kiển soát đại kinh doanh cũng như mọi lĩnh vực khác, thí dụ ở Ý, tư bản bị kiểm soát chặt chẽ trong khi thế lực tư bản đã bóp ngẹt một biện pháp tương tự nhẹ hơn do đảng Lao động Anh đưa ra.

    Khi hai tổ chức với những mục tiêu khác biệt nhưng không xung khắc kết hợp lại, chúng ta sẽ có một tổ chức mới mạnh hơn cả hai tổ chức cũ. Trước chiến tranh tàu Đại Bắc (Great Northern) chạy từ Luân Đôn đến York, tàu Đại Đông (North Eastern) từ York đến Newcastle, và Bắc Anh (North British) từ Newcastle đến Edinburgh, nay thì tàu xuyên dương (Liner) chạy mọi lộ trình và rõ ràng mạnh hơn cả ba công ty xưa hợp lại. tương tự như vậy trong toàn ngành kỹ thuật thép sẽ có lợi nhiều hơn nếu một tổ hợp duy nhất điều khiển mọi công việc liên quan đến thép, từ giai đoạn khai quặng đến đóng tàu. Vậy khuynh hướng tự nhiên là tiến tới kết hợp (combination), và sự kiện này vượt qua khỏi cả lĩnh vực kinh tế nữa. Theo tiến trình tự nhiên, tổ chức mạnh nhất, thường là nhà nước, phải nắm tất cả mọi tổ chức lẻ tẻ khác. Như vậy rồi chúng ta sẽ thấy Quốc Gia Toàn Cầu được thành lập, nếu như mục đích của các quốc gia không xung khắc nhau. Nếu mục đích của quốc gia là giàu có, sức khỏe, thông thái hay hạnh phúc của công dân, thì sẽ không có xung khắc, nhưng vì những mục tiêu này, xét riêng và chung, không được coi quan trọng ngang nhau với quyền lực quốc gia, những mục tiêu của các quốc gia xung đột với nhau, và kết hợp thành một khối duy nhất chỉ làm tình hìn them trầm trọng. Như vậy Quốc Gia Toàn Cầu chỉ có được nếu có quốc gia nào chinh phục được thế giới, hoặc là khi toàn thế giới chấp nhận một tín niệm siêu quốc gia như chủ nghĩa xã hội cộng sản.

    Một quốc gia không tăng trưởng quá một giới hạn nào đó vì chủ nghĩa quốc gia, chính trị đảng phái và tôn giáo cũng có giới hạn nào thôi. Tôi đã gắng sức nghiên cứu các tổ chức như là chúng có một đời sốn biệt lập với mục đích của chúng. Chúng ta cần để ý là có thể nghiên cứu theo đường lối này đến một mức độ nào đó thôi. Quá mức này, chúng ta còn phải xét tới đam mê mà tổ chức kêu gọi tới.

    Chúng ta có thể coi các ham muốn của cá nhân xếp thành nhóm, mỗi nhóm gọi là một tình cảm (sentiment). Nhưng tình cảm quan trọng về phương diện chín trị gồm có lòng yêu quê hương, gia đình, xứ sở, lòng yêu quyền lực, lòng yêu hưởng thụ v.v… còn phải kể những tình cảm ghét bỏ, thí dụ như lòng sợ đau đớn, lười biếng, ghét người ngoại quốc, sự thù ghét các tín niệm xa lạ v.v… Vào bất cứ lúc nào, những tình cảm của con người là sản phẩm phức tạp của bản tính anh ta, quá khứ và những hoàn cảnh hiện tại. Môt tình cảm mà mọi người thích cảm thấy chung với người khác hơn là riêng rẽ, sẽ tạo ra một tổ chức hay nhiều tổ chức hỗ trợ họ, nếu có cơ hội. Lấy ví dụ tình gia đình (family sentiment) đã làm phát sinh nhiều tổ chức lo về nhà ở, giáo dục, bảo hiểm nhân mạng – những gia đình thấy quyền lợi của họ được bảo đảm bởi nhữn tổ chứ trên. Nhưng gia đình cũng tạo ra những tổ chức phục vụ quyền lợi của một gia đình chống lại những gia đình khác (gia đình họ Montague và Capulet). Nhà Nước thế tập (dynastic) là một tổ chức loại này. Quý tộc là những tổ chức tạo nên đặc quyền cho một số gia đình song làm thiệt hại đến cộng đồng. Những tổ chức như vậy luôn luôn bao hàm những tình cảm sợ, ghét, khinh v.v… Khi những tình cảm này mạnh mẽ quá, chúng gây trở ngại cho sự tăng trưởng của tổ chức.

    Chúng ta hãy tìm một vài trường hợp trong lịch sử tôn giáo. Ngoại trừ ở một vài thế kỷ vào đầu kỷ nguyên Ky tô Giáo (Christian era), người Do Thái không hề muốn cải giáo những người ngoại (Gentiles); họ hài lòng được là Dân chọn (chosen People). Thần đạo khó hấp dẫn người ngoại quốc vì theo đạo này thì Nhật Bản có trước mọi nước khác. Mọi người biết truyện Auld Lichts khi tới Thiên Đàng, bị ngăn không cho gặp các người khác đã ở đó vì người ta sợ hắn sẽ phá đám họ. Ta có thể thấy tình cảm này trong một hìn thức thê thảm hơn: kẻ bách hại thấy công việc của mình thích thú đến độ hắn không sao chịu được một thế giới không có kẻ điên rồ. vậy Hitle và Mussoloni vốn đã cho rằng chiến tranh là hành động cao quý nhất, sẽ không vui khi đã chinh phục xong toàn thế giới vì lúc đó không còn kẻ thù nào khác để chiến đấu. Cũng vì lý do tương tự, chính trị đảng phái sẽ hết hào hứng ngay khi có một đảng nắm được một ưu thế hiển nhiên.

    Như vậy, một tổ chức dùng những chiêu bài như lòng kiêu hãnh, ghen ghét (envy), thù ghét, khinh khi hay thú vị ganh đua[3] để hấp dẫn cá nhân khó mà còn hấp lực nếu nó trở nên bao trùm toàn cầu.

    Trong thế giới đầy tham sân si hiện nay, một tổ chức sẽ tan rã khi lan tràn toàn cầu, vì nó đã mất nguyên động lực (motive force).

    Chúng ta đã tìm hiểu tình cảm của các đoàn viên thường trong các tổ chức hơn là của các chính quyền (governments) hay ban chỉ huy (ban quản trị). Bất kể mục đích của một tổ chức là gì đi nữa, ban quản trị của nó thấy thích thú được có quyền lực và không cảm nghĩ giống như các đoàn viên thường. Ban quản trị có ý muốn chinh phục thế giới mạnh hơn các đoàn viên.

    Tuy nhiên có một sự khác biệt quan trọng giữa động học về các tổ chức là hiện thân những tình cảm được thỏa mãn do sự cộng tác và động học về các tổ chức mà mục đích chính yếu bao hàm sự xung đột. Đây là một đề tài lớn, hiện tôi chỉ muốn nêu ra những giới hạn của việc nghiên cứu các tổ chức mà không xét đến mục đích của chúng.

    Tôi đã nói đến sự tăng trưởng của một tổ chức, và sự cạnh tranh giữa các tổ chức. Để nói hết thuyết Darwin áp dụng vào đề tài này tôi sắp bàn tới sự suy tàn của tuổi già. Sự kiện mọi người phải chết, tự nó, không phải là lý do khiến mọi tổ chức chết đi, nhưng thực ra, đa sô tổ chức suy tàn. Đôi khi chúng suy tàn thê thảm vì bên ngoài, nhưng tôi chưa muốn xét tới sự kiện này. Đề tài nghiên cứu bây giờ của tôi là sự yếu ớt và chậm chạp của những tổ chức già nua, tương tự như các ông già bà cả. Chúng ta hãy quan sát Trung Quốc trước cuộc cách mạng 1911. Khi đó, Trung Quốc có một chính quyền xưa nhất thế giới; người Trung Hoa cũng tỏ ra có tài về quân sự vào thời vinh quang của La Mã và thời Caliphate; Trung Quốc có truyền thống văn minh cao liên tục và trong chính quyền gồm có những nhân viên tài giỏi đã được tuyển chọn qua những kỳ thi khó khăn. Sức mạnh của truyền thống, và sự áp chế của tập quán qua bao thế kỷ, là nguyên nhân của sự sụp đổ. Giới nho sĩ không thể hiểu rằng muốn đương đầu với các quốc gia Âu Châu thì phải canh tân. Tập quán dựa trên thành công khiến tổ chức trở nên già nua; khi hoàn cảnh đổi khác, người ta không dứt bỏ tập quán nổi. Vào những thời buổi rối loạn, những người quen chỉ huy nhận ra là người khác không còn vâng lời họ khi đã quá muộn. Hơn nữa những người muốn người khác kính trọng mình để củng cố uy quyền, với thời gian trở nên có lối sống cứng nhắc ngăn trở họ hành động, cũng như làm họ mất sự nhìn xa trông rộng, vốn là điều kiện để thành công. Vua chúa không dẫn quân ra trận được vì họ đã được thần thánh hóa; không ai dám cho vua chúa biết những sự thật chua chat, vì vua chúa sẽ cho chém đầu lập tức. Chẳng bao lâu, vua chúa chỉ còn là những biểu tượng, và người ta sẽ nhận biết là những biểu tượng này chẳng có chút giá trị gì, rất nhanh chóng.

    Tuy nhiên, không có lý do nào giải thích tại sao mọi tổ chức phải chết. Hiến pháp Hoa-Kỳ không đòi hỏi sự tôn kính đối với bất cứ cá nhân hay nhóm người nào đến mức làm họ trở thành ngu dốt và bất lực, và cũng không cổ vũ sự tích lũy tập quán và nguyên tắc có thể ngăn chặn việc thích ứng với hoàn cảnh (ngoại trừ định chế Tối Cao Pháp Viện một phần nào). Không có lý do giải thích tại sao một tổ chức như vậy không tồn tại mãi. Ho nên tôi nghĩ rằng, mặc dầu đa số tổ chức sẽ chết đi không chóng thì chầy, hoặc do sự tê liệt hay vì các nguyên nhân ngoại lai, chúng ta không thấy có lý do nội tại và khiến cho sự suy tàn của một tổ chức không thể tránh được. Công cuộc nghiên cứu các tổ chức sẽ sai lạc nếu chúng ta đưa nhãn quan sinh vật học đi quá xa.
  

Nguồn: Bertrand Russell. Quyền lực. Nguyễn Vương Chấn và Đàm Xuân Cận dịch, Nxb Hiện đại, 1972. Bản điện tử do triethoc.edu.vn thực hiện.


[1]
  Xem The Rise of Louis Napoléon của Simpson.
[2]  201, 16437 m Quyển V, chương 52, 53. Bản dịch Rawlinson.
[3]  Tôi không nói tới những cuộc thịnh diễn thể thao ở đây.

Mẹ Việt nam ơi! Một người con của mẹ có giá trị bằng 100 thằng Trung Quốc



Phan Tất Thành

Ngày 3-3 - Trung Quốc đã bắt và hiện giam giữ 21 ngư dân cùng hai tàu cá của Việt Nam, các tàu này lần lượt mang số hiệu QNg 66101TS và QNg 66074TS, do hai ông Trần Hiền và Lê Vinh làm thuyền trưởng khi các tàu này đang hoạt động gần quần đảo Hoàng Sa. Những người này, chủ yếu là dân xã An Vĩnh, Lý Sơn, hiện đang bị giữ trên đảo Phú Lâm thuộc Hoàng Sa, trong khi phía Trung Quốc gọi điện cho gia đình của họ đòi tiền chuộc thì mạng Tin tức Trung Quốc, dẫn lời Phó Cục trưởng Cục Ngư chính Nam Hải Lưu Thiêm Vinh, đưa ra ngày hôm qua:
"Sẽ xử phạt mỗi ngư dân Việt Nam, bị Trung Quốc giữ khi đang đánh cá ở quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam, 70.000 nhân dân tệ, tức là hơn 200 triệu đồng một người Việt Nam". 

Trong khi đó, chiều thứ hai 26/3  Đại tá Nguyễn Đức Phúc, Phó Chỉ huy trưởng, Tham mưu trưởng Bộ đội Biên phòng Khánh Hòa, nói rằng bộ đội biên phòng Khánh Hòa tuần tra khu vực biển Đầm Bấy thuộc đảo Hòn Tre trên vịnh Nha Trang vào chiều ngày thứ Năm 23/3 phát hiện và bắt giữ 2 tàu Trung quốc. Trong lúc tạm giữ hai tàu cùng chín người Trung Quốc ở Nha Trang, lãnh đạo Biên phòng Khánh Hòa được dẫn lời nói sẽ tham mưu để xử phạt hành chính hai tàu này vì vi phạm. Hai lỗi này là "đi biển Việt Nam không mang theo giấy tờ tàu và vào vùng biển quân sự Việt Nam không xin phép Nhà nước Việt Nam'. Hiện cơ quan biên phòng vẫn chưa biết nguồn gốc hai tàu Cha Le 01 và Cha Le 58.


Đại tá Hồ Thanh Tùng, trưởng phòng trinh sát Bộ đội biên phòng Khánh Hòa, nói với báo trong nước rằng tất cả chín người Trung Quốc trên tàu đều có visa nhập cảnh và vào Việt Nam bằng đường bộ. Năm người vào Việt Nam từ Campuchia qua cửa khẩu Mộc Bài ở Tây Ninh và bốn người vào từ Trung Quốc.

Ngoài hoạt động của tàu chưa được chứng minh rõ ràng, cũng chưa xác định được tại sao những người trên vào Việt Nam bằng đường bộ sau lại được thu nạp lên tàu làm việc. Thuyền trưởng Trung Quốc chưa giải thích rõ mục đích của hai tàu này ở Việt Nam, nhưng về số tiền phạt thì “ Số tiền phạt đề xuất được biết vào khoảng trên mười triệu đồng Việt Nam mỗi tàu (20 triệu: 9 người = 2,2222 triệu một người Trung Quốc).

Lúc phải tính bằng tiền mới biết dân mình cao giá phết.
P.T.Th

28 thg 3, 2012

“Sự giàu có không sinh ra văn hóa...”



Tiến sĩ Lê Kiên Thành, người sáng lập Ngân hàng Techcombank chia sẻ góc nhìn về câu chuyện nhà giàu và hiện tượng phô trương, khoe của.

Là con trai của cố Tổng bí thư Lê Duẩn, Tiến sĩ vật lý Lê Kiên Thành được biết đến như người sáng lập ra ngân hàng Techcombank, rồi rời khỏi ngân hàng. Ông Thành hiện là chủ doanh nghiệp tư nhân Thái Minh, và là thành viên Hội đồng quản trị Ngân hàng TMCP Sài Gòn - Hà Nội (SHB). Tiến sĩ Lê Kiên Thành chia sẻ góc nhìn khá thú vị về mối liên hệ giữa văn hóa và sự giàu có từ những vụ phô trương, khoe của thời gian gần đây.

Thói quen xấu trong xài tiền

Ông là một trong những doanh nhân thích xe xịn và chơi xe xịn, như chiếc xe Bentley mà ông từng sở hữu có giá nhiều tỷ đồng, nhưng hình như ít người biết ông chơi xe xịn. Còn một số người khác thì luôn được báo chí "update" về xe cộ mà họ sở hữu? Vì sao vậy? Họ thích khoe hay báo chí "lắm chuyện"?

Chúng ta nhìn tài sản theo một góc độ nào? Khi nói đến một ai đó nổi tiếng mua một chiếc xe xịn thì đúng là đập vào mắt người ta ngay, lỗi ở người làm báo khi muốn độc giả chú ý vào việc đó. Có ai hiểu rằng dù một chiếc xe xịn đến cả triệu đô-la đi nữa thì tiền mua chiếc xe ấy với chủ nhân của nó chỉ chiếm một phần rất nhỏ trong tài sản mà họ sở hữu không?

Thế nhưng sự thật là ở xã hội ta có quá nhiều người sẵn sàng bỏ nửa tài sản ra mua một chiếc xe máy thì không bị nhắc tới. Mà chuyện này ở nông thôn nước ta rất nhiều và người ta chấp nhận chuyện đó. Báo chí đăng tin về những đám cưới nhiều xe sang của nhà giàu như một sự phô trương xa hoa, vậy báo chí có quan tâm đến những đám cưới cả tuần lễ ở quê, để rồi sau đám cưới, cả nhà dâu rể còng lưng làm trả nợ? Số tiền cho đám cưới quê ấy nghe thì có vẻ không nhiều, nhưng lại quá lớn với thu nhập với cuộc sống của những người dân này.

Tiến sĩ vật lý Lê Kiên Thành

Đây chính là một thói quen xài tiền xấu, sự sĩ diện không cần thiết để được thỏa mãn sự "chịu chơi", sự khoe khoang. Mà cái này đâu chỉ nằm ở giới nhà giàu? Dường như nó nằm đâu đó sâu xa trong dân tộc tính của mình mà nếu không thay đổi, không định hướng đúng thì thói quen ấy sẽ hủy hoại chúng ta. Xã hội đang cần một văn hóa sống lành mạnh, lành mạnh cho cả người giàu và người nghèo.

Sự giấu giàu "lố" hơn cả sự phô trương

Vậy đồng tiền được sử dụng đúng nhất vào việc gì, khi mà chúng ta đang sống trong một xã hội với sự phân cấp giàu nghèo khá lớn? Ông đi một chiếc xe đắt tiền và còn vô số đồng bào của ông đang sống dưới mức nghèo khổ? Doanh nhân có trách nhiệm gì không?

Trước đây chúng ta yên tâm với một xã hội cùng nghèo. Thế nhưng ở một xã hội phát triển văn minh, thì một tầng lớp người giàu lên nhanh, kéo theo sự phát triển mạnh của xã hội. Khi đó khoảng cách giữa người giàu và người nghèo nhất là cực lớn, những tầng lớp trung gian lại rất rộng, lớn hơn rất nhiều thì khoảng cách đó vẫn chấp nhận được. Còn hơn là chúng ta cùng nghèo! Nếu so người giàu nhất nước Mỹ với người nghèo nhất thì khủng khiếp lắm, nhưng sự phân hóa đó lại giúp tạo ra khoảng giữa vô cùng lớn cũng như giúp chính phủ Mỹ khả năng trợ cấp cho người nghèo.


Bộ trang sức 10 tỷ được một người đẹp giàu có khoe với giới truyền thông

Xã hội bứt lên được thì không thể từ từ cùng tiến, nó phải chấp nhận có một số người bứt lên vì trí tuệ, vì năng lực và vì may mắn nữa, những người đó sẽ kéo theo công ăn việc làm, tạo thành sự phát triển rất mạnh của xã hội. Giống như nước ở trên cao thì đổ xuống thì tạo ra điện năng lớn chứ không thể có điện năng từ dòng nước chảy lờ đờ... Tất nhiên, nói một cách lý tưởng thì chúng ta không chấp nhận những người giàu lên bằng mọi cách, dẫm lên, chèn ép, đạp đổ hay thậm chí tiêu diệt người khác để làm giàu.

Làm giàu không có gì xấu, làm giàu là yêu nước mà. Nhưng sự phô trương giàu sang đến mức "lố" có xấu không theo ông?

Tôi nghĩ sự "giấu giàu" của một số quan chức nước ta hiện tại lại "lố" hơn cả sự phô trương. Xã hội rất dễ khó chịu trước một doanh nhân đi đánh golf nhưng một quan chức uống chai rượu vài chục triệu đồng thì lại rất dễ được bỏ qua. Doanh nhân thì khó giấu cái giàu, nhưng quan chức thì giấu giàu giỏi lắm! Không nên và không phải đổ lỗi cho chiến tranh nhưng thực sự chúng ta mới chỉ làm quen với đời sống kinh tế thị trường hơn chục năm trở lại đây. Khoảng thời gian đó chưa đủ để chúng ta làm quen và tạo ra một văn hóa kinh doanh, văn hóa sống đúng nghĩa. Sự giàu có không sinh ra văn hóa, đáng tiếc, nhưng đó là sự thật.

Những méo mó trong xã hội lệch chuẩn

Thì cũng khoảng thời gian đó doanh nhân cũng đã có một vị trí mới, có ngày tôn vinh dành riêng cho họ. Nhưng hào quang của doanh nhân đến hôm nay có đủ át đi những hành xử nhiều phần vô lý từ việc làm đại gia mà trả con dâu vì nghi mất trinh đến một doanh nhân khác nợ thuế nhà nước cả mấy trăm tỷ đồng?

Thực ra mình không phải là họ nên chưa chắc đã hiểu hết họ để nói về họ hoặc phán xét. Doanh nhân cũng là con người và chuyện làm ăn của họ cũng có những bước thăng trầm mà không phải ai cũng biết. Khi dồn vốn cho một dự án nào đó, doanh nghiệp có thể sẽ gặp chuyện thiếu vốn, phân tán vốn một thời gian.
Tất nhiên đã là hành vi xấu thì ở cấp độ nào cũng xấu, nợ một triệu đồng tiền thuế hay nhiều tỷ đồng tiền thuế về bản chất là như nhau. Cô nói xã hội tôn trọng doanh nhân, nhưng thử nhìn xem, phim ảnh, sách báo doanh nhân có một vị trí như thế nào? Hay đa số hình ảnh của họ là béo hú, bia ôm gái gú, xấu xa? Sao ít người biết doanh nhân cũng nhọc nhằn gầy  dựng cơ nghiệp từ số không thế nào, khi thành công thì chia sẻ gánh vác ra sao?
Khác chăng khi anh ở trên cao, cái xấu nếu có cũng dễ bị nhận diện còn ở dưới thấp, cái xấu ấy cũng nhòa đi, đôi khi lẫn vào cái xấu chung của mọi người. Nếu chúng ta muốn chống lại cái xấu, cái tiêu cực thì phải chống ở mọi tầng lớp chứ không phải nhằm vào con số tối thiểu dễ nhận diện kia...


Sắm "siêu xe" là xu hướng gần đây của giới nhà giàu tại VN

Ông bênh doanh nhân quá nhiều, nhưng ông thử đứng ra bên ngoài và đánh giá xem cái nhìn méo mó về doanh nhân VN hiện tại có phải lỗi hoàn toàn thuộc về dư luận không?

Tôi nói thật, so với thế giới, doanh nhân và kinh tế VN còn đơn sơ lắm. Phải thừa nhận rằng khi nói đến một doanh nhân Việt ít người cảm thấy nể phục. Tại sao ư? Doanh nhân nước ngoài, ví dụ như Bill Gates, khi ông ấy giàu thì gắn liền với công việc kinh doanh của ông ấy, mỗi sản phẩm ông ấy đưa ra cho xã hội luôn có một triết lý mới, một cái nhìn mới cho cuộc sống. Sản phẩm của những người như Bill Gates góp phần phá vỡ những quan niệm cũ, đẩy xã hội đi lên. Đâu phải ngẫu nhiên Bill Gates đến đâu cũng được các nguyên thủ quốc gia đón tiếp trọng thị? Không phải chỉ vì ông ấy giàu mà bởi ông ấy là một con người đặc biệt, giàu chỉ là một hệ quả của sự đặc biệt ấy mà thôi.

Sự đặc biệt ấy lại phản ánh tích cực vào sự phát triển của đất nước họ, mà trên thế giới có nhiều doanh nhân như thế ở cấp độ khác nhau. Doanh nhân Việt thiếu hẳn phẩm chất đó. Giàu ở ta hơi dễ, chỉ đi trước một bước đã giàu rồi, chứ không phải giàu từ những sự sáng tạo ghê gớm, ảnh hưởng lớn như đế chế của Apple hay Microsoft. Thế thì không khó hiểu khi ở ta, một doanh nhân giàu chỉ được trầm trồ vì giàu hơn người khác chứ không phải trầm trồ là vì tài trí, vì đức độ. Đó là cái méo mó, nhưng xã hội ta hiện tại lại có không ít cái méo mó như hình ảnh thầy thuốc và nhà giáo hiện nay chẳng hạn. Và chưa biết hình ảnh nào méo mó hơn trong một xã hội lệch chuẩn như hiện tại.

Xin cảm ơn ông!

Viên Thông (thực hiện)

Nguồn: Vietnamnet.vn 

Chuyện ngành y tế: dân không đưa phong bì, y đức tăng dần lên???


 Đọc báo thấy bà bộ trưởng bộ y tế trả lời phiên chất vấn ngày 26-3-2012 về vấn đề y đức của các y bác sĩ. Bà bộ trưởng nhấn mạnh rằng: “Dứt khoát người nhà bệnh nhân không đưa phong bì, không đưa quà khi vào khám bệnh thì thái độ y đức của cán bộ y tế sẽ dần được cải thiện”.  (Theo vtc.vn) Nhưng thưa bộ trưởng, không biết bà không biết hay cố tình không hiểu. Trong thực tế hiện nay, người dân ai cũng biết rằng đã vào bệnh viện là phải bắt buộc đưa tiền cho nhân viên y tế ( từ y tá đến bác sỹ). Từ chuyện tiêm thuốc, thay bong băng đến việc lên bàn mổ.
Bộ trưởng Nguyễn Thị Kim Tiến. Ảnh: Vietnamnet.vn

Đơn giản như chuyện tiêm thôi, nếu không đưa tiền bác sỹ sẽ tiêm đau, rất đau, bệnh nhân chịu sao nổi. Còn đưa tiền rồi thì chích nhẹ là xong, không đau chút nào. Và chuyện đưa tiền trở thành một điều hiển nhiên mỗi khi nhắc đến hai từ bệnh viện.
Là người dân, nhất là những người dân nghèo, chẳng có ai muốn đưa phong bì cho bác sỹ làm gì. Bởi với họ mấy chục hay mấy trăm nghìn đều rất quý.
Bà bảo rằng để y đức được cải thiện thì bệnh nhân không đưa tiền. Vậy sao bà không bảo bác sỹ chữa cho người dân tốt đi, mà đừng nhận của người nhà bệnh nhân nữa. Thì rồi họ sẽ không đưa phong bì nữa. Cũng giống như những câu trả lời chất vấn của bà vậy. Nó có cái gì đó như bà đang ngồi trên mây vậy, nó quá ảo tưởng và hão huyền.
Nhân tiện, thưa bộ trưởng, bệnh Tay chân miệng đang hoành hành nghiêm trọng. Vậy Bộ Y tế đang ở đâu và làm gì?
KHX.

http://www.tienphong.vn/ban-doc/571206/Phong-bi-nganh-y-va-tu-duy-nguoc-tpov.html

Chuyện thủy điện Sông Tranh và trách nhiệm của EVN


Vụ đập thủy điện Sông Tranh 2 bị rò rỉ: EVN trốn tránh sự thực

Trong thông cáo phát đi hôm 26.3, Tập đoàn điện lực VN (EVN) khẳng định đập thủy điện Sông Tranh 2 chưa xuất hiện các vết nứt bê tông, mức độ thấm như hiện nay (30 lít/giây) chưa ảnh hưởng đến an toàn đập.

EVN cũng giữ nguyên khẳng định trước đó: “Nước thấm qua khe nhiệt chứ không phải thấm qua các khe nứt của đập như báo chí đưa tin. Nguyên nhân chính của hiện tượng này là do hệ thống các ống thu nước bố trí trong các hành lang thu nước trong thân đập chưa đáp ứng tốt nhiệm vụ thu nước thấm trong thân đập, một số ống thu nước giữa các tầng hành lang bị tắc, nước ứ đọng nhiều trong các hành lang, không thoát hết về hố thu nước”.


Đoàn công tác Quân khu 5 kiểm tra sự cố thủy điện Sông Tranh 2 - Ảnh: N.Tú

Không thể chối quanh
Tuy nhiên, GS-TS Nguyễn Thế Hùng - Phó chủ tịch Hội Cơ học thủy khí VN, Tổ trưởng bộ môn cơ sở kỹ thuật địa lợi (ĐH Bách khoa Đà Nẵng), người đã trực tiếp khảo sát tại đập - phản bác những thông tin EVN đưa ra. Ông Hùng cho biết đã “thấy cả những vết nứt trên thân đập và hành lang đập, nước chảy tràn ra ở những vị trí đó, EVN còn chối quanh gì nữa. Nhiều báo cũng đã chụp được ảnh làm bằng chứng, không thể nói là vẫn an toàn”.


EVN đang trốn tránh sự thực rằng thân đập đã bị nứt, trong hầm nước vẫn chảy rất mạnh

TS Đào Trọng Tứ


Cũng theo ông Hùng, công trình liên quan đến tính mạng và tài sản của hàng nghìn hộ dân, phải có đoàn chuyên gia đa ngành khảo sát kỹ lưỡng một lần nữa. Hiện tượng nước thấm qua đập Sông Tranh 2 là nghiêm trọng và phải được xử lý khẩn trương. Dòng thấm phát sinh do mức nước chênh lệch giữa thượng và hạ lưu đập. Cho đến nay, tỷ lệ đập bị mất an toàn do tác động của dòng thấm (trong thân đập và cả trong nền đập) là khá cao trên thế giới. Không được phép để nước thấm tràn ra mái hạ lưu. Nước thấm trong đập đất thì phải qua tầng lọc trước khi ra phía hạ lưu. Nước thấm trong đập bê tông thì được gom lại trong các hành lang ở thân đập để chuyển xuống hạ lưu theo đường riêng. Ông Hùng cho rằng, dòng thấm xuyên qua  đập Sông Tranh 2 chảy tràn ra mái hạ lưu đập phải được khắc phục ngay và triệt để.
Gay gắt hơn, theo TS Đào Trọng Tứ - Ủy viên thường trực Mạng lưới công tác vì nước, nguyên Phó chủ tịch Ủy hội Sông Mê Kông - cho rằng: “EVN đang trốn tránh sự thực rằng thân đập đã bị nứt, trong hầm nước vẫn chảy rất mạnh. Tôi không tin EVN có thể giảm được 80% lượng nước rò rỉ chỉ trong vài ngày như vậy.  Đập bê tông khi đã thấm nước thì rất khó khắc phục. Đó chỉ là biện pháp để trấn an dư luận. EVN nói đập không bị nứt mà chỉ là thẩm thấu nước qua các khe nhiệt. Nhưng EVN đã cố tình quên rằng, về nguyên tắc kỹ thuật, khe nhiệt cũng không thể cho thấm nước, buộc phải có màng ngăn chống thấm. Do sử dụng ít xi măng nên đập bê tông đầm lăn rất dễ bị nứt, đòi hỏi phải thi công rất nghiêm ngặt. Bằng nhiều năm kinh nghiệm về thủy điện, tôi khẳng định đập đã bị nứt”.


Các biện pháp khắc phục của EVN
Từ ngày 21.3 đã cho thông rửa các lỗ khoan bị tắc, đục rãnh thoát nước để thu nước về hố thu trong thân đập. Đến nay đã có hiệu quả và hiện tượng thấm về hạ lưu đập đã giảm hẳn (theo đánh giá sơ bộ tại hiện trường thì giảm khoảng 80%).
Từ 21 giờ ngày 24.3 đã đưa 2 máy khoan tay vào khoan tại khe nhiệt 18, 21, 24, 28, đã khoan 2 lỗ tại các khe 16 và 24 từ hành lang số 3 xuống hành lang số 2 để thu nước vào hành lang thoát nước. Phần lớn lượng nước thấm tại các khe nhiệt này đã chảy vào hành lang.
EVN đã chỉ đạo huy động tối đa công suất của nhà máy để hạ mực nước hồ tạo điều kiện thuận lợi cho công tác xử lý thấm đạt hiệu quả. Giao cho Ban quản lý dự án thực hiện ngay việc quan trắc chu kỳ I để đánh giá toàn diện về ổn định công trình.
EVN sẽ tiếp tục mời chuyên gia có kinh nghiệm đến kiểm tra, khảo sát, đề ra các giải pháp xử lý tổng thể và sẽ hoàn thành trước mùa lũ năm 2012. Trên cơ sở kết quả xử lý thấm EVN sẽ có báo cáo đánh giá đầy đủ về an toàn ổn định đập thủy điện Sông Tranh 2.

Tại Diễn đàn về đập thủy điện Sông Tranh 2 của Hội Đập lớn và phát triển nguồn nước VN, ông Hoàng Xuân Hồng - Trưởng ban Khoa học công nghệ - cho biết hiện tượng nước chảy thành dòng, thành vòi qua đập Sông Tranh 2 chưa hề có ở các đập bê tông đã xây dựng ở VN. Theo ông Hồng, vật liệu bê tông không thể chống thấm tuyệt đối nên trong các đập bê tông trọng lực, bao giờ cũng bố trí các hành lang thu nước thấm, rồi cho chảy ra hạ lưu đập. Tùy theo quy mô của đập mà các nhà tư vấn thiết kế có thể bố trí một hoặc nhiều tầng hành lang. Riêng về thấm, các nhà tư vấn tính toán lưu lượng thấm cho phép qua toàn bộ thân đập theo các tiêu chuẩn hiện hành, nhưng tuyệt đối không cho thấm trên mặt đập, càng không cho phép nước chảy thành dòng.
“Việc Ban Quản lý dự án điện 3 khẳng định dòng thấm chảy ra phía hạ lưu đã được nghiệm thu và đánh giá đạt yêu cầu kỹ thuật, đảm bảo chất lượng công trình là không đúng về bản chất. Ở đây có thể có sự nhầm lẫn giữa lưu lượng thấm cho phép trên toàn bộ thân đập và lưu lượng nước chảy qua đập thành dòng, thành vòi tại một số điểm của khe nhiệt và khe co giãn, khe lún”, ông Hồng phân tích.
EVN cũng khẳng định việc xuất hiện động đất kích thích trong thời gian gần đây tại khu vực thủy điện Sông Tranh 2 có cường độ thấp hơn cường độ tính toán trong thiết kế, qua kiểm tra cho thấy không ảnh hưởng đến chất lượng và an toàn của đập. Theo quy luật tự nhiên, các dư chấn của động đất kích thích có cường độ thấp hơn nhiều và sẽ giảm dần theo thời gian.
Tuy nhiên, ông Hồng cảnh báo dòng chảy qua khe nứt của đập với áp lực cột nước lớn sẽ xói mòn các vật liệu xung quanh và mở rộng một cách nhanh chóng các vết nứt, khiến việc cứu đập sẽ vô cùng khó khăn. Nguy cơ vỡ đập sẽ cao khi có những tác động mạnh do sóng bão hoặc động đất.
Ông Trần Nhơn - nguyên Thứ trưởng Bộ Thủy lợi - cho rằng không thể chấp nhận hiện tượng nước thấm, tràn tại Sông Tranh 2 hiện nay. Thiết kế đập trọng lực bê tông đầm lăn ở VN đã làm nhiều, với chiều cao 96m, nếu làm đúng tiêu chuẩn thiết kế không cần có màng chống thấm. “Vấn đề là khâu thiết kế đang rất lỏng lẻo, thiếu trách nhiệm, không theo sát quá trình thi công để phát hiện sai sót. Quy trình kiểm tra an toàn đập các công trình thủy điện lớn các nước đều làm, hằng năm có đánh giá thường xuyên và 3 năm có đánh giá tổng thể, nhưng chúng ta lại thiếu sót khâu này. Cần phải bổ sung để không xảy ra hiện tượng và nguy cơ như Sông Tranh 2 tại các công trình thủy điện lớn hơn”, ông Nhơn nói.
Không thể nói “an toàn tuyệt đối”
Chiều 26.3, đoàn công tác Bộ Tư lệnh Quân khu 5 cùng Ban Chỉ huy phòng chống lụt bão và tìm kiếm cứu nạn Quảng Nam do thiếu tướng Nguyễn Quy Nhơn, Phó tư lệnh Quân khu 5 làm trưởng đoàn, đã kiểm tra thực tế sự cố rò rỉ nước và phương án đối phó mưa bão của thủy điện Sông Tranh 2. Từ trên đỉnh đập nhìn xuống, phía đập bên phải vẫn bị thấm ướt một nửa thân đập từ lưng xuống chân đập. Lượng nước rò rỉ không tuôn xối xả như trước do đơn vị thi công đã sử dụng đường ống thu gom nước cho chảy về men theo thành cửa xả. Tuy nhiên, ở phía bên trái cửa xả, nước vẫn tuôn chảy, tung bọt trắng xóa do chưa kịp được đặt ống dẫn nước.


Tại cuộc họp (công khai) của đoàn công tác nói trên, Ban Điều hành thủy điện Sông Tranh 2 đã ngang nhiên cấm báo chí dự họp. Khi các phóng viên ở bên ngoài phòng họp chờ ghi nhận ý kiến cơ quan chức năng thì người của Ban điều hành đẩy đuổi. Xe chở các phóng viên đi cùng đoàn công tác cũng bị ngăn cản.

Đoàn kiểm tra ghi nhận Ban Điều hành thủy điện Sông Tranh 2 vẫn chưa chuẩn bị phương án phòng chống lụt bão và đối phó sự cố, nhất là trong thời điểm thân đập đang bị rò rỉ. Ông Nguyễn Thanh Quang - Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Quảng Nam - đề nghị cần có một cơ quan độc lập kiểm tra, đánh giá vụ rò rỉ này để sớm có kết luận thỏa đáng. Nếu không, không chỉ H.Bắc Trà My mà người dân ở Tiên Phước, Hiệp Đức, Nông Sơn, Duy Xuyên, Điện Bàn và cả Hội An cũng sẽ hoang mang khi mùa mưa lũ đến. Ông Quang đề nghị vào đầu tháng 4, thủy điện Sông Tranh 2 phải có phương án đảm bảo an toàn đập và phòng chống lụt bão. Kết luận tại buổi kiểm tra, Thiếu tướng Nguyễn Quy Nhơn yêu cầu phương án phòng chống lụt bão của thủy điện Sông Tranh 2 phải đặt vấn đề an toàn của người dân lên hàng đầu. Đối với sự cố thân đập bị rò rỉ, thiếu tướng Nhơn cho rằng chủ đầu tư không thể nói đập an toàn tuyệt đối được mà phải báo cáo toàn bộ sự việc, nhanh chóng khắc phục hậu quả, thường xuyên theo dõi và thông tin kịp thời cho chính quyền địa phương.
Nguyễn Tú - Hoàng Sơn

Mai Hà

Nguồn: Thanh Niên Online 

Tổng số lượt xem trang

free counters